Chào ngày mới 1 tháng 7

Vị trí của Canada

CNM365. Chào ngày mới 1 tháng 7. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1867 – Quốc khánh Canada . Năm 1960 – Ghana trở thành một nước cộng hòa, tổng thống đầu tiên là Kwame Nkrumah. Năm 1962Rwanda Burundi  giành độc lập từ Bỉ. Năm 1822 – ngày sinh  Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ người Việt Nam (mất năm 1888). Năm 1955 – ngày sinh Lý Khắc Cường, Thủ tướng Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhà kinh tế học và chính trị người Trung Quốc

 

1 tháng 7

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 1 tháng 7 là ngày thứ 182 (183 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 183 ngày trong năm.

« Tháng 7 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Những ngày lễ và kỷ niệm

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12

Tham khảo

Lời vàng Albert Einstein

Albert Einstein
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Anbe Anhstanh ngồi bên bờ biển. Ông đi dép vợ vì êm chân hơn. Anbe Anhxtanh không những để lại di sản “thuyết tương đối” nổi tiếng thế giới mà  còn để lại di sản danh ngôn của một thiên tài, đủ cho ta dùng trọn đời minh triết. Hoàng Kim. “Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm”. (Love is a better teacher than duty).
LoivangAlbertEinstein
“Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi.” (Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning). “Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng”. (Science without religion is lame, religion without science is blind). “Đừng tham công mà hãy cố gắng làm người có ích”. (Strive not to be a success, but rather to be of value). “Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough).

Albert Einstein3

Albert Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại Ulm là thị trấn nhỏ  bên dòng sông Danube thuộc bang Baden-Württemberg của Đức. Einstein bỏ quốc tịch Đức năm 1896 và nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901, sau đó ông nhận quốc tịch Mỹ  năm 1940 nhưng vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ. Ông mất vào lúc 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955 tại Trenton, New Jersey, Mỹ . Albert Einstein là bác học đặc biệt nổi tiếng, cha đẻ của  “thuyết tương đối” thiên tài và các danh ngôn minh triết.

Lược sử khoa học về Albert Einstein là vĩ nhân thay đổi thế giới, ông được biết đến như là một nhà vật lý lý thuyết người Do Thái gốc Đức mang quốc tịch Mỹ và Thụy Sĩ,  người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột kia là cơ học lượng tử). Albert Einstein mặc dù nổi tiếng nhất thế giới qua phương trình E = mc2 về sự tương đương khối lượng – năng lượng, ông lại được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện” là công trình về hiệu ứng quang điện có tính chất bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử.

Anbert Einstein cuộc đời và sự nghiệp được tóm lược như sau. Ông sau khi tốt nghiệp trường  đại học kỹ thuật Eidgenössische Technische Hochschule năm 1900 ở Zurich, Thụy Sĩ, ông nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901 và dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ 1902 đến 1908, bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại Bern, với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III. Einstein trong thời gian này hoàn toàn tự nghiên cứu ngoài giờ mà không có nhiều liên hệ trực tiếp với đồng nghiệp và tài liệu khoa học nhưng ông đã có những phát kiến rất quan trọng về vật lý lý thuyết làm nền tảng cho sự nghiệp của ông sau này. Anbert Einstein nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Zurich năm 1905 và cùng năm này xuất bản ba công trình khoa học trong đó có thuyết tương đối hẹp. Ngay sau khi ông công bố những phát kiến về nguyên lý tương đương của trọng trường năm 1907, ông được mời làm giảng viên Đại học Bern năm 1908, rồi trở thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm 1909 và bắt đầu nổi danh là một nhà khoa học vật lý hàng đầu.  Năm 1911, ông đến giảng dạy tại trường Đại học Karl Praha là trung tâm khoa học nổi tiếng châu Âu và thủ đô của Tiệp Khắc. Ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của thuyết tương đối rộng là ánh sáng phải đi theo đường cong khi qua gần Mặt Trời. Một năm sau đó, ông trở lại Zurich tiếp tục phát triển lý thuyết về trọng trường bằng tính toán tensor, với sự giúp đỡ của Marcel Grossmann nhà toán học danh tiếng và cũng là bạn học. Năm 1914 Anbert Einstein quay về Đức làm thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Đức. Năm 1915, lần đầu thuyết tương đối rộng được xuất bản. Năm 1919, đoàn chuyên gia người Anh đã đo đạc ánh sáng mặt trời khi có nhật thực và  khẳng định tiên đoán thiên tài năm 1911 của Anbert Einstein. Trong khi ông trở nên nổi tiếng toàn cầu thì ở Đức ông bị các phần tử bài Do Thái gây rối và tấn công. Năm 1921 Anbert Einstein được nhận giải thưởng Nobel về vật lý đối với  hiệu ứng quang điện mà không phải thuyết tương đối công trình nổi tiếng nhưng còn gây tranh cãi vào thời điểm đó. Từ năm 1920 đến năm 1927, ông đi khắp thế giới (1921 ở Mỹ, 1922 ở Pháp và Nhật, 1923 ở Palestine, 1924 ở Nam Mỹ) để thuyết trình khoa học và hoạt động xã hội . Bắt đầu từ năm 1927, Einstein tham gia vào một cuộc tranh luận với Niels Bohr về thuyết lượng tử. Ông làm việc quá sức và lâm bệnh năm 1928. Mặc dù bình phục ngay trong năm này, cường độ làm việc của ông buộc phải thư giãn hơn trước. Năm 1932, Einstein nhận giảng tại Đại học Princeton, tại Mỹ, và không quay trở lại nữa vì chính quyền chống Do Thái Đức quốc xã đã cầm quyền ở Đức. Năm 1933, ông tiếp tục chu du Oxford, Glasgow, Brussels, Zurich và nhận được những vị trí danh dự mà ông đã từng mơ ước vào năm 1901 từ Jerusalem, Leiden, Oxford, Madrid và Paris. Năm 1935 Einstein quyết định ở lại Princeton thực hiện những cố gắng trong việc thống nhất các định luật của vật lý. Năm 1940 ông nhận quốc tịch Mỹ, và vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ. Anbert  Einstein không chỉ là khai sinh ra “thuyết tương đối” nổi tiếng thế giới mà còn là một nhà khoa học phản đối chiến tranh. Ông đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp vào năm 1944.  Phương trình năng lượng của vật chất: E=mc2 trong bao nhiêu năm trời chỉ là đề tài tranh luận của các cuộc cãi vả lý thuyết, cho đến khi kết quả thực tế về năng lượng hạt nhân của quả bom nguyên tử đã làm san bằng thành phố Hiroshima năm 1945 chứng minh sự thật của phương trình đó. Albert Einstein, tác giả của phương trình lừng danh này luôn coi thường và lãnh đạm mọi tôn vinh. Ông chỉ khao khát được suy nghĩ làm việc.  Anbert   Einstein bắt đầu lâm bệnh năm 1949 và viết di chúc năm 1950. Chính phủ Israel năm 1952, mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông đã từ chối. Một tuần trước khi mất, Anbert Einstein đã ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng vũ khí hạt nhân. Ông mất tại Trenton, New Jersey, Mỹ lúc 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955.

Di sản “thuyết tương đối” thiên tài và minh triết Albert Einstein  bền vững với thời gian.

Hoàng Kim
(thu thập và tổng hợp)

Những câu ưa thích khác của Anbe Anhstanh

Hòa bình không thể gìn giữ bằng bạo lực. Nó chỉ có thể đạt được bằng sự thông hiểu lẫn nhau. (Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding).

Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng. (Science without religion is lame, religion without science is blind).

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau. (Gravitation is not responsible for people falling in love).

Tiền lực luôn hấp dẫn những kẻ thiếu đạo đức. (Force always attracts men of low morality).

Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn. (Never do anything against conscience even if the state demands it).

Thông tin không phải là kiến thức. Nguồn tri thức duy nhất là kinh nghiệm. (Information is not knowledge. The only source of knowledge is experience).

Nghệ thuật tối thượng của người thầy là đánh thức niềm vui trong sự diễn đạt và tri thức sáng tạo. (It is the supreme art of the teacher to awaken joy in creative expression and knowledge).

Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả. (A person who never made a mistake never tried anything new).

Anh đi càng nhanh thì đi càng ít. (The faster you go, the shorter you are).

Albert Einstein4

Albert Einstein (14 tháng 3 năm 1879–18 tháng 4 năm 1955) là nhà vật lý lý thuyết người Đức, người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột kia là cơ học lượng tử). Mặc dù Albert Einstein được biết đến nhiều nhất qua phương trình E = mc2 về sự tương đương khối lượng- năng lượng (được xem là “phương trình nổi tiếng nhất thế giới”), ông lại được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện”. Công trình về hiệu ứng quang điện của ông có tính chất bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử (Wikipedia)

Albert Einstein không những để lại di sản “thuyết tương đối” nổi tiếng thế giới mà còn để lại di sản danh ngôn của một thiên tài. Danh ngôn của Albert Einstein ở Từ điển Danh ngôn (tudiendanhngon.vn) .

Hoàng Kim
(thu thập và tổng hợp)

Xem tiếp:

TỪ ĐIỂN DANH NGÔN
www.tudiendanhngon.vn

Albert Einstein
(14/3/1879 – 18/4/1955)

Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, có một nhà đại bác học được toàn thế giới ca ngợi về một phương trình lừng danh nhất của Khoa Học, đó là phương trình cho biết năng lượng của vật chất: E=mc2. Trong hàng chục năm trời, E = mc2 vẫn chỉ là đề tài của các cuộc tranh luận về mặt lý thuyết, nhưng sự san bằng thành phố Hiroshima vào năm 1945 do quả bom nguyên tử đã chứng minh sự thật của phương trình đó.

Trước lời ca tụng, trước vinh quang rực rỡ, Albert Einstein, tác giả của phương trình lừng danh kể trên lại, giữ một bộ mặt thẹn thùng, xa lạ. Sự quảng cáo thanh danh đã quấy nhiễu ông suốt đời nhưng tất cả đều bị ông coi thường, lãnh đạm. Einstein chỉ khao khát độc nhất sự trầm lặng để có thể suy nghĩ và làm việc.

Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại thị trấn nhỏ Ulm bên dòng sông Danube thuộc bang Baden-Württemberg của Đức. Einstein bỏ quốc tịch Đức năm 1896 và nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901. Sau khi tốt nghiệp trường Eidgenössische Technische Hochschule (một trường đại học kỹ thuật) năm 1900 ở Zurich, Thụy Sĩ, ông dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ 1902 đến 1908, bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại Bern, với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III. Đây chính là thời gian Einstein có những phát kiến quan trọng trong vật lý lý thuyết, và cũng là nền tảng cho sự nghiệp của ông sau này, hoàn toàn làm ngoài giờ và không có nhiều liên hệ trực tiếp với đồng nghiệp và tài liệu khoa học.

Einstein nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Zurich năm 1905 và cùng năm này xuất bản 3 công trình khoa học trong đó có thuyết tương đối hẹp. Sau khi phát kiến ra nguyên lý tương đương của trọng trường năm 1907, Einstein trở thành giảng viên tại Đại học Bern năm 1908, rồi thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm 1909 và bắt đầu được biết đến là một nhà khoa học hàng đầu. 1911, trong khi chuyển đến giảng tại Đại học Karl-Ferdinand ở Praha (thủ đô của Tiệp Khắc lúc đó), ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của thuyết tương đối rộng là ánh sáng phải đi theo đường cong khi qua gần Mặt Trời. Một năm sau đó trở lại Zurich tiếp tục phát triển lý thuyết về trọng trường bằng tính toán tensor, với sự giúp đỡ của bạn học và cũng là nhà toán học Marcel Grossmann. Năm 1914 ông quay lại Đức, trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Đức. Năm 1915, lần đầu thuyết tương đối rộng được xuất bản. Năm 1919, đo đạc với ánh sáng mặt trời khi có nhật thực của một đoàn chuyên gia người Anh đã khẳng định tiên đoán của Einstein vào năm 1911.

Einstein nhanh chóng trở nên rất nổi tiếng trên thế giới, còn ở Đức ông lại bị một số phần tử bài Do Thái tấn công. Từ năm 1920 đến năm 1927, ông đi khắp thế giới để thuyết trình và hoạt động xã hội (1921 Mỹ, 1922 Pháp và Nhật, 1923 Palestine, rồi 1924 Nam Mỹ). Năm 1921 cũng là năm Einstein được nhận giải thưởng Nobel về vật lý, không phải cho công trình nổi tiếng nhưng vẫn còn gây tranh cãi vào thời điểm này là lý thuyết tương đối, mà cho những giải thích về hiệu ứng quang điện. Bắt đầu từ năm 1927, Einstein tham gia vào một cuộc tranh luận với Niels Bohr về thuyết lượng tử. Ông làm việc quá sức và lâm bệnh năm 1928. Mặc dù bình phục ngay trong năm này, cường độ làm việc của ông buộc phải giãn hơn trước. Năm 1932, Einstein nhận giảng tại Đại học Princeton, tại Mỹ, và không quay trở lại nữa vì chính quyền chống Do Thái Đức quốc xã đã cầm quyền ở Đức. Năm 1933, ông tiếp tục chu du Oxford, Glasgow, Brussels, Zurich và nhận được những vị trí danh dự mà ông đã từng mơ ước vào năm 1901 từ Jerusalem, Leiden, Oxford, Madrid và Paris. Năm 1935 Einstein quyết định ở lại Princeton thực hiện những cố gắng trong việc thống nhất các định luật của vật lý. Năm 1940 ông nhận quốc tịch Mỹ, và vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ.

Einstein là một người phản đối chiến tranh và đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp của mình vào năm 1944. Ông bắt đầu lâm bệnh từ năm 1949 và viết di chúc năm 1950. Năm 1952, chính phủ Israel mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông từ chối. Một tuần trước khi mất, Einstein ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng vũ khí hạt nhân. Ông mất tại Trenton, New Jersey, 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955.

Video yêu thích
Albert Einstein Biography
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Quà tặng cuộc sống

Ban mai
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nhiều cấp phó? là  bài viết hay của giáo sư Nguyễn Lân Dũng đăng trên blog Nguyễn Lân Dũng  trả lời phỏng vấn của phóng viên VOV.VN. Khí phách Trần Quang Cơ là tin đọc nhiều nhất trên BBC Tiếng Việt nêu bật phẩm chất tử tế đã làm Trần Quang Cơ thành danh trong chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy. Như là có nhau là bài thơ hay của Huỳnh Mai do nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo tuyển chọn và giới thiệu, blog Khát khao xanh đăng lại và bổ sung hình ảnh tư liệu. Đêm nhớ là nén tâm hương tưởng nhớ với nhạc tuyển của hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân. Chào ngày mới 30 tháng 6 an lành.

NHIỀU CẤP PHÓ ?

Nguyễn Lân Dũng

PV: Thảo luận về Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), có ý kiến cho rằng, theo Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ quy định Sở không quá 3 Phó Giám đốc nhưng hiện có tới 4-5. Khi có ý kiến thì họ nói Trung ương quy định không quá 4 Thứ trưởng nhưng thực tế có 6-7. Luật đúng nhưng làm không nghiêm, trên sai một ly dưới đi một dặm và nếu không khắc phục thì “nhờn” luật, GS nhận định thế nào về ý kiến này?

GS: Việc thông qua một Luật cần thật thận trọng vì nó liên quan đến toàn dân, đến thể chế của chế độ. Vì vậy các đại biểu Quốc hội phải nghiên cứu kỹ lưỡng, phải gắng sức tham khảo nhiều chuyên gia và cử tri có hiểu biết pháp luật trước khi biểu quyết.
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vừa mới được Quốc hội thông qua đã xác định rõ vai trò giám sát và phản biện của Mặt trận. Vì vậy, các Hội đồng tư vấn của Mặt trận, nhất là Hội đồng tư vấn Pháp luật Cần có đủ thời gian để nghiên cứu, thảo luận và báo cáo lên Ban thường trực và từ đó chuyển ý kiến chính thức sang Quốc hội.

Khi đã thảo luận kỹ lưỡng, lắng nghe mọi ý kiến khác nhau thì Luật sẽ là pháp lệnh bắt buộc mọi cấp, mọi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Nếu làm sai Thủ tướng Chính phủ phải thi hành kỷ luật một cách dứt khoát và không nương nhẹ.

Luật Tổ chức Chính phủ chưa được thông qua, nhưng tôi tin rằng đa số các đại biểu Quốc hội sẽ thấy giúp việc Bộ trưởng không cần quá nhiều Thứ trưởng. Vì các nước lớn hơn ta, kinh tế phát triển hơn ta cũng đâu có nhiều Thứ trưởng? Hơn nữa Bộ trưởng phải là người quyết định nên chỉ cần những người giúp mình phải có kiến thức và kinh nghiệm tổng hợp, chứ đâu cần những người chỉ am hiểu một lĩnh vực hẹp.

Dưới Thứ trưởng đã có các Cục, các Vụ, đó mới là nơi tập hợp các chuyên gia am hiểu sâu về từng lĩnh vực.

PV: Việc “lạm phát cấp Phó” là do nể nang, do phong trào hay thực sự vì đòi hỏi của công việc? Theo GS, vì sao có tình trạng như vậy?

GS: Nếu cấp Phó không được tăng lương, không được cấp phát quyền đi xe công và nhiều cơ hội để có thêm bổng lộc (chính đáng và bất chính) thì tôi tin rằng, những chuyên gia giỏi vẫn chỉ muốn làm theo chức năng hiểu biết sâu của mình chứ thích thú gì làm Thứ trưởng để không còn điều kiện học hỏi thêm về nghiệp vụ mà mình đã có nhiều kinh nghiệm.

Khi đã xác định Thứ trưởng là người giúp việc Bộ trưởng chứ không phải người quyết định Bộ trưởng, thì rõ ràng quyền hạn của Thứ trưởng phải cụ thể và phải chịu trách nhiệm cao về các ý kiến tư vấn cho Bộ trưởng.

Trong thực tế, tôi còn thấy một số Bộ trưởng giao quyền quyết định cho Thứ trưởng và khi làm sai thì đổ hết trách nhiệm cho Thứ trưởng (thậm chí cho… nhân viên đánh máy!). Việc “ký nháy” cũng cần nghiêm túc xem xét lại. Không được quyền phát hành các công văn có cả chữ ký nháy (có khi còn ký rất to!). Thứ trưởng phải trực tiếp gửi kiến nghị bằng văn bản lên Bộ trưởng và Bộ trưởng xem xét để quyết định.

Nên chấm dứt chuyện cứ thấy có ký nháy của Thứ trưởng là Bộ trưởng ký. Thời trước ở nước ta và ngay ở các nước khác hiện nay đâu có chuyện kỳ lạ này?

PV: Từng có người nói rằng, vì họp hành quá nhiều nên cần nhiều Thứ trưởng và cấp Phó ở Sở, ngành để đi họp, thưa GS?

GS: Họp là việc trao đổi ý kiến sau khi đã tìm hiểu sâu sát thực tế. Bộ nào cũng rất đông cấp Thứ trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, chưa kể đến vô số nhân viên, nhưng thật đáng ngạc nhiên khi thấy nhiều chuyện hầu như đối tượng phải thi hành trong cả nước đều không tán thành mà vẫn cứ quyết định một cách rất bảo thủ.

Nếu được hỏi, tôi có thể kể ra vô số chuyện như vậy. Đấy là chưa kể đến việc không thấy cần nghe ngóng, xem xét và trả lời chính thức những ý kiến phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam – những cơ quan có quyền phản biện theo quy định của pháp luật.

PV: GS nghĩ sao về ý kiến, cơ quan quá nhiều cấp Phó sẽ dẫn tới chồng chéo nhiệm vụ và khó quy trách nhiệm?

GS: Bộ trưởng là Tư lệnh của một lĩnh vực. Chỉ có Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chứ không phải ai khác. Vì vậy, Bộ trưởng nên ít họp hành hơn, trừ khi đi họp với Chính phủ. Và không nên tham gia Quốc hội trừ khi là khách mời trong những lúc cần trả lời.

Bộ trưởng cần giao nhiệm vụ rất cụ thể cho Thứ trưởng và nghe ý kiến của Thứ trưởng bằng chính tài trí của mình, chứ không dễ dàng theo ý quyết định của Thứ trưởng. Ở nhiều nước, Bộ trưởng nhiều Bộ quan trọng mà họ lại chọn người rất trẻ. Tất nhiên, không thể không tin đó là những người rất giỏi, dám chịu trách nhiệm về các quyết định của chính mình và không hề đổ tội cho ai khác.

Khi nào các Thứ trưởng được Bộ trưởng uỷ quyền mới được phát biểu như kiểu quyết định tại các Hội nghị, không được nói rất cụ thể như lâu nay khi chưa có sự đồng ý của Bộ trưởng. Bộ trưởng không thể tránh trách nhiệm về các ý kiến chưa chính xác của các Thứ trưởng.

PV: Tuy nhiên, việc nhiều cấp Phó cũng dẫn tới tốn ngân sách bởi kèm theo đó là xe công, thư ký, giúp việc, thưa GS?

GS: Ta không sợ tốn kém khi thực sự có hiệu quả. Nhưng nhiều cấp Phó rất hay làm hỏng việc lớn. Cấp Trưởng thường ỷ lại và không cần đi sâu đi sát các nhiệm vụ đã được giao,thường ỷ lại vào cấp Phó. Nên luôn nhớ cấp Phó chỉ là người giúp việc cho mình. Mình phải tự tìm hiểu qua nhiều nguồn thông tin, nhiều nguồn phản biện chứ không thể nhất nhất nghe ý kiến của cấp Phó. Xin nhắc lại chịu trách nhiệm bao giờ cũng phải là cấp Trưởng, kiểu như Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng.

Bất kỳ chuyện gì sai cũng không thể đổ lỗi cho Thứ trưởng, mà chỉ có thể nhận lỗi trước Thủ tướng và xem xét lại tinh thần trách nhiệm cũng như năng lực của vị Thứ trưởng đã tham mưu sai.

Để có những người thực sự đáng chia sẻ với trách nhiệm của Bộ trưởng, theo tôi, Bộ trưởng nên tổ chức công khai thi tuyển Thứ trưởng theo một danh sách do cán bộ trong Bộ và các chuyên gia ngoài Bộ kiến nghị. Càng không bao giờ nên chọn những người vừa kém chuyên môn lại vừa thích quyết định như là Bộ trưởng khi Bộ trưởng chưa uỷ quyền.

Khi Thứ trưởng có những quyết định sai thì ở nước ngoài họ từ chức một cách rất tự trọng.

Tôi không thể quên được câu chuyện ông kỹ sư Nhật Bản đã tự tử khi để xảy ra sai sót khi làm một chiếc cầu ở Thổ Nhĩ Kỳ, mặc dù chưa để xảy ra bất kỳ tai nạn gì đáng tiếc. Cảm kích trước tinh thần tự trọng của vị kỹ sư này mà nhiều ý kiến của dân chúng đã đề nghị nên lấy tên ông ta để đặt tên cho chiếc cầu ấy (!)

PV: Xin cảm ơn Giáo sư

Kim Anh/VOV.VN (thực hiện)
Nguồn: Blog NGuyễn Lân Dũng

KHÍ PHÁCH TRẦN QUANG CƠ


BBC 29 tháng 6 2015

TranQuangCo3

Ông Trần Quang Cơ (ở giữa, complet màu tối) đã tham gia quá trình bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ

Chắc hẳn nhiều người còn nhớ buổi giao ban năm ấy… Với sắc mặt thất thần, ông Trần Quang Cơ gần như gào to giữa phòng họp: “Mọi người biết không, người ta sắp cắt thủ cấp Nguyễn Cơ Thạch để dâng cho nước ngoài rồi”.

Đoán “triều đình” có biến, lũ chúng tôi (những đứa lần đầu được dự giao ban), chẳng ai bảo ai, im thin thít. Tôi cố gắng tập trung vào “Bản tin A” (*) nhưng đầu óc thì nghĩ mông lung.

Không tham quyền cố vị

Trước tháng 12/1986, đại sứ Trần Quang Cơ được Bộ triệu tập về họp. Khi trở sang nhiệm sở (Bangkok), ông kể lại với một cán bộ tâm phúc về quyết định của “anh Thạch” dự kiến điều ông về nước làm thứ trưởng ngoại giao và giới thiệu ông vào Ban Chấp hành TƯ Đảng.

Ông lưỡng lự trước đề nghị của Bộ trưởng và tâm sự: “Với cơ chế của ta thì không thể làm việc được”. Sợ ông từ chối cái ghế nhiều người đang mơ ước, cán bộ tâm phúc ấy nói với ông rằng, anh nên nhận lời anh Thạch. Cố nhiên, anh không đi thì “chợ vẫn đông”, nhưng anh làm sẽ tốt hơn khối người khác.

Thế mới biết, tại sao năm 1991, rồi năm 1993 ông lại đề nghị được rút khỏi danh sách Ban Chấp hành TƯ. Đặc biệt và có thể nói vô tiền khoáng hậu (xin lỗi nếu có ngoại lệ), ông từ chối cả cái ghế Bộ trưởng Bộ Ngoại giao khi Tổng Bí thư Đảng đã có quyết định.

Khí phách Trần Quang Cơ hẳn nhiên đạt tới “đỉnh” khi ông quyết định công bố “Hồi ức và Suy nghĩ” khá sớm, khoảng đầu 2001. Chính nhà ngoại giao Dương Danh Dy cũng không hiểu vì sao được ông tín nhiệm, giao tận tay một lúc cả hai bản đánh máy. Thấy chắc chắn sẽ có ích cho cái chung, ông Dy góp thêm một số ý kiến, sau đó công khai đưa lên mạng.

Hồi ký Trần Quang Cơ lập tức trở thành sách gối đầu giường đối với nhiều nhà quan sát và giới cầm bút muốn có nguồn tư liệu trung thực để phân tích tình hình Việt Nam những năm hậu chiến, thậm chí để hiểu thấu được cả những sự kiện mà hệ lụy của chúng còn kéo dài mãi tới hôm nay và mai sau.

Cống hiến và phản biện

Trần Quang Cơ đóng góp nhiều cho Ngành từ những ngày ông về phụ trách Vụ 2, vụ đối sách với Mỹ, đàm phán tìm giải pháp cho vấn đề Campuchia, bình thường hóa với Trung Quốc. Từ những năm ấy, ông đã xác quyết các ý đồ và âm mưu của Trung Quốc đối với Việt Nam, đặc biệt là âm mưu cướp biển đảo.

Và Trần Quang Cơ đã bảo vệ đến tận cuối cuộc đời mình tất cả những kế sách mà ông cho là hiệu quả trong cuộc đấu tranh không cân sức với Trung Quốc.

Ông đã lên tiếng kêu gọi phải khẩn trương trong việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và sớm gia nhập ASEAN. Triết lý sống còn về an ninh của đất nước được ông khái quát khá sớm: “Trong cái thế anh nằm ngay cạnh nước lớn, nước khổng lồ, mà không có bạn thì anh sẽ bị ép”. Đối với ông, chiến lược an ninh và đối ngoại phải hết sức linh hoạt, phải phù hợp với xu hướng chung của cục diện chính trị-kinh tế thế giới, nhất thiết phải tương thích với những đặc điểm lớn của thời đại đại.

Nhưng rồi ông cũng cay đắng đưa ra nhận xét, ngày ấy, ta đã làm những việc cần thiết đối với Mỹ và ASEAN “chậm trễ tới cả mười năm”.

Sau này, ngay cả khi đã “rửa tay gác kiếm” ông vẫn sẵn lòng cho chúng tôi biết thêm một số chi tiết giá trị trong cuộc vật lộn ngoại giao đằng sau các cuộc chiến, đặc biệt là những bão táp thời hậu chiến mà ông là người trong cuộc, có lúc từng là tác nhân và nhờ sự tỉnh táo mách bảo, biết rút ra sớm khỏi cuộc chơi trước khi có thể trở thành nạn nhân.

Phản biện thông minh và luôn có ý thức tích lũy để cống hiến. Từng là cán bộ địch vận, thuyết phục binh lính Pháp, cùng làm việc với nhiều “cây đa, cây đề” trong làng ngoại giao và văn hóa, một thời dưới trướng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ ngày chuyển về Bộ Ngoại giao, ông càng có cơ hội phát huy tầm nhìn xa trông rộng đối với các vấn đề mỗi khi góp phần vào việc đề xuất chính sách.

Có lẽ các phẩm chất tử tế nói trên đã làm Trần Quang Cơ thành danh như nhận xét của nhà báo tự do Huy Đức. Tuy nhiên, chiến cuộc ngoại giao mà suốt đời ông phụng sự một cách tận tụy thì vẫn còn đó… và đang hết sức nan giải.

Nhưng vận mệnh đất nước không thể cứ “bèo dạt mây trôi” như thế này mãi. Ông ra đi nhưng dường như vẫn muốn nán lại để hỏi chúng ta: “Những người đang sống phải làm gì?”

Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong của riêng tác giả, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Trưởng Nhóm Tư vấn Lãnh đạo Bộ Ngoại giao.

* Bản tin A: bản tin lưu truyền nội bộ hàng ngày của Bộ Ngoại giao
“NHƯ LÀ CÓ NHAU”, THƠ HUỲNH MAI

KHÁT KHAO XANH. ” Xin trời cho sợi nắng mai / Tôi đem trói những dông dài cất đi / Ngày sang hái lá nhu mì / Làm thơ, đem đổi chút gì… nhớ thương.Như là có nhau có lẽ là bài thơ hay nhất trong chùm Thơ Huỳnh Mai do anh Nguyễn Trọng Tạo tuyển chọn và giới thiệu. Bài thơ đẹp như sợi nắng mai. Đúng là viên ngọc quý, một giấc mơ hạnh phúc …

NHƯ LÀ CÓ NHAU

Xin trời cho sợi nắng mai
Tôi đem trói những dông dài cất đi
Ngày sang hái lá nhu mì
Làm thơ, đem đổi chút gì… nhớ thương

Một mai mưa nắng vô thường
Tôi mang trải suốt quãng đường người qua.
Rồi mai dẫu có đi xa
Còn đôi chiếc lá gọi là có nhau.

Lá xanh rồi sẽ lá nâu
Nhưng tình yêu mãi thắm màu biếc xanh
Hôm nay trời nắng thật lành
Dông dài tôi giữ hóa thành… nụ hôn.

HuynhMai
Huỳnh Mai  (ảnh rút từ Lộc xuân)


Lời bình của Nguyễn Trọng Tạo

THƠ HUỲNH MAI

NTT: Huỳnh Mai xuất hiện trên Blog Vnweblogs.com đã 7 năm nay với một giọng thơ ngọt ngào và rất dịu dàng. Khác với nhiều cây bút thích ồn ào, chị lặng lẽ khép mình bên vườn địa đàng để thụ hưởng hương thơm vị ngọt của tình yêu và cả những chát đắng của trái đời không may mắn. Nhưng sau tất cả, là một tấm lòng nhân hậu và vị tha. Bạn cứ lặng lẽ đọc thơ Huỳnh Mai, và bạn sẽ gặp một hồn thơ thật đáng yêu… (xem tiếp…)

ĐÊM NHỚ PHAN HUỲNH ĐIỂU, PHAN NHÂN

Hoàng Kim

HoGuom1000nam

Giai điệu “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” của Nhạc sĩ Phan Nhân đã được hát lên qua nhiều thế hệ.


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG mời bạn cùng lắng nghe những ca khúc vượt thời gian trong “Đêm nhớ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân” . Hai nhạc sĩ tài danh đã qua đời ngày 29/6/2015. Giai điệu “Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” của Nhạc sĩ Phan Nhân đã được hát lên qua nhiều thế hệ (ảnh trên).

PhanHuynhDieu
Nhạc sỹ nổi tiếng Phan Huỳnh Điểu, qua đời vào lúc 10 giờ15 sáng 29/6 tại Bệnh viện Thống Nhất, hưởng thọ 91 tuổi. Nhạc sỹ nổi tiếng Phan Nhân, từ trần lúc 11g45 tại nhà riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, thọ 85 tuổi.

Thuyền và biển, Ở hai đầu nỗi nhớ, Sợi nhớ sợi thương, Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm,  Bóng cây Kơ-nia,  Đoàn vệ quốc quân, … là những  “Tiếng hát mãi xanh” nổi bật, để đời của Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu. Người sinh năm 1924 tại Đà Nẵng nguyên quán Quảng Nam, đã sáng tác hơn 100 ca khúc về tình yêu, nỗi nhớ, cách mạng, yêu thương được nhiều thế hệ yêu mến.

PhanNhan

Hà Nội – Niềm tin và hy vọng, Tình ca đất nước, Cây đàn ghi-ta của Victor Hara,  Chú ếch con là những ca khúc nổi bật, đặc sắc nhất của Nhạc sỹ Phan Nhân. Ông tên thật là Liêu Nguyễn Phan Nhân, sinh năm 1930, nguyên quán An Giang. Người sáng tác tuy không nhiều nhưng chất lượng cao, đặc biệt  là bài Hà Nội – Niềm tin và hy vọng, ca khúc được chọn làm giai điệu chính cho Lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.
(xem tiếp…).

Nguồn: Tình yêu cuộc sống https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/06/29/dem-nho-phan-huynh-dieu-phan-nhan/   Posted on 29.06.2015

Bài viết mới

Video yêu thích

ThuyenvaBien
Thuyền và biển
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chào ngày mới 30 tháng 6

London November 2013-17.jpg
CNM365. Chào ngày mới 30 tháng 6. Wikipedia Ngày này năm xưa. Năm 1894Cầu Tháp Luân Đôn được khánh thành, cầu bắc qua sông Thames đoạn chảy qua thủ đô của Anh Quốc. Năm 1905 – Bài viết “Zur Elektrodynamik bewegter Körper” của Albert Einstein được tiếp nhận và xuất bản sau đó, trong đó giới thiệu thuyết tương đối hẹp.  Năm 1908Một vụ nổ lớn xảy ra gần sông Trung Tunguska thuộc khu vực Siberi của Đế quốc Nga, sự kiện có tác động lớn đối với Trái Đất.

 

 

30 tháng 6

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày 30 tháng 6 là ngày thứ 181 (182 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 184 ngày trong năm.

« Tháng 6 năm 2015 »
CN T2 T3 T4 T5 T6 T7
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30

Mục lục

Sự kiện

Sinh

Mất

Ngày lễ và kỷ niệm

Tham khảo

Tháng 1 | Tháng 2 | Tháng 3 | Tháng 4 | Tháng 5 | Tháng 6 | Tháng 7 | Tháng 8 | Tháng 9 | Tháng 10 | Tháng 11 | Tháng 12