Biển Đông vạn dặm

Ảnh

Hoàng Kim (bài tổng hợp).”Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” là hai câu thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) trong bài thơ chữ Hán Cự Ngao Đới Sơn của Bạch Vân Am Thi Tập…

Chuyện phong thủy Trung Hoa về Thiên đạo.

Trung Hoa nhiều người chuộng phong thủy. Các đế vương khởi nghiệp phát triển triều đại Trung Hoa xưa và nay đều rất ý tứ trong việc này. Bắc Kinh được lưa chọn làm đế đô của nhiều đời do được coi là thế đất phong thủy  hưng vượng muôn đời. Mỗi triều đại chỉ làm một phần việc tại thủ đô để lưu dấu công tích sự nghiệp của triều đại mình cho đời sau. Chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai khi sáng lập nước Trung Hoa mới không đụng vào quần thể di sản lịch sử văn hóa có từ nhiều đời trước mà chỉ tập trung xây dựng “cửa Trời yên”là Thiên An Môn, định rõ cửa Thiên An và hướng Thiên đạo.
TQ KimLong 1
TQ KimLong 15
TQ KimLong 13
Núi Cảnh Sơn nhìn từ điểm trung tâm của thủ đô Bắc Kinh (Center Point of Beijing City) đến trục trung tâm của thủ đô Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn (ảnh: Hoàng Long)

Điểm gốc của đế đô Bắc Kinh là Núi Cảnh Sơn ( Jǐngshān, 景山, “Núi Cảnh”, Núi Xanh, Green Mount ), địa chỉ tại 44 Jingshan W St, Xicheng, Beijing là linh địa đế đô, ngọn núi nhân tạo, cao 45,7 m này, tạo dựng dưới thời vua Vĩnh Lạc nhà Minh, được coi là linh ứng đất trời, phong thủy tuyệt đẹp, tọa lạc ở quận Tây Thành, chính bắc của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, trục trung tâm của Bắc Kinh, thẳng hướng Cố Cung, Thiên An Môn.
TQ KimLong 4
Trục khác nối Thiên Đàn (天坛; 天壇; Tiāntán, Abkai mukdehun) một quần thể các tòa nhà ở nội thành Đông Nam Bắc Kinh, tại quận Xuanwu.

TQ KimLong 7
TQ KimLong 5

Trục khác nối Di Hòa Viên (颐和园/頤和園; Yíhé Yuán, cung điện mùa hè) – là “vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa” một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh, nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng Tây Bắc.

Một hướng khác nối Hải Nam tại thành phố hải đảo Tam Sa, nơi có pho tượng Phật thuộc loại bề thế nhất châu Á.
DaoTruongSa

Tam Sa là thành phố có diện tích đất liền nhỏ nhất, tổng diện tích lớn nhất và có dân số ít nhất tại Trung Quốc.  Theo phân định của chính phủ Trung Quốc, Tam Sa bao gồm khoảng 260 đảo, đá, đá ngầm,  bãi cát trên biển Đông với tổng diện tích đất liền là 13 km². Địa giới thành phố trải dài 900 km theo chiều đông-tây, 1800 km theo chiều bắc-nam, diện tích vùng biển khoảng 2 triệu km². Đó là đường lưỡi bò huyền bí. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam nằm trên trục chính của sự thèm muốn này.

Vị trí của Thông tin quốc gia

Chủ tịch Mao xác định Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải”, là phương lược căn bản để “Con sư tử phương Đông vùng dậy”. Đối với Trung Hoa thì liên Nga tránh được họa phương Bắc là tâm điểm lưu ý của các triều đại. Việc mở mang bờ cõi tranh đoạt thiên hạ phải là Nam, Hải (cửa Sinh). Sự phòng thủ Bắc Kinh hướng chính bắc là Tử Cấm Thành (cửa Tử).

Nắm vững Trung là gốc căn bản của đại kế Mao Trạch Đông, vì trong có yên thì ngoài mới ổn, nhưng trong ngoài chính phụ phải khéo chuyển hóa. Chủ tịch Mao Trạch Đông tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965 đã nhấn mạnh giả thuyết chiến lược “tam tuyến” và phương lược xử lý khi có chiến tranh lớn xẩy ra: “Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc động loạn

Hướng về Nam, mở rộng Hải là định kế phát triển Trung Hoa của Mao Trạch Đông. “Hồi thế kỷ thứ nhất đế quốc La Mã cũng đòi chủ quyền lãnh thổ toàn vùng biển Địa Trung Hải mà họ gọi là “Biển lịch sử của chúng tôi” (Mare Nostrum: Notre Mer/ Our Sea). Địa Trung Hải là vùng biển bao la chạy từ bờ biển Tây Ban Nha qua Pháp, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến các bờ biển Trung Đông và Bắc Phi. Đường Lưỡi Rồng (dân gian gọi là Lưỡi Bò) rộng bằng phân nửa lục địa Trung Hoa là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Gốc rễ ăn sâu vào chủ trương của Trung Nam Hải sử dụng vũ lực với Ấn Độ (1962) và Việt Nam (chiếm Hoàng Sa 1974, phát động chiến tranh biên giới 1979, chiếm các đảo và đá ngầm Trường Sa 1988) là tư tưởng Đại Hán do Mao hô hào phục hồi được nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích. Luật sư Nguyễn Hữu Thống – tác giả biên soạn tài liệu “Hoàng Sa – Trường Sa theo Trung Quốc sử” – nhận định: “Từ sau chiến tranh biên giới Hoa – Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử”. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.” “Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế quốc Ngai Rồng phát sinh từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955”. (Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Đại Hán trên núi Tuyết).

Mao Trạch Đông đã đưa ra phương lược khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất của nhà Thanh năm 1892. Hoàng Sa và Trường Sa trở thành “tọa độ vàng” của Bắc Kinh trên bản đồ “Biển lịch sử ” do Mao Trạch Đông khoanh vùng, để lại. Và đến nay Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiếp tục đường lối đó.

Biển Đông vạn dặm giang tay giữ

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lạ lùng thay hơn 500 trước đã dự báo điều này và sứ giả Chu Xán triều Thanh đã phải khâm phục kính nể khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng có câu “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” (về môn lý học nước Nam có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Núi tiên biển biếc nước trong xanh
Rùa lớn đội lên non nước thành
Đầu ngẩng trời dư sức vá đá
Dầm chân đất sóng vỗ an lành
Biển Đông vạn dặm giang tay giữ
Đất Việt muôn năm vững trị bình
Chí những phù nguy xin gắng sức
Cõi bờ xưa cũ Tổ tiên mình.

(dịch thơ: Nguyễn Khắc Mai)

Nguyên văn:

CỰ NGAO ĐỚI SƠN

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bích tầm tiên sơn triệt đế thanh
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực
Trước cước trào vô quyển địa thanh
Vạn lý Đông minh quy bá ác
Ức niên Nam cực điện long bình
Ngã kim dục triển phù nguy lực
Vãn khước quan hà cựu đế thành

Dịch nghĩa:

CON RÙA LỚN ĐỘI NÚI

Nước biếc ngâm núi tiên trong tận đá
Con rùa lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời
Bấm chân xuống, sóng cuồn cuộn không dội tiếng vào đất
Biển Đông vạn dặm đưa về nắm trong bàn tay
Muôn năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình
Ta nay muốn thi thổ sức phù nguy
Lấy lại quan hà, thành xưa của Tổ tiên.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra thông điệp ngoại giao nhắn gửi con cháu về quyết tâm và lý lẽ giữ nước: “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững thái bình” (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình)

” Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình”.

Điều lạ trong câu thơ là dịch lý, ẩn ngữ, chiết tự của cách ứng xử hiện thời. Bình là hòa bình nhưng bình cũng là Tập Cận Bình. Thiên An là trời yên cũng là dân yên. Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là sự thật hiển nhiên, khó ai có thể lấy mạnh hiếp yếu, cưỡng tình đoạt lý để mưu toan giành giật, cho dù cuộc đấu thời vận và pháp lý trãi hàng trăm, hàng ngàn năm, là “kê cân – gân gà” mà bậc hiền minh cần sáng suốt.

“Cổ lai nhân giả tri vô địch,
Hà tất khu khu sự chiến tranh”

Từ xưa đến nay, điều nhân là vô địch, Cần gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh.

“Quân vương như hữu quang minh chúc,
ủng chiếu cùng lư bộ ốc dân”

Nếu nhà vua có bó đuốc sáng thì nên soi đến dân ở nơi nhà nát xóm nghèo.”Trời sinh ra dân chúng, sự ấm no, ai cũng có lòng mong muốn cả”; (Hàng chục triệu người dân Việt Nam mưu sinh từ nghề biển – Ảnh Internet). “Xưa nay nước phải lấy dân làm gốc, muốn giữ được nước, cốt phải được lòng dân”.

Đạo lý, Dịch lý, Chiết tự và Ẩn ngữ Việt thật sâu sắc thay !

Chuyện đồng dao trên đèo Ngang của Bác Hồ

Bác Hồ có bài thơ đồng dao lạ “Biển là ao lớn, thuyền là con bò”  viết lúc 5 tuổi  khoàng năm 1895 – 1896 trên đèo Ngang. Chuyện do nhà văn Sơn Tùng kể ngày 11 tháng 4 năm 2001 tại trường Cán bộ quản lý giáo dục ngành Giáo dục Đào tạo.

Chuyện kể rằng Nguyễn Tất Thành 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế. Ông Sơn Tùng được ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho cuốn “Tất Đạt tự ngôn” vào tháng 6 – 1950, cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ. Sau đó ít tháng cụ qua đời.

Cụ Khiêm kể lại: – Hôm đó cả nhà Bác chuẩn bị đi vào Huế, Bác ngủ với bà ngoại, em Thành ngủ với mẹ, còn chị Thanh thì ngủ với dì An. Đêm đêm Bác thấy bà khóc, ngày bà vui, đêm nào cũng nghe thấy bà khóc. Sáng hôm sau thấy bà đi xin mo cau cả làng (xưa dân ta lấy mo cau làm gàu múc nước). Bác với chú Thành lấy mo cau cắt thành chiếc thuyền đem thả vào ao trước nhà, bà không cho, bà bảo đây là dép của các cháu và cha mẹ cháu để đi vào kinh đô, thời đó chưa có nhiều giày dép như bây giờ. Bác thấy bà ngoại đo chân cha mẹ Bác, đo chân cho hai anh em Bác.
Bác nói: – Mẹ, sao đêm bà khóc?
Về sau mới biết tâm sự của bà là thế này:
– Lúc đầu cha mẹ bác tưởng bà khóc vì bán ruộng cho con rể vào kinh đi học, bán mất 5 sào. Bà ngoại đêm nằm buồn mà khóc. Không phải tiếc bán 5 sào ruộng cho con rể vào kinh đi học vì “chữ nó sẽ đẻ ra ruộng, chứ ruộng nó không đẻ ra chữ”, bán ruộng cho con đi học, có chữ về thì cái chữ đẻ ra ruộng. Còn cái ruộng, bán đi đánh bạc mới mất, nên không có gì là khóc cả. Khóc là vì bà không có con trai. Ông Tú mất rồi, con rể coi như là con trai, con gái là chỗ dựa, bây giờ cả nhà kéo vào Huế, bà ở nhà cô đơn một mình, hai cháu trai và cháu gái cũng đi. (Vì thế nên cha mẹ bác chỉ cho hai anh em cùng đi vào Huế, còn chị Thanh phải ở lại quê với bà để sớm hôm, có bà, có cháu).
Như vậy cha mẹ Bác quyết định vào Huế không phải là để làm ăn sinh sống trở thành người Huế đâu, mà muốn cho anh em Bác vào Huế để học. Cha Bác vào Huế để làm bạn với các nhà khoa bảng ở kinh đô. Các ông quan thời đó đều là Tiến sĩ, là Hoàng Giáp, là Đình Nguyên, ít ra là cử nhân. Đúng là cha của Bác vào Huế đã tạo ra được một cái “chiếu văn”, các ông quan trong triều thường đến đó bình văn, bình thơ cùng với các cụ đồ ở kinh đô.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Khi đi dép mo cau, mỗi lần rách thì phải thay cái khác, còn chú Thành thì được cha cõng trên lưng. Trên cao chú ấy quan sát hỏi hết chuyện này đến chuyện khác, ví dụ như:
– Núi này là núi gì mà cao thế?
Bà Ngoại hay ví “Trèo truông mới biết truông cao” là nghĩa làm sao?
Có bao nhiêu nước để được gọi là biển? vân vân và vân vân.
Chú ấy hỏi nhiều chuyện, còn chân Bác thì nó đau vì đi mấy ngày liền, có khi Bác khóc. Mẹ Bác lại động viên:
Em nó vui vẻ hỏi chuyện này chuyện khác, con là anh mà chẳng vui chi cả. Chú được cha cõng trên lưng, đến đồng bằng thì chạy tung tăng, hỏi nhiều thứ đến cha còn lạ mắt nên mẹ Bác nói em thông minh hơn anh.
Rồi cụ Khiêm kể tiếp:
– Mà chú ấy thông minh hơn Bác thật…! Lúc đến đèo Ngang, đường có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Ở chân Đèo Ngang có bãi cỏ rất bằng, mẹ Bác mới đặt gánh xuống, cha Bác xếp ô lại, bảo:
– Chỗ này phẳng, nghỉ lại đây ta ăn cơm nắm để rồi leo đèo. Bác ngồi xuống ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi rồi hỏi cha:
– Thưa cha, cái gì ở trên cao mà đỏ lại ngoằn nghoèo như rứa?
Cha Bác nói:
Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên trên đó, lên cái con đường mòn đó. Nghe xong , chú ứng khẩu đọc luôn một bài thơ. Sau này Bác ghi lại trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” này.
Núi cõng con đường mòn
Cha thì cõng con theo
Núi nằm ì một chỗ
Cha đi cúi lom khom
Đường bám lì lưng núi
Con tập chạy lon ton
Cha siêng hơn hòn núi
Con đường lười hơn con.
Năm 1950, tôi là anh thanh niên được tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đạt tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ, thấy Bác làm thơ từ lúc 5 tuổi thì hơi sững sờ.
Ông Khiêm kể tiếp:
– Lúc đó cha mở cái túi vải lấy lá số tử vi của con ra xem thì Bác mới được biết, cha Bác đã lấy số tử vi cho các con hết rồi. Cha Bác nói với mẹ: – Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn và ông ngoại đã nói như thế không nhầm.
Rồi Bác Khiêm lại kể tiếp:
– Lúc đó Bác cũng chẳng có bụng dạ nào vì chân bỏng rộp, rất đau. Ăn cơm nắm, uống nước đựng trong quả bầu khô xong, cả nhà lại leo núi, chú Thành lại được cha cõng trên lưng. Anh em Bác ở làng Sen chỉ biết ao, biết sông, biết hồ, biết núi chứ biển thì chưa thấy. Hôm đó, đến đỉnh đèo, cả nhà dừng lại nghỉ, Bác ngồi ôm chân, chú Thành lại chạy nhảy rồi nói:
– Cha ơi, cái ao ở đây sao lại lớn thế?
Cha Bác nói: – Không phải ao đâu con ơi, đó là biển đấy chứ.
Lúc đó, đang đứng trên đỉnh đèo Ngang, nhìn thấy biển, ở đây đi xuống là đến Ròn, tức Cảnh Dương của Quảng Bình. Lần đầu tiên thấy biển lại cứ gọi là ao, cha Bác phải giải thích là biển. Chú ấy lại hỏi:
– Cha ơi, tại sao bò nó lại lội trên biển? Cha Bác cười bảo:
– Không phải là bò đâu con, đó là cánh buồm nâu, thuyền nó chạy trên biển đó. Nghe xong, chú Thành liền ứng khẩu đọc ngay một bài thơ:
Biển là ao lớn
Thuyền là con bò
Bò ăn gió no
Lội trên mặt nước
Em nhìn thấy trước
Anh trông thấy sau
Ta lớn mau mau
Vượt qua ao lớn.
Cụ Khiêm nói một câu tâm sự mà cũng là tâm trạng:
– Con người ta có số mệnh. Số mệnh có khi nó xuất ra thành ý. Cái thông thường, cái lẽ thường anh là phải nhìn thấy trước em chứ, vì anh ra đời trước, khôn hơn . Nhưng đây lại nói là: “em nhìn thấy trước, anh nhìn thấy sau, ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”. Cái khẩu khí ấy là cái ứng mệnh, Bác là anh, Bác đau chân, Bác không còn nhìn thấy những gì ở xung quanh, nhưng chú ấy quan sát, chú ấy lại ứng khẩu được cái đó “Ta lớn mau mau, vượt qua ao lớn”.Có lẽ cũng vì cái khẩu khí ấy nên suốt cuộc đời của chú Thành phải đi hết nơi này đến nơi khác thì phải, (năm châu bốn biển) ….

Nhà văn Sơn Tùng kề rằng cụ Khiêm nói với ông điều này vào năm 1950. Sau này nhà văn Sơn Tùng  công bố hai bài thơ ấy trên báo Văn Nghệ số Tết năm 1980, lúc đó là chuẩn bị đại hội V (1981). Khi cuốn “Búp Sen Xanh” chưa in, nhà văn Sơn Tùng có đưa hai bài thơ này và viết cái đoạn gặp cụ Nguyễn Sinh Khiêm. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng là Tổng biên tập báo Văn Nghệ, trước khi đăng đã hỏi:”– Có chính xác không anh? mới 5 tuổi mà làm hai bài thơ này, trẻ con thì trẻ con thật nhưng rất trí tuệ”. Nhà văn Sơn Tùng nói, “anh cứ đăng, có gì tôi (Sơn Tùng) chịu trách nhiệm” ….

Thiên Đạo, chuyện “biển lịch sử”, “đường lưỡi Rồng” là lý của người mạnh, của nước lớn, có thể ỳ mạnh hiếp yếu. Biến Dịch, “rùa lớn đội núi”, “đường lưỡi Bò” là tình của kẻ yếu, kẻ phi thường, của nước nhỏ, có thể đội đá vá trời. Điều lạ và hay trong thơ đồng dao của Bác Hồ là không thể đánh tráo khái niệm, không thể lấy cái hữu hạn để đo cái vô hạn. Lời tuyên bố rất sớm, và “Em nhìn thấy trước. Anh trông thấy sau. Ta lớn mau mau. Vượt qua ao lớn”.

Hoàng Kim

Xem thêm

Biển Đông và sông Mekong
Tình hình biển Đông có gì mới?

Video yêu thích

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 1

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 2

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 3

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 4

Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời – Tập 5

KimYouTube (TÌNH YÊU CUỘC SỐNG)

Trở về trang chính

Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Advertisements

7 thoughts on “Biển Đông vạn dặm

  1. Pingback: Chào ngày mới 7 tháng 6 | Tình yêu cuộc sống

  2. Pingback: Giấc mơ hạnh phúc | Tình yêu cuộc sống

  3. Pingback: Chào ngày mới 9 tháng 6 | Tình yêu cuộc sống

  4. Pingback: Chào ngày mới 9 tháng 6 | CNM365

  5. Pingback: Ngày mới yêu thương | Khát khao xanh

  6. Pingback: Ngày mới yêu thương | Tình yêu cuộc sống

  7. CHIẾN TRANH MỸ- TRUNG SẼ XẨY RA?

    Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

    Posted by adminbasam on 13/07/2015

    Trước hiện tượng gần như toàn thế giới chạy đua vũ trang, nước chậm tiến như Việt Nam, tổng sản lượng chưa quá 200 tỷ $, sản lượng tính theo đầu người vẫn còn bị coi là một nước thiếu phát triển, cũng bỏ ra hàng tỷ $ để mua tầu ngầm, máy bay; nước nghèo đói như Ấn độ cũng cố gắng sản xuất hàng không mẫu hạm; nước mà nền kinh tế bấp bênh, chỉ phụ thuộc vào du lịch và sự viện trợ của nước ngoài, như Ai cập, cũng bỏ ra bạc tỷ để mua máy bay chiến đấu.

    Riêng hai nước đứng thứ nhất, thứ nhì về kinh tế thế giới, Mỹ, thì mặc dầu ngân sách quốc phòng có giảm, từ gần 700 tỷ $, nay chỉ còn 577 tỷ, nhưng với chính sách chuyển trục về châu Á Thái bình dương, ngân sách dành cho vùng này không giảm mà lại tăng. Trung Cộng thì ngân sách quốc phòng tăng đều trong 30 năm qua, hiện nay là đứng thứ nhì với 145 tỷ $.

    Trước những dữ kiện trên có người cho rằng chiến tranh nhất định sẽ xẩy ra giữa Mỹ và Trung cộng. Có người quan niệm ngược lại.

    Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề và cùng nhau tìm ra câu trả lời thỏa đáng.

    A ) Chiến tranh Mỹ – Trung sẽ xẩy ra vì Hoa kỳ muốn dạy cho Trung cộng một bài học

    Thật vậy, người ta còn nhớ vào năm 1995, khi ký sắc luật chấp nhận cho Trung cộng có đặc quyền tối huệ quốc, Tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton có đọc một bài diễn văn đầy hy vọng: hy vọng rằng có thể cứu một dân tộc đông nhất thế giới khỏi nạn đói triền miên trong quá khứ, hy vọng rằng Trung cộng sẽ hội nhập vào cộng đồng thế giới, rằng nước này sẽ tôn trọng luật chơi về thương mại, như Tổ chức thương mại quốc tế đã qui định, mà Trung cộng đã gia nhập trước đó.

    Tuy nhiên, Việt nam chúng ta có câu: “ Hy vọng lắm thì càng thất vọng nhiều “, ít ra là trong vòng 20 năm qua, Trung cộng đã hành xử hoàn toàn ngược lại: Không tôn trọng một tý gì là những luật lệ quốc tế, bằng cách sao chép trái phép, làm đồ nhái, làm đồ giả để tung ra thị trường quốc tế với giá rẻ mạt, đấy là chưa nói đến những hàng độc hại, giết không biết bao nhiêu người, trong đó có chính dân Tàu.

    Hàng Trung cộng rẻ là vì Trung cộng đi theo một kế hoặch kinh tế chỉ nhằm vào xuất cảng, với ba chính sách sau đây:

    – Chính sách kềm lương thợ ở mức độ thấp nhất để giảm giá thành, mặc dầu giới lãnh đạo đảng Cộng sản Tàu tự cho mình là đảng của thợ thuyền. Người thợ Trung cộng bị bóc lột không những bởi những ông tư bản đỏ là con cháu của Bát Đại Gia từ thời Đặng tiểu Bình, mà còn bị bóc lột bởi những ông tư bản trắng, đến từ nước ngoài để tìm giá nhân công thấp.

    – Trung bình từ bao chục năm nay cán cân thương mại giữa Trung cộng và Hoa kỳ đều bị thất thâu có hại cho Hoa kỳ mỗi năm trên dưới 200 tỷ $.

    – Ngoài việc kinh tế, Trung cộng còn đi theo chính sách phá hoại môi sinh, môi trường, không có những luật lệ bảo vệ môi sinh, nhằm lôi kéo và khuyến khích sự đầu tư của những công ty ngoại quốc. Những công ty này, nếu thành lập ở những nước tôn trọng môi trường thì phải có chính sách tôn trọng đồ phế thải, có thể mất từ 5 đến 10 % trị giá thu nhập. Chính vì vậy mà Trung cộng hiện nay trở thành một quốc gia ô nhiễm nhất, bầu trời Bắc kinh lúc nào cũng tối đen vì ô nhiễm, 70% sông ngòi Trung cộng bị ô nhiễm.

    Chính nhờ chính sách kinh tế đó, mà Trung cộng đã tăng trưởng kinh tế vượt bực hàng bao chục năm nay, với tỷ số tăng trưởng bằng 2 con số, giúp cho nước này có một ngân sách dồi dào, một dự trử $ to lớn, đi đến chính sách bành trướng, nhất là về quân sự.

    Trung cộng đã tìm cách hiện đại hóa quân sự như Đặng tiểu Bình chủ trương 4 hiện đại hóa: hiện đại hóa giáo dục, kinh tế, kỹ nghệ và quân đội. Song song với chính sách bành trướng về kinh tế, Trung cộng chủ trương chính sách bành trướng quân sự, như việc xâm chiếm một số quần đảo của Việt Nam, như chiếm quần đảo Hoàng sa năm 1974, rồi sau đó chiếm 7 hòn đảo của quần đảo Trường sa và đã đang xây dựng lên những đảo nhân tạo, vi phạm luật lệ quốc tế về biển.

    Thêm vào đó, Trung cộng còn đầu tư mạnh mẽ trong lãnh vực điện toán, thành lập một đội ngũ tin tặc ( hackers), khoảng 2600 người, tìm cách ăn cắp những tin tức, bí mật quốc phòng, mà cả kinh tế và dân sự, đang là một vấn đề quan trọng giữa 2 quốc gia Mỹ – Trung.

    Trước tình trạng đó, nhiều chính khách Hoa kỳ chủ trương phải cho Trung cộng một bài học, “ Phải diệt trừ hiểm họa từ trong trứng nước”. Nếu không thì quá muộn.

    Đó là về phía Hoa kỳ.

    Về phía Trung cộng thì sao ?

    Có người cho rằng chiến tranh Mỹ Trung sẽ xẩy ra vì cuộc tranh giành quyền lực ở Trung cộng vẫn còn diễn tiến gay gắt. Tập cận Bình muốn bung ra, gây chiến ở ngoài, nhằm củng cố quyền lực ở bên trong. Nhiều nhà bình luận cho rằng Tập cận Bình đã hoàn toàn nắm vững toàn bộ quyền lực trong tay. Nhưng thực tế không phải vậy. Ở một nước rộng lớn, đông dân, độc tài như Trung cộng, kẻ nắm thực quyền, đó là kẻ nắm được quân đội. Điều này không đúng với họ Tập hiện nay. Trong kỳ Họp Hội nghị Trung Ương vừa qua, họ Tập muốn đưa người tay em của mình là Lưu Nguyên lên làm Phó Chủ tịch Quân Ủy Hội, vì Chủ tịch lúc nào cũng ở trong tay Tổng Bí thư, theo chế độ cộng sản. Nhưng sự việc này không thành. Cuộc tranh giành quyền lực giữa Tập cận Bình và Giang trạch Dân vẫn còn diễn ra gay gắt. Mặc dầu bề ngoài họ Tập có vẻ chiến thắng, nhưng bên trong họ Giang chưa chịu lùi buớc. Cuộc đấu đá có thể nổ ra bất cứ lúc nào.

    Kinh nghiệm lịch sử từ xa xưa đến cận đại của Tàu cho thấy, mỗi khi có tranh giành quyền hành nội bộ, thì thường xẩy ra chiến tranh ở bên ngoài như trường hợp Trung cộng chiến tranh với Việt Nam năm 1979. Cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979, có nhiều nguyên do: Muốn dạy cho Việt Nam một bài học vì là phường “Ăn cháo, đái bát “, như lời tuyên bố của Đặng tiểu Bình; muốn chứng tỏ là mình ngả hẳn về phía Hoa kỳ; muốn chứng tỏ mình không sợ Liên sô, mặc dầu Liên sô và Cộng sản VN mới ký Hiệp ước quân sự 1978. Tuy nhiên, còn một lý do không kém quan trọng, đó là vào thời buổi đó, đang có cuộc tranh chấp quyền lực gay gắt giữa Hoa quốc Phong, được Mao chính thức chỉ định làm người kế vị mình, và Đặng tiểu Bình, người mới ở tù ra, mới được phục chức.

    Cũng vào lúc đó, trong quân đội, có 2 khuynh hướng: khuynh hướng cho rằng không cần hiện đại hóa quân đội, vẫn giữ nó ở tình trạng đương thời là dưới hình thức quân đội dân quân, du kích. Đó là quan niệm của Mao và cũng là quan niệm của Hoa quốc Phong. Quan niệm của Đặng tiểu Bình thì hoàn toàn ngược lại, phải hiện đại hóa quân đội. Cuộc chiến với Việt Nam năm 1979, là dịp để họ Đặng chứng tỏ khuynh hướng của mình là đúng, quân đội Trung cộng mặc dầu đông, nhưng trang bị thô sơ, nên không đạt được những mục tiêu đã định. Điều này chứng tỏ quan niệm họ Đặng đã thắng, không những thắng trong quân đội, mà thắng cả bên ngoài, trên lãnh vực chính trị. Hoa quốc Phong dần dần bị lu mờ. Sau đó họ Đặng chỉ cần nắm quân đội là nắm toàn quyền nước Tàu.

    Chính vì lẽ đó, mà có người cho rằng chiến tranh Mỹ – Trung, hay ít nhất với một nước trong vùng biển Đông rất có thể xẩy ra, vì Tập cận Bình muốn giải quyết tranh chấp quyền lực nội bộ, muốn noi gương việc làm của họ Đặng. Đó là những quan niệm cho rằng chiến tranh Mỹ – Trung sẽ xẩy ra. Nhưng cũng có người chủ trương ngược lại.

    B ) Nhưng những người cho rằng chiến tranh Mỹ – Trung không xẩy ra cũng không ít và đưa ra rất nhiều lý do:

    Theo họ, thế giới hiện nay bị hướng dẫn bởi 2 đại cường quốc, và chính quyền của 2 quốc gia này cũng hành xử như những ông trùm “ Mafia “, mà trên đời này, mấy ông bố già thì không bao giờ cầm súng đánh nhau, để cho đàn em làm công việc đó, nhất là Hoa kỳ, như lịch sử đã chứng minh qua 2 cuộc thế chiến, nước này chỉ nhảy vào cuộc chiến khi gần kết thúc.

    Có thể có một vài cuộc đụng độ nhỏ ở biển Đông, như cách đây ít lâu, vào năm 2008, hai chiếc máy bay Trung cộng đụng độ với chiếc máy bay Hoa kỳ ở vùng đảo Hải Nam và cùng lắm là có thể có đụng độ giữa Trung cộng và một vài nước khác như Nhật, Phi luật tân, Nam dương, Việt Nam v.v…hay Trung cộng có thể yểm trợ Căm bốt quấy phá Việt Nam như đã xẩy ra vào sau năm 1975.

    Hơn thế nữa họ còn cho rằng nếu có chiến tranh lớn, dù là chiến tranh qui ước giữa Hoa kỳ và Trung cộng, thì sẽ có kẻ thắng người bại, kẻ bại không chịu bại, tất nhiên họ sẽ dùng võ khí nguyên tử, mà hậu quả rất là khó lường, tai hại không biết sao mà tính toán, ngay đối với kẻ chiến thắng, trái đất sẽ đầy ô nhiễm bởi những chất phóng xạ. Vì vậy, không có nước nào, nhất là Trung cộng và Hoa kỳ muốn có chiến tranh.

    Người khác lại cho rằng chiến tranh Mỹ – Trung không xẩy ra vì đã có sự chia đôi biển Đông giữa Hoa Kỳ và Trung cộng như nhiều giới lãnh đạo Trung cộng thường tuyên bố: “ Biển Đông khá rộng để có thể 2 ta cùng chung sống hòa bình “, ám chỉ Mỹ và Trung cộng. Luận cứ này còn được tăng cường qua quan niệm địa lý chiến lược bởi Henry Kissinger, qua quan niệm “ Quân bằng lực lượng giữa các cường quốc “, theo đó thì để có hòa bình, cần có sự quân bằng lực lượng, dù là trên thế giới hay từng vùng.

    Những người đưa ra phản biện luận cứ trên cũng không phải là không có lý. Họ cho rằng Hoa kỳ đang làm chủ biển Đông, ít nhất là từ Đệ Nhị Thế Chiến đến giờ, đang giữ cả một chiếc bánh lớn, hiện nay không có một lực lượng nào có thể tranh giành, vạ gì Hoa kỳ lại tự chia chiếc bánh cho người khác. Nếu chia không những mất một phần chiếc bánh, mà mất đi cả những đồng minh của mình. Hoa kỳ để cho Trung cộng gây rối biển Đông nhưng có giới hạn, để Hoa kỳ dễ dàng thắt chặt mối quan hệ từ kinh tế, chính trị tới quân sự với những nước trong vùng. Ngược lại Trung cộng càng quẫy quặng bao nhiêu thì càng tự mình cô lập bấy nhiêu. Hơn thế nữa, Mỹ nhận thấy rằng dù hiện nay tổng sản lượng quốc gia chỉ là ¼ tổng sản lượng thế giới, không bằng thời sau Đệ Nhị Thế Chiến bằng ½ thế giới; nhưng dù sao ngôi vị độc tôn vẫn còn, chiến tranh nếu xẩy ra, dù chỉ với một cường quốc, tương lai cũng rất bất định, dù thắng chăng nữa, nhưng cũng sẽ bị xứt mẻ, kẻ khác sẽ lên giành ngôi vị của mình.

    Thêm vào đó, giữa Hoa kỳ và Trung cộng hiện nay, có quá nhiều liên hệ về kinh tế, học vấn, mặc dầu đã có nhiều hãng xưởng Mỹ đã rút khỏi Trung cộng, tuy nhiên số sinh viên, phần lớn là con ông cháu cha, hiện đang du học ở Hoa kỳ, đứng đầu với 300 000 người, trong số gần 1 triệu du sinh ở nước này. Phần lớn những con cháu của Tám Đại gia, được thành lập từ thời họ Đặng, nay trở thành 103 Đại gia, vì đã đến đời cháu. Những đại gia này, phần lớn đều có mặt ở Hoa kỳ, họ lập những hãng xưởng tư, liên hệ với những hãng xưởng lớn quốc tế, hay họ làm việc trong những hãng xưởng này, hoặc con cháu họ đang du học, nhất là ở Hoa kỳ. Bằng chứng cụ thể, mặc dầu Tập cận Bình bài tây phương, nhưng con gái của ông cũng đã học ở trường Harvard, một đại học lớn của Mỹ.

    Vì vậy, cả 2 bên, Mỹ Trung, theo quan niệm trên, chiến tranh khó có thể xẩy ra.

    Thực ra thì , chiến tranh bằng súng đạn chưa xẩy ra giữa Mỹ và Trung cộng, nhưng chiến tranh ý thức hệ và kinh tế đã xẩy ra từ lâu giữa 2 nước này. Tôn tử một lý thuyết gia quân sự nổi tiếng của Tàu, có nói: “ Thượng sách là công tâm, trung sách là công lương, hạ sách mới đến công thành.”

    Công tâm đây là chiến tranh ý thức hệ, nói tới tự do, dân chủ, nhân quyền, truyền những thông tin trung thực đến đại đa số quần chúng. Công lương là chiến tranh kinh tế, làm thế nào để biến kinh tế thành kinh tế tư doanh, thoát khỏi tay nhà nước, rồi tùy hoàn cảnh để gây ra một cuộc khủng hoảng tài chánh, đi tới khủng hoảng kinh tế, tới chính trị; từ đó mới tính tới chuyện thay đổi chế độ.Chiến lược này Hoa kỳ đã áp dụng với Liên sô và các nước Đông Âu trước kia.

    Công thành là chiến tranh quân sự.

    Tổng thống Bill Clinton khi ký Hiệp ước bình thường hóa kinh tế và thương mại với Việt Nam và mới đây ông đã bay sang Hà nội vào ngày 04/07/2015, để làm lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa bang giao giữa 2 nước, vào lúc bấy giờ có tuyên bố: “ Những Hiệp ước bình thường hóa kinh tế thương mại giữa Hoa kỳ và các nước Đông Âu đã giúp các nước này tìm thấy được mô hình tổ chức nhân xã tự do, dân chủ và kinh tế thị trương, Tôi hy vọng rằng Hiệp ước bình thường hóa kinh tế và thương mại giữa Hoa kỳ và Việt Nam, cũng giúp dân tộc Việt Nam tìm thấy được mô hình tổ chức nhân xã tự do, dân chủ và kinh tế thị trường, như các dân tộc Đông Âu.” Đây cũng là chính sách ngoại giao mà Hoa Kỳ muốn theo đuổi. Hoa kỳ đã tấn công Trung cộng từ lâu với công tâm và công lương và có lẽ chỉ với 2 hình thức chiến tranh này, Hoa Kỳ cũng đủ để khuất phục Trung cộng. Không cần đến chiến tranh quân sự vừa mạo hiểm vừa mất mát.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s