Nhớ lời vàng Albert Einstein

Albert Einstein
TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Anbe Anhstanh ngồi bên bờ biển. Ông đi dép vợ vì êm chân hơn. Anbe Anhxtanh không những để lại di sản “thuyết tương đối” nổi tiếng thế giới mà  còn để lại di sản danh ngôn của một thiên tài, đủ cho ta dùng trọn đời minh triết. Hoàng Kim. “Tình yêu là người thầy tốt hơn trách nhiệm”. (Love is a better teacher than duty).
LoivangAlbertEinstein
“Học từ ngày hôm qua, sống ngày hôm nay, hi vọng cho ngày mai. Điều quan trọng nhất là không ngừng đặt câu hỏi.” (Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning). “Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng”. (Science without religion is lame, religion without science is blind). “Đừng tham công mà hãy cố gắng làm người có ích”. (Strive not to be a success, but rather to be of value). “Nếu anh không thể giải thích đơn giản thì anh chưa hiểu đủ rõ”. (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough).

Albert Einstein3

Albert Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại Ulm là thị trấn nhỏ  bên dòng sông Danube thuộc bang Baden-Württemberg của Đức. Einstein bỏ quốc tịch Đức năm 1896 và nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901, sau đó ông nhận quốc tịch Mỹ  năm 1940 nhưng vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ. Ông mất vào lúc 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955 tại Trenton, New Jersey, Mỹ . Albert Einstein là bác học đặc biệt nổi tiếng, cha đẻ của  “thuyết tương đối” thiên tài và các danh ngôn minh triết.

Lược sử khoa học về Albert Einstein là vĩ nhân thay đổi thế giới, ông được biết đến như là một nhà vật lý lý thuyết người Do Thái gốc Đức mang quốc tịch Mỹ và Thụy Sĩ,  người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột kia là cơ học lượng tử). Albert Einstein mặc dù nổi tiếng nhất thế giới qua phương trình E = mc2 về sự tương đương khối lượng – năng lượng, ông lại được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện” là công trình về hiệu ứng quang điện có tính chất bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử.

Anbert Einstein cuộc đời và sự nghiệp được tóm lược như sau. Ông sau khi tốt nghiệp trường  đại học kỹ thuật Eidgenössische Technische Hochschule năm 1900 ở Zurich, Thụy Sĩ, ông nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901 và dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ 1902 đến 1908, bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại Bern, với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III. Einstein trong thời gian này hoàn toàn tự nghiên cứu ngoài giờ mà không có nhiều liên hệ trực tiếp với đồng nghiệp và tài liệu khoa học nhưng ông đã có những phát kiến rất quan trọng về vật lý lý thuyết làm nền tảng cho sự nghiệp của ông sau này. Anbert Einstein nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Zurich năm 1905 và cùng năm này xuất bản ba công trình khoa học trong đó có thuyết tương đối hẹp. Ngay sau khi ông công bố những phát kiến về nguyên lý tương đương của trọng trường năm 1907, ông được mời làm giảng viên Đại học Bern năm 1908, rồi trở thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm 1909 và bắt đầu nổi danh là một nhà khoa học vật lý hàng đầu.  Năm 1911, ông đến giảng dạy tại trường Đại học Karl Praha là trung tâm khoa học nổi tiếng châu Âu và thủ đô của Tiệp Khắc. Ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của thuyết tương đối rộng là ánh sáng phải đi theo đường cong khi qua gần Mặt Trời. Một năm sau đó, ông trở lại Zurich tiếp tục phát triển lý thuyết về trọng trường bằng tính toán tensor, với sự giúp đỡ của Marcel Grossmann nhà toán học danh tiếng và cũng là bạn học. Năm 1914 Anbert Einstein quay về Đức làm thành viên Viện Hàn lâm Khoa học Đức. Năm 1915, lần đầu thuyết tương đối rộng được xuất bản. Năm 1919, đoàn chuyên gia người Anh đã đo đạc ánh sáng mặt trời khi có nhật thực và  khẳng định tiên đoán thiên tài năm 1911 của Anbert Einstein. Trong khi ông trở nên nổi tiếng toàn cầu thì ở Đức ông bị các phần tử bài Do Thái gây rối và tấn công. Năm 1921 Anbert Einstein được nhận giải thưởng Nobel về vật lý đối với  hiệu ứng quang điện mà không phải thuyết tương đối công trình nổi tiếng nhưng còn gây tranh cãi vào thời điểm đó. Từ năm 1920 đến năm 1927, ông đi khắp thế giới (1921 ở Mỹ, 1922 ở Pháp và Nhật, 1923 ở Palestine, 1924 ở Nam Mỹ) để thuyết trình khoa học và hoạt động xã hội . Bắt đầu từ năm 1927, Einstein tham gia vào một cuộc tranh luận với Niels Bohr về thuyết lượng tử. Ông làm việc quá sức và lâm bệnh năm 1928. Mặc dù bình phục ngay trong năm này, cường độ làm việc của ông buộc phải thư giãn hơn trước. Năm 1932, Einstein nhận giảng tại Đại học Princeton, tại Mỹ, và không quay trở lại nữa vì chính quyền chống Do Thái Đức quốc xã đã cầm quyền ở Đức. Năm 1933, ông tiếp tục chu du Oxford, Glasgow, Brussels, Zurich và nhận được những vị trí danh dự mà ông đã từng mơ ước vào năm 1901 từ Jerusalem, Leiden, Oxford, Madrid và Paris. Năm 1935 Einstein quyết định ở lại Princeton thực hiện những cố gắng trong việc thống nhất các định luật của vật lý. Năm 1940 ông nhận quốc tịch Mỹ, và vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ. Anbert  Einstein không chỉ là khai sinh ra “thuyết tương đối” nổi tiếng thế giới mà còn là một nhà khoa học phản đối chiến tranh. Ông đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp vào năm 1944.  Phương trình năng lượng của vật chất: E=mc2 trong bao nhiêu năm trời chỉ là đề tài tranh luận của các cuộc cãi vả lý thuyết, cho đến khi kết quả thực tế về năng lượng hạt nhân của quả bom nguyên tử đã làm san bằng thành phố Hiroshima năm 1945 chứng minh sự thật của phương trình đó. Albert Einstein, tác giả của phương trình lừng danh này luôn coi thường và lãnh đạm mọi tôn vinh. Ông chỉ khao khát được suy nghĩ làm việc.  Anbert   Einstein bắt đầu lâm bệnh năm 1949 và viết di chúc năm 1950. Chính phủ Israel năm 1952, mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông đã từ chối. Một tuần trước khi mất, Anbert Einstein đã ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng vũ khí hạt nhân. Ông mất tại Trenton, New Jersey, Mỹ lúc 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955.

Di sản “thuyết tương đối” thiên tài và minh triết Albert Einstein  bền vững với thời gian.

Hoàng Kim
(thu thập và tổng hợp)

Những câu ưa thích khác của Anbe Anhstanh

Hòa bình không thể gìn giữ bằng bạo lực. Nó chỉ có thể đạt được bằng sự thông hiểu lẫn nhau. (Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding).

Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng. (Science without religion is lame, religion without science is blind).

Lực hấp dẫn không chịu trách nhiệm cho việc con người ta yêu nhau. (Gravitation is not responsible for people falling in love).

Tiền lực luôn hấp dẫn những kẻ thiếu đạo đức. (Force always attracts men of low morality).

Đừng làm gì trái với lương tâm, ngay cả khi chính quyền yêu cầu bạn. (Never do anything against conscience even if the state demands it).

Thông tin không phải là kiến thức. Nguồn tri thức duy nhất là kinh nghiệm. (Information is not knowledge. The only source of knowledge is experience).

Nghệ thuật tối thượng của người thầy là đánh thức niềm vui trong sự diễn đạt và tri thức sáng tạo. (It is the supreme art of the teacher to awaken joy in creative expression and knowledge).

Kẻ nào chưa từng mắc phải lỗi lầm cũng là kẻ chưa bao giờ thử làm việc gì cả. (A person who never made a mistake never tried anything new).

Anh đi càng nhanh thì đi càng ít. (The faster you go, the shorter you are).

Albert Einstein4

Albert Einstein (14 tháng 3 năm 1879–18 tháng 4 năm 1955) là nhà vật lý lý thuyết người Đức, người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột kia là cơ học lượng tử). Mặc dù Albert Einstein được biết đến nhiều nhất qua phương trình E = mc2 về sự tương đương khối lượng- năng lượng (được xem là “phương trình nổi tiếng nhất thế giới”), ông lại được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện”. Công trình về hiệu ứng quang điện của ông có tính chất bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử (Wikipedia)

Albert Einstein không những để lại di sản “thuyết tương đối” nổi tiếng thế giới mà còn để lại di sản danh ngôn của một thiên tài. Danh ngôn của Albert Einstein ở Từ điển Danh ngôn (tudiendanhngon.vn) .

Hoàng Kim
(thu thập và tổng hợp)

Xem tiếp:

TỪ ĐIỂN DANH NGÔN
www.tudiendanhngon.vn

Albert Einstein
(14/3/1879 – 18/4/1955)

Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, có một nhà đại bác học được toàn thế giới ca ngợi về một phương trình lừng danh nhất của Khoa Học, đó là phương trình cho biết năng lượng của vật chất: E=mc2. Trong hàng chục năm trời, E = mc2 vẫn chỉ là đề tài của các cuộc tranh luận về mặt lý thuyết, nhưng sự san bằng thành phố Hiroshima vào năm 1945 do quả bom nguyên tử đã chứng minh sự thật của phương trình đó.

Trước lời ca tụng, trước vinh quang rực rỡ, Albert Einstein, tác giả của phương trình lừng danh kể trên lại, giữ một bộ mặt thẹn thùng, xa lạ. Sự quảng cáo thanh danh đã quấy nhiễu ông suốt đời nhưng tất cả đều bị ông coi thường, lãnh đạm. Einstein chỉ khao khát độc nhất sự trầm lặng để có thể suy nghĩ và làm việc.

Einstein sinh ngày 14 tháng 3 năm 1879 tại thị trấn nhỏ Ulm bên dòng sông Danube thuộc bang Baden-Württemberg của Đức. Einstein bỏ quốc tịch Đức năm 1896 và nhận quốc tịch Thụy Sĩ năm 1901. Sau khi tốt nghiệp trường Eidgenössische Technische Hochschule (một trường đại học kỹ thuật) năm 1900 ở Zurich, Thụy Sĩ, ông dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ 1902 đến 1908, bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại Bern, với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III. Đây chính là thời gian Einstein có những phát kiến quan trọng trong vật lý lý thuyết, và cũng là nền tảng cho sự nghiệp của ông sau này, hoàn toàn làm ngoài giờ và không có nhiều liên hệ trực tiếp với đồng nghiệp và tài liệu khoa học.

Einstein nhận bằng tiến sĩ từ Đại học Zurich năm 1905 và cùng năm này xuất bản 3 công trình khoa học trong đó có thuyết tương đối hẹp. Sau khi phát kiến ra nguyên lý tương đương của trọng trường năm 1907, Einstein trở thành giảng viên tại Đại học Bern năm 1908, rồi thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm 1909 và bắt đầu được biết đến là một nhà khoa học hàng đầu. 1911, trong khi chuyển đến giảng tại Đại học Karl-Ferdinand ở Praha (thủ đô của Tiệp Khắc lúc đó), ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của thuyết tương đối rộng là ánh sáng phải đi theo đường cong khi qua gần Mặt Trời. Một năm sau đó trở lại Zurich tiếp tục phát triển lý thuyết về trọng trường bằng tính toán tensor, với sự giúp đỡ của bạn học và cũng là nhà toán học Marcel Grossmann. Năm 1914 ông quay lại Đức, trở thành thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Đức. Năm 1915, lần đầu thuyết tương đối rộng được xuất bản. Năm 1919, đo đạc với ánh sáng mặt trời khi có nhật thực của một đoàn chuyên gia người Anh đã khẳng định tiên đoán của Einstein vào năm 1911.

Einstein nhanh chóng trở nên rất nổi tiếng trên thế giới, còn ở Đức ông lại bị một số phần tử bài Do Thái tấn công. Từ năm 1920 đến năm 1927, ông đi khắp thế giới để thuyết trình và hoạt động xã hội (1921 Mỹ, 1922 Pháp và Nhật, 1923 Palestine, rồi 1924 Nam Mỹ). Năm 1921 cũng là năm Einstein được nhận giải thưởng Nobel về vật lý, không phải cho công trình nổi tiếng nhưng vẫn còn gây tranh cãi vào thời điểm này là lý thuyết tương đối, mà cho những giải thích về hiệu ứng quang điện. Bắt đầu từ năm 1927, Einstein tham gia vào một cuộc tranh luận với Niels Bohr về thuyết lượng tử. Ông làm việc quá sức và lâm bệnh năm 1928. Mặc dù bình phục ngay trong năm này, cường độ làm việc của ông buộc phải giãn hơn trước. Năm 1932, Einstein nhận giảng tại Đại học Princeton, tại Mỹ, và không quay trở lại nữa vì chính quyền chống Do Thái Đức quốc xã đã cầm quyền ở Đức. Năm 1933, ông tiếp tục chu du Oxford, Glasgow, Brussels, Zurich và nhận được những vị trí danh dự mà ông đã từng mơ ước vào năm 1901 từ Jerusalem, Leiden, Oxford, Madrid và Paris. Năm 1935 Einstein quyết định ở lại Princeton thực hiện những cố gắng trong việc thống nhất các định luật của vật lý. Năm 1940 ông nhận quốc tịch Mỹ, và vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ.

Einstein là một người phản đối chiến tranh và đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về thuyết tương đối hẹp của mình vào năm 1944. Ông bắt đầu lâm bệnh từ năm 1949 và viết di chúc năm 1950. Năm 1952, chính phủ Israel mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông từ chối. Một tuần trước khi mất, Einstein ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng vũ khí hạt nhân. Ông mất tại Trenton, New Jersey, 4 giờ chiều ngày 18 tháng 4 năm 1955.

Video yêu thích
Albert Einstein Biography
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Chuyện cổ tích người lớn

CHUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI LỚN
Hoàng Kim

Thạch Lam mất lúc 32 tuổi ngày 27 (28?)  tháng 6 năm 1942 Thạch Lam ngọc đời nay ví ông tốt tính, biết vừa đủ (tường minh vừa phải) nói viết điều gì cũng lương thiện chừng mực nhưng tiếc đức tài mà đoản thọ . Ông là một nhà văn danh tiếng, nhân cách, gần gũi người dân nghèo khổ, nhưng tiếc là mất sớm. (Thạch Lam ảnh trên Văn chương ngày nay VanVN.net). Hạt ngọc và Quyển sách là hai quyển truyện viết cho thiếu nhi Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940. Những tác phẩm khác của Thạch Lam gồm có : Gió đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Ngày mới (1939),Theo giòng (1941), Sợi tóc (1942), Hà Nội băm sáu phố phường (1943).

Gia đình Nguyễn Tường, vinh quang và bi kịch là chuyện nên  biết: “Họ Nguyễn Tường, là một dòng dõi quan từ đời ông Nguyễn Tường Vân là Binh bộ Thượng thư của vua Gia Long. Chữ Tường là bởi vua Gia Long đi đến chân núi Phước Tường, Hội An thì hỏi mọi người núi này là núi gì, ông trả lời “Thưa Chúa đây là núi Phước Tường”. Vua Gia Long nói với ông Nguyễn Tường Vân đi bên cạnh là hầu cận rất thân “Phước là họ ta nhưng Tường thì ta ban cho nhà ngươi”. Từ đó trở đi thì mới là họ Nguyễn Tường, trước thì chỉ Nguyễn không thôi.”

Thạch Lam tâm niệm: “văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”. Văn là người. Nhân cách, cuộc đời và di sản văn chương Thạch Lam là hạt ngọc đời nay về cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Kỷ niệm ngày mất của Thạch Lam xin sưu tầm và biên tập Thạch Lam cuộc đời và di sản, nhân cách và văn chương, hạt ngọc của đời nay. Hoàng Kim.

Theo các tư liệu thu thập chính trên Bách khoa toàn thư Mở  Wikipedia Tiếng Việt cập nhật thông tin đến 27 tháng 6 năm 2015 và các nguồn bổ sung khác ở chú thích và tài liệu tham khảo, Hoàng Kim tra cứu, đối chiếu, chỉnh lý và ghi chép lại (*)

Sống trên đời phúc hậu, học làm người tử tế.

Hoàng Kim

(*) Những việc như Mạc Cảnh Huống anh em kết nghĩa với chúa Nguyễn Hoàng, Mạc Thị Giai hoàng hậu của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, nhiều chuyện đời chưa tường minh. Sống làm người tử tế, biết chừng mực, điều độ, phước tường mong thọ hơn chăng:(HK) ?

ThachLamNguyenTuongLan

Thạch Lam cuộc đời và di sản

Cuộc đời

Thạch Lam (1910[1]1942) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông cũng là em ruột của Nhất LinhHoàng Đạo là hai nhà văn nổi tiếng khác trong nhóm Tự Lực văn đoàn . Thạch Lam ngoài bút danh này còn có các bút danh Việt Sinh, Thiện Sỹ.

Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Lân (sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 , mất ngày 27 tháng 6 năm 1942) nhà văn danh tiếng, nhân cách, gần gũi người dân nghèo khổ.  Ông là em ruột của Nhất LinhHoàng Đạo là hai nhà văn nổi tiếng khác cùng trong nhóm Tự Lực văn đoàn. Thạch Lam ngoài bút danh này còn có các bút danh Việt Sinh, Thiện Sỹ. Tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt nguyên là Nguyễn Tường Sáu, vì ông là con thứ sáu trong nhà. Bố mẹ ông làm lại khai sinh là cho con là Nguyễn Tường Vinh khi ông bắt đầu đi học ở trường huyện Cẩm Giàng (Hải Dương). Thạch Lam đã làm lại khai sinh lần thứ ba, thành Nguyễn Tường Lân khi ông 15 tuổi, cần tăng tuổi để học “nhảy lớp”.[3] 

Thạch Lam sinh quán tại tỉnh Hải Dương, nhưng nguyên quán ở làng Cẩm Phô, nay thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Cha ông là Nguyễn Tường Nhu (18811918), thông thạo chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông phán Tòa sứ nên thường được gọi là Phán Nhu. Mẹ là bà Lê Thị Sâm[2], con gái cả ông Lê Quang Thuật (tục gọi Quản Thuật), người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở Cẩm Giàng cùng thời với ông nội của Thạch Lam là Huyện Giám.

Theo Gia phả họ Nguyễn Tường hiện đang lưu giữ ở Hội An[17], thì họ này khởi đầu từ ông Nguyễn Văn Vân, thi đỗ nhị trường, được bổ chức lễ sinh, làm việc bên chúa Nguyễn Phúc Ánh. Năm 1797, ông Vân theo chúa Nguyễn ra đánh Quảng Nam, lập công to, nên được ban họ Nguyễn Tường. Ông Vân có hai vợ. Người vợ thứ (Nguyễn Thị Khoa Nhàn) sinh ra bốn con trai, trong đó có người con thứ hai tên Nguyễn Tường Phổ. Nguyễn Tường Phổ (1807-1856), sinh ở Cẩm Phổ (Hội An) là người văn võ toàn tài. Năm 35 tuổi (1842), ông thi đỗ Tiến sĩ, lần lượt trải qua các chức: Hàn lâm viên biên tu nội các (Huế), Tri phủ Hoằng An (Bến Tre), Tri phủ Tân An (Gia Định)… Rồi cuối cùng là Đốc học tỉnh Hải Dương. Vậy là ông Phổ, người Quảng Nam, trở thành vị khai nguyên cho dòng Nguyễn Tường ở Cẩm Giàng.Ông Phổ có con hai là Nguyễn Tường Trấp (còn gọi là Tiếp) và Nguyễn Tường Chữ. Sau, ông Trấp làm Tri huyện Cẩm Giàng, được dân trong vùng gọi là Huyện Giám. Ông Trấp có ba vợ, nhưng chỉ có bốn người con, trong số này có Nguyễn Tường Nhu, tức cha Thạch Lam…

Thạch Lam là người con thứ 6 trong gia đình 7 người con (6 trai, 1 gái): Tường Thụy, Tường Cẩm, Tường Tam, Tường Long, Thị Thế, Tường Vinh và Tường Bách. Trừ người Anh cả Nguyễn Tường Thụy làm công chức, những người còn lại đều đã ít nhiều tham gia vào sự nghiệp văn chương, nổi bật trong số đó là  NguyễnTường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo) và Nguyễn Tường Vinh (Thạch Lam).

Ông Phán Nhu mất sớm, bà Phán Nhu phải một mình mua bán tảo tần nuôi một mẹ chồng và bảy người con…[4] Cẩm Giàng, Thạch Lam ở Cẩm Giàng, học tại trường Nam (tiểu học Hải Dương, nay là trường tiểu học Tô Hiệu). Đến khi người anh cả là Nguyễn Tường Thụy ra trường dạy học ở Tân Đệ (Thái Bình), mẹ ông đã đưa cả nhà đi theo người con cả, nên Thạch Lam đến học ở Tân Đệ. Nhưng ở đây được một năm, làm vẫn không đủ cho các miệng ăn, mẹ ông dẫn các con (trừ Nguyễn Tường Thụy) về Hà Nội ở nhà thuê, rồi cứ thế lúc thì ở Hà Nội, lúc thì ở Cẩm Giàng…

Thạch Lam muốn đi làm sớm đỡ đần cho mẹ, nên đã nhờ mẹ nói khéo với ông Lý trưởng cho đổi tên và khai tăng thêm tuổi để học ban thành chung. Tiếp theo, ông thi đỗ vào Cao đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng chỉ học một thời gian, rồi vào trường Trung học Albert Sarraut để học thi Tú tài.

Thạch Lam sau khi đỗ Tú tài phần thứ nhất đã thôi học để làm báo với hai anh. Buổi đầu, ông gia nhập Tự Lực văn đoàn do anh là Nguyễn Tường Tam sáng lập, rồi được phân công lo việc biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của bút nhóm này. Đến tháng 2 năm 1935, thì ông được giao làm Chủ bút tờ Ngày nay.

Khoảng năm 1935, Thạch Lam lấy vợ và được người chị (Nguyễn Thị Thế) nhường lại căn nhà nhỏ tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây (Hà Nội) cho vợ chồng ông ở. Tuy chỉ là một mái tranh vách đất, thế nhưng “nhà cây liễu”[5] là nơi thường lui tới của các văn nghệ sĩ. Ngoài các thành viên trong Tự Lực văn đoàn, còn có: Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Huyền Kiêu, Nguyễn Xuân Khoát

Một tuổi thơ nhọc nhằn cộng với cuộc sống lao lực vì miếng cơm manh áo đã làm Thạch Lam sớm mắc căn bệnh lao phổi, một căn bệnh nan y thời bấy giờ. Ông mất tại “nhà cây liễu” vào ngày 27 tháng 6 năm 1942[6], lúc mới 32 tuổi, khi đang còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn.

Thạch Lam có ba người con, hai trai một gái: Nguyễn Tường Nhung (sau này là vợ của trung tướng Ngô Quang Trưởng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa trước đây), Nguyễn Tường Đằng, và trước vài ngày khi ông mất, vợ ông sinh thêm con trai mà sau này là nhà văn Nguyễn Tường Giang. Ông ra đi để lại người vợ trẻ cùng với ba đứa con thơ trong cảnh nghèo. Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội. Theo nhà văn Băng Sơn thì sau khi Thạch Lam mất, vợ và các con ông có về sống ở Cẩm Giàng với bà Phán Nhu một thời gian rồi vào Nam [7].

Di sản

Tám tác phẩm của Thạch Lam hầu hết được đăng báo trước khi in thành sách:

  • Gió đầu mùa (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, (1937)
  • Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, (1938)
  • Ngày mới (truyện dài, Nhà xuất bản Đời nay, (1939)
  • Hạt ngọc (sách viết cho thiếu nhi, Nhà xuất bản Đời Nay, (1940).
  • Quyển sách (sách viết cho thiếu nhi, Nhà xuất bản Đời Nay, (1940).
  • Theo giòng (bình luận văn học, Nhà xuất bản Đời nay, (1941).
  • Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, (1942).
  • Hà Nội băm sáu phố phường (bút ký, Nhà xuất bản Đời nay, (1943).

Thạch Lam nhân cách và văn chương

Nhân cách

Nhà văn Thế Uyên (con trai bà Nguyễn Thị Thế, cháu gọi Thạch Lam là cậu), trong bài Tìm kiếm Thạch Lam, có đoạn: “Mẹ tôi bảo chú Thạch Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thủa nhỏ đã thế… Và chính ở đây (trại Cẩm Giàng) những người đàn ông ngồi uống trà, hút thuốc, nói chuyện tâm đắc… Có khi bàn chuyện văn chương, báo chí, có thể là chuyện cải cách dân tộc. Thường trong lúc ấy, Thạch Lam ngồi trong đám bạn văn thơ, bởi tính cách Thạch Lam chỉ có thế…”

Nhà văn Vũ Bằng kể lại: ” Thạch Lam yêu sự sống hơn bất kỳ ai. Anh quý từ cốc nước chè tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần như thành kính… như thể cảm ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy. Anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời…khiến người ta tủi thân mà buồn. Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng… Anh là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn…

Có lần Thạch Lam nói: Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ. Người khổ cách này, người cách khác. Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ. Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi. Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống.

Một lần, Thạch Lam cho tiền một đứa trẻ bán lạc rang bị cướp mất tiền, tôi nhắc khéo là có thể bị đứa trẻ đánh lừa, Thạch Lam trả lời: Bị lừa hay không, cái đó không quan hệ lắm. Mình cần làm một việc xét ra phải làm, theo ý mình…

Tháng 2 năm 1935, Thạch Lam được giao quản trị báo Ngày nay. Một nhà thơ, vì cảnh nhà túng quẫn, cứ đến gặp ông xin tạm ứng tiền nhuận bút. Nhưng bạn vay 10 mà trả bài có 3. Có người nhắc ông sao không chặn lại, ông vẫn cho tạm ứng và bảo rằng: Chẳng ai muốn làm một việc như thế, người ta không còn con đường nào khác mới phải làm như vậy. Nếu không giúp đỡ, họ sống ra sao?

Và mặc dù là người nghèo nhất trong gia đình (nhà tranh vách đất, thậm chí cái mền không có tiền mua), Thạch Lam vẫn thường mời bạn văn đến chơi nhà và thiết đãi tận tình. Khúc Hà Linh cho biết:

Thạch Lam nghèo một phần vì sách của ông bán ế, nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng. Những bữa rượu cứ tiếp diễn, và bao giờ Thạch Lam cũng mời mọc thịnh tình cho đến khi thực khách say mềm. Trong lúc chè chén, có khi sinh sự ồn ào, những lúc ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén, không nói lớn, mà chỉ cười…[8]

Văn chương

Là thành viên của Tự Lực văn đoàn, nhưng khác với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng… ngòi bút của Thạch Lam có khuynh hướng đi gần với cuộc sống của những người dân bình thường nghèo khổ.

Nhận xét khái quát về sự nghiệp văn chương của ông, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam có đoạn viết: Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, hay ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, nhất là những người phụ nữ trong xã hội cũ, sống vất vả, thầm lặng, chịu đựng, giàu lòng hi sinh (“Cô hàng xén”). Có truyện miêu tả với lòng cảm thông sâu sắc một gia đình đông con, sống cơ cực trong xóm chợ (“Nhà mẹ Lê”). Có truyện phân tích tỉ mỉ tâm lí phức tạp của con người (“Sợi tóc”). “Ngày mới” đi sâu vào nội tâm của một cặp vợ chồng trí thức nghèo. Chưa có truyện nào có ý nghĩa xã hội rõ nét như các tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán. “Theo giòng” là một thiên tiểu luận viết kiểu tuỳ bút, ghi lại suy nghĩ của ông về nghệ thuật tiểu thuyết, có những ý kiến hay, nhưng chưa đi sâu vào khía cạnh nào. Cuốn “Hà Nội ba sáu phố phường” có phong vị đậm đà của quê hương xứ sở, lại rất gợi cảm. Văn Thạch Lam nhẹ nhàng, giàu chất thơ, sâu sắc, thâm trầm, thường để lại một ấn tượng ngậm ngùi, thương xót.[9]

Trong “Lời nhà xuất bản Văn học” (khi in lại tác phẩm “Gió đầu mùa” năm 1982) cũng có đoạn viết như sau: Giới thiệu tập truyện ngắn “Gió đầu mùa” xuất bản trước Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam viết: “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là “Tuyên ngôn văn học” của Thạch Lam. Và quả thật, trong toàn bộ gia tài sáng tạo của Thạch Lam, hầu như không một trang viết nào lại không thắm đượm tinh thần đó. Là thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn, song trước sau văn phong Thạch Lam vẫn chảy riêng biệt một dòng. Đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực văn đoàn là những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang màu sắc cải lương, là những phản kháng yếu ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ra trong các gia đình quyền quý. Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đương thời. Khung cảnh thường thấy trong truyện ngắn Thạch Lam là những làng quê bùn lầy nước đọng, những phố chợ tồi tàn với một bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn gió bấc, những khu phố ngoại ô nghèo khổ, buồn, vắng… Trong khung cảnh ấy, các nhân vật cũng hiện lên với cái vẻ heo hút, thảm đạm của số kiếp lầm than – Đó là mẹ Lê, người đàn bà nghèo khổ, đông con, góa bụa ở phố chợ Đoàn Thôn, là bác Dư phu xe ở phố Hàng Bột, là Thanh, Nga với bà nội và cây hoàng lan trong một làng quê vùng ngoại ô, là cô Tâm hàng xén với lối đường quê quen thuộc trong buổi hoàng hôn…Tất cả những cảnh, những người ấy đều được mô tả bằng một số đường nét đơn sơ, thưa thoáng nhưng vẫn hết sức chân thực…

Tác phẩm của Thạch Lam vì thế có nhiều yếu tố hiện thực tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, lão Hạc của Nam Cao, hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố…Cái riêng, cái độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, chính là ở lòng nhân ái, và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyến trong mọi tác phẩm của ông. Nhân vật Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lên trong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam…Đọc truyện ngắn Thạch Lam rõ ràng ta thấy yêu con người, quý trọng con người hơn. Và cũng từ đó ta thương cảm, nâng niu, chắt gạn từng chút tốt đẹp trong mỗi một con người.

Nhà văn Nguyễn Tuân: Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc…Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và tầng trải về sự đời. Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày. Xúc cảm của Thạch lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê. Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước cuộc sống của mọi người chung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch lam, vẫn thấy đầy đủ cáo dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học…[10]

Nhà văn Vũ Ngọc Phan: Ngay trong tác phẩm đầu tay (Gió đầu mùa), người ta đã thấy Thạch Lam đứng vào một phái riêng…Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỷ mỷ những cái rất nhỏ và rất đẹp… Phải là người giàu tình cảm lắm mới viết được như vậy…’[11].

GS. Phạm Thế Ngũ: Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội…Đối với ông, nhân vật thường là những người tầm thường trong xã hội: mẹ Lê trong xóm nghèo, cô hàng xén ở phố huyện, cậu học trò đi ở trọ, hai cô gái giang hồ trơ trọi…Và ông thường để ý vạch vẽ cuộc đời, tình cảm cùng ý nghĩ của họ, chớ không bận tâm lắm đến việc tuyên truyền tư tưởng cách mạng xã hội như trong các tác phẩm của Nhất Linh hay Hoàng Đạo…Ta thấy Thạch Lam, luôn hòa đồng trong cái xã hội nhỏ bé mà ông thương xót với tất cả tâm hồn đa cảm của ông…[12]

GS. Phong Lê: Thạch Lam có quan niệm dứt khoát về thiên chức của văn chương: “Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Có lẽ cả hai phương diện, vừa tố cáo, vừa xây dựng, đều được Thạch Lam chú ý; và trong phần thành công của nó, các dấu ấn hiện thực và lãng mạn trong văn Thạch Lam đều tìm được sự gắn nối ở chính quan niệm này.

Ở tư cách nhà văn, Thạch Lam đòi hỏi rất cao phẩm chất trung thực của người nghệ sĩ. Ông viết: “Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị. Không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ. Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi”[13].

PGS. Nguyễn Hoành Khung: …Tình cảm của Thạch Lam chân thành, tuy nhiên, ông chỉ mới băn khoăn, thương cảm đối với số phận người nghèo qua những câu chuyện mang một dư vị ngậm ngùi, tội nghiệp.

Về bút pháp, có thể nói Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái “tôi”, với sự phân tích cảm giác tinh tế.

Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn; chúng “đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm tho và mát dịu” (Nguyễn Tuân).

Ông là cây bút có biệt tài về truyện ngắn. Nhiều truyện ngắn của ông dường như không có cốt truyện, song vẫn có sức lôi cuốn riêng. Truyện dài “Ngày mới” của ông không có gì đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuật[14].

Khúc Hà Linh (Hiệu trưởng Trường Văn hóa nghệ thuật Hải Dương): Thạch Lam có những tháng năm sống nơi thôn dã, nên trong tác phẩm ông chất chứa nhiều hình bóng con người và đời sống làng quê…Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế. Văn ông hài hòa giữa lãng mạn và chân thực, mà vẫn nồng nàn tình quê, nặng lòng với dân tộc.

Thạch Lam không chỉ nổi tiếng về truyện ngắn, ông còn thành công trong thể loại bút ký. “Hà Nội băm mươi sáu phố phường” gồm nhiều mẩu văn ngắn mà sinh động, thể hiện vốn sống phong phú và tài hoa của ông…[15].

Thạch Lam hạt ngọc của đời nay

Năm 1996, ở Cẩm Giàng có một con đường mang tên Thạch Lam. Đây là một việc làm mạnh dạn, là cách trân trọng văn chương hiếm thấy tại thời điểm lịch sử lúc bấy giờ[16]. Hiện nay, truyện ngắn “Hai đứa trẻ” (in trong tập truyện “Nắng trong vườn”) của ông đang được giảng dạy tại lớp 11 trong hệ thống giáo dục Việt Nam.

Chú thích và tài liệu tham khảo

Chú thích

  1. ^ Đa phần các sách (trong số đó có sách giáo khoa lớp 11) đều ghi Thạch Lam sinh năm 1910. Theo nhà văn Nguyễn Tuân và Lời nhà xuất bản Văn học (khi in lại tác phẩm “Gió đầu mùa” năm 1982) thì ông sinh năm 1909.
  2. ^ Bà Nhu (tức Lê Thị Sâm, sinh năm 1881? – ?) là một người mẹ Việt Nam mẫu mực. Chồng mất sớm, bà vẫn ở vậy để hôm sớm tảo tần lo cho 7 người con ăn học. Sau khi các con đều đã có gia đình, bà xuất gia đến tu ở Đào Xuyên, Bối Khê, Hà Nội. Khi biết tin Hoàng Đạo đột tử ở ga Thạch Long (Trung Quốc) năm 1948, bà đã làm lễ cầu siêu cho con, rồi vào Sài Gòn, tu ở chùa Xá Lợi cho đến năm 1960. Ít lâu sau bà viên tịch tại đó, trước ngày Nhất Linh quyên sinh (7 tháng 7 năm 1963 [1].
  3. ^ Những bất ngờ từ Thạch Lam.
  4. ^ Khi gồng mình lên gánh vác cơ nghiệp nhà Nguyễn Tường, bà Phán Nhu đã phải thay đổi chỗ ở nhiều lần, nhưng chỉ có cuộc sống nghèo khổ ở Cẩm Giàng là làm lay động nhiều đến trái tim và in đậm trong tâm hồn của các con bà để sau này trở thành những nhân vật, những chất liệu văn học trong các phẩm của họ, đặc biệt là ở Thạch Lam. Nhà văn Thế Uyên (cháu gọi Thạch Lam là cậu) viết: “Bà ngoại tôi buôn bán tảo tần nuôi bảy con ở cái phố huyện buồn thiu, cái không gian ấy sau này xuất hiện tràn đầy trong tác phẩm của Thạch Lam”. Ngày 9 tháng 5 năm 2008, một cuộc hội thảo mang tên “Bảo tồn và phát huy di sản Cố trạch của Tự Lực văn đoàn” đã được tổ chức tại thị trấn Cẩm Giàng, với sự tham dự của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, như: Văn Tạo, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi, Bằng Việt, Lê Lựu, Văn Giá…Và tất cả đều đã đồng ý là nên xây dựng một nhà lưu niệm Tự lực văn đoàn trên mảnh đất xưa của ba gia đình ba nhà văn, đấy chính là sự ghi nhận công lao của họ đối với lịch sử văn học nước nhà. (Khúc Hà Linh, tr. 29 và 181).
  5. ^ Nhiều người vẫn gọi ngôi nhà ấy là nhà cây liễu, vì trong sân sát hồ có cây liễu lớn, thân nâu sần sùi nứt nẻ, bóng rũ thướt tha, do chính tay Thạch Lam trồng. Nhà thơ Huyền Kiêu ngày ấy đã có bài thơ chấm phá về ngôi nhà ấy như sau: Tây Hồ có danh sĩ/ Nhà thì ở mái tranh/ Cửa trúc cài phên gió/ Trước thềm bóng liễu xanh… Có bạn văn chương bào nhà cây liễu là ngôi nhà lịch sử, bởi nó chứng kiến vui buồn của những văn nghệ sĩ trong khoảng khắc giao thời (Khúc Hà Linh, tr. 94)
  6. ^ Ngày Thạch Lam mất, các sách ghi không thống nhất. Tuyển tập Thạch Lam ghi ngày 23. Từ điển Văn học (bộ mới) và Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1930-1945, tập 5) ghi ngày 28. Ở đây ghi theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt NamAnh em Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh… của Khúc Hà Linh.
  7. ^ Theo Băng Sơn, Người đã khói sương. Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin, 2001.
  8. ^ Phần Đôi nét về nhân cách, trích trong sách của Khúc Hà Linh, tr. 92 và 154-155.
  9. ^ Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam , bản điện tử
  10. ^ Nguyễn Tuân, bài viết về Thạch Lam, in ở cuối sách Tuyển tập Thạch Lam, tr. 323.
  11. ^ Nhà văn hiện đại (tập 2), tr. 1060.
  12. ^ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển 3), tr. 490.
  13. ^ Theo GS. Phong Lê, [2].
  14. ^ Từ điển Văn học (bộ mới), tr. 1621.
  15. ^ Khúc Hà Linh, tr. 83 và 85.
  16. ^ Khúc Hà Linh, tr. 177.
  17. ^ Nhà thờ tộc Nguyễn Tường nằm trên đường Phan Đình Phùng, ngay cạnh Khổng miếu, thuộc khu phố 4, phường Cẩm Phô, thị xã Hội An.

Tài liệu tham khảo

  • Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại (tập 2). Nhà xuất bản KHXH in lại năm 1989.
  • Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển 3). Quốc học tùng thư xuất bản, 1965.
  • Thạch Lam, Gió đầu mùa. Nhà xuất bản Văn học, 1982.
  • Phong Lê, Tuyển tập Thạch Lam. Nhà xuất bản Văn học, 1988.
  • Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam . Nhà xuất bản KHXH, 1992.
  • Nhiều người soạn, Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (1930-1945, tập 5). Nhà xuất bản KHXH. 1989.
  • Nhiều người soạn, Từ điển Văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nhiều người soạn, Ngữ văn lớp 11 (tập 1). Nhà xuất bản Giáo dục, 2008.
  • Khúc Hà Linh, Anh em Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh: Ánh sáng và bóng tối. Nhà xuất bản Thanh Niên, 2008.
  • Quan hệ giữa Tường Lam và Vũ Bằng thời ấy. VanVN.Net – Nhà văn Triệu Xuân: Ngày 28-6-2011, kỷ niệm 69 năm ngày mất của nhà văn Thạch Lam. Tưởng nhớ Thạch Lam, nhà văn tài năng và nhân cách cao đẹp, Văn Chương Ngày Nay trích in một vài trang viết của cố nhà văn Vũ Bằng, viết tháng 12 năm 1971 tại Sài Gòn, thành tâm ân hận về những gì mình không phải với Thạch Lam, hết lời tôn vinh nhân cách Thạch Lam.

Liên kết ngoài

Thạch Lam hạt ngọc đời nay. Tôi lưu một điểm nhấn cũng là nén tâm hương tưởng nhớ ngày mất của ông để hàng năm quay về học nhân cách và tinh anh của một con người. Nhân cách ấy, con người ấy, văn chương ấy là không tầm thường ! Lịch sử công bằng sẽ gạn đục khơi trong, lưu lại tinh anh văn hóa.

Hoàng Kim

Bài viết mới

Video yêu thích

Cha con GS-TS Trần Văn Khê hòa đàn ngẫu hứng 2014

Lý Ngựa Ô liên khúc ba miền
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Người mù điếc huyền thoại

HelenKeller
Helen Keller
(27 tháng 6 năm 1880 – 1 tháng 6 năm 1968) là nữ văn sĩ, nhà hoạt động xã hội, diễn giả người Mỹ. Bà vì viêm màng não nên bị mù, câm và điếc nhưng đã tốt nghiệp Đại học Harvard. Bà là người khiếm thị, khiếm thính đầu tiên của nước Mỹ giành học vị Cử nhân Nghệ thuật.[1]. Tại Việt Nam hiện đã có một số tác phẩm giới thiệu về người mù câm điếc huyền thoại này đã vượt lên số phận nghiệt ngã để làm được những điều tốt đẹp cho thế giới chúng ta. Hoàng Kim đã biên tập bài viết này từ nguồn Helen Keller Biography.com,  Wikipedia Tiếng Anh &Tiếng Việt và danh ngôn của Helen Keller ở trong Từ điển Danh ngôn.

HELEN KENLER CUỘC ĐỜI VÀ DI SẢN

Tuổi thơ
Helen Adams Keller sinh ra tại Tuscumbia, Alabama. Gia đình bà sống trong khu điền trang Ivy Green[2] được ông nội của bà xây dựng từ những thập kỉ trước.[3].

Cha bà là Arthur H. Keller[4] là người biên tập lâu năm cho tờ báo Tuscumbia North Alabamian và từng là đại úy trong Quân đội miền nam.[3] Bà nội của Helen là chị em họ với Robert E. Lee.[5] Mẹ bà là Kate Adams,[6] là con gái của Charles W. Adams[7] là người gốc từ Massachusetts và từng tham chiến cho Quân đội miền nam trong suốt Cuộc nội chiến Mỹ và trở thành đại tá. Họ nội của Helen thuộc dòng dõi với Casper Keller, người có gốc gác Thụy Sỹ.[5][8]

Keller không bị mù và điếc bẩm sinh. Khi chào đời được khoảng 19 tháng, bà bị ốm nặng sốt cao viêm màng não và không may hỏng mất đôi mắt, và sau đó tai cũng bị điếc. Gia đình bất hạnh chứng kiến đứa con gái vùa lớn lên vừa chống chọi với số phận nghiệt ngã, càng lớn thì tính tình của Keller càng nóng nảy cáu gắt.

 Keller và cô Anne Sullivan vào tháng 7 năm 1888

Thầy bạn nghị lực và học vấn

Năm 1886, mẹ bà tình cờ biết được một đứa bé cũng bị mù-điếc như con mình nhưng đã được dạy dỗ thành công, liền tới Baltimore, Maryland gặp bác sĩ để xin lời khuyên. Người bác sĩ này khuyên bà nên tới gặp Alexander Graham Bell, lúc đó còn đang là một nhà chuyên môn chuyên làm việc với những trẻ em bị điếc tại địa phương. Bell lại giới thiệu bà mẹ đưa con gái của mình tới học tại trường Perkins dành cho người mù,  ở Nam Boston, tiểu bang Massachusetts. Tại đây Keller đã được gặp cô gia sư Anne Sullivan vừa mới tốt nghiệp người Ireland, bắt đầu một tình bạn kéo dài suốt 49 năm.

Keller và cô Anne đang học từ

Có một lần Anne tặng cho Keller một con búp bê bằng vải mà cô ôm trên tay. Chờ cho Keller chơi một hồi, Anne liền cầm lấy bàn tay Keller và viết chữ “búp bê” (doll) lên lòng bàn tay em. Keller rất thích thú với cách thể hiện đó, từ đó về sau Anne thường xuyên tập cho Keller ghép chữ cái theo cách này. Sau 3 tháng, thông qua ngôn ngữ động tác tay và sờ xem cử động môi của Anne, Keller đã học được hơn 400 từ đơn cùng một số đoản ngữ.

Năm Keller 8 tuổi, cô Anne đưa bà tới học tại trường Perkins, nơi có các loại sách chữ nổi và các trẻ em bị mù-điếc khác. Chẳng bao lâu, Keller đã bộc lộ rõ tài năng vượt trội về các môn toán, địa lý, sinh học, tập đọc; em còn học cả bơi, chèo thuyền, cưỡi ngựa, đi xe. Sau đó Keller vào học trường nữ học tiểu bang Massachusetts, cô giáo Anne luôn luôn ở bên cạnh Keller để viết lại nội dung bài giảng vào lòng bàn tay Keller. Năm 1900 Keller thi đậu vào trường Radcliffe College, học tài liệu chữ nổi dành cho người mù. Cô kiên trì học tới mức khi nào đầu ngón tay rớm máu mới chịu dừng. Đến năm 1904 Keller tốt nghiệp và trở thành người mù-điếc đầu tiên được tốt nghiệp đại học.

Hoạt động chính trị

Hai năm sau ngày tốt nghiệp, Keller được vinh dự bầu vào chức chủ tịch hội người mù tiểu bang Massachusetts, bắt tay vào công việc xã hội cụ thể phục vụ cho cộng đồng người mù. Keller đón tiếp rất nhiều người mù, trả lời nhiều thư từ và đi thuyết giảng lưu động tại 39 nước trên thế giới. Cô không quản ngại vất vả, cống hiến hết sức mình cho chương trình giáo dục và chữa trị cho người mù. Năm 1920 với sự phấn đấu không mệt mỏi, Keller đã thành lập được tổ chức quần chúng trên phạm vi toàn quốc của Hội người mù toàn nước Mỹ. Tổ chức này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Keller trở thành một biểu tượng của tinh thần tự lực phi thường khi suốt đời sống trong thế giới không ánh sáng, không âm thanh nhưng vẫn cống hiến hết sức lực nhằm đem niềm vui đến với người tàn tật, có cùng hoàn cảnh như mình. Cô đã được gặp nhiều tổng thống Mỹ như Grover Cleveland, Benjamin Harrison, William McKinley, Theodore Roosevelt, William Howard Taft, Franklin D. Roosevelt, John F. Kennedy… Cô cũng trở thành bạn của những con người nổi tiếng như Alexander Graham Bell, Charlie Chaplin, Mark Twain.

Bà bắt đầu tham gia phong trào xã hội tại nước Mỹ. Keller gia nhập Đảng Xã hội Hoa Kỳ, và về sau bỏ đảng đó để gia nhập Industrial Workers of the World (Công nhân kỹ nghệ của Thế giới). Những nhà báo mà về trước khen ngợi sự can đảm và thông minh của bà bây giờ chỉ ra là bà bị tàn tật. Chủ báo Brooklyn Eagle viết rằng “những sai lầm [của bà] xuất hiện từ những hạn chế rõ ràng khi lớn lên”. Keller trả lời chủ báo này, nói đến lần gặp ông trước khi ông biết đến những quan điểm chính trị của bà:

At that time the compliments he paid me were so generous that I blush to remember them. But now that I have come out for socialism he reminds me and the public that I am blind and deaf and especially liable to error. I must have shrunk in intelligence during the years since I met him… Oh, ridiculous Brooklyn Eagle! Socially blind and deaf, it defends an intolerable system, a system that is the cause of much of the physical blindness and deafness which we are trying to prevent.[1]

Bà cũng biểu tình chống chiến tranh và đồng sáng lập tổ chức dân quyền ACLU[2]. Các hoạt động này có liên quan đến quan điểm công bằng của Keller.

Giới thiệu loài chó quý Akita tới Mỹ

Khi Keller tới thăm tỉnh Akita, Nhật Bản vào tháng 7 năm 1937, bà đã hỏi thăm tới Hachiko, một con chó giống Akita nổi tiếng đã chết từ năm 1935, và bày tỏ ý định muốn có một chú chó như thế. Chỉ trong vòng một tháng, một chú chó tên là Kamikaze-go đã được gửi đến, nhưng sau đó đã chết bệnh quá sớm. Chính phủ Nhật Bản quyết định tặng cho Keller một chú chó thứ hai tên là Kenzan-go vào tháng 7 năm 1939 để bà mang về Mỹ giới thiệu. Những tiêu chuẩn để nuôi dưỡng và chăm sóc giống chó này đã được xây dựng, đồng thời các cuộc biểu diễn cũng đã được tổ chức. Tuy nhiên tất cả đã bị hoãn vô thời hạn vì Thế chiến thứ hai nổ ra.

Ngày 14 tháng 9 năm 1964 Keller được Tổng thống Lyndon B. Johnson tặng thưởng Huân chương Tự do, một trong hai phần thưởng cao quý nhất của chính phủ Mỹ dành cho nhân dân.

Ngày 1 tháng 6 năm 1968 Helen Keller tạ thế ở tuổi 87 trong căn nhà của mình tại Easton, Connecticut, trong khi chỉ còn 26 ngày nữa là tới sinh nhật thứ 88 của bà.

Bệnh viện Helen Keller đã được xây dựng tại Alabama để tưởng nhớ người phụ nữ giàu nghị lực này.

Viết sách

Bìa cuốn sách Light in My Darkness

Năm 1902, khi đang học năm thứ 2, dưới sự giúp đỡ của Anne và một số nhà phê bình văn học, Keller đã hoàn thành tác phẩm đầu tay mang tựa đề The Story of My Life, được xuất bản năm 1903. Tác phẩm theo thể loại tự truyện, bút pháp súc tích chân thật khiến người đọc xôn xao.

Đến năm 1960, bà cho ra mắt một cuốn sách, Light in My Darkness, trong đó bà lên tiếng bênh vực những lời giáo huấn của nhà khoa họctriết gia người Thụy Điển Emanuel Swedenborg.

Tổng cộng, Helen Keller đã viết được 12 cuốn sách và nhiều bài báo khác nữa.

Chuyện đời thường

Tuy bị tàn tật nhưng Keller là một người phụ nữ tràn đầy lạc quan, thiết tha yêu sống. Bất ngờ có một chàng trai ngỏ lời cầu hôn và được Keller chấp nhận, sung sướng chờ đợi niềm hạnh phúc đó. Thế nhưng vì bị bà mẹ kịch liệt phản đối, Keller đành ngậm ngùi chia tay người yêu và nguyện dành tình yêu đó cho sự nghiệp phúc lợi mang lại niềm vui cho người mù.

Hai cuộc Thế chiến thứ nhấtThế chiến thứ hai gây ra đau thương chết chóc và tàn phế cho hàng trăm triệu người. Keller đã tìm đến hơn 70 bệnh viện để an ủi bệnh binh, động viên họ kiên cường chống chọi với số phận, làm cho họ hiểu rằng tàn phế không có nghĩa là hết hy vọng trước cuộc sống. Bà từng 3 lần sang thăm nước Nhật sau chiến tranh và được người dân Tokyo tiếp đón nồng nhiệt. Bà kể với mọi người rằng mình chỉ là một người không may mắn, nhưng đã dùng ý chí nghị lực để chống trả lại số phận trớ trêu, hoàn thành sự nghiệp khơi gợi tấm lòng nhân hậu của mọi người, nhằm mang lại tình thương cho người tàn tật.

LỜI VÀNG HELEN KELLER 

Hai câu nói đặc biệt nổi tiếng

“Những gì tốt đẹp nhất phải được cảm nhận bằng trái tim”
                                                                   — Helen Adams Keller
“Tôi đã khóc vì không có giày để đi chỉ đến khi tôi gặp một người khóc vì không có chân để đi giày
                                                                  — Helen Adams Keller

Danh ngôn của Helen Keller

Lạc quan là niềm tin dẫn tới thành tựu. Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu đi hy vọng và sự tự tin.

Optimism is the faith that leads to achievement. Nothing can be done without hope and confidence.

Cùng bước với một người bạn trong bóng tối tốt hơn là bước một mình trong ánh sáng.

Walking with a friend in the dark is better than walking alone in the light.

Thành công và hạnh phúc nằm trong bạn. Quyết tâm hạnh phúc, và niềm vui sẽ đi cùng bạn để hình thành đạo quân bất khả chiến bại chống lại nghịch cảnh.

Your success and happiness lies in you. Resolve to keep happy, and your joy and you shall form an invincible host against difficulties.

Chừng nào mà kỷ niệm về những người bạn thân thương vẫn sống trong tim tôi, tôi sẽ nói rằng đời tốt đẹp.

So long as the memory of certain beloved friends lives in my heart, I shall say that life is good.

Tính cách không thể phát triển một cách dễ dàng và yên lặng. Chỉ qua trải nghiệm thử thách và gian khổ mà tâm hồn trở nên mạnh mẽ hơn, hoài bão hình thành và thành công đạt được.

Character cannot be developed in ease and quiet. Only through experience of trial and suffering can the soul be strengthened, ambition inspired, and success achieved.

Một mình, ta làm được rất ít; cùng nhau, ta làm được rất nhiều.

Alone we can do so little; together we can do so much.

Thật tuyệt vời là con người đã sử dụng biết bao thời gian để chống lại cái ác. Giá mà họ cũng sử dụng năng lượng đó để yêu thương người khác, cái ác sẽ tự chết vì buồn chán.

It is wonderful how much time good people spend fighting the devil. If they would only expend the same amount of energy loving their fellow men, the devil would die in his own tracks of ennui.

Sự khoan dung là món quà lớn nhất của tâm hồn; nó đòi hỏi nỗi lực của bộ não cũng nhiều như khi bạn phải giữ thăng bằng khi đi xe đạp.

Toleration is the greatest gift of the mind; it requires the same effort of the brain that it takes to balance oneself on a bicycle.

Cũng như sự ích kỷ và phàn nàn làm tha hóa tâm hồn, tình yêu với những niềm vui của mình làm tầm nhìn trở nên rõ ràng và sắc nét.

As selfishness and complaint pervert the mind, so love with its joy clears and sharpens the vision.

Không ai có quyền hưởng thụ hạnh phúc mà không tạo ra nó.

No one has a right to consume happiness without producing it.

Ta không thể đánh mất những gì ta từng tận hưởng. Tất cả những gì ta yêu sâu sắc trở thành một phần trong ta.

What we have once enjoyed we can never lose. All that we love deeply becomes a part of us.

Chúng ta không bao giờ có thể học được sự can đảm và kiên nhẫn nếu chỉ có niềm vui trên thế gian này.

We could never learn to be brave and patient, if there were only joy in the world.

Cuộc sống là một chuỗi bài học mà bạn cần phải sống mới hiểu được.

Life is a succession of lessons which must be lived to be understood.

Niềm tin là sức mạnh có thể khiến thế giới tan vỡ xuất hiện trong ánh sáng.

Faith is the strength by which a shattered world shall emerge into the light.

Kết quả cao nhất của giáo dục là sự khoan dung.

The highest result of education is tolerance.

Sự đảm bảo chỉ là mê tín mà thôi. Nó không tồn tại trong tự nhiên, loài người nói chung cũng không trải nghiệm nó. Lảng tránh nguy hiểm về lâu dài không an toàn hơn nhảy thẳng vào nguy hiểm. Cuộc sống hoặc là một cuộc phiêu lưu táo bạo, hoặc chẳng là gì cả.

Security is mostly a superstition. It does not exist in nature, nor do the children of men as a whole experience it. Avoiding danger is no safer in the long run than outright exposure. Life is either a daring adventure, or nothing.

Chúng ta có thể đã chữa trị được hầu hết thói xấu xa; nhưng chúng ta vẫn chưa tìm ra liều thuốc cho thói xấu tồi tệ nhất, sự vô cảm của con người.

We may have found a cure for most evils; but we have found no remedy for the worst of them all, the apathy of human beings.

Điều tôi đi tìm không ở ngoài kia, nó ở trong bản thân tôi.

What I am looking for is not out there, it is in me.

Thay vì so sánh mình với những người may mắn hơn mình, ta nên so sánh mình với số đông con người. Và rồi sẽ có vẻ như chúng ta là những người may mắn.

Instead of comparing our lot with that of those who are more fortunate than we are, we should compare it with the lot of the great majority of our fellow men. It then appears that we are among the privileged.

Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối.

Keep your face to the sunshine and you cannot see a shadow.

Nhiều người có ý tưởng sai lầm về điều sản sinh ra hạnh phúc đích thực. Nó không đạt được qua sự tự thỏa mãn mà qua sự trung thành với một mục đích đáng giá.

Many persons have a wrong idea of what constitutes true happiness. It is not attained through self-gratification but through fidelity to a worthy purpose.

Điều tốt đẹp nhất trên thế gian này không thể nhìn thấy hoặc thậm chí chạm vào – chúng phải được cảm nhận bằng trái tim.

The best and most beautiful things in the world cannot be seen or even touched – they must be felt with the heart.

Cuộc sống rất thú vị, và thú vị nhất khi nó được sống vì người khác.

Life is an exciting business, and most exciting when it is lived for others.

Cả thế giới ngập tràn thống khổ. Nó cũng ngập tràn chiến thắng.

All the world is full of suffering. It is also full of overcoming.

Trước khi số đông con người tràn đầy tinh thần trách nhiệm đối với lợi ích của người khác, công bằng xã hội sẽ chẳng bao giờ đạt được.

Until the great mass of the people shall be filled with the sense of responsibility for each other’s welfare, social justice can never be attained.

Đừng bao giờ cúi đầu. Hãy luôn ngẩng cao. Nhìn thẳng vào mắt thế giới.

Never bend your head. Always hold it high. Look the world straight in the eye.

Thật khó để khiến những người có mọi thứ quan tâm tới những người chẳng có thứ gì.

It is hard to interest those who have everything in those who have nothing.

Mọi thứ đều chứa đựng điều bí ẩn, thậm chí cả bóng tối và sự câm lặng, và tôi học được rằng cho dù tôi ở trạng thái nào, tôi cũng có thể yên bình.

Everything has its wonders, even darkness and silence, and I learn, whatever state I may be in, therein to be content.

Tôi chỉ là một, nhưng tôi vẫn là một. Tôi không thể làm mọi thứ, nhưng tôi vẫn có thể làm gì đó; và bởi vì tôi không thể làm tất cả, tôi sẽ không từ chối làm điều tôi có thể.

I am only one, but still I am one. I cannot do everything, but still I can do something; and because I cannot do everything, I will not refuse to do something that I can do.

Thật tuyệt vời khi trèo lên những ngọn núi trong trẻo của bầu trời. Đằng sau tôi và trước tôi là Chúa, và tôi không sợ hãi.

It’s wonderful to climb the liquid mountains of the sky. Behind me and before me is God and I have no fears.

Khi ta làm hết sức của mình, ta không thể biết điều kỳ diệu nào sẽ xảy đến trong cuộc sống của ta, hoặc trong cuộc sống của người khác.

When we do the best that we can, we never know what miracle is wrought in our life, or in the life of another.

Sự phong phú tuyệt diệu của trải nghiệm sẽ mất đi đôi chút phần thưởng niềm vui nếu không có giới hạn để vượt qua. Thời khắc lên tới đỉnh núi sẽ chẳng tuyệt vời được bằng một nửa nếu không phải đi qua những thung lũng tối tăm.

The marvelous richness of human experience would lose something of rewarding joy if there were no limitations to overcome. The hilltop hour would not be half so wonderful if there were no dark valleys to traverse.

Nhiều người không biết nhiều hơn những gì nằm ngoài tầm trải nghiệm nhỏ bé của mình. Họ nhìn vào trong mình – và chẳng tìm thấy gì cả! Vì thế họ kết luận rằng cũng chẳng có gì ở bên ngoài họ.

Many people know so little about what is beyond their short range of experience. They look within themselves – and find nothing! Therefore they conclude that there is nothing outside themselves either.

Trường học không phải nơi để đi tìm ý tưởng.

College isn’t the place to go for ideas.

Thế giới đang tiến về phía trước, không phải bởi cú đẩy mạnh mẽ của những anh hùng, mà bởi tổng hòa cú đẩy yếu hơn của những người lao động lương thiện.

The world is moved along, not only by the mighty shoves of its heroes, but also by the aggregate of tiny pushes of each honest worker.

Tôi khao khát làm được những điều vĩ đại và cao cả, nhưng trách nhiệm chính của tôi là làm được những điều nhỏ nhặt như thể chúng vĩ đại và cao cả.

I long to accomplish a great and noble task, but it is my chief duty to accomplish small tasks as if they were great and noble.

Không kẻ bi quan nào có thể phát hiện ra bí ẩn của những vì sao, hay căng buồm tới miền đất mới, hay mở cánh cửa vào linh hồn của con người.

No pessimist ever discovered the secret of the stars, or sailed to an uncharted land, or opened a new doorway for the human spirit.

Than thân trách phận là kẻ thù tồi tệ nhất của chúng ta, và nếu ta đầu hàng nó, ta sẽ chẳng làm được gì khôn ngoan trên thế giới này.

Self-pity is our worst enemy and if we yield to it, we can never do anything wise in this world.

Người ta không thích suy nghĩ. Nếu một người nghĩ, anh ta phải đi đến kết luận. Kết luận không phải lúc nào cũng dễ chịu.

People do not like to think. If one thinks, one must reach conclusions. Conclusions are not always pleasant.

Trong lúc họ còn đang nói với nhau không thể làm được điều đó đâu, nó đã được làm xong rồi.

While they were saying among themselves it cannot be done, it was done.

HELEN KELLER CẢM NHẬN VÀ THƯ MỤC

Cảm nhận tại đây

Tham khảo

  1. ^ “Helen Keller FAQ”. Perkins School for the Blind. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2010.
  2. ^ Virtual tour of Ivy Green, Helen Keller’s birthplace
  3. ^ a ă Nielsen, Kim E. (2007), “The Southern Ties of Helen Keller”, Journal of Southern History 73 (4)
  4. ^ “Arthur H. Keller”. Encyclopedia of Alabama. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2010.
  5. ^ a ă Herrmann, Dorothy; Keller, Helen; Shattuck, Roger (2003), The Story of my Life: The Restored Classic, tr. 12–14, ISBN 978-0-393-32568-3, truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010
  6. ^ “Kate Adams Keller”. American Foundation for the Blind. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2010.
  7. ^ “Charles W. Adams (1817–1878) profile”. Findagrave.com. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009.
  8. ^ “American Foundation for the Blind”. Afb.org. Ngày 1 tháng 6 năm 1968. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010.

Liên kết ngoài

Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam

TÌNH YÊU CUỘC SỐNG. Nguyễn Hiến Lê (1912–1984) là nhà giáo, nhà văn, học giả, dịch giả, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Ông là người được giới trí thức và nhân dân lao động kính trọng vì nhân cách cao qúy, cuộc sống thanh bạch, học vấn uyên bác và hiệu qủa lao động hiếm thấy. Trong “Lời mở đầu” tác phẩm “Đời viết văn của tôi” Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời. Tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT”. Nguyễn Hiến Lê trí tuệ bậc Thầy, ngọn đèn văn hóa, sao sáng trời Nam. Cuộc đời và di sản của danh nhân Nguyễn Hiến Lê là mẫu mực nhân cách người hiền còn mãi với thời gian.

Nguyễn Hiến Lê cuộc đời và di sản

Nguyễn Hiến Lê tự là Lộc Đình, sinh ngày 8.1.1912 (nhằm ngày 20 tháng 11 năm Tân Hợi, tháng Tân Sửu, ngày Qúy Mùi, giờ Tân Dậu) quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây nay thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây. Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho. Cha, mẹ và bác ruột của ông đều giữ được truyền thống của tổ tiên mấy đời trước, săn sóc sự học của ông rất chu đáo. Ông thuở nhỏ học ở trường Yên Phụ, trường Bưởi. Năm 1934, sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, ông vào làm việc tại Sở Thủy Lợi ở miền Tây Nam Bộ. Năm 1937, ông cưới vợ là bà Trịnh Thị Tuệ và đổi về làm việc ở Sài Gòn cho đến năm 1945. Trong thời gian này, ông trau dồi tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, tự học tiếng Anh. và đã viết được trên ngàn trang sách để luyện văn. Mùa đông năm 1945 đến mùa xuân 1947, ông tản cư ở Tân Thạnh, Long Xuyên và học đông y. Năm 1947, ông thôi làm ở sở, đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1953, ông thôi dạy học, chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản, viết sách và viết báo.

Nguyễn Hiến Lê học và viết liên tục và bền bỉ, có hướng rõ rệt, tập trung năng lực, không để phí thì giờ, hi sinh việc xuất bản để dành thời gian viết sách. Trong cuộc đời cầm bút của mình, ông đã viết được 120 bộ sách về nhiều lĩnh vực,. Sức lao động của ông hiếm thấy với hơn 30.000 trang chia cho 33 năm, trung bình mỗi năm 900 trang. Tác phẩm của ông là những đóng góp lớn cho văn hoá Việt Nam, thuộc nhiều lĩnh vực: văn học, ngôn ngữ, triết học, giáo dục, gương danh nhân, chính trị, kinh tế, du kí, dịch tiểu thuyết, tiểu luận phê bình,…

120 tác phẩm của ông có khoảng 80 % là tác phẩm phổ biến rộng cho mọi giới (tiêu biểu nhất là loại sách học làm người, gương danh nhân, tổ chức công việc theo khoa học), còn lại khoảng 20% là sách chuyên khảo có giá trị đặc biệt về học thuật (thuộc lĩnh vực văn học, triết học, sử, cổ văn Trung Quốc). Tác phẩm xếp theo năm xuất bản, bao gồm:

• Tổ chức công việc theo khoa học – 1949
• Đắc nhân tâm (dịch Dale Carnegie) – 1951
• Kim chỉ nam của học sinh – 1951
• Luyện tình cảm (dịch F. Thomas) – 1951
• Để hiểu văn phạm – 1952
• Bảy bước đến thành công (dịch G. Byron) – 1952
• Tổ chức gia đình – 1953
• Thế hệ ngày mai – 1953
• Nghệ thuật nói trước công chúng – 1953
• Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười – 1954
• Săn sóc sự học của con em – 1954
• Hiệu năng – 1954
• Tự học để thành công – 1954
• Đại cương văn học sử Trung Quốc (3 quyển) – 1955
• Lịch sử thế giới (viết với Thiên Giang) – 1955
• Sống 24 giờ một ngày (dịch Arnold Bennett) – 1955
• Quẳng gánh lo đi và vui sống (dịch Dale Carnegie) – 1955
• Giúp chồng thành công (dịch Dorothy Carnegie) – 1956
• Nghề viết văn – 1956
• Muốn giỏi toán hình học phẳng – 1956
• Bí quyết thi đậu – 1956
• Đông Kinh Nghĩa Thục – 1956
• Rèn nghị lực – 1956
• Luyện tinh thần (dịch Dorothy Carnegie) – 1957
• Luyện văn I (1953), II & III (1957)
• Muốn giỏi toán đại số – 1958
• Thời mới dạy con theo lối mới – 1958
• Gương danh nhân – 1959
• Muốn giỏi toán hình học không gian – 1959
• Gương hi sinh – 1962
• Hương sắc trong vườn văn (2 quyển) – 1962
• Tương lai trong tay ta – 1962
• Kiếp người (dịch Somerset Maugham) – 1962
• Xung đột trong đời sống quốc tế – 1962
• Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam (viết với T. V. Chình) – 1963
• Sống đẹp – 1964
• Gương kiên nhẫn – 1964
• Một niềm tin – 1965
• Luyện lý trí – 1965
• Đại cương triết học Trung Quốc (viết chung với Giản Chi) – 1965
• Cách xử thế của người nay (dịch Ingram) – 1965
• Sống đời sống mới (dịch Powers) – 1965
• Cổ văn Trung Quốc – 1966
• Gương chiến đấu – 1966
• Tìm hiểu con chúng ta – 1966
• Xây dựng hạnh phúc (dịch Aldous Huxley) – 1966
• Thẳng tiến trên đường đời (dịch Lurton) – 1967
• Lời khuyên thanh niên – 1967
• Tay trắng làm nên – 1967
• Vấn đề xây dựng văn hoá – 1967
• Tổ chức công việc làm ăn – 1967
• Chiến tranh và hoà bình (dịch Lev Nikolayevich Tolstoy) – 1968
• Chiến Quốc sách (viết chung với Giản Chi) -1968
• Bí mật dầu lửa (dịch Gaillard) – 1968
• Đế Thiên Đế Thích – 1968
• Bài học Israel – 1968
• 40 gương thành công – 1968
• Thư ngỏ tuổi đôi mươi (dịch André Maurois) – 1968
• Sống 365 ngày một năm – 1968
• Những cuộc đời ngoại hạng – 1969
• Bán đảo Ả Rập – 1969
• Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu (dịch Alan Paton) – 1969
• Mưa (tuyển dịch nhiều tác giả) – 1969
• Trút nỗi sợ đi (dịch Coleman) – 1969
• Con đường lập thân (dịch Ennever) – 1969
• Sử ký Tư Mã Thiên (viết chung với Giản Chi) – 1970
• Làm con nên nhớ (viết với Đông Hồ) – 1970
• Tô Đông Pha – 1970
• Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa (dịch) – 1970
• Quê hương tan rã (dịch C. Acheba) – 1970
• Một lương tâm nổi loạn – 1970
• 15 gương phụ nữ – 1970
• Hoa đào năm trước – 1970
• Thư gởi người đàn bà không quen (dịch André Maurois) – 1970
• Einstein – 1971
• Con đường hoà bình – 1971
• Lợi mỗi ngày một giờ – 1971
• Lịch sử văn minh Ấn Độ (dịch Will Durant) – 1971
• Thế giới ngày mai và tương lai nhân loại – 1971
• 33 câu chuyện với các bà mẹ – 1971
• Chấp nhận cuộc đời (dịch L. Rinser) – 1971
• Ý chí sắt đá – 1971
• Chinh phục hạnh phúc (dịch Bertrand Russell) – 1971
• Sống theo sở thích (dịch Steinckrohn) – 1971
• Giữ tình yêu của chồng (dịch Kaufmann) – 1971
• Nhà giáo họ Khổng – Cảo Thơm 1972
• Liệt tử và Dương tử – Lá Bối 1973
• Cầu sông Drina (dịch I. Andritch) – 1972
• Bài học lịch sử (dịch Will Durant) – 1972
• Ý cao tình đẹp – 1972
• Thế giới bí mật của trẻ em – 1972
• Bertrand Russell – 1972
• Cháu bà nội tội bà ngoại – 1974
• Những vấn đề của thời đại – 1974
• Nguồn gốc văn minh (dịch Will Durant) – 1974
• Văn minh Ả Rập (dịch Will Durant) – 1975
• 10 câu chuyện văn chương – 1975
• Mạnh Tử – 1975
• Sử Trung Quốc (3 tập) 1982
• Con đường thiên lý – 1990
• Tôi tập viết tiếng Việt – 1990
• Hồi ký Nguyễn Hiến Lê – (Xuất bản 1992)
• Khổng Tử – viết xong 1978 (Xuất bản 1992)
• Đời nghệ sĩ – (Xuất bản 1993)
• Lão Tử – viết xong 1977 (Xuất bản 1994)
• Trang Tử – viết xong 1975 (Xuất bản 1994)
• Hàn Phi Tử – viết chung với Giản Chi, 1975 (Xuất bản 1994)
• Tuân Tử – viết xong 1975 (Xuất bản 1994)
• Mặc học – viết xong 1976 (Xuất bản 1995)
• Luận ngữ – viết xong 1978 (Xuất bản 1995)
• Đời viết văn của tôi – (Xuất bản 1996)
• Lịch sử văn minh Trung Quốc (dịch Will Durant) – (Xuất bản 1997)
• Gogol – (Xuất bản 2000)
• Tourgueniev – (Xuất bản 2000)
• Tchekhov – (Xuất bản 2000)
• Để tôi đọc lại – (Xuất bản 2001)
• Những quần đảo thần tiên (dịch Somerset Maugham) – 2002
• Kinh Dịch, đạo của người quân tử – viết xong 1979 (Xuất bản 1992, …,2002…)

Ngoài ra, Nguyễn Hiến Lê còn có 242 bài trên tạp chí Bách Khoa, 50 bài trên các tạp chí Mai, Tin Văn, Văn, Giáo Dục Phổ Thông, Giữ Thơm Quê Mẹ. Ngoài ra ông còn viết lời giới thiệu cho 23 quyển sách.

Năm 1980 ông về lại Long Xuyên. Ông lâm bệnh và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 73 tuổi.

Danh thơm còn mãi

Phần mộ của nhà văn hoá lỗi lạc Nguyễn Hiến Lê tại chùa Phước Ân, gần ngã tư Cai Bường, xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Võ, tỉnh Đồng Tháp.

Tác giả Trung Thu đã kể lại trên Nguyệt san Pháp Luật thành phố Hồ Chí Minh tháng 9 năm 2009 về việc Tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê . “Mở đầu cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê viết: “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau. Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao”. Thật không ngờ, điều cụ luôn canh cánh trong lòng, đến khi mất lại vận vào chính đời cụ.

…Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át. Tôi phải hỏi tới người thứ tư mới biết chính xác đường vào chùa Phước Ân. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1 km đường đất nữa mới tới. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Gia quyến cụ Nguyễn Hiến Lê phải cực kỳ tinh tế và hiểu ý cụ mới đem cụ về an nghỉ chốn bình yên này.

Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm vừa thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Một bà cụ mặc áo nâu sòng, mái tóc hoa râm xuất hiện. Biết tôi muốn tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê, bà chậm rãi trả lời. “Trong chùa này chỉ có thầy trụ trì với bà biết ông ấy thôi”.

Bà dẫn tôi vào chánh điện. Sau lớp kính mờ ảo của khung ảnh, nụ cười cụ Nguyễn Hiến Lê vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần gian, đôi mắt như thăm thẳm một niềm an lạc. Di ảnh cụ được treo bên cạnh người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi cụ mất, bà xuất gia đi tu và mong muốn được an nghỉ tại chùa Phước Ân cùng chồng.

Mộ cụ Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong khoảng 20 ngôi mộ khác. Ngôi mộ của một con người lỗi lạc nhỏ nhắn và giản dị đến nỗi bát nhang không một nén. Nhưng tôi biết, cụ rất ấm cúng khi nằm chung với toàn thể gia quyến trong một khu mộ.

Không hoành tráng lộng lẫy. Không bia đá trường cửu. Không khoa trương diễm lệ. Cụ nằm đó bên ngôi chùa trầm mặc nghe kinh kệ là một diễm phúc hiếm ai nghĩ tới. Có lẽ đây là lối đi mãn nguyện nhất đối với một tâm hồn vốn giản dị và thanh sạch.

Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có thân thích gì với cụ Lê không mà lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió. Tôi thưa thật, tôi chỉ là người đọc sách của cụ. Tôi tìm mộ cụ chỉ để thắp một nén nhang trước hương hồn cụ để tỏ lòng cảm phục. Bà …hỏi tôi rằng cụ viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn có người nhắc đến. …

Tôi cắm vào lư hương trên mộ cụ một nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay làm cay cay khóe mắt”

Mới đây Trương Vĩnh Khánh , hội Văn hóa Nghệ thuật Đồng Tháp trong bài Đôi dòng về học giả Nguyễn Hiến Lê 1912-1984 thì lại có lời thưa là bạn Trần Trung Thu đã “hỏi thăm chưa đúng chỗ chứ người An Giang & Đồng Tháp chúng tôi không mấy ai lại vô tình không biết và chúng tôi vô cùng tôn kính nhà văn, học giả kiệt xuất ấy.”. Ông Trương Vĩnh Khánh đã bổ sung thêm một số tư liệu và ông Vũ Ngọc Tiến đã gửi cho Viet-studies:

Nguyễn Hiến Lê hiệu là Lộc Đình, sinh ngày 20 tháng 11 âm lịch năm Tân Hợi nhằm ngày 8 tháng 01 năm 1912 (Giấy khai sinh ghi ngày 8/4/1912). Nguyên quán làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội ). Ông là một học giả, nhà nghiên cứu văn hoá kiệt xuất, xuất thân trong một gia đình nho học, thân phụ là Nguyễn Văn Bí, hiệu Đặc Như.

Thuở nhỏ ông học ở trường tiểu học Yên Phụ – trường Bưởi (Trung học), Trường Cao Đẳng Công Chánh (Hà Nội ) – Năm 1934 tốt nghiệp được bổ làm việc tại các tỉnh miền tây Nam bộ.

Sau cách mạng tháng 8/1945, ông từ bỏ đời sống công chức về Long Xuyên dạy học trường Trung học Thoại Ngọc Hầu (collège de Long Xuyen).

Năm 1952, ông lên Sài Gòn mở nhà xuất bản biên dịch sách, sáng tác và viết báo.

Tính đến năm 1975, ông đã cho xuất bản hơn 100 tác phẩm về nhiều lĩnh vực như: văn học, ngôn ngữ học, triết học, tiểu luận phê bình giáo dục, chính trị, kinh tế, gương danh nhân du ký, dịch tiểu thuyết, sách học làm người…

Từ năm 1975 cho đến lúc qua đời, ông còn trước tác được hơn 20 tác phẩm. Trong số đó có những cuốn như: “Lịch sử thế giới, Đông kinh nghĩa thục, Văn minh Arập, Sử Trung Quốc, Lịch sử văn minh Trung Quốc, nguồn gốc văn minh, Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam, gương danh nhân và kinh dịch”(in theo bản thảo chép tay của Nguyễn Hiến Lê mới xuất bản năm 1992 của nhà xuất bản Văn học Hà Nội, được đánh giá là một công trình khảo cứu có giá trị khoa học đặc sắc về văn hóa phương Đông.

Vào năm 1967, chính quyền Sài Gòn đã trao tặng ông cùng Giản Chi: Giải nhất ngành biên khảo và giải tuyên dương sự nghiệp Văn học – Nghệ thuật (1973). Đi kèm với danh hiệu cao quí đương thời là tấm ngân phiếu một triệu đồng (tương đương 25 cây vàng lúc đó). Học giả Nguyễn Hiến Lê đã công khai từ chối nhận giải với lý do “nên dùng tiền ấy để giúp nạn nhân chiến tranh” và bản thân tác giả cũng không dự giải.

Năm 1980, ông về ẩn cư ở Long Xuyên. Ông lâm bênh và mất lúc 8 giờ 50 phút ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại bênh viện An Bình – chợ Lớn TP Hồ Chí Minh- hưởng thọ 72 tuổi. Hoả thiêu vào ngày 24 tháng 12 năm 1984 tại đài thiêu Thủ Đức.

Di cốt Nguyễn Hiến Lê được đem về chôn cất trong khuôn viên nhà bà Nguyễn Thị Liệp (vợ thứ 2 quê ở Long Xuyên, còn bà cả tên Tuệ người miền Bắc).

Năm 1999 Bà Liệp tạ thế và được an táng trong khuôn viên chùa Phước Ân, ở rạch Cai Bường, thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Di cốt của ông cũng được đem đặt trên phần mộ của bà.

Hiện người con trai của ông là Nguyễn Nhật Đức và bà Tuệ (vợ cả) đang định cư tại Pháp.

Ông Trương Vĩnh Khánh cũng đã ứng tác bài thơ trước mộ cụ Nguyễn Hiến Lê khi cùng nhóm văn bút Lấp Vò là Từ Quang, Trịnh Kim Thuấn đưa nhà văn Vũ Ngọc Tiến đến chùa Phước Ân viếng mộ học giả, nhà văn khả kính Nguyễn Hiến Lê nhân tiết Thanh Minh 24/3 âm lịch – Quý Tỵ:

Về miền Tây viếng thăm thầy
Trăm năm một cõi – đám mây vô thường
Cả đời nặng nợ văn chương
Chồng Nam, vợ Bắc đoạn trường lắm thay!

Quê hương thương nhớ lắt lay
Trăm nghìn trang sách – trắng tay phong trần
Nghiêng nghiêng bóng nắng chiều xuân
Mờ mờ sương khói, trầm luân kiếp người.

Ngẩn ngơ vườn tháp lệ rơi
Tấm bia, ngọn cỏ nhàu phơi úa màu
Văn chương để lại ngàn sau
Xác thân lưu lạc thấm đau nỗi đời.

Tài hoa nặng nợ – số trời
Xót Thầy nằm đó trông vời cố hương!…

Nguyễn Hiến Lê trí tuệ bậc Thầy

Trong hồi ký của mình, Nguyễn Hiến Lê đã viết “Tự bạch” về nhân sinh:

  1. Đời sống tự nó vô ý nghĩa, trừ ý nghĩa truyền chủng, nhưng mình phải tạo cho nó một ý nghĩa. Từ hồi ăn lông ở lỗ đến nay, nhân loại đã tiến về nhiều phương diện. Chúng ta được hưởng công lao, di sản của biết bao thế hệ thì phải duy trì di sản đó và cải thiện nó tùy khả năng mỗi người.
  2. Chúng ta làm điều phải vì tin nó là điều phải chứ không phải vì ý muốn của Thượng đế hay một vị thần linh nào, cũng không phải vì mong chết rồi được lên Niết bàn hay Thiên đàng
  3. Quan niệm thiện ác thay đổi tùy nơi, tùy thời. Cái gì ích lợi cho một xã hội vào một thời nào đó thì được xã hội đó cho là thiện, cũng cái đó qua thời khác không còn ích lợi nữa mà hóa ra có hại thì bị coi là ác. Ví dụ đạo tòng phu, tòng tử của phụ nữ có lợi cho gia đình, xã hội thời nông nghiệp; tới thời kỹ nghệ không còn lợi cho gia đình, xã hội nên mất giá trị. Khi sản xuất được ít, đức tiết kiệm được đề cao; ngày nay ở Âu Mỹ, sản xuất vật dụng thừa thãi quá, nên sự phung phí gần thành một bổn phận đối với xã hội. Tuy nhiên vẫn có một số giá trị vĩnh cửu, từ hồi loài người bắt đầu văn minh, dân tộc nào cũng trọng, như đức nhân, khoan hồng, công bằng, tự do, tự chủ,…
  4. Đạo nào cũng phải hợp tình, hợp lý (bất viễn nhân) thì mới gọi là đạo được. Tôi không tin rằng hết thảy loài người chỉ thấy đời toàn là khổ thôi; cũng không tin rằng hết thảy loài người thích sống tập thể, không có của riêng.
  5. Đạo Khổng thực tế nhất, hợp tình hợp lý nhất, đầy đủ nhất, xét cả về việc tu thân, trị gia, trị quốc. Vậy mà tới nay lý tưởng của ông, nhân loại vẫn chưa theo được. Về tu thân, ba đức nhân, trí, dũng, luyện được đủ tình cảm, trí tuệ và nghị lực của con người.
  6. Nên trọng dư luận nhưng cũng không nên nhắm mắt theo dư luận. Biết đắc nhân tâm, nhưng cũng có lúc phải tỏ nỗi bất bình của mình mà không sợ thất nhân tâm.
  7. Mỗi người đã phải đóng một vai trò trong xã hội thì tôi lựa vai trò thư sinh. Sống trong một gia đình êm ấm giữa sách và hoa, được lòng quý mến, tin cậy của một số bạn và độc giả, tôi cho là sướng hơn làm một chính khách mà được hàng vạn người hoan hô, mà còn có phần giúp ích cho xã hội được nhiều hơn bạn chính khách nữa. Nhưng làm nhà văn thì phải độc lập, không nhận một chức tước gì của chính quyền.
  8. Ghi được một vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn, tả được một nỗi khổ của con người khiến cho đời sau cảm động, bấy nhiêu cũng đủ mang danh nghệ sĩ rồi.
  9. Văn thơ phải tự nhiên, cảm động, có tư tưởng thì mới hay. Ở Trung Hoa, thơ Lý Bạch, văn Tô Đông Pha hay nhất. Ở nước ta, thơ Nguyễn Du tự nhiên, bình dị mà bài nào cũng có giọng buồn man mác.
  10. Tôi khuyên con cháu đừng làm chính trị, nhưng nếu làm thì luôn luôn phải đứng về phía nhân dân.
  11. Một xã hội văn minh thì nhà cầm quyền không đàn áp đối lập, cùng lắm chỉ có thể ngăn cản họ để họ đừng gây rối thôi; tuyệt nhiên không được tra tấn họ. Phải tuyệt đối tôn trọng chính kiến của một người.
  12. Một xã hội mà nghề cầm bút, nghề luật sư không phải là nghề tự do thì không gọi là xã hội tự do được.
  13. Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không.
  14. Chỉ nên hưởng cái phần xứng đáng với tài đức của mình thôi. Nếu tài đức tầm thường mà được phú quý hoặc được nhiều người ngưỡng mộ thì sẽ mang họa vào thân.
  15. Hôn nhân bao giờ cũng là một sự may rủi. Dù sáng suốt và chịu tốn công thì cũng không chắc gì kiếm được người hợp ý mình; phải chung sống năm ba năm mới rõ được tính tình của nhau. Từ xưa tới nay tôi thấy cuộc hôn nhân của ông bà Curie là đẹp nhất, thành công nhất cho cả cá nhân ông bà lẫn xã hội. Hiện nay ở Mỹ có phong trang kết hôn thử, tôi cho rằng chưa chắc đã có lợi cho cá nhân mà có thể gây nhiều xáo trộn cho xã hội.
  16. Có những hoa hữu sắc vô hương mà ai cũng quý như hoa hải đường, hoa đào; nhưng đàn bà nếu chỉ có sắc đẹp thôi, mà không được một nét gì thì là hạng rất tầm thường. Chơi hoa tôi thích nhất loại cây cao; có bóng mát, dễ trồng và có hương quanh năm như ngọc lan, hoàng lan. Ở đâu tôi cũng trồng hai loại đó.
  17. Rất ít khi con người rút được kinh nghiệm của người trước. Ai cũng phải tự rút kinh nghiệm của mình rồi mới khôn, vì vậy mà thường vấp té. Nhưng phải như vậy thì loài người mới tiến được.
  18. Cơ hồ không thay đổi được bản tính con người: người nóng nảy thì tới già vẫn nóng nảy, người nhu nhược thì tới già vẫn nhu nhược. Nhưng giáo dục vẫn có ích. Không nên cho trẻ sung sướng quá. Phải tập cho chúng có quy củ, kỷ luật, biết tự chủ và hiểu rằng ở đời có những việc mình không thích làm nhưng vẫn phải làm; và làm thì phải làm ngay, làm đàng hoàng, làm cho xong.
  19. Thay đổi bản tính con người như Mặc Tử, như Karl Marx muốn là chuyện không dễ một sớm một chiều. Thế giới còn những nước nhược tiểu nhiều tài nguyên thì còn bọn thực dân họ chỉ thay đổi chính sách thôi. Thực dân nào cũng vậy. Khi họ khai thác hết trên mặt đất, trong lòng đất thì họ sẽ khai thác biển, đáy biển, Họ còn sống lâu. Tuy nhiên cũng phải nhận rằng sự bóc lột trong một nước tân tiến thời nay đã giảm nhiều, thì sau này sự bóc lột các dân tộc nhược tiểu cũng sẽ giảm đi lần lần.
  20. Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như Kinh Dịch nói, lúc thì âm (xấu) thắng, lúc thì dương (tốt) thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.
  21. Hồi trẻ, quan niệm của tôi về hạnh phúc là được tự do, độc lập, làm một công việc hữu ích mà mình thích, gia đình êm ấm, con cái học được, phong lưu một chút chứ đừng giàu quá. Nhưng hồi năm mươi tuổi tôi thấy bấy nhiêu chưa đủ, cần thêm điều kiện này nữa: sống trong một xã hội lành mạnh, ổn định và tương đối thịnh vượng.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê,1980. “Đời viết văn của tôi” Nhà Xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1996, 400 trang; Tiểu sử học giả Nguyễn Hiến Lê theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội in trong “Kinh Dịch, đạo của người quân tử”, Nhà Xuất bản Văn học 1992, trang 7-8; Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

22. Ông viết trên trang đầu sách Không Tử, cuốn sách mà ông viết xong 1978, xuất bản 1992: “Triết thuyết nào cũng chỉ để cứu cái tệ của một thời thôi. Muốn đánh giá một triết thuyết thì phải đặt nó vào thời của nó, xem nó giải quyết được những vấn đề của thời đó không, có là một tiến bộ so với các thời trước, một nguồn cảm hứng cho các đời sau không. Và nếu sau mươi thế hệ, người ta thấy nó vẫn còn làm cho đức trí con người được nâng cao thì phải coi nó là một cống hiến lớn cho nhân loại rồi.”

Nguyễn Hiến Lê nhân cách người hiền

Phan Ngọc Hiền tại bài viết Rành mạch như Nguyễn Hiến Lê đã cho thấy nhân cách của vị học giả đáng kính này nghiêm cẩn trong nghề viết văn và khách quan, rành mạch trong quan niệm sống …

Ông là tấm gương sáng về tinh thần lao động đã để lại một di sản đồ sộ, tới cả trăm cuốn sách có giá trị về nhiều mặt. Ông cũng là một nhân sĩ đáng trọng bởi dù ở hoàn cảnh nào vẫn luôn giữ được một cách nhìn nhận vấn đề khách quan, trung thực. Điều đặc biệt ở học giả Nguyễn Hiến Lê là không chỉ trong việc viết mà trong cuộc sống đời thường, ông luôn sòng phẳng, rành mạch thể hiện thái độ, quan niệm sống của mình…

1.Trong đời mình, cả hai lần học giả Nguyễn Hiến Lê được chính quyền Sài Gòn đề nghị trao giải Tuyên dương sự nghiệp văn học, nghệ thuật thì cả hai lần ông đều từ chối không nhận. Trả lời thắc mắc của một số bạn hữu, Nguyễn Hiến Lê cho hay: “Nguyên tắc của tôi là không nhận một vinh dự gì do một chính quyền tôi không trọng ban cho”. Được biết số tiền dành cho giải thưởng bấy giờ rất cao, lên tới 1.000.000 đồng, tương đương với 25 lượng vàng.

Xác định điều hữu ích lớn nhất mà mình có thể đóng góp cho đời là việc cầm bút, Nguyễn Hiến Lê đã kiên quyết gạt bỏ những việc làm mà ông cho là vô bổ, mất thời gian, ảnh hưởng tới nghiệp viết của mình. Một lần, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu mời Nguyễn Hiến Lê tham gia Hội đồng Giáo dục toàn quốc, ông nhất mực thoái thác với lý do: Việc đề nghị cải tổ giáo dục ông đã có bài đăng trên tạp chí Bách khoa từ năm 1962. Giờ ông không có gì để nói thêm. Vả chăng, đang trong tình hình chiến tranh, có bàn thế chứ bàn nữa cũng chỉ… mất thời giờ. Một lần khác, có vị Bộ trưởng trong chính phủ Sài Gòn cho nhân viên đến mời ông tới “tư dinh” của ông ta nói chuyện riêng, ông đã thẳng thừng cật vấn người này: “Ông ấy lấy tư cách gì mà mời tôi như vậy? Tôi không thuộc quyền ông ấy. Nếu ông ấy mến tôi là nhà văn thì sao lại mời tôi lại thăm ông ấy?”. Lại có lần, Nguyễn Hiến Lê đã không thèm trả lời thư riêng của một vị Bộ trưởng chỉ vì vị này, trong thư gửi ông đã để một viên thư ký… ký thay.


Học giả Nguyễn Hiến Lê (thứ ba từ trái qua) cùng bạn bè, đồng nghiệp.

2. Nguyễn Hiến Lê từng tâm sự rằng, hồi trẻ, khi viết văn, ông hơi mắc bệnh khoa trương. Sau này tuổi càng lớn, ông càng trân trọng sự bình dị. Những gì viết trước đây, nếu chưa kịp in thì ông cũng chỉ giữ lại làm kỷ niệm, chứ không cho in lại nữa. Ông ngượng.

Trọng sự bình dị, ông còn trọng cá tính của mình nữa. Một lần, có nhà biên tập sau khi đọc đoạn văn ký sự của ông, đã cất công đảo câu văn lên, câu văn xuống, cắt tỉa, thêm bớt cho “có nhạc hơn”. Ông khen người nọ “sửa khéo” nhưng khi đưa in bài viết, ông giữ nguyên đoạn văn ông viết vì thấy phải nói như thế mới tự nhiên, mới đúng ý, đúng cảm xúc của mình.

Đa phần các sách của Nguyễn Hiến Lê đều bán chạy, song có những đề tài ông biết rất ít người đọc, nhưng vì ông thích, ông vẫn cứ viết. Như cuốn “Một niềm tin”, chỉ được in có hơn nghìn bản mà tới gần chục năm sau sách vẫn chưa tiêu thụ hết.

Khi dịch sách, Nguyễn Hiến Lê thường chọn những cuốn mà bút pháp của tác giả không trái với bút pháp của ông, nghĩa là phải bình dị, tự nhiên. Ông tâm sự ông thích sách của Lev Tolstoy, Somarset Maugham. Dịch “Chiến tranh và hòa bình” của Tolstoy, mặc dù nhận thấy bộ sách “rất dài và có nhiều chương lý thuyết về lịch sử đọc chán lắm”, nhưng ông vẫn dịch trọn, không để sót một dòng. Quan điểm của ông về vấn đề này rất rạch ròi: “Tôi nghĩ tác phẩm đó lớn quá, nước mình nên có một bản dịch đầy đủ, rồi sau muốn phổ biến rộng thì sẽ cắt bớt”.

Nhắc tới các sách dịch của Nguyễn Hiến Lê, độc giả thường nhớ nhiều tới hai cuốn “Quẳng gánh lo đi và vui sống” và “Đắc nhân tâm” của Dale Carnegie. Đây là một tác giả có những quan điểm về xử thế mà Nguyễn Hiến Lê rất tâm đắc, song vẫn có chỗ ông thẳng thắn bày tỏ quan điểm không đồng thuận. Như trong bài viết “Nhân sinh quan của tôi”, Nguyễn Hiến Lê đã nêu ý kiến: “Nên trọng dư luận nhưng không nên nhắm mắt theo dư luận. Biết đắc nhân tâm nhưng cũng có lúc phải tỏ nỗi bất bình của mình mà không sợ thất nhân tâm”.

3. Là người có lối nghĩ Tây học, tân tiến, song Nguyễn Hiến Lê vẫn không sao dung nạp được cách sống tự do thái quá, xem nhẹ sự liên kết giữa các thành viên trong gia đình như ở một số nước Âu, Mỹ. Ông kể: “Người Âu Mỹ, khi lớn rồi thì ra ở riêng, cả tháng, có khi cả năm không lại thăm cha mẹ một lần; cha mẹ già thì đưa vào viện dưỡng lão”. Ông cũng than phiền về một nghịch lý trong xã hội Việt Nam, ấy là việc “người già phải giữ cháu cho con, sắp hàng mua thực phẩm cho con, nấu cơm cho con. Mấy bạn già của tôi cũng phàn nàn phải làm “vú đực” cho cháu”.

Năm 1965, một người con trai của Nguyễn Hiến Lê tên là Nhật Đức (khi ấy đang sống và làm việc tại Pháp) đã bất ngờ xin phép bố mẹ cho được kết hôn với một phụ nữ Pháp. Nguyễn Hiến Lê nghe tin vậy thì rất giận. Biết tính con trai đã làm gì là quyết làm bằng được nên ông không… cấm, song cũng nhất định không can dự vào việc này, để hai mẹ con tự lo. Mấy năm sau, người con trai này kêu cầu mẹ mình ở lại Paris trông nom con cái giùm vì hai vợ chồng đang làm thủ tục… ly dị. Nhận được tin con, đầu Nguyến Hiến Lê như bốc hỏa. Ông nhắn cho vợ: “Bảo nó trước kia đã tự ý lựa vợ, tự mưu hạnh phúc cho nó, bất chấp ý kiến cha mẹ thì bây giờ nó cũng phải chịu lấy hậu quả của sự quyết định của nó, chứ tại sao lại cầu cứu tới má nó, bắt má nó bỏ nhà, bỏ cửa công việc dạy học bên đây, làm vú em cho con nó rồi bắt lây cô Liệp (vợ sau của Nguyễn Hiến Lê – PNH) bỏ nhà cửa ở Long Xuyên mà lên đây săn sóc cho tôi”. Ông mắng con là đã Âu hóa quá mau, chỉ thờ cá nhân chủ nghĩa, “không biết tới gia đình, không còn tình của con người nữa”.

Vậy nhưng sau này, khi người con trai nói trên của Nguyễn Hiến Lê đã ly dị vợ rồi, và bà vợ đầu của ông cũng đã ổn định cuộc sống ở Pháp, trong khi cuộc sống trong nước thì đói kém, Nguyễn Hiến Lê lại thấy: Hóa ra, trong cái rủi có cái may. Từ đó, ông quay sang ân hận vì mình đã quá nóng nảy với con. Ông tâm sự: “Đời nó như bị cái gì đó chi phối, nó tưởng nó làm chủ tương lai của nó được, tự tạo hạnh phúc được mà rồi nó thất bại… Kinh nghiệm của cha mẹ không giúp gì được cho con thì tôi còn rầy con tôi làm chi nữa”.

Đối chiếu việc đam mê viết sách của mình với trách nhiệm gia đình, Nguyễn Hiến Lê cũng không khỏi có phút ngẫm ngợi: “Viết đối với tôi như một môn tiêu khiển rẻ tiền nhất. Nhưng đôi khi tôi ân hận rằng vì tôi chúi đầu vào sách, vợ con tôi nhiều lúc cũng thấy chán”.

4. Sau ngày giải phóng miền Nam, mặc dù vợ con đang sống ở Pháp và Nguyễn Hiến Lê hoàn toàn có đủ điều kiện để sang đó định cư theo con đường hợp pháp, song ông vẫn chọn phương thức ở lại trong nước. Một số văn nghệ sĩ ngoài Bắc và nhà văn tham gia kháng chiến ở bưng biền đã tìm đến thăm ông, hỏi han sức khỏe và tình hình công việc. Nguyễn Hiến Lê tiếp chuyện họ một cách lịch sự, cầu thị, song không vồ vập. Đặc biệt, tiếp chuyện thì tiếp chuyện vậy chứ ông “không đáp lễ” (tức không đến thăm trả lễ) ai cả. Ông không muốn để ai đó hiểu lầm là ông muốn ôm chân những người của “chế độ mới”.

Tuy có những điểm bất ưng về cung cách làm việc của một số cán bộ trong chính quyền mới, song Nguyễn Hiến Lê cũng rành mạch thừa nhận: “Xét chung, các học giả miền Bắc có cảm tình với tôi; chính quyền đối với tôi cũng có biệt nhãn”. Ông cũng trung thực ghi lại lời khuyên của học giả Đào Duy Anh với ông: “Ông khuyên tôi nên coi cán bộ ở bưng về như con cháu mình, tìm hiểu họ chứ đừng trách họ. Họ gian lao chiến đấu cả chục năm, nay thành công thì tất nhiên muốn được hưởng lạc, muốn được nắm quyền và tin chắc rằng chính sách của họ đúng, phải có tin như vậy mới làm việc được. Họ ít được học, không có kinh nghiệm hành chánh, cho nên phải dò dẫm…”.

Một lần, khi thấy tình hình sức khỏe của Nguyễn Hiến Lê mỗi ngày mỗi suy, một nhân viên ở Ban Tuyên huấn Thành ủy Sài Gòn đã đề nghị giới thiệu ông vào điều trị ở Bệnh viện Thống Nhất, với chế độ dành cho cán bộ cấp cao của thành phố, Nguyễn Hiến Lê đã nhất mực từ chối. Ông giải thích thái độ đó của mình: “Tôi có công gì với Cách mạng đâu mà vô đó nằm?…Vô đó người ta gọi tôi là đồng chí, tôi sẽ mắc cỡ, chịu sao nổi?”

Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam

P. Schneider một nhà Việt Nam học người Pháp nổi tiếng với nhiều tác phẩm mà nổi bật hơn cả là cuốn “Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân Quốc ngữ thi tập” đã có bài thơ “Ngọn đèn” (L.M. Hoàng lược dịch) tặng cụ Nguyễn Hiến Lê trong lần gặp cuối tác giả cuốn sách: Kinh Dịch đạo của người quân tử (viết xong năm 1978, xuất bản năm 1992)

NGỌN ĐÈN

Tặng Nguyễn Hiến Lê

Xe dừng tôi trước ngõ
“Anh bảo tôi ngồi dưới đèn
Để nhìn nhau cho rõ”
Thành phố đã khác xưa
Thay tên và đổi họ
Riêng một ngọn đèn đây
Hiểu lòng chung thuỷ đó
Vẫn ngọn đèn ngày nào
Bóng sáng tròn mờ tỏ
Ngoài kia là đêm đen
Tương lai đầy khốn khó
Thấy nhau một bận này
Tuyệt mù ngày tái ngộ.

Đêm trước đổi mới (1976-1986), mặc dù Nguyễn Hiến Lê biết rõ loại sách triết học của ông đang dịch và viết cũng như nhà sách Nguyễn Hiến Lê sẽ gặp nhiều khó khăn không thể tự xuất bản tác phẩm ít nhất “ trong mươi năm tới” nhưng ông “vẫn tiếp tục thực hiện cho xong chương trình đã hoạch định, rồi cứ để đó không bao giời in được cũng không sao”.

Viết xong cuốn Kinh Dịch, đạo của người quân tử, năm 1980 ông về lại Long Xuyên. Ông lâm bệnh và mất ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 72 tuổi. Với nhân cách lớn, ông kịp để lại hơn 20 tác phẩm nữa sau ngày đất nước thống nhất, ngoài 100 tác phẩm trước đó.

Huỳnh Như Phương trong Một tượng đài của văn hoá đọc đã viết những lời rất trân trọng đối với Nguyễn Hiến Lê. Ông là tấm gương đạo đức nghề nghiệp và lương tri của người trí thức, là tinh thần tự lực tự cường đã lập nhà xuất bản của riêng mình để hạ giá thành và xuất bản đúng lương tâm, là tấm gương tự học để trở thành nhà văn hoá ở đỉnh cao. Ông học rất cẩn trọng để viết và viết rất cẩn trọng để dạy làm người.

“Năm 1980, khi nhà văn Nguyễn Hiến Lê quyết định chuyển về ẩn dật ở Long Xuyên, có lẽ ông chưa thể hình dung rằng không đầy mười năm sau, sách của ông sẽ được in lại trang trọng và xuất hiện trên các quầy sách trong một thị trường văn học rất kén chọn độc giả. Lúc đó, nhìn dáng ông thong dong và lặng lẽ lui vào ngõ vắng, hẳn không ít người nghĩ rằng, cùng với sự rút lui của tác giả, những cuốn sách của ông cũng đã qua cái thời của nó.

Còn nhớ, số báo cuối cùng của tạp chí Bách khoa ra ngày 19-4-1975 đã đăng những bài kỷ niệm cuốn sách thứ 100 của Nguyễn Hiến Lê, đánh dấu kỳ tích của một người lao động sáng tạo và học thuật. Vốn là một kỹ sư công chánh từ miền Bắc vào lập nghiệp ở miền Nam, từ năm 1952 ông mới định cư hẳn ở Sài Gòn và tập trung cho nghề văn. Nếu tính từ khi cuốn sách đầu tiên được in vào năm 1949, trong vòng 30 năm, ông đã miệt mài và nghiêm cẩn sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật, trước tác để cống hiến cho đời những cuốn sách thuộc nhiều thể loại khác nhau: sách học làm người, gương danh nhân, giáo dục, chính trị, ngữ pháp, ký sự, tiểu thuyết, kinh nghiệm viết văn…, đặc biệt là những công trình biên khảo công phu và đồ sộ về triết học.

Hồi ký của Nguyễn Hiến Lê ghi lại tinh thần làm việc say mê và tính kỷ luật của ông: mỗi ngày, ông dành thời gian để sắp xếp tài liệu, ghi chép, suy nghĩ trước khi ngồi vào bàn viết. Ông có thói quen viết vào buổi sáng và buổi chiều, còn buổi tối dành để đọc sách báo. Trung bình mỗi năm ông in ba cuốn sách, tổng cộng khoảng 900 trang. Có người kêu: thời gian ở đâu mà ông viết được nhiều vậy? Ông bảo: có gì đâu mà nhiều, tình bình quân mỗi ngày chỉ viết có ba trang chứ mấy! Viết văn, nhiều người cứ ngồi chờ cảm hứng đến. Với những người như ông thì muốn có cảm hứng, phải ngồi vào bàn và cầm bút viết ra giấy. Kiên trì, nhẫn nại, toàn tâm toàn ý, Nguyễn Hiến Lê xây dựng sự nghiệp mình như vậy. Thật là đáng trọng một nghị lực, một tính cách, một nhân cách: hơn 20 năm ở Sài Gòn ông chỉ đi ăn đám cưới bốn, năm lần; ông từ chối lời mời dạy học ở Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn vì sợ thì giờ bị phân tán; hai lần ông lịch sự mà kiên quyết không nhận giải thưởng văn học nghệ thuật để giữ trọn sĩ khí của một nhà văn hoá độc lập với chính quyền.

Những người viết sách ngày nay học được rất nhiều ở Nguyễn Hiến Lê về đạo đức nghề nghiệp và lương tri của người trí thức. Sách của ông không tránh khỏi những thiếu sót nhất định do hạn chế lịch sử, nhưng ông không bao giờ viết điều gì trái với lương tâm, để mười năm, hai mươi năm sau phải hổ thẹn khi đọc lại. Ông luôn luôn đúng hẹn với các nhà xuất bản, cố gắng giao nộp bản thảo trong dạng thức hoàn chỉnh với tất cả khả năng của mình, không để sót những lỗi kỹ thuật vì vô ý. Mỗi lần sách được tái bản, ông đều xem lại, sửa chữa và bổ sung. Ông cẩn trọng đến mức, hồi dịch Chiến tranh và hoà bình, do tình hình chiến sự, ông đã chép tay trên giấy than thành ba bản: một đưa cho nhà xuất bản Lá Bối, một cất ở nhà và một gửi về quê, phòng bị thất lạc.

Những doanh nhân làm sách ngày nay còn có thể học ở Nguyễn Hiến Lê một tấm gương về tinh thần tự lực tự cường. Để không bị các nhà phát hành bóc lột, để góp phần làm giảm giá thành của sách, ông đã lập nhà xuất bản mang tên mình, tìm cách phân phối sách cho các đại lý và hàng tháng đi xe ôm thu hồi tiền bán sách. Sách của nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê, tuy hoạt động dưới thời “thực dân mới”, nhưng cuốn nào cũng mang đậm tinh thần dân tộc, không hề có những nhan đề giật gân, câu khách và những hình bìa diêm dúa như một số cuốn sách bây giờ.

Một điều nữa góp phần khẳng định Nguyễn Hiến Lê như một tượng đài của văn hoá đọc, đó là ông đã thể hiện tấm gương tự học để trở thành nhà văn hoá ở đỉnh cao. Ở Sài Gòn thời đó, ông thường xuyên nhận được những cuốn sách mới nhập về từ Âu Mỹ, ông nắm bắt thông tin về khoa học, tư tưởng trên thế giới một cách nhạy bén, kịp thời; nhưng ông không vồ vập mà cân nhắc, chọn lọc để giới thiệu cái gì có ích cho dân tộc mình. Chưa thấy ai chê ông là người nệ cổ, cũng chưa thấy ai trách ông là người sùng ngoại, xu thời.

Nguyễn Hiến Lê từng nói, để viết ra được một cuốn sách, cần phải đọc thật nhiều sách; viết là một cách học tập, học tập để mà viết. Muốn có gì để nói với mọi người, thì trước hết mình phải nạp năng lượng tri thức và tiêu hoá năng lượng. Nhờ thế, những hạt giống được gieo trong sách mới nẩy mầm và đơm hoa kết trái.”

 ViengNHL3
Cổng chùa Phước Ân nơi ông bà Nguyễn Hiến Lê an nghỉ 

HienLe1

Phần mộ và nơi lưu dấu của nhà văn, học giả Nguyễn Hiến Lê tại chùa Phước Ân xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thật thanh thản và khiêm nhường. Nguyễn Hiến Lê cốt cách người hiền, sâu sắc cứng cỏi, gần gũi thiên nhiên. Thầy sống tư cách chết yên bình giữa vùng quê yên tĩnh. Con người ấy, văn chương ấy quý giá biết bao!

HienLe4

Bàn thờ cụ Nguyễn Hiến Lê trong chùa Phước Ân

Tôi thành kính dâng hương và ngắm nhìn kỹ những dòng chữ: “NGUYỄn HIẾN LÊ từ trần 22.12.1984 (1.12 Giáp Tý) Hưởng thọ 74 tuổi; Tì kheo Ni THÍCH NỮ HUỆ ĐỨC Thế danh Nguyễn Thị Liệp sanh 1909 Kỷ Dậu, Viên tịch 8.7.1999 (26.5 Kỷ Mão); “PHỤNG VỊ PHƯỚC AN ĐƯỜNG THƯỢNG,TỬ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG, TỬ THẬP NHẤT THẾ, húy NHỰT KÍNH, hiệu THIỆN CHÍ NGUYỂN CÔNG HÒA THƯỢNG, GIÁC LINH LIÊN TÒA”, ngắm nhìn rặng dừa, đồng ruộng và ngộ ra được rất nhiều điều…

NguyenHienLe

Tuyển tập Nguyễn Hiến Lê hiện có tại nhà sách sông Hương. Các ông Nguyễn Quang Thắng, Châu Hải Kỳ lưu giữ nhiều thông tin và trước tác về người Thầy lỗi lạc này.

Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam.

HienLe2

HienLe3
Hoàng Kim

Bài viết trong chùm bài VỀ MIỀN TÂY
Hiệu đính và bổ sung từ bài: Nguyễn Hiến Lê sao sáng trời Nam posted on 06.06.2013

Trao đổi và bàn luận

BLOG NGUYỄN VĂN TUẤN. Cụ Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là một nhà đại trí thức của Miền Nam. Trước 1975, cụ không thích chính quyền Miền Nam của ông Thiệu. Nhưng cụ đã tỉnh ngộ sau khi sống 5 năm dưới chế độ cộng sản. 1980, cụ cắt bỏ hộ khẩu ở Sài Gòn và lật đật về quê. “Năm 1980 ông về lại Long Xuyên. Cùng năm ông bắt đầu viết Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, đến tháng 9 năm 1980 thì hoàn thành.” (nguồn). Các tác phẩm của cụ ở đây. https://hoangkimlong.wordpress.com/2013/06/06/nguyen-hien-le-hoc-va-viet/

HỒi KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ

Theo blog Nguyễn Văn Tuấn

Chia sẻ bài viết này

29-8-2013

Hôm nay, đọc lại hồi kí của cụ NHL thấy cụ viết nhiều điều vẫn còn tính thời sự. Xin trích vài đoạn bị cắt khỏi bản in ở VN nhưng in đầy đủ bản trên mạng và xuất bản bên Mĩ. Ông viết về tình trạng y tế, tư pháp, xã hội, kì thị vùng miền, và đạo đức xuống cấp sau 1975. Một số sự thật này chắc còn xa lạ với các bạn trẻ, nhưng đọc để “ôn cố tri tân” thì cũng có ích.

===

“Y tế

Dân trong ấp, xã bị bệnh thì lại họ (nhân viên y tế nông thôn) trước, họ không trị được thì đưa ngay lên quận; quận có bác sĩ đa khoa, trị không được thì đưa ra tỉnh; tỉnh có bác sĩ chuyên khoa, đủ dụng cụ, đủ thuốc… Lần lần nhân viên y tế nông thôn vừa làm việc vừa học thêm, có thể lãnh trách nhiệm quan trọng hơn, đưa lên giúp việc ở quận. Chính sách đó rất họp lí và chính quyền mình cũng đã áp dụng nó. Đó là một điểm tấn bộ.

Nhưng vì chiến tranh, nhân viên y tế các cấp của mình da số ít được học, nên chúng ta thấy những y sĩ (y sĩ Bắc có quyền ra toa, nhưng kém bác sĩ một bực), học chỉ tới lớp năm (hết cấp I), chỉ biết dăm chục tên thuốc, không biết đo huyết áp, không biết thế nào là đau mắt hột… chỉ đáng làm một nhân viên y tế nông thôn thôi. Còn bác sĩ được đào tạo ở Bắc thì xét chung, sự hiểu biết cũng kém xa bác sĩ đào tạo ở Nam… Nhân viên y tế nông thôn cũng thiếu, tinh thần trách nhiệm rất thấp: một huyện nọ người ta tiêm thuốc ngừa dịch tả cho ba người lớn và chín trẻ em thì tám trẻ chết.

Tệ nhất là nạn thiếu thuốc, thiếu cả thuốc đỏ, thuốc tím, do đó sinh ra nạn ăn cắp thuốc, ra toa cho người không có bệnh để họ bán thuốc chợ đen.

Cũng may mà có hằng trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gửi thuốc về giúp thân nhân, nếu không sức khoẻ của dân sa sút không biết tới đâu.

Tệ nhất là nạn thiếu vệ sinh… từ cơ quan tới đường sá, tư gia, đâu đâu cũng dơ dáy… Nhiều cơ quan nuôi gà, heo ngay trong phòng của họ, và từ trên lầu thượng họ trút nươc dơ xuống đường. Phòng bệnh nhân trong các bệnh viện hôi hám không chịu nổi; phải bịt mũi khi đi tới gần cầu tiêu… người ta phóng uế đầy đường.

Tư pháp

Từ năm 1975, trường luật bị bãi bỏ. Sinh viên luật có thể xin chuyển qua ngành kinh tế, ra làm các ngân hàng. Nhưng đa số bỏ học, làm phu khuân vác, đạp xích lô… Đó là chuyện 1975. Nay thì thanh niên trí thức làm đủ các việc lao động rồi, bổ củi mướn, chở cát, vác gạo…, không ai ngạc nhiên, mà cũng không ai thương hại cho họ nữa, họ dễ dàng kiếm được vài ba chục đồng một ngày mà lại tự do, chứ không làm thư kí ngân hàng 40 đồng một tháng thì sống sao nổi. Vả lại lao động là vinh quang mà. Nữ sinh viên thì bán thuốc lá rời hoặc quần áo cũ ở lề đường.

Năm 1975 có lần tổ chúng tôi họp để xử một người trong tổ mắc một tội nào đó tôi không nhớ. Ông tổ trưởng đề nghị hai cách trừng trị… Cách nào được nhiều người đồng ý thì theo cách đó… Khi phường có toà án nhân dân rồi (năm 1978?) thì để toà xử. Một “ông toà” là học trò cũ của một bạn tôi. Tôi hỏi cậu ta: “Cháu xử theo luật nào?” Cậu ta cười, đáp: Cháu đặt ra luật để xử – Thực vậy sao? – Dạ, bây giờ ai đặt luật cũng được. Vì có bộ luật nào đâu?

Thất bại trong hoà bình

Thất bại lớn nhất, theo tôi là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hoà bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối năm 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc…

Nguyên nhân chính theo tôi là người miền Bắc vơ đũa cả nắm, coi người Nam là “nguỵ” hết, truỵ lạc, bị nhiễm độc nặng của Mĩ. Ngay hạng trí thức miền Bắc như ông Đào Duy Anh cũng có thành kiến là dân Sài Gòn hư hỏng quá rồi. Họ chỉ nhìn bề ngoài… Bọn thanh niên hư hỏng ở Sài Gòn mới có nhiều, mà tỉ số không cao so với những thanh niên đứng đắn.

Người Bắc coi người Nam là nguỵ, đối xử người Nam như những thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là nguỵ thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa”. Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ Chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hoá, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là nguỵ nữa, vì nguỵ có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú… Thì ra: “Nhìn xa ngỡ tượng tô vàng…”

Ngay giữa các đồng chí cũng không có tinh thần đoàn kết…Chính vì thiếu đoàn kết nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và miền Bắc có câu này: nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.

Xã hội sa đoạ

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng, cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng… Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bên vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đoạ thêm chứ để chúng mau sụp đổ…”

Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi… Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu, rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hoá ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa…

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hoá ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia… Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó…

Mình theo cả những lầm lẫn của người

So sánh những nhận xét của tôi ở trên với những điều tôi đã được đọc trong mươi cuốn về đời sống ở Nga Sô, Trung cộng, tôi thấy chính sách của mình y hệt như chính sách của hai nước đàn anh đó, những lầm lẫn của mình chính là những lầm lẫn của họ.

Năm 1947, sau 30 năm cách mạng dân Nga cũng bị nhồi sọ như dân mình, xã hội cũng có những sự bất công… cũng có nạn bè phái như mình; cũng có lệ mhốn thưởng một cán bộ thì cho thêm một số tiền bỏ vào bao thư riêng; các ông lớn của họ cũng cách biệt quần chúng như ở nước mình;những kẻ gian trá cũng có thể lén lút làm mọi cái xấu xa, miễn là đừng chống chính quyền; người Nga nào cũng có hai mặt, ra ngoài thì khác như mình.

Họ cũng trọng hồng hơn chuyên, cũng thay đổi chủ trương, chương trình liền liền, thợ họ cũng không đủ ăn, công việc gì cũng không chạy; cán bộ của họ cũng sợ trách nhiệm như cán bộ mình; chính sách cải tạo còn tàn nhẫn hơn chính sách của mình; sự tổ chức bầu cử y như mình, v.v…

Trung Hoa cũng có thời “trăm hoa đua nở” rồi mấy tháng sau hoa lại bị cấm nở; trăm hoa của mình cũng đua nở sau Trung Hoa ít tháng, và cũng bị cấm nở sau họ ít tháng. Năm 1966 mình khôn hơn Trung Hoa là không làm cách mạng văn hoá, nhưng năm 1978 mình cũng đã chuẩn bị kĩ để phát động một cuộc cách mạng văn hoá như họ, tính đốt hết các sách báo ở miền Nam… cách thức phụ cấp cho sinh viên, đối đãi với trí thức, chính sách học tập chính trị, hội họp ở phường, ấp, dăng, dán biểu ngữ ở khắp nơi, phát thanh bằng loa oang oang mà không ai buồn nghe…; cả lối giáo dục trẻ em, bổ túc văn hoá, công trình khai quật cồ tích chung quanh đền Hùng… mình đều theo sát gót Mao Trạch Đông.

Tôi có cảm tưởng rằng mình chép đúng đường lối của hai nước đàn anh, không xét hoàn cảnh, dân tình, phong tục của mình có khác họ hay không. Tôi chưa thấy mình có một sáng kiến gì cả, ngay cả những danh từ như biên chế, phụ đạo, tham quan, tranh thủ… mình cũng chép nguyên của Trung Hoa.”

BLOG HỌC MỖI NGÀY (Hoàng Kim trả lời GS. Nguyễn Văn Tuấn): Cụ Nguyễn Hiến Lê là người thẳng thắn, chân thực, nói và viết đều không trái lòng mình. Ngòi bút Cụ chỉ đắn đo, viết chậm lại khi hoàn cảnh không cho phép nhưng khen chê thật thận trọng, đúng mức. Tôi (HK) là người của chế độ mới, ứa nước mắt và nghẹn lời khi Cụ thẳng thắn chỉ ra những lỗi phải sửa.

Tài liệu tham khảo chính
1) Nguyễn Hiến Lê, 1980. “Đời viết văn của tôi” Nhà Xuất bản Văn hoá, Hà Nội, 1996, 400 trang;
2) Châu Hải Kỳ (2007). Nguyễn Hiến Lê – Cuộc đời & Tác phẩm. TP. Hồ Chí Minh: NXB Văn học ;
3) Hoàng Kim (2007) Nguyễn Hiến Lê http://danhnhanviet.blogspot.com/2007/12/nguyn-hin-l.html;
4) Hoàng Kim (2011) Phan Ngọc Hiền: Rành mạch như Nguyễn Hiến Lê http://dayvahoc.blogspot.com/2011/03/ranh-mach-nhu-nguyen-hien-le.html ;
5) Tiểu sử học giả Nguyễn Hiến Lê theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội in trong “Kinh Dịch, đạo của người quân tử”, Nhà Xuất bản Văn học 1992, trang 7-8;
6) TUYỂN TẬP NGUYỄN HIẾN LÊ trên Nhà sách Sông Hương ;
7) Trung Thu ( 2010) Tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê http://phapluattp.vn/20100101044224103p1112c1113/tim-mo-cu-nguyen-hien-le.htm;
8)  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Tiếng Việt: Nguyễn Hiến Lê http://vi.wikipedia.org/wiki/ Nguyen_Hien_Le;
9) Trương Vĩnh Khánh 2013. Đôi dòng về học giả Nguyễn Hiến Lê. Vũ Ngọc Tiến đăng trên Viet-studies ngày 5.6.2013  http://www.viet-studies.info/NguyenHienLe_TruongVinhKhanh.htm

Bài viết mới

Video yêu thích

Tranquility – Time Solitaire. Music United with Nature.
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim Ngọc Phương Nam Thung dung Dạy và học Cây Lương thực Tình yêu cuộc sống Kim on Facebook

GS Trần Văn Khê người Thầy nhạc Việt

giaosutranvankhenguoithaynhacviet

GS TRẦN VĂN KHÊ NGƯỜI THẦY NHẠC VIỆT
Hoàng Kim
Thầy Trần Văn Khê đã bảo tồn tinh hoa âm nhạc cổ truyền và văn hóa dân tộc Việt Nam. Tôi  viết bài này trong ngày mất của thầy ngày 24 tháng 6 năm 2015 như là một nén tâm hương tưởng niệm . Hôm nay, chúng ta tưởng nhớ Thầy đáng kính Người giữ gìn nét đẹp văn hóa Việt qua câu chuyện do Quang Minh tổng hợp trên trang trithucvn.net  kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964 Cố GS Trần Văn Khê đã hỏi một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp “Ngài chơi với ai mà không biết một áng văn nào của nước Việt?”. Chuyện này đã đăng trên Hồi ký Trần Văn Khê (hai tập) tái bản lần ba năm 2013

TranVanKhe2015

Giáo sư Trần Văn Khê  từ trần hồi 020h55 ngày 24 tháng 6 năm 2015 (tức ngày 09/05 Ất Mùi) tại bệnh viện nhân dân Gia Định, TP. Hồ Chí Minh. hưởng thọ 94 tuổi. Thầy là nhà giáo giảng dạy và nghiên cứu nổi tiếng về âm nhạc cổ truyền và văn hóa Việt Nam, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốctế UNESCO, giáo sư Đại học Sorbonne Pháp, tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp. Thầy có công lớn trong quảng bá âm nhạc dân tộc, văn hóa Việt Nam ra thế giới. (Giào sư Trần Văn Khê khai đàn Nguyên đán Ất Mùi tại tư gia. Ảnh VnExpress)

Theo VnExpess.net  “đúng bản di nguyện do Giáo sư lập ra, thi hài Giáo sư được quàn tại tư gia đường Huỳnh Đình Hai, Bình Thạnh. Lễ tang của ông cũng diễn ra ở tư gia. Lễ nhập liệm diễn ra vào 10h ngày 26/6. Lễ viếng bắt đầu từ 12h trưa ngày 26/6 và kéo dài đến hết ngày 28/6. Lễ động quan diễn ra vào 6h sáng 29/6. Sau đó, linh cữu ông được đưa đi hỏa táng tại Nghĩa trang Hoa Viên, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM và gia đình cùng đứng ra tổ chức tang lễ cho Giáo sư Khê. Con trai trưởng của ông là Giáo sư Trần Quang Hải làm chủ tang. Hiện tại, Giáo sư Trần Quang Hải đang gấp rút trở về TP HCM từ một hội nghị quốc tế ở nước ngoài …”.

GS TRẦN VĂN KHÊ CUỘC ĐỜI VÀ DI SẢN

Trang Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đang cập nhật thông tin về GS Trần Văn Khê.

Tiểu sử

Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh[2], biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương [3]. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca[4]. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó [5]. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca [5].

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ” trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng”, và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng. Sau Cách Mạng Tháng Tám, ông tham gia kháng chiến một thời gian rồi về vùng Pháp kiểm soát cuối năm 1946.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies) [6].

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh [7].

Gia đình
GS Trần Văn Khê có bốn người con: Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris, Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TP Hồ Chí Minh), Trần Thị Thủy Tiên hiện sống tại Paris, và Trần Thị Thủy Ngọc, nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho một ban nghiên cứu Đông Nam Á của trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học ở Paris [8].

Người vợ đầu của ông Trần Văn Khê là bà Nguyễn Thị Sương (1921-2014). Khi ông Khê sang Pháp học năm 1949, do hoàn cảnh, hai người không còn sống với nhau nữa. Năm 1960, bà Sương và ông Trần Văn Khê ly dị [9]. tuy nhiên sau này vẫn coi nhau là bạn [10]. Sau đó ông có những người phụ nữ khác. Ông nói: “Đa tình thì có thể nhưng rất may là tôi không phải là người bạc tình và cũng chưa bao giờ cùng lúc có hai ba người. Chỉ có người này đi qua người khác đến. Cũng chưa có người phụ nữ nào oán trách tôi, khi chia tay chúng tôi đều giữ lại được tình bạn.” [11]. Mấy chục năm cuối đời ông sống một mình.

Khi ông Khê sang Pháp học năm 1949, người con gái út của ông Trần Thị Thủy Ngọc chưa ra đời. Sau này, năm 1961 Trần Quang Hải (trưởng nam) sang Pháp, tới năm 1969 đến lượt Thủy Ngọc (con gái út) sang Pháp ở với cha. Còn Trần Quang Minh và Thủy Tiên ở lại Việt Nam, sống với mẹ [12].

Hội viên

Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc và trên trường quốc tế:

  • Hội Nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học (Société Française de Musicologie) (Pháp)
  • Hội Dân tộc Nhạc học Pháp (Société Française d’Ethnomusicologie) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học Quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
  • Hội Dân tộc Nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
  • Hội Nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ)
  • Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
  • Hội Quốc tế Giáo dục Âm nhạc (International Society for Music Education)
  • Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học của Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc với Phương pháp Đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies) (Đức)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (International Music Council/UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
  • Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ thuật…

Giải thưởng

  • 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.
  • Huy chương bội tinh hạng nhứt của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
  • Văn hoá bội tinh hạng nhứt của Bộ giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
  • 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa) của Đại học Ottawa (Canada).
  • 1981: Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique).
  • 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres, Ministère de la Culture et de l’Information du Gouvernement français (Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hoá Pháp).
  • 1993: Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; viện sĩ thông tấn.
  • 1998: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam.
  • 1999: Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương cấp.
  • 2005: Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng.
  • 2011: Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu

Chú thích

    1. ^ Singapore Swim Association. “Giáo sư Trần Văn Khê qua đời”. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2015.
    1. ^ Mai Anh, “GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt“, trang Đại học Quốc gia Hà Nội. Truy cập 2008-10-22.
    1. ^ http://www.voatiengviet.com/content/se-khong-ai-thay-the-duoc-gsts-tran-van-khe/2835523.html ‘Sẽ không ai thay thế được GS-TS Trần Văn Khê’, VoA Tiếng Việt, ngày 25 tháng 6 năm 2015.]
    1. ^ Trần Văn Khê, “Đờn ca tài tử trong không gian văn hóa Nam bộ“, Vietbao.vn. Truy cập 2008-10-22.
    1. ^ a ă Nguyễn Phúc Nghiệp, “Về một gia tộc nổi tiếng âm nhạc ở Việt Nam“, trang tỉnh Tiền Giang. Truy cập 2008-10-22..
    1. ^ Bạch Dương, “GS Trần Văn Khê và những ngôi nhà“, Báo Tiền phong. Truy cập 2008-10-23.
    1. ^ “Giáo sư Trần Văn Khê qua đời – VnExpress Giải Trí”. VnExpress – Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 24 tháng 6 năm 2015.
    1. ^ “Cuộc đời, sự nghiệp GS. Trần Văn Khê qua lời hồi ức của con trai (I)”. Báo điện tử Dân Trí. 24 tháng 6 năm 2015. Truy cập 24 tháng 6 năm 2015.
    1. ^ http://vbizz.net/chiec-bong-ben-doi-nguoi-nhac-si-tai-hoa-tran-van-khe/
    1. ^ http://dantri.com.vn/vanhoa/phu-nhan-gsts-tran-van-khe-qua-doi-904598.htm
    1. ^ http://www.kienthuc.vn/tinh-yeu/chuyn-tinh/31575-nhung-nguoi-phu-nu-trong-doi-giao-su-tran-van-khe.html
  1. ^ http://vbizz.net/chiec-bong-ben-doi-nguoi-nhac-si-tai-hoa-tran-van-khe/

Tham khảo

Từ khóa (Thể loại)

NGƯỜI GIỮ GÌN NÉT ĐẸP VĂN HÓA VIỆT

Cố GS Trần Văn Khê: “Ngài chơi với ai mà không biết một áng văn nào của nước Việt? trithucvn.net Quang Minh tổng hợp. Có một câu chuyện thể hiện niềm kiêu hãnh của người Việt đã được Giáo sư Trần Văn Khê kể lại nhiều lần cho các học trò của mình, và cũng được ông ghi lại trong cuốn hồi ký, kể về cuộc tranh luận bên lề buổi sinh hoạt của Hội Truyền bá Tanka Nhật Bản tại Paris vào năm 1964…

Tham dự buổi sinh hoạt này hầu hết là người Nhật và Pháp, duy chỉ có Giáo sư là người Việt. Diễn giả hôm ấy là một cựu Đề đốc Thủy sư người Pháp. Ông khởi đầu buổi nói chuyện như thế này:

“Thưa quý vị, tôi là Thủy sư đề đốc, đã sống ở Việt Nam 20 năm mà không thấy một áng văn nào đáng kể. Nhưng khi sang nước Nhật, chỉ trong vòng một, hai năm mà tôi đã thấy cả một rừng văn học. Và trong khu rừng ấy, trong đó Tanka là một đóa hoa tuyệt đẹp. Trong thơ Tanka, chỉ cần nói một ngọn núi, một con sông mà tả được bao nhiêu tình cảm. Chỉ 31 âm tiết mà nói bao nhiêu chuyện sâu sắc, đậm đà. Nội hai điều đó thôi đã thấy các nước khác không dễ có được.”

Lời phát biểu đã chạm đến lòng tự trọng dân tộc của Giáo sư Trần Văn Khê. Chính vì thế, khi buổi nói chuyện bước vào phần giao lưu, Giáo sư đã đứng dậy xin phép phát biểu:

“Tôi không phải là người nghiên cứu văn học, tôi là Giáo sư nghiên cứu âm nhạc, là thành viên hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO. Trong lời mở đầu phần nói chuyện, ông Thủy sư Đề đốc nói rằng đã ở Việt Nam hai mươi năm mà không thấy áng văn nào đáng kể. Tôi là người Việt, khi nghe câu đó tôi đã rất ngạc nhiên. Thưa ngài, chẳng biết khi ngài qua nước Việt, ngài chơi với ai mà chẳng biết một áng văn nào của Việt Nam?

Có lẽ ngài chỉ chơi với những người quan tâm đến chuyện ăn uống, chơi bời, hút xách… Phải chi ngài chơi với Giáo sư Emile Gaspardone thì ngài sẽ biết đến một thư mục gồm trên 1.500 sách báo về văn chương Việt Nam, in trên Tạp chí Viễn Đông bác cổ của Pháp số 1 năm 1934. Hay nếu ngài gặp ông Maurice Durand thì ngài sẽ có dịp đọc qua hàng ngàn câu ca dao Việt Nam mà ông Durand đã cất công sưu tập… Ông còn hiểu biết về nghệ thuật chầu văn, ông còn xuất bản sách ghi lại các sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam. Nếu ngài làm bạn với những người như thế, ngài sẽ biết rằng nước tôi không chỉ có một, mà có đến hàng ngàn áng văn kiệt tác.

Tôi không biết ngài đối xử với người Việt Nam thế nào, nhưng người nước tôi thường rất hiếu khách, sẵn sàng nói cái hay trong văn hóa của mình cho người khác nghe. Nhưng người Việt chúng tôi cũng ‘chọn mặt gửi vàng’, với những người phách lối có khi chúng tôi không tiếp chuyện. Việc ngài không biết về áng văn nào của Việt Nam cho thấy ngài giao du với những người Pháp như thế nào, ngài đối xử với người Việt ra sao. Tôi rất tiếc vì điều đó. Vậy mà ông còn dùng đại ngôn trong lời mở đầu”.

Rồi để so sánh với Tanka, Giáo sư đưa ra những câu thơ như: “Núi cao chi lắm núi ơi; Núi che mặt trời, không thấy người yêu” hay “Đêm qua mận mới hỏi đào; Vườn hồng đã có ai vào hay chưa” để đối chiếu: tức là cũng dùng núi non, hoa lá để nói thay tâm sự của mình.

Còn về số lượng âm tiết, Giáo sư kể lại câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi thời nhà Trần đi sứ sang nhà Nguyên, gặp lúc bà phi của vua Nguyên vừa từ trần. Nhà Nguyên muốn thử tài sứ giả nước Việt nên mời đọc điếu văn. Mở bài điếu văn ra chỉ có 4 chữ “nhất”. Mạc Đĩnh Chi không hốt hoảng mà ứng tác đọc liền:

“Thanh thiên nhất đóa vân
Hồng lô nhất điểm tuyết
Thượng uyển nhất chi hoa
Dao trì nhất phiến nguyệt
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết!”

Dịch nghĩa là:

“Một đám mây giữa trời xanh
Một bông tuyết trong lò lửa
Một bông hoa giữa vườn thượng uyển
Một vầng trăng trên mặt nước ao
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!”

Tất cả chỉ 29 âm chứ không phải 31 âm để nói việc người vừa mất đẹp và cao quý như thế nào.

Khi Giáo sư Trần Văn Khê dịch và giải nghĩa những câu thơ này thì khán giả vỗ tay nhiệt liệt. Ông thủy sư đề đốc đỏ mặt: “Tôi chỉ biết ông là một nhà âm nhạc nhưng khi nghe ông dẫn giải, tôi biết mình đã sai khi vô tình làm tổn thương giá trị văn chương của dân tộc Việt Nam, tôi xin thành thật xin lỗi ông và xin lỗi cả dân tộc Việt Nam.”

Kết thúc buổi nói chuyện, ông Thủy sư lại đến gặp riêng Giáo sư và ngỏ ý mời ông đến nhà dùng cơm để được nghe nhiều hơn về văn hóa Việt Nam. Giáo sư tế nhị từ chối, còn nói người Việt không mạo muội đến dùng cơm ở nhà người lạ. Vị Thủy sư Đề đốc nói: “Vậy là ông chưa tha thứ cho tôi”. Giáo sư đáp lời: “Có một câu mà tôi không thể dùng tiếng Pháp mà phải dùng tiếng Anh. Đó là: I forgive, but I cannot yet forget (Tạm dịch: Tôi tha thứ, nhưng tôi chưa thể quên)”.

Câu chuyện nhiều cảm hứng này cho chúng ta thấy một điều rằng, chỉ những người am hiểu văn hóa truyền thống mới có thể cứu vãn danh dự cho đất nước, chỉ những người không lãng quên những giá trị cổ xưa mới có thể gìn giữ tôn nghiêm của dân tộc.

NGƯỜI HIỀN ĐI XA TIẾNG THƠM CÒN MÃI

GS Trần Văn Khê người Thầy nhạc Việt. Thầy là một trong những người chính yếu giữ ngọn lửa thiêng âm nhạc cổ truyền dân tộc Việt của thế hệ chúng ta. Những khúc dân ca Nam Bộ mát rượi lòng người, những điệu lý ngựa ô, lý qua cầu, điệu lý thương nhau là lời tình tự dân tộc vượt lên nghèo khó, chia cắt, khổ đau để đi đến bến bờ tự do hạnh phúc.

Xin kính cẩn dâng Người một nén tâm hương.

Hoàng Kim


(Nguồn: GS Trần Văn Khê người Thầy nhạc Việt bản đăng lần đầu đã bổ sung phần 2)

Tin cập nhật của những ngày lễ tang GS. Trần Văn Khê
Lễ phát tang GS Trần Văn Khê lúc 10g sáng 26-6 (Tuổi Trẻ)
Giáo sư Trần Văn Khê qua đời (VnExpress)
Cuộc đời, sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê qua ảnh Alobacsi.vn
Một tên tuổi lớn của âm nhạc Việt Nam và thế giới đã ra đi (Nhân Dân)
PGS Đặng Hoành Loan: Nên có một bảo tàng mang tên GS Trần Văn Khê (xaluan.com)
Vĩnh biệt thầy GS.TS Trần Văn Khê – người truyền lửa (Tuổi Trẻ)
Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1 (Tuổi Trẻ)
Mời bạn xem phim Trần Văn Khê – Người truyền lửa (Tuổi Trẻ)
Giáo sư Trần Văn Khê qua đời: Một cuộc đời viên mãn… (Tuổi Trẻ)
Cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn sau 36 năm (Tuổi Trẻ)
Nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn (Tuổi Trẻ)
Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 2 – Lập gia đình (Tuổi Trẻ)
GS Trần Văn Khê qua ống kính Nguyễn Á
Giáo sư Trần Văn Khê – cuộc đời tận hiến cho nhạc dân tộc (VnExpress)
Đời hoạt động nghệ thuật của Giáo sư Trần Văn Khê qua ảnh
Giáo sư Trần Văn Khê qua đời – (BBC Tiếng Việt)
Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn (Thanh Niên)
Giáo sư Trần Văn Khê muốn nghe lại tiếng đàn tranh trước lúc ra đi (Thanh Niên)

Video yêu thích

NRĐS – Số 30 Giáo sư Trần Văn Khê Phần 1 – Le Media [Official]


Cha con GS-TS Trần Văn Khê hòa đàn ngẫu hứng 2014


Lý Ngựa Ô liên khúc ba miền
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook KimTwitter  hoangkim vietnam

Về miền Tây

oitiengvietnhubunvanhulua

Hoàng Kim

Sao anh chưa về lại miền Tây.
Nơi một góc đời anh ở đó.
Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu,…
Tên đất tên người chín nhớ mười thương.

Anh có về Bảy Núi Cửu Long,
Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ.
Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ….
Anh có về nơi ấy với em không?

*

Mình về với đất phương Nam.
Ninh Kiều thắm nước, Sóc Trăng xanh đồng.
Về nơi ấy với em không ?
Bình minh Yên Tử mênh mông đất trời.

Ta đi cuối đất cùng đời
Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người.

*

Về miền Tây đối với tôi là đến với một vùng ký ức. Nhớ miền Tây, tôi tẩn mẩn xếp lại những tản văn hay, bài thơ hay, trang thư, bức họa, những bản nhạc … của những người thầy, người bạn, và lắng nghe nôn nao ký ức dội về …

Hành phương Nam  bạn hãy đọc bài “Về miền Tâycủa Nguyễn Quỳnh Trâm là cô giáo dạy văn giỏi của trường Lê Quý Đôn ở thành phố Hải Dương. Bài ký của cô giáo Nguyễn Quỳnh Trâm cho chúng ta một góc nhìn Cần Thơ, Cà Mau trong đôi mắt của người lữ khách xứ Bắc lần đầu đến Hậu Giang, Bạc Liêu. Bài thu hoạch “đi một ngày đàng học một sàng khôn” của cô giáo Quỳnh Trâm chứa đựng những phác thảo tinh khôi thật đáng học hỏi. Có lẽ cái gốc văn hóa Kiếp Bạc Côn Sơn nơi phát tích của Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi đã thổi vào tâm hồn của những người bạn Hải Dương mà tôi được quen ở đó như Trần Đăng Khoa, Nguyễn Quỳnh Trâm, … mỗi người đều lắng đọng những nét văn hóa rất riêng và đẹp.

Về miền Tây,  thương …” Bạn có nhớ tản văn hay của Nguyễn Thị Hậu (Nguyễn kc Hậu trên Facebook). Cô Hậu là tiến sĩ khảo cổ học nhà Sài Gòn nhưng quê miền Tây. Về miền Tây … thương là góc nhìn của người miền Tây, người trong cuộc. “Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …” Chữ thương càng đằm thắm hơn khi bạn đã trãi nghiệm giấc mơ hạnh phúc, đã hiểu được sức nặng của yêu thương, nhớ nhung và đầy đặn nghĩa tình … để thấm thía được ý nghĩa sâu xa của đời người: năm tháng sẽ đi qua chỉ tình yêu ở lại …. Tôi viết  trên trang Học mỗi ngày “Đọc và cảm nhận “Về miền Tây …thương”. Sức khỏe của trang blogspot nay không được tốt nên tôi chép về đây để bạn cùng đọc.

Hoa điên điển và em“Bạn đã ăn lẩu hoa điên điển nấu với cá linh chưa? Một trong muôn vàn món lạ miền Nam đấy. Đọc  thơ “Hoa điên điển và em” của cô giáo Cao Nguyên ở Đồng Tháp. “Điên điển tàn lại nở. Chuyện lở bồi do sông. Anh có về nơi ấy. Hoa vẫn vàng mênh mông …” Tôi đã từng viết lời cảm nhận trong bài viết Hoa điên điển và em Cao Nguyên : Nếu mỗi nhà thơ chỉ được chọn bốn câu thôi thì bốn câu thơ này của Cao Nguyên sẽ có thể sánh cùng những bài thơ hay chọn lọc đấy. Giản dị. Sâu sắc Ám ảnh.Bạn đến Đồng Tháp, thăm vùng lúa trời Đồng Tháp Mười, thăm Tràm Chim, Xẻo Quýt hình ảnh của Đồng Tháp Mười thu nhỏ, ăn lẩu cá linh và hoa điên điển nếu đúng mùa.

Bạn về Vĩnh Thạnh, Lấp Vò viếng mộ người hiền Nguyễn Hiến Lê học và viết.Bạn tham quan và viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Bác Hồ. Về miền Tây, thầy bạn tôi ở dưới đó. Mỗi tỉnh huyện Nam Bộ, mỗi nơi đi qua, mỗi chỗ dừng chân, hầu như nhiều nơi tôi đều có bạn. Họ là sinh viên, người quen, bạn học, bạn nhà nông. Bao tên đất tên người thân thương vẫy gọi…

Về miền Tây bát ngát đồng xanh và mênh mông sông nước. Từ cậu bé chân đất làng Minh Lệ, Chợ Đồn, Quảng Bình, tôi đã từng ở Bắc nhiều năm và thao thức khi viết “Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác“, đã từng sống ở Tây Nguyên và nhiều lần qua Miên Lào cũng như đã đến nhiều nước “Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương” và chiêm nghiệm sâu sắc “Từ Mekong nhớ Neva“. Tôi neo đậu giấc mơ hạnh phúc với miền Trung và Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh yêu thương. Đất và người phương Nam với tôi là mạch nước ngầm tình yêu cuộc sống đầy đặn.

Mình về với đất phương Nam. Ninh Kiều thắm nước, Sóc Trăng xanh đồng. Về nơi ấy với em không ? Bình minh Yên Tử mênh mông đất trời. Ta đi cuối đất cùng đời  Ngộ ra hạnh phúc thảnh thơi làm Người. Đến với hạt gạo, củ khoai, củ sắn, trái bắp, đậu đỗ, rau hoa quả, sống với những người dân hiền lành chất phác, chân tình trượng nghĩa, ta như tắm mình trong nắng sớm ban mai mặt trời vừa mọc.

Câu chuyện con đường lúa gạo Việt Nam khởi đầu từ Lương Định Của con đường lúa gạo ở Sóc Trăng tôi sẽ kể tiếp. Còn bây giờ mời bạn đọc một số bài viết của bạn tôi.

Hoàng Kim

conduongluagaovietnam

CON ĐƯỜNG LÚA GẠO VIỆT NAM

Hoàng Kim

Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa. Giáo sư tiến sỹ, anh hùng lao động Nguyễn Văn Luật, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long,  tác giả chính của cụm công trình ‘Nghiên cứu và phát triển lúa gạo’ đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đã có hai bài viết quan trọng giới thiệu về “Lịch sử cây lúa Việt Nam” và “Cải tiến giống lúa cho sản xuất lúa gạo tại Việt Nam”. Giáo sư đã đưa ra các bằng chứng và dẫn liệu ‘Việt Nam là chốn tổ của nghề lúa’ và ‘các tiến bộ của giống lúa Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21’. Hai bộ sách: Nguyễn Văn Luật (chủ biên), xuất bản lần đầu năm 2001, 2002, 2003 Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20, ba tập Nhà Xuất Bản Nông nghiệp, Hà Nội, 1.347 trang, và Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu 2011. Khoa học về cây lúa, di truyền và chọn giống. Nhà Xuất bản Nông Nghiệp, 623 trang đã đúc kết về những tiến bộ này.

Con đường lúa gạo Việt Nam” là chùm bài lược thuật về các dâng hiến lặng lẽ của một số nhà nông học,  nhà giáo và nông dân giỏi nghề nông. Họ gắn bó cuộc đời với nông dân, nông nghiệp, nông thôn, và những sinh viên, học viên nghề nông để làm ra những hạt gạo ngon hơn, tốt hơn cho bát cơm của người dân. Tập tài liệu nhỏ này mục đích nhằm kể lại những mẫu chuyện đời thường nghề nông cho các em sinh viên đọc thêm ngoài giờ học chính.

Thầy Norman Borlaug nhà khoa học xanh, cha đẻ của cuộc cách mạng xanh được tặng giải Nobel và thế giới tôn vinh là nhà bác học số một của nhân loại trong  cuộc chiến chống nghèo đói, đã có dặn thật thấm thía: “ Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó”; “Hãy vươn tới những vì sao. Cho dù không chạm được vào nó, nhưng nếu cố gắng hết sức, ít ra, chúng ta cũng chạm được những hạt bụi của ngôi sao”; “Việc chính đời người chỉ ít thôi. Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi. Phúc hậu suốt đời làm việc thiện. Di sản muôn năm mãi sáng ngời”.

Dạy học không chỉ trao truyền tri thức, kỹ năng nghề nghiệp mà còn trao truyền ngọn lửa. Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Nam Bộ Việt Nam, quê hương của nhà bác học nông dân Lương Định Của, là nơi con đường lúa gạo Việt Nam khởi phát và tỏa rộng, là nơi mở đầu cho chùm bài viết này. Về miền TâySao anh chưa về lại miền Tây. Nơi một góc đời anh ở đó. Cần Thơ Sóc Trăng sông Tiền Sông Hậu. Tên đất tên người chín nhớ mười thương. Anh có về Bảy Núi Cửu Long. Nắng đồng bằng miên man bao nỗi nhớ. Kênh ông Kiệt thương mùa mưa lũ. Anh có về nơi ấy với em không?” (thơ Hoàng Kim).

Lương Định Của con đường lúa gạo
Nơi tỏa rộng con đường lúa gạo Việt

Những chân dung nghề nông phác thảo

Thầy Quyền nghề nông của chúng tôi
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Phạm Trung Nghĩa nhà khoa học xanh
Nguyễn Thị Trâm người Thầy lúa lai
Bảy Nhị chuyện cổ tích cho người lớn
Từ Sắn Việt Nam đến Lúa Siêu Xanh
Những người Việt lỗi lạc ở FAO
Bùi Huy Đáp lúa xuân Việt Nam
Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên
Kênh ông Kiệt giữa lòng dân
Ông Hồ Sáu làm kinh tế giỏi
Thầy Xuân lúa và hệ canh tác

DẠY, HỌC VÀ LÀM cây lương thực
Gạo Việt chất lượng và thương hiệu
Trò chuyện với anh Đoàn Nam Sinh

Con đường xanh của chúng ta
Công việc này trao lại cho em
Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời
Hoa của Đất

Về miền Tây
Hoa Lúa

Xin giới thiệu ‘Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng‘ trong chùm bài viết trên

GaoThomSocTrang

HỒ QUANG CUA GẠO THƠM SÓC TRĂNG

Hoàng Kim

Nhà văn, nhà báo Huỳnh Kim vừa có bài viết ấn tượng Gạo thơm ST ra thế giới viết về kỹ sư Hồ Quang Cua, tác giả nhãn hiệu Gạo thơm Sóc Trăng nổi tiếng ST5, ST20,… “Thái Lan làm được sao mình không làm? ” “ST ra thế giới nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi“. Những trăn trở của anh Hồ Quang Cua và những người tâm huyết “chọn tìm giống tốt đêm nằm chiêm bao” cũng là trăn trở của hàng triệu nông dân Việt Nam.

ST5

Làm gì để nâng cao giá trị canh tác, giá trị sử dụng và hiệu quả kinh tế để hạt ngọc Việt đi ra thế giới ? Từ nghiên cứu chọn tạo giống tốt, hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh, đến phục tráng, thực nghiệm, nhân giống gốc, xây dựng cánh đồng mẫu lớn, đến tổ chức hệ thống sản xuất chế biến kinh doanh khép kín là  một chuỗi công việc to lớn để có được chén cơm ngon như những tấm hình minh họa dưới đây

LuaSocTrang

Anh Hồ Quang Cua (thứ nhất bên trái) cùng anh Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT (thứ hai từ bên phải), trong hội thảo đầu bờ trên cánh đồng mẫu lớn. Chúng tôi đang học theo thầy Lương Định Của con đường lúa gạo, học theo anh để tiếp nối công việc của anh và thực hiện đề tài Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh (GSR) và đặc sản Sóc Trăng (ST). Tôi biết ơn anh Hồ Quang Cua vì tấm lòng của anh đối với nông dân, đối với cây lúa, đối với nghề nông  và những kỹ năng cuộc sống quý giá mà anh đã thân thiết trao đổi, gợi mở,…

Tôi nhớ đến anh là nhớ đến gạo thơm Sóc Trăng và ngược lại. Ra bến xe đò về thành phố, hỏi đến ông Cua gạo thơm Sóc Trăng là hầu như ai cũng biết và họ hồ hởi khoe ông Cua và gạo trắng, gạo ngon, … rượu  ngon Sóc Trăng và nếp cẩm.  Chợt dưng tôi thấu hiểu những ông Bụt đời thường, những ông Bụt của đất, của nước, của hạt ngọc phương Nam.

ST Tim

Trăn trở về Lúa Gạo Việt Nam chiến lược chọn tạo giống, tôi viết thư trao đổi với anh Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp. Anh tán đồng với phương pháp “đưa thêm các nguồn gen quý vào những giống lúa vốn đã rất phổ biến và nổi tiếng trong sản xuất” như cách chúng ta đã làm trong tạo chọn và phát triển các giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím) công nhận giống năm 1997 thành vùng giống sản xuất lớn, thâm canh cao ở Bình Minh, Vĩnh Long năm 2007, đưa năng suất khoai lang từ 9,00 tấn lên 29,8 tấn trên phạm vi toàn tỉnh; Giống sắn KM98-5, KM419 tạo giống cũng theo cách trên và nay đã thành vùng giống sắn sản xuất lớn ở Tây Ninh, đưa năng suất sắn từ 8,5- 12,5 tấn /ha của giống sắn địa phương lên 17,0- 27,0 tấn/ha và nay toàn tỉnh đạt năng suất 30,0 tấn/ha, cá biệt những nông hộ sản xuất giỏi đạt 50,0 – 65,0 tấn/ha trên diện rộng, chủ lực là giống sắn mới KM419 chiếm trên 50% diện tích sắn và các giống KM94, KM98-5… Điều này cũng như công việc chúng ta đang làm đưa thêm nguồn gen quý vào giống lúa “hoa hậu” OM6976 của nhóm tác giả Nguyễn Thị Cúc Hòa, Phạm Trung Nghĩa và cộng sự Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, để chọn tạo và phát triển dòng OM6976-41 (GSR89), hoặc những việc chúng ta đang làm mới đây nhằm kết hợp GSR với ST.

Anh Lê Huy Hàm đồng tình và trao đổi nhiều thông tin định hướng chọn tạo giống lúa (như đã nêu ở bài trên). Anh viết: “Kính gửi anh Kim. Cám ơn anh đã giới thiệu về các giống lúa mới có tiềm năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này tôi rất quan tâm. Hiện nay chúng tôi đi theo hướng là không tạo ra giống lúa mới mà chỉ cải tạo giống cũ. Lý do vì chúng ta đã tạo ra quá nhiều giống lúa mới, nông dân hoa mặt không còn biết phân biệt giống nào tốt, giống nào xấu nữa (Không như sắn và khoai lang, số giống chọn tạo không nhiều nhưng rất bền trong sản xuất – HK). Nhiều giống lúa cũng làm cho việc xây dựng thương hiệu giống và thương hiệu gạo khó khăn, là một trong các nguyên nhân làm gạo Việt Nam có giá thấp trên thị trường. Vì vậy hiện nay tôi đang nâng cao tinh chịu mặn và tình chịu ngập của các giống đại trà lúa miền Bắc và miền Nam bằng việc đưa gen Saltol (chịu mặn) và gen Sub1 (chịu ngập) vào các giống lúa đại trà của Việt Nam. Mức chịu mặn giai đoạn mạ hiện nay đã đạt 5-6 ‰, chiu ngập 10-15 ngày, sau khi nước rút lại mọc lại. Chúng ta có thể cùng nhau thử nghiệm các giống này tại Sóc Trăng. Anh làm cầu nối với tỉnh thì rất tốt. Chúng ta cùng nhau tìm kinh phí. Chúng tôi hy vọng rằng bằng cách này, chúng ta sẽ không tao ra các giống mới mà chỉ cải thiện các giống đã chấp nhận rộng rãi ở các đặc tính chịu mặn, chịu ngập, kháng rầy, đạo ôn, khô văn, bạc lá… và cuối cùng tạo ra Multiple tolerant rice varieties hay super rice. Đây là đặc tính cần để ứng phó với biến đổi khí hậu. Chúng tôi cũng sẵn sàng tham gia với kế hoạch của anh về SGR(Green Super Rice – Siêu lúa xanh)ở tỉnh Sóc Trăng, Phú Yên và Gia Lai. Anh móc nối, có thể chúng ta sẽ tổ chức gặp nhau Viện Di truyền – Đại học Nông Lâm hoặc tại các tỉnh trên. Chúng tôi có thể lại tạo để chuyển thêm gen saltol vào SGR để tăng tính chịu mặn, đánh giá ở góc độ phân tử, sau đó anh cùng với Sóc Trăng, Phú Yên , Gia Lai và các nơi đánh giá tại địa Phương. Anh suy nghĩ nhé. Chúc anh khỏe, Lê Huy Hàm

ST5 nhân giống

Tôi muốn khởi đầu câu chuyện “Lúa Gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống” bằng sự Tổng quan “Con đường lúa gạo Việt Nam” kể về nhiều nhân vật kỳ vĩ và nhiều nhà khoa học tâm huyết tài năng như: Lương Định Của, Tôn Thất Trình, Bùi Huy Đáp, Nguyễn Văn Luật, Võ Tòng Xuân, Vũ Tuyên Hoàng, Mai Văn Quyền, Trần Văn Đạt, Bùi Bá Bổng, Bùi Chí Bửu, Nguyễn Công Tạn, Phan Phải, Nguyễn Thị Trâm, Lê Huy Hàm, Tạ Minh Sơn, Nguyễn Trí Hoàn, Phạm Văn Ro, Nguyễn Thị Cúc Hòa, Nguyễn Thị Lang, Đỗ Khắc Thịnh, Nguyễn Văn Hoan, Mai Thành Phụng, Nguyễn Gia Quốc … Họ đã đóng góp to lớn trong chọn tạo giống lúa, góp phần làm nên diện mạo “Cây lúa Việt Nam thế kỷ 20”. Nhưng tôi xin được viết chậm lại để có thời gian thong thả hơn. Sự cần thiết phải đi thẳng vào những vấn đề nóng hổi, cấp bách của thực tiễn sản xuất đang đòi hỏi: “Làm gì để phát triển khoa học công nghệ mới tạo được đột phá cho hạt ngọc Việt?“.

Chúng ta hãy bắt đầu từ anh Hồ Quang Cua và gạo thơm Sóc Trăng, từ vùng đất quê hương Long Phú, Đại Ngãi (Đại Nghĩa theo cách gọi của tiếng miền Nam), đi trên con đường lúa gạo Trường Khánh, Đại Nghĩa của dân tộc Việt, nơi sinh thành của nhà bác học cây lúa Lương Định Của. Chúng ta cũng bắt đầu bằng ý kiến thảo luận của anh Lê Huy Hàm, chuyên gia về di truyền chọn giống lúa. Tôi hiểu ý anh Hàm “Chọn giống lúa là đừng ham tạo ra nhiều giống mà cần tuyển chọn kỹ để có giống lúa ưu tú phổ biến thành thương hiệu nổi bật, đứng vững trong sản xuất“. Mời bạn hãy đọc “Gạo thơm Sóc Trăng ra thế giới” của Huỳnh Kim. Bài viết ngắn nhưng nhiều thông tin lắm. Đất nước cần có nhiều Hồ Quang Cua và “gạo thơm Sóc Trăng” hơn nữa cho bà con nông dân và cho sản xuất! Đọc Huỳnh Kim, tôi cảm giác như gặp lại Sơn Nam: ” … Năm tháng đã trôi qua/ Ray rứt mãi đời ta/ Nắng mưa miền cố thổ/ Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê “. Năm tháng sẽ qua đi, chỉ những thành quả thiết thực cho chén cơm manh áo của người dân là còn lại.

Đất Nước cần nhiều những nhà khoa học dấn thân, cần cù, phúc hậu, trí tuệ chọn tạo giống lúa, cây lương thực ngon hơn, tốt hơn cho người dân, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh tổng hợp, các giải pháp khoa học công nghệ để người dân lao động bớt nhọc nhằn hơn, giảm rũi ro và tổn thất sau thu hoạch.

Chừng nào mỗi chúng ta chưa ứa nước mắt thấm hiểu sự nhọc nhằn của người nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Chừng nào những giá trị lao động khoa học cao quý, liên tục, âm thầm chưa mang lại đủ niềm vui cho bữa ăn của người dân nghèo. Chừng đó chúng ta sẽ còn phải DẠY VÀ HỌC. Cái gốc của sự học là HỌC LÀM NGƯỜI.

Hoàng Kim

GẠO THƠM ST RA THẾ GIỚI

Huỳnh Kim

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Kỹ sư Hồ Quang Cua – Ảnh: H.Kim

Thái Lan làm được sao mình không làm?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST.

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 – 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” – Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm.

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím – lúa và tôm – lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân – doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

 


Vietnamese Dan Bau Music


Vietnamese food paradise
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam  Trở về đầu trang Gạo Việt chất lượng và thương hiệu  Con đường lúa gạo Việt Nam.

Mời bạn đọc tiếp…

VeMienTay1

VỀ MIỀN TÂY

Nguyễn Quỳnh Trâm

HẬU GIANG XUÔI CHẢY MỘT DÒNG …

Bình minh trên sông Hậu

Hậu Giang ơi nước xuôi xuôi một dòng
Dẫu qua đây một lần, nói sao cho vừa lòng, nói sao cho vừa thương…

Dòng Hậu Giang lững lờ êm trôi trong câu hát, giờ đây đã ở ngay trước mắt chúng tôi, hiền hòa thơ mộng.

Sáng sớm, chúng tôi tới bến Ninh Kiều, chuẩn bị cho chuyến đi thăm chợ nổi Cái Răng trên sông Hậu. Bến Ninh Kiều ở vị trí giao thoa hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ, gần trung tâm thành phố Cần Thơ. Đứng trên bến nhìn ra xa, có thể cảm nhận được hết cái mênh mông của sông nước mây trời. Phía đông, cả một vùng không gian huyền ảo trong ánh ban mai rạng rỡ. Có lẽ bình minh trên sông Hậu mới thật là một bình minh đẹp nhất chăng? Khi mà chính mình được đứng nơi đây và đắm chìm trong ánh mặt trời!

Chúng tôi du ngoạn trên sông Hậu, giữa sóng và gió mát, thật thanh bình! Hai bên bờ sông là những ngôi nhà nổi lụp xụp, những xà lan chở cát, cả những cửa hàng bán vật liệu xây dựng, từ gỗ, đá đến sắt thép xi măng… đủ cả. Trên dòng nước, thỉnh thoảng lại có những đám bèo lục bình bập bềnh trôi tới. Có đoạn, cả vạt bèo xanh um dập dờn… Chợt nghĩ đến thời chống Mỹ, những vạt bèo như thế này đã che chở cho bao nhiêu chiến sĩ biệt động vượt sông… Bao người đã sống nhờ những cánh bèo này, và bao linh hồn nương lại cánh lục bình nơi sông nước…

Sau khoảng nửa tiếng trên thuyền, vượt qua 4 km đường sông, chúng tôi đã đến chợ nổi Cái Răng nằm ở ngã ba sông. Theo truyền thuyết, tên gọi Cái Răng xuất phát từ câu chuyện hồi đầu thời khẩn hoang có con cá sấu rất lớn mê nghe hát bội. Năm đó, trong làng có đám cưới của một chàng trai trẻ và cô thôn nữ xinh đẹp. Đám rước dâu đang tưng bừng qua sông thì con cá sấu bất ngờ nổi lên quật chìm mấy chiếc xuồng, mọi người cố gắng chống chọi, chèo thuyền vào bờ, nhưng cô dâu thì mất tích. Chàng trai đau đớn, quyết tâm tiêu diệt cá sấu trả mối hận mất vợ yêu. Anh gom góp vốn liếng đi mời 3 gánh hát bội nổi tiếng trong vùng và vận động trai tráng ở các làng hợp sức. Đêm đó, trong khi ba gánh hát dựng rạp phía trong vàm rạch nối tiếp nhau biểu diễn, cá sấu bơi vào xem, thì các trai làng làm con đập lớn đầu vàm để bẫy cá sấu. Khi con sấu xem xong gánh hát bội thứ ba ở sâu trong ngọn rạch thì trời cũng vừa hửng sáng, con đập cũng vừa hoàn thành. Con sấu uể oải bơi ra sông cái sau một đêm trắng xem hát, nhưng khi ra đến đầu vàm, con đập đã chặn nó lại. Từ trên bờ, hàng ngàn mũi lao bằng gốc tầm vông già vạt nhọn, những mũi chĩa đinh ba… nhắm ngay con sấu phóng tới. Chàng lực điền giành phần phanh da, xả thịt con sấu. Từng phần cơ thể con cá sấu trôi đi khắp nơi, chỗ cái đầu dạt vào thì gọi là Đầu Sấu, phần da dạt vào thì gọi là Cái Da, phần răng rơi vãi thì gọi là Cái Răng…

Trong cuốn “Tự vị tiếng nói miền Nam” của Vương Hồng Sển lại cho biết: Cái Răng có nguồn gốc từ chữ Khmer “karan” nghĩa là “cà ràng” (ông táo). Người Khmer ở Xà Tón (Tri Tôn, An Giang) chuyên làm nồi đất và “karan” chất đầy mui ghe lớn rồi thả theo sông cái đến đậu ghe nơi chỗ chợ Cái Răng ngày nay để bán, năm này qua năm nọ. Lâu dần, mọi người phát âm karan thành “Cái Răng”, rồi trở nên địa danh của nơi này luôn.

Nguồn gốc tên gọi địa danh của mọi vùng miền nước mình bao giờ cũng thật lý thú. Nó thể hiện đời sống văn hóa, tình cảm đậm đà của tâm hồn người Việt, và càng thấm cái nghĩa cái tình của xứ sở sông nước miền Tây.

Lúc này, chợ nổi Cái Răng đang trong lúc đông vui nhộn nhịp nhất. Chợ nổi là một nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của người miền Tây, mọi hình thức mua bán đều diễn ra trên ghe, xuồng. Đến đây sẽ được tha hồ thưởng thức các loại trái cây, đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chợ hoạt động tấp nập từ tờ mờ sáng, hàng trăm ghe thuyền lớn bé đã đậu san sát nhau để mua bán… Mọi ghe, xuồng bán sản vật gì, thì người ta đều treo sản vật đó lên 1 cây sào, gọi là “cây bẹo”, hoặc treo ở đầu mũi thuyền để khách dễ thấy. Cả khu chợ như phình to ra lấn gần hết lòng sông. Mọi âm thanh cùng vang lên vô cùng sôi động: tiếng máy nổ, tiếng chèo khua nước, tiếng sóng vỗ oàm oạp vào mạn thuyền, tiếng nói cười của người mua kẻ bán… Sầm uất không thua bất cứ một chợ nào trên cạn. Điều thích thú nhất là các xuồng nhỏ gọn, len lỏi rất thiện nghệ áp mạn ghe bán hàng rồi thu tiền, và con người thì cũng rất nhường nhịn nhau. Chỉ nhìn những xuồng chở bao nhiêu là mãng cầu, măng cụt, dừa xiêm… thôi, đã thấy chao ôi là ngon! Chúng tôi cũng chọn vài trái dừa xiêm và thưởng thức nước dừa mát lành, tinh khiết như sương mai! Thật tuyệt!

Thuyền quay về bến, xa dần những chiếc ghe xuồng ngang dọc ở chợ nổi. Nắng đã lên, rực rỡ chan hòa khắp cả dòng sông. Hít thật sâu làn gió mát rượi, ngắm dòng phù sa châu thổ rẽ mũi thuyền, lắng nghe tiếng sóng vỗ, thấy nao nao trong câu hát diệu vợi sông nước mênh mang: “Nón lá đổ nghiêng tóc dài con nước đổ. Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời…”

Đêm nghe đờn ca tài tử trên Hậu Giang

Màn đêm buông xuống, chúng tôi trở lại dòng Hậu Giang để thưởng ngoạn đêm nhạc đờn ca tài tử trên sông.

Nghĩ về những cái tên Ninh Kiều, Cần Thơ, thấy nó yêu kiều như vẻ đẹp mặn mà của người con gái Tây Đô. Bến sông Ninh Kiều khi xưa vẫn thường dập dìu bước chân du khách, những đêm trăng vang ngân tiếng đàn hát, ngâm thơ của khách cầm ca. Vì thế mà chúa Nguyễn Ánh vào đây đã đặt tên con sông là Cầm Thi – con sông của thi ca đàn hát. Lâu ngày, chữ “Cầm Thi” được gọi trại đi thành Cần Thơ. Còn Ninh Kiều vốn là chiếc cầu bắc qua sông Ninh Giang (sông Đáy), đây là nơi đã diễn ra trận Chúc Động lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn năm 1426. Cái tên Ninh Kiều là để người Cần Thơ ghi nhớ sự kiện lịch sử đầy tự hào ấy.

Bến Ninh Kiều trong đêm mang một vẻ đẹp vừa bí ẩn, vừa gần gũi. Dòng nước lung linh dưới ánh điện lấp lánh đủ màu và bóng trăng, bóng sao vời vợi. Gió đêm hè mát rượi, mơn man mái tóc dịu dàng. Bên kia sông, xóm chài lung linh ánh điện, bình thản soi mình đáy nước.

Bước chân nhẹ xuống du thuyền, đã thấy mấy ca nương trong trang phục áo bà ba và các nhạc công ôm đàn ngồi đó. Ca nương áo bà ba đỏ mỉm cười chào mọi người bằng giọng Nam Bộ nghe ngọt lịm. Thuyền bắt đầu rời bến, và tiếng hát cất lên:

Ai mua sầu riêng, có ai mua sầu riêng
Hãy dừng chân ghé quán em
Em đây bán trái sầu riêng
Nhưng em không bán tình duyên.

Bài hát “Cô gái bán sầu riêng” ngân vang da diết. Tiếng đàn kìm, tiếng sáo, nhị réo rắt, nhịp phách nức nở hòa với giọng ca trong vắt, vang vọng cả dòng sông.

Dù cho má thắm môi hồng
Sầu riêng chan chứa trong lòng
Thì xin đừng nói tiếng yêu thương
Khách đa tình xin chớ vấn vương…

Bảo không vấn vương làm sao được khi giọng ca ngọt đến vậy, ánh mắt lúng liếng và chiếc áo bà ba thon thả cứ gây mối sầu riêng u hoài mãi không thôi?

Hết bài ca về “sầu riêng”, ca nương hát một đoạn trong vở “Đời cô Lựu”. Chỉ một đoạn thôi, nhưng đủ tái hiện những nỗi buồn đau tuyệt vọng trong cuộc đời người phụ nữ xưa khiến người nghe mãi ngậm ngùi… Rồi đến các bài vọng cổ khác trong các vở “Nửa đời hương phấn”, “Lan và Điệp”, “Bên cầu dệt lụa”… đều được các ca nương hát với tâm tình tha thiết của những tâm hồn sống chan hòa với thiên nhiên và quê hương, thấu hiểu nỗi buồn đau của bao kiếp người. Nghe cải lương, vọng cổ đã nhiều, nhưng khi thưởng thức trên sông, bỗng thấy rất đặc biệt. Đúng là phải hát trên sông như thế này, cho sóng nước rung lên với sóng lòng, cho gió đưa câu hát ngân xa, cho ánh trăng xao xuyến mây trời…, mới thấy hết độ sâu thẳm của mỗi lời ca, câu đổ. Giữa phong cảnh hữu tình, con người trở nên tinh tế hơn, mà dường như cũng mong manh hơn khi lắng lòng trong những câu ca…

Và một điều thú vị của chương trình đờn ca tài tử trên sông là các ca nương và khán giả có thể cùng hát giao lưu đối đáp. Nếu khán giả đang hát mà quên lời thì ca nương “nhắc vở” cho, đảm bảo hát được hết bài không vấp, với điều kiện là khán giả đó cũng biết đôi chút về điệu ca. Những bài hát như “Hoa tím bằng lăng”, “Cô gái tưới đậu”, “Hoa mua trắng” đã được hát lên như thế, khi vài người trong đoàn chúng tôi lên hát, và những bài ca trở nên rất ngọt ngào: “Gió lên lay động hoa bằng lăng thướt tha. Hoa diễm kiều, hoa mặn mà. Màu hoa tươi thắm lắm hoa ơi! Cũng như câu chuyện tình ta ngát hương”(Bài “Hoa tím bằng lăng”), “Nghe gió đồng bềnh bồng thênh thênh . Yên đất giồng là mầm đậu lên. Sáng nay nắng ấm trời êm. Đồng xanh xanh sắc lá, mắt em hay sắc trời. Tang tình tang tính tình tang…” (bài “Cô gái tưới đậu”)… Cứ thế, ánh mắt giao duyên, khách hát tuy chưa ngọt, câu vọng cổ đổ chưa nhuyễn, nhưng cái tình mộc mạc chất phác mà duyên ngầm của đất miền Tây như đã thấm đượm vào hồn người xứ Bắc.

Thuyền đang quay về. Đã nửa đêm. Trước khi chia tay, theo yêu cầu của đoàn, ca nương ngân lên bài “Dạ cổ hoài lang” – một bản nhạc cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác, nói về tâm sự người vợ nhớ chồng lúc về đêm.

Từ là từ phu tướng, báu kiếm sắc phong lên đàng
Vào ra luống trông tin chàng, năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng, ôi gan vàng quặn đau…

Bài hát ngân lên từng cung bậc của cảm xúc. Nỗi buồn ly tán trong lời ca, trong giai điệu quyện vào tâm tình người hát, khơi lên trong lòng người nghe nỗi cảm thông, đau xót về số phận con người. Trời sâu thẳm, sông thăm thẳm, sóng cũng dạt dào theo mấy điệu xàng xê… Mặt nước mênh mang, thỉnh thoảng, những đám lục bình trôi tới, bập bềnh khe khẽ như cùng lắng nghe tiếng ca thổn thức. Đã tới gần bờ, đám dừa nước lao xao khua động, tiếng sóng oàm oạp vỗ bờ. Chia tay các ca nương rồi mà câu hát còn ngân mãi vơi đầy theo sóng nước Hậu Giang…

Chợt nhớ đến lời ca của một bài vọng cổ:

Vẳng nghe hò xự cống xê
Giật mình thổn thức tìm về nhớ mong
Đêm nghe vọng cổ trên sông
Lòng tôi như hạt nước hồng phù sa.
(Đêm nghe vọng cổ trên sông)

Phù sa bao đời cần mẫn đắp bồi cho “Cần Thơ gạo trắng nước trong”, và những câu ca vọng cổ đã làm hồng lên trái tim của chúng tôi, những du khách xứ Bắc lần đầu đến với Hậu Giang…

Về miền Tây, ký sự ảnh Quỳnh Trâm

MIỆT VƯỜN HOA TRÁI

Nằm giữa chợ nổi Cái Răng và Phong Điền, miệt vườn Mỹ Khánh rộng trên 4 héc ta, với hơn 20 loại cây trái và động vật. Vừa bước qua cổng, cả không gian xanh tươi mát rượi mở ra trước mắt. Miệt vườn Mỹ Khánh quả thực rất nên thơ, thanh bình và đầy đặn như những hoa thơm trái ngọt ở đây!

Cô gái hướng dẫn viên nhiệt tình, chu đáo và duyên duyên là! Dáng người thon thả trong chiếc áo bà ba màu tím, cô đi lại nhanh nhẹn, uyển chuyển, giới thiệu về miệt vườn bằng giọng nói vô cùng dễ thương, mỗi khi tiếng “dạ” của cô ấy cất lên kèm theo nụ cười hàm tiếu là mấy thầy giáo trong đoàn lại ngẩn ngơ mất… vài giây!

Theo cô hướng dẫn viên xinh đẹp, chúng tôi thăm một ngôi nhà ẩn sau hàng trầu xanh mướt. Đó là ngôi nhà cổ Nam Bộ có niên đại hơn 100 năm, vốn là nhà của điền chủ ở Bình Thủy (nay thuộc quận Bình Thủy, TP.Cần Thơ) đã được trùng tu, bảo dưỡng – một không gian vừa cổ về kiến trúc, vừa cổ về nếp nhà. Trên tường cao treo những tấm hoành phi, câu đối ngụ ý tứ sâu xa về lẽ sống. Xà nhà bằng gỗ có chạm khắc hình loan phụng sắc nét, công phu. Từ nếp cửa, mái lợp nhà, các cột, kèo với những nét chạm khắc tinh xảo trên gỗ, đến tủ thờ, bộ trường kỷ cẩn đá cẩm thạch, bộ tứ bình, các bức bình phong cẩn xà cừ…, tất cả đều thể hiện một gu thẩm mĩ tinh tế của chủ nhân. Mọi đồ đạc trong nhà đều bằng gỗ lim tuổi 100 năm. Ngôi nhà rộng, vật dụng sang trọng thể hiện một lối sống điền chủ giàu có và nề nếp thời xưa. Đứng giữa ngôi nhà mang gam trầm như thế này, càng hiểu hơn về nền văn hóa độc đáo từ xa xưa của người Việt, và nhà cổ chính là những chứng nhân thăng trầm của lịch sử.

Phía sau ngôi nhà cổ là làng nghề truyền thống làm bánh tráng và nấu rượu. Nếu có nhiều thời gian hơn, chúng tôi có thể tự tráng bánh rồi nhâm nhi chút rượu với bánh tráng gói cá tai tượng chiên giòn. Nhưng còn rất nhiều điều thú vị cần khám phá, cô hướng dẫn viên đưa chúng tôi đến với những trò chơi dân gian ở đây: câu cá sấu và đua heo. Đây là những trò chơi thu hút rất nhiều khách tham gia. Hồ cá sấu thì không biết cơ man nào là cá sấu! Những con cá sấu gớm ghiếc bơi lừ lừ trên mặt nước đục ngầu, lộ ra phần đầu và lưng xù xì. Mồi câu vừa thả xuống là lập tức hàng mấy chục cái đầu sấu vươn cao lên, những cái miệng đầy răng sắc nhọn há ra khủng khiếp. Không hào hứng lắm với lũ cá sát thủ này, tôi ngó qua chỗ trò chơi đua heo. Trò chơi này sẽ cho những ai thích cá cược cảm giác thú vị (nếu đặt cược cho 1 chú heo nào đó) và cho những ai thích hò hét những trận cười thỏa thích! Heo về trước hay về sau, con nào cũng mum múp béo, dù 1 ngày có thể đua tới 6 trận, thắng bại có là gì khi phía đích bao giờ cũng có nồi cám thơm ngon chờ các chú ỉn! Hồn nhiên đến thế là cùng!

Nhưng điều thích nhất đối với tôi là những vườn cây xanh mát, hàng dừa thẳng tắp hun hút con đường, con kênh xanh nước chảy êm đềm, những cây cầu duyên dáng bắc nhịp tình quê. Len lỏi giữa cây trái và hoa thơm để được hòa mình vào thiên nhiên, thật vô cùng thú vị! Nào là chôm chôm, xoài, vú sữa, mít, sầu riêng… bao hương vị miền Nam đều đủ cả. Sầu riêng trĩu quả đu đưa, chôm chôm đỏ rực cả một vùng, những trái xoài vàng thắm thơm nồng nàn, mận chín đỏ mọng khiến người ta ứa nước miếng! Đang mùa mít chín, hương mít thơm phưng phức, xôn xao mời gọi. Cây mít to, thân tròn, vỏ nhẵn nâu nhạt, loang lổ màu xám mốc. Tán cây không rộng, càng lên cao càng thu nhỏ lại. Từ gốc đến thân, những quả mít to chen chúc, mập mạp y như những chú heo con nghịch ngợm bám mẹ không rời. Mít nghệ ngon lắm! Từng múi mít có màu vàng đậm như nghệ, cắn một miếng, nhai từ từ và cảm nhận cái giòn sần sật, vị ngọt thơm ngon không thể tả! Đi trong miền cây trái, thưởng thức hoa thơm quả ngọt là điều chỉ nơi này mới có. Hai bên lối đi, những khóm hoa tím, hoa vàng ríu ríu múa ca cùng muôn ngàn cánh bướm sặc sỡ đủ màu. Dãy nhà lá bên đường với mái rạ óng lên trong nắng, khiêm nhường dưới bóng tre bóng trúc và những rặng dừa. Vài phút ngả lưng trên chiếc võng mắc dưới gốc cây để thư thái tận hưởng bầu không khí ngào ngạt thơm và xanh mươn mướt! Vừa nhấm nháp vị ngọt ngon của cây trái, vừa ngắm những ngôi nhà gỗ làm theo kiểu nhà rông xinh xắn nằm rải rác dưới vòm cây, còn thú vị nào bằng!

Nắng óng ánh xuyên qua vòm lá, thả những sợi vàng xuống thảm cỏ xanh. Trái chôm chôm chín đỏ rung rinh như những đốm lửa lung linh ẩn hiện. Ai đó đang thưởng thức sầu riêng, hương thơm đặc trưng của nó cứ thao thiết như không kìm nén được nỗi niềm sâu thẳm. Thỉnh thoảng, một câu ca vọng cổ từ ngôi nhà vườn gần đó vọng ra, như nhắc nhớ về nguồn cội. Những khúc ca trắc ẩn tình người, giai điệu ngọt ngào hòa quyện cùng tiếng ghi-ta phím lõm với điệu xàng xê và nhịp song lang da diết nhớ thương… Thấp thoáng bóng những chiếc áo bà bà đủ màu đi qua, như phớt nhẹ nét vẽ mảnh mai và mềm mại vào cái nền xanh mướt mát của miệt vườn cây trái. Có lẽ thời gian dừng bước ở bên ngoài cánh cổng kia, để chốn này chỉ còn là đất lành trái ngọt từ ngàn xưa mà ông bà tổ tiên đã để lại cho con cháu ngày nay.

Đứng giữa vườn xanh đậm đà hồn quê kiểng, tưởng như mình đang được trở về ngày xưa, cái thời thiếu thốn tiện nghi nhưng tình người thì luôn dư dả! Bước đi trên lối nhỏ, nghe chim hót trên cao và tiếng gió lao xao vòm lá… Chợt nghĩ, giá cuộc đời này cũng hồn nhiên như cây cỏ…

MŨI CÀ MAU MẦM ĐẤT TƯƠI NON (*)

Thế là tôi đã đến điểm cuối cùng trên dải đất hình chữ S thân yêu! Chính là nơi đây, mầm đất tươi non của Tổ quốc – Mũi Cà Mau!

Từ thị trấn Năm Căn, đoàn chúng tôi lên tàu cao tốc vượt sông Cửa Lớn để ra đất Mũi. Sông Cửa Lớn còn gọi là Đại Môn Giang, nối biển Đông với biển Tây, đầu bên biển Đông là cửa Bồ Đề, đầu bên biển Tây cửa Mũi Ông Trang, gần mũi Cà Mau. Đoạn từ ngã ba sông Đầm Dơi và sông Cửa Lớn đến cửa Bồ Đề còn được gọi là sông Bồ Đề. Dù nối hai biển Đông và Tây nhưng Cửa Lớn là con sông nước lợ vì có ba con sông nhỏ (sông Đầm Dơi, sông Đầm Cùng và sông Cái Ngang) đổ nước ngọt vào. Đây là dòng sông mang nhiều cái “nhất” trong hệ thống sông lưu vực đồng bằng sông Cửu Long: nhiều chi lưu nhất, dòng chảy mạnh nhất, nguy hiểm nhất… Điểm đặc biệt là dòng sông có dòng chảy từ biển ra… biển. Nói cách khác, đây là con sông không có thượng nguồn và hạ nguồn, đó là nét độc đáo so với những dòng sông nổi tiếng khác. Con sông được nhà thám hiểm Jacques-Yves Cousteau, thuyền trưởng tàu Calypso, đánh giá là 1 trong 100 dòng sông lớn nhất thế giới!

Tôi chọn cho mình chỗ ngồi ngay cạnh cửa sổ để có thể tha hồ ngắm con sông hùng vĩ này. Dòng sông cuồn cuộn chảy xiết, nước trong xanh. Điểm khác biệt với tất cả sông nước miền Tây là sông Cửa Lớn không hề có lục bình. Những con sóng nơi cửa sông gần biển quả thực bạo liệt y như sóng ngoài khơi, có lúc sóng ào đến, bắn tung lên, nếu không nhanh tay kéo cửa sổ kính lại thì sẽ ướt hết! Sóng từ biển xô vào, sóng từ lạch chảy ra, tàu vun vút lướt sóng, tất cả tạo nên một cuộc rượt đuổi thật ngoạn mục! Bỗng, mây đen vần vũ kéo đến. Trời đổ mưa! Mưa ràn rạt trên sông, gió ào ạt thổi. Nước xiên chéo rào rào trên sông y như cuộc khiêu vũ tưng bừng của cặp đôi Mưa và Sóng! Cảm giác say mê, mãnh liệt, phóng khoáng vô cùng!

Một lát, mưa ngớt, tôi lại kéo hết cửa kính ra, phóng tầm mắt chiêm ngưỡng mọi cảnh vật xung quanh. Các luồng lạch và rạch nước chằng chịt nên thỉnh thoảng tàu bẻ lái, rẽ vào lạch nước mới. Chẳng có bất kỳ biển báo chỉ dẫn nào mà người lái tàu linh hoạt điều khiển con tàu vun vút trên sông, khéo léo tránh những con tàu hay chiếc xuồng máy ngược dòng. Tàu nghiêng mình lượn sóng, làm nở tung những bông hoa nước trắng xóa với ngàn cánh nhỏ. Và nhìn ra, chao ôi là xanh, cái màu xanh trùng điệp và dày đặc của rừng đước! Thật đúng như nhà văn Đoàn Giỏi đã viết: “Trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”. Vậy là đã vào tới Vườn quốc gia Mũi Cà Mau thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển!

Cà Mau là từ Việt hoá của tiếng Khmer là “Tuk Khmau”, nghĩa là “nước đen”. Đó là do vùng U Minh nước ngập quanh năm, tích tụ lâu ngày chảy ngang qua rừng đầy lá mục của dừa nước, tràm, gừa ráng, choại, dớn, lát, sậy, năn, cỏ nước mặn, … nên nước có mùi hôi và vị phèn chua, mặn, màu vàng đậm, thậm chí đen đặc lại. Rừng đước và rừng tràm nối tiếp vây quanh mũi Cà Mau từ Đông sang Tây, làm cho rừng Cà Mau trở thành khu rừng đứng thứ nhì thế giới về tầm quan trọng và diện tích, sau rừng ngập mặn ở cửa sông Amazon của châu Mỹ La Tinh. Chúng tôi say mê ngắm nhìn những dòng sông, con rạch chằng chịt đang chảy hối hả, những ngôi nhà sàn ven bờ, nhà nổi trên sông, những bãi bùn nối tiếp nhau và cây đước thẳng đứng vút cao. Người địa phương có câu: “Mắm đi trước, đước theo sau, tràm theo sát”. Cây mắm có rễ tua tủa đâm thẳng lên trời, làm cho mặt đất quanh nó y như bãi chông. Tiếp sau là cây đước, linh hồn của rừng Cà Mau. Rễ đước như hình mũi tên cắm sâu xuống bùn mọc lên thành cây, vây thành rừng. Hai loại rễ này đan cài vào nhau, giúp cho đất bãi bồi không bị sạt lở mà rắn dần, để mỗi năm, mũi Cà Mau lấn ra biển hàng trăm thước. Ðó chính là khả năng kì diệu và độc đáo mà chỉ Cà Mau mới có: “Ðất nở ra, rừng biết đi và biển sinh sôi”.

Tàu dừng hẳn, khi không còn tiếng động cơ nữa, tôi thực sự nghe được tiếng của rừng. Đúng là “tiếng rì rào bất tận của những khu rừng đước bạt ngàn, cùng tiếng sóng ì ầm từ biển Đông và vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng về trong hơi gió muối…” (Đoàn Giỏi). Âm thanh ấy đã ngay lập tức vang vọng vào hồn, thấm đượm một cách tự nhiên và vô cùng thân thuộc. Có lẽ vì cảm giác được đứng giữa nơi này, chìm trong sắc xanh cây lá và lắng nghe tiếng thì thầm của Tổ quốc gọi tên mình…

Chúng tôi hăm hở trèo lên đài quan sát cao 21 m với 54 bậc tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Bậc thang lượn vòng dọc theo thân trụ tạo nên biểu tượng cây đước vươn cao. Đứng trên đài quan sát, trước mặt là biển khơi dậy sóng, sau lưng là rừng đước bạt ngàn, cảm giác thật hạnh phúc khi được tận hưởng và sở hữu thiên nhiên bao la của đất nước! Đây là nơi duy nhất trên cả nước có thể nhìn thấy mặt trời mọc trên biển Đông và lặn ở phía biển Tây, cả Hòn Chuối và Hòn Khoai cách đất liền hàng chục km cũng nằm trong tầm mắt. Gió thổi lồng lộng. Mênh mang sơn hà là đây!

Cột mốc tọa độ quốc gia GPS 0001 (cây số 0) là điểm tận cùng cực Nam của Việt Nam (trên đất liền), điểm mốc có ý nghĩa thiêng liêng. Được xây dựng vào tháng 1 năm 1995, có hình dạng ngôi sao sáu cánh, cột mốc ở chính tâm ngôi sao, ốp đá màu nâu và dòng chữ vàng rực nổi bật: MỐC TỌA ĐỘ QUỐC GIA. Chạm tay vào dòng chữ và cảm nhận sự thiêng liêng lãnh thổ, thấy xúc động dâng trào!

Và biểu tượng cho mũi Cà Mau chính là tượng đài hình con thuyền đang lướt sóng ra khơi, ở tọa độ 8º37’30” vĩ độ Bắc, 104º43” kinh độ Đông. Cánh buồm trắng no gió, lá cờ phấp phới bay trên đỉnh cột buồm, in lên nền trời xanh sắc đỏ thắm kiêu hãnh và tự hào! Câu thơ của Xuân Diệu vụt đến trong tôi như một tia chớp: “Tổ quốc tôi như một con tàu – Mũi thuyền ta đó: Mũi Cà Mau”. Nhìn mọi người hào hứng, say mê chọn cho mình những góc đẹp để chụp ảnh với biểu tượng con thuyền, mới thấy niềm vui này đâu chỉ là việc được đặt chân đến điểm cực Nam của Tổ quốc, mà chính là tình yêu đất nước từ sâu thẳm luôn thường trực trong trái tim mỗi người, và khi có dịp, nó nảy nở đẹp đẽ, hồn nhiên như đóa hoa buổi sớm.

Đứng trên con thuyền lướt sóng, đón gió đại dương bát ngát thổi về, nghĩ về chiều dài lịch sử cha ông ta đi mở nước gian nan biết chừng nào, mà cũng tự hào biết bao nhiêu! Đất nước tôi, đất nước vất vả ngay từ dáng hình như chiếc đòn gánh nặng hai miền Nam Bắc, nhưng chưa khi nào lùi bước. “Ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm” ấy (**), vẫn lặng thầm bám chặt nước non, để Tổ quốc mình bước từng bước vững vàng vươn mình ra biển lớn!

——–
(*): Câu thơ của Xuân Diệu.
(**): Câu của Nguyễn Tuân

Nguyễn Quỳnh Trâm, 23/6/2015
(Nguồn: Những khoảng lặng cuộc sống phấn một, phần hai, phần ba )


VỀ MIỀN TÂY, THƯƠNG…

Nguyễn Thị Hậu

Quê tôi ở miền Tây. Còn tôi sống ở Sài Gòn.

Quê ngoại tôi chỉ cách quê nội một nhánh Tiền Giang nối liền nhau bằng bến đò Mỹ Hiệp, xưa ghe chèo nay là chiếc phà có thể chở xe tải nhẹ hay xe hơi 16 chỗ. Mỗi ngày hàng chục lượt phà qua lại nối liền Cù Lao Giêng với thành phố Cao Lãnh, dân cù lao buôn bán quanh năm hay chợ búa hàng ngày từ lâu đã quen thuộc với thị tứ bên này. Nhiều gia đình kết sui gia với nhau, ngày rước dâu chiếc phà rực rỡ sắc màu chạy trên sông, lẫn trong tiếng máy nổ đều đều là tiếng nhạc rộn rã và tiếng con nít chỉ trỏ í ới…
Những đám rước dâu, đưa dâu trên sông gợi nhớ bài hát “Ngẫu hứng Lý qua cầu” của nhạc sĩ Trần Tiến. Người nhạc sĩ tài hoa của Hà Nội đã cảm nhận được sự bình dị và lời ăn tiếng nói của người miền Tây để chuyển thành những câu ca nghe chạm vào tận đáy lòng “bằng lòng đi em về với quê anh, một cù lao xanh một dòng sông xanh… Đóa hoa tím trôi líu riu, dòng sông nước chảy líu ríu… anh thấy em nhỏ xíu anh thương… Những đêm ngắm sông nhớ em buồn muốn khóc…”. Có một thời tôi đã thầm nghĩ, nếu có ai đó chỉ cần nói với mình một câu giản dị “anh thương em” thì mình sẽ bỏ tất cả mà theo. Lúc đó tôi còn chưa hiểu vì sao chữ “thương” của người miền Tây lại làm mình nao lòng đến thế. Sau này, mỗi lần về quê hay đi công tác miền Tây là đi qua vô số những cây cầu dọc theo quốc lộ, nhìn những con sông, dòng kinh, con rạch… xanh mướt hai bờ, ghe xuồng xuôi ngược, chợ búa ở đầu cầu tấp nập, trái cây rau cải tôm cá tươi chong… Bỗng thấy thương quê mình gì đâu! Mới hiểu, chữ thương của miền Tây ngọt ngào, nặng tình nặng nghĩa biết bao, bởi vì thương không chỉ là thương yêu cha mẹ anh em, mà còn là thương nhớ người dưng, thương xót thân phận ghe xuồng trên sông, thương những gì gắn bó cả đời như thương chính mình.… Chữ thương bao dung và nhân hậu, nhẹ như hơi thở mà người miền Tây chỉ buông ra khi dằn lòng không được …
Về miền Tây thương đất hè nắng nứt, thương đất vàng phèn mặn, thương những dòng sông mùa nước nổi mang phù sa về tưới tắm cho những cánh đồng lúa mới, mang cá tôm về làm mắm làm khô nuôi sống dân miền Tây trong những tháng mùa khô sau đó; thương những mái nhà lá lô nhô trong nước, thương đồng lúa chín gặt vội chạy cho kịp mùa nước nổi, thương bầy trâu lặn lội mùa “len”, thương đàn vịt đồng ốm nhom mùa nắng tới…

Về miền Tây thương con nước ngày hai lần nước lớn cho ghe xuồng đi xuống miệt ruộng vùng sông Hậu, nước ròng cho ghe xuồng đi lên miệt vườn trên những cù lao sông Tiền. Mùa nước nổi có xuồng “năm quăng” giúp bà con sinh sống. Thương chiếc xuồng len lỏi theo những rạch, tắt, cựa gà… khuất vào đám dừa nước rậm rạp rồi chợt hiện ra nhỏ nhoi đơn côi trong tiếng “bìm bịp kêu nước lớn anh ơi…”. Thương những chiếc ghe thương hồ từ nhiều đời miệt mài xuôi ngược “buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”…
Về miền Tây thương những xóm làng nghèo khó mà ấm áp tình người. Trưa vắng vẳng tiếng gà gáy lao xao trong vườn, ngọn khói bếp vẩn vơ trên tán xoài, cầu dừa chông chênh cô thiếu nữ thoát thoắt bước qua. Chiều xuống những bến nước ven con rạch ồn ào trẻ nhỏ, đờn bà giặt đồ trên chiếc cầu tre, đờn ông chạy ào xe máy trên đường mòn, bất chợt nghe tiếng ai kêu dừng lại gạt chân chống để đó ghé vô, có khi tới khuya mới quay ra, xiêu xiêu lên xe chạy tiếp về nhà…

Về miền Tây thương những con đường giữa bóng xoài bóng dừa mát rượi, thương hàng rào bông bụt nhà ai đỏ vàng rực rỡ, thương dàn bông giấy màu trắng tím đỏ ngời lên trong nắng hạn làm lóa ánh mắt người qua… Về miền Tây thương nhà sàn lô nhô trên kênh rạch, thương bếp cà ràng đỏ lửa trên ghe, thương lò trấu trong gian bếp gọn gàng như những người đờn bà miền Tây vén khéo.
Về miền Tây thương ngôi chợ nhỏ đầu làng, sương sớm còn mờ đã lao xao mua bán, đến nửa buổi thì nhà lồng chỉ còn vài hàng cây trái. Thương chợ ngã năm ngã bảy trên sông ghe xuồng san sát, những chiếc sào cột các loại trái cây rau cải lơ lửng trên cao, ghe tạp hóa xanh đỏ đồ dùng, ghe than ghe chiếu giờ đã ít người mua kẻ bán… Thương phố chợ nhỏ mà cột antena san sát như đàn chuồn chuồn báo hiệu trời mưa, nhà cao tầng ngói đỏ ngói xanh, tiệm uốn tóc, tiệm vàng, tiệm thời trang… chẳng khác gì thành phố.

Về miền Tây thương những chành gạo ven sông, xà lan ghe lớn ghe nhỏ vào mùa gặt tụ họp về đêm ngày trên bến, những băng chuyền thay sức người tải gạo lên kho xuống ghe không dứt. Thương những lò gạch tròn như tổ tò vò khổng lồ in bóng xuống dòng sông. Những con sông dòng kinh như những mạch máu nuôi sống miền Tây.

Về miền Tây thương rừng tràm rừng đước xanh bạt ngàn miệt U Minh nước đỏ. Đêm Năm Căn câu vọng cổ nghe buồn chí xứ “chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp… tôi gối đầu mỗi đêm…”. Thương những Bãi, Bàu, Bắc, Bến, Bưng, Cái, Cầu, Cồn, Cù lao, Cửa, Đầm, Đồng, Gành, Hòn, Hố, Láng, Lung, Mũi, Mương, Rạch, Tắc, Vàm, Vũng, Xẻo… nghe giản dị mà gợi hình gợi cảnh.
Về miền Tây thương đám lục bình bông tím mong manh trôi xuôi ngược trên sông. Lúc nước ròng thì tấp vô như tìm chút hơi ấm của bờ đất mẹ, khi nước lên lại bơ vơ dập dờn trên mặt nước. Bông lục bình đẹp như em gái miền Tây, chơn chất, hiền lành, biết lo toan cho gia đình cha mẹ, khi em phải lấy chồng xa xứ khác nào số phận lục bình trôi… Chỉ mong mỗi ngôi nhà và những người đờn ông miền Tây sẽ là những bè tầm vông chắn sóng chắn nước cho giề lục bình bông tím mong manh đừng trôi xa, bình yên ở lại bờ bến quê nhà.

Về miền Tây thương những gian bếp có máng xối hứng nước mưa vào hai hàng lu mái. Sân nhỏ trước nhà lác đác lá khô của cây mận hồng đào. Thương từng chùm trái đỏ rực, lúc lỉu trên cành vào mùa Tết, thương mỗi đêm gió chướng nghe trái cây ngoài kia rơi lộp bộp, thương bầy trẻ con tranh nhau lượm những trái mận chín rụng, giòn và ngọt như đường phèn.
Về miền Tây thương những giọng hò ơ lai láng trên sông, thương câu vọng cổ thổn thức đêm đêm, thương bài đờn ca tài tử những ngày giỗ chạp, thương những “hẹn, hò”, “giỗ, quảy”… Về miền Tây thương người dưng buông câu “anh thương em” để trái tim lỗi nhịp, thương em gái nghẹn ngào “em thương ảnh, chị ơi…” nặng đến thắt lòng… Chỉ một tiếng “thương” thôi mà miền Tây đã níu giữ bao người ở lại, bao người đã đi rồi còn quay trở lại.

Về miền Tây thương những cửa sông rộng mênh mông, từng là con đường dẫn ông cha đi tìm đất khẩn hoang lập ấp. Thương vùng biển bồi bùn nâu nước lợ, mắm trước đước sau lấn biển, cả ngàn năm mũi Cà Mau dày thêm từng thước đất.

Về miền Tây thương những con người bao đời khó nhọc, nói “làm chơi ăn thiệt” vì không hay than thở, nói “làm đại đi” vì can đảm dám chịu trách nhiệm về việc mình làm. Thời thế nào cũng có những người “giữa đường thấy sự bất bằng chẳng tha”, “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”, dù sau đó có phải chịu nhiều oan khuất…
Về miền Tây…

Thương quá, miền Tây ơi!

Sài Gòn, tháng 11. 2013
http://plo.vn/que-minh/ve-mien-tay-thuong-445626.html

HOA ĐIÊN ĐIỂN VÀ EM CAO NGUYÊN

Hoàng Kim

Cô Út (Bùi Thị Cao Nguyên) là em gái Nam Bộ nơi có lúa trời Đồng Tháp Mười. Đến thăm em dòm trộm em đang mãi miết chụp hình suốt lúa. Trời xanh thiệt….Hình chụp đẹp và nét thiệt… Em thì chụp hoài còn tui thì coi hoài và nghe nhạc hoài không chán. Tui ngó đi ngó lại hai cô Út , cô nào cũng xinh, cũng lành  mà  đều nhìn không rõ mặt. Thôi thì nhạt nhòa vậy mà hay.

HOA ĐIÊN ĐIỂN VÀ EM

Bùi Thị Cao Nguyên

Có một mùa điên điển
Nở vàng trong nắng mai
Có em cười lúng liếng
Sông trôi chưa biết buồn

Nở lại tàn hoa ấy
Hái hay không cũng rồi
Thời gian là bao mấy
Giật mình, thoáng mây trôi

Qua bao mùa điên điển
Chỉ mình em ngóng trông
Hoa nở tàn nhanh lắm
Người ơi có biết không ?

Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng  mênh mông …

Cô Út cũng như cô Tư  cánh đồng bất tận, như biết bao đứa em, đứa cháu , đứa học trò lam lũ theo cái nghiệp nhà nông “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẽo thơm một hột đắng cay muôn phần” … Vậy mà cứ vô tư đi em, như thằng nhỏ hai lúa và như bài hát này. Hay lắm. Tui xin em rinh bài này về trang CÂY LƯƠNG THỰC và trang NGỌC PHƯƠNG NAM . Tui cũng có mấy tấm ảnh suốt lúa ở Campuchia nhưng không đẹp và không ngộ bằng em”.

“Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng mênh mông …”

Nếu mỗi nhà thơ chỉ được chọn bốn câu thôi thì bốn câu thơ này của Cao Nguyên sẽ có thể sánh cùng những bài thơ hay chọn lọc đấy. Giản dị. Sâu sắc Ám ảnh.

Tui e ít người hiểu hoa điên điển cũng như ít người thấm và thương cái nhọc nhằn của người dân làm ra hạt gạo. Tui đọc cho cô Út nghe lời của một ông Thầy (Võ Tòng Xuân) và một ông Thầy khác (Nguyễn Văn  Luật) dẫn lại: “Tôi chưa thấy công ty TAGS nào của Việt Nam mình có một chương trình nghiên cứu. Các công ty nông nghiệp khác của ta cũng chả có nghiên cứu gì, giỏi đi copy kết quả trong sách vỡ, kể cả Tổng Công ty Lương thực cũng chưa bao giờ tài trợ cho chương trình nghiên cứu cây lúa. Trong khi đó thì Công ty CP tại trụ sở chính của họ ở Bangkok mà tôi có dịp đến thăm hồi năm 1986, có một tòa nhà 4 tầng làm trung tâm nghiên cứu khoa hoc của họ. Công Ty mướn chuyên gia nước ngoài đến nghiên cứu, trả lương cả chục ngàn đôla/tháng, mới có được kết quả để họ ứng dụng vào chế biến TAGS, lai tạo giống gà, giống tôm. Dĩ nhiên sản phẩm họ tung ra thị trường được người chăn nuôi ưa chuông là thế. vv…”  Nên xác nhận lại lần nữa – mà chính anh H Kim (Hoàng Kim Đồng Tháp) đã biết rất rõ – nông dân ta nghèo không phải vì không ai mua lúa, nhưng nghèo vì những người có quyền bán lúa đã và đang điều khiển thị trường. Trong khi cả thế giới đều được khuyến khích giúp đỡ châu Phi, thì Việt Nam chờ có ai bỏ tiền ra mới chịu đi làm công cho người ta để gọi là “giúp cho châu Phi”.
Nhưng mà thôi cô Út:

“Điên điển tàn lại nở
Chuyện lở bồi do sông
Anh có về nơi ấy
Hoa vẫn vàng mênh mông …”

Hoàng Kim

LÚA TRỜI Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI

Trần Trọng Trung

“Ai ơi, về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn”…

Câu ca dao trên cho thấy thiên nhiên rất đỗi hào phóng ban phát cho vùng Đồng Tháp Mười nhiều sản vật và nguồn lợi tôm, cá khá dồi dào. Nơi đây, nguồn lợi thủy sản thì ai cũng biết, nhưng sản vật lúa trời thì chỉ có những người cao niên mới biết, còn thế hệ trẻ ngày nay thì rất ít người biết tới.

Lúa trời đã được xếp vào loại nông sản quý hiếm cao cấp, tương truyền được vua Gia Long đưa vào cung đình dùng trong những ngày đại lễ, cúng tế và làm đặc sản tiếp đãi thượng khách. Quần thể lúa trời hiện còn được lưu giữ và bảo tồn được 500 hecta tại Vườn quốc gia Tràm Chim tọa lạc trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì lúa trời còn gọi là “quỷ cốc”. Còn những cụ sống lâu năm ở vùng Đồng Tháp Mười cho biết lúa trời còn gọi là lúa ma, bởi lẽ loại lúa này không ai gieo sạ mà nó tự nhiên mọc trên cánh đồng mênh mông nước của vùng Đồng Tháp Mười xưa. Hàng năm, vào khoảng tháng tư dương lịch, lúc trời bắt đầu sa mưa, hột lúa bắt đầu nảy mầm và mọc cao lên chừng 5 tấc, thân lúa cứng, lá to bản. Từ tháng 8 đến tháng 12, cây lúa vươn dài, ngoi lên khỏi mặt nước, trổ đòng, đơm bông, vô hạt chắc rồi chín từ hạt vào lúc nửa đêm khuya khoắt và rơi rụng vào lúc mặt trời vừa ló dạng.

Bông lúa trời to, dài và thẳng hơn lúa thường, hạt lúa trên bông rất thưa. Với đặc tính trên, ngày xưa cư dân Đồng Tháp Mười thường đi gặt lúa trời vào lúc nửa đêm tới hừng sáng là đầy xuồng chở về nhà… Khi thu hoạch lúa trời, ít nhất phải có 3 người và thường được trang bị đầy đủ phương tiện và dụng cụ như: một chiếc xuồng ba lá có căng một tấm đệm ở giữa theo chiều dọc dài gần 2 m của chiếc xuồng, cao khoảng 1,5 m với hai cây đứng. Cây trước cao 2,5m và cây sau chỉ cao bằng tấm đệm, được gọi là cây cần câu. Hai cần đập bằng tre dài khoảng 2,5 m nằm hai bên và dọc theo chiều dài tấm đệm. Một đầu buộc chặt vô cây cần câu, khoảng giữa cần đập được cột dây treo trên đầu cần câu. Khi đập lúa, người đứng trước mũi chống xuồng đi vào đám lúa trời, người ngồi sau cầm hai cần đập, đập lúa vào tấm đệm cho rụng hột vào trong xuồng. Trên xuồng có ba người, một người bơi, hai người kia cắt lúa.

Mỗi bông lúa chỉ rụng một hoặc hai hạt trên xuồng, phải bỏ công vất vả, khổ nhọc lắm vì từ nửa đêm đến sáng mới thu gặt lúa trời được đầy xuồng. Các đầu bếp ở khu ẩm thực của địa danh du lịch sinh thái rừng tràm Gáo Giồng cho biết: “Sau khi đập lúa trời xong, đem về ngâm trong nước ba ngày rồi đem phơi cho rụng đuôi trước khi cho vào cối giã thành gạo giống như lúa thường, nhưng không giã gạo quá trắng. Gạo lúa trời dài hơn gạo thường và có hàm lượng dinh dưỡng cao. Khi nấu, đổ gạo và nước vào nồi đất, úp một lá sen vào nồi trước khi đậy vung, chỉ đun bằng củi hoặc rơm để không làm giảm hương vị lúa trời. Cơm nấu bằng gạo lúa trời có màu hồng nhạt và ngọt, thơm, dẻo ngon…, hương vị đặc trưng của miền quê sông nước Tây Nam bộ. Một cách nấu khác là cơm gói lá sen hiện nay được nhiều nhà hàng, quán ăn đặc sản như ở khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giới thiệu với du khách đến tham quan nơi này.

Trong quá trình nấu cơm bằng gạo lúa trời, không ít người tranh thủ chắt nước cơm ra, bỏ vào đó chút đường phèn hay ít mật ong để có một thức uống thơm ngon thú vị. Lúa trời còn được sử dụng để chế biến bột dinh dưỡng chất lượng cao dành cho trẻ em, làm bột tinh lọc đổ bánh xèo và các loại bánh thơm ngon bổ dưỡng khác.

Lúa trời là loại giống lúa quý hiếm đang được bảo tồn lưu trữ nguồn gen tại Vườn quốc gia Tràm Chim để làm nguồn lai tạo ra giống lúa mới, vừa có năng suất cao vừa chịu phèn tốt, thích hợp với vùng U Minh, Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên…

Nguồn : http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/7652/lua-troi-o-dong-thap-muoi.html

PhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucketPhotobucket
Loạt hình này  Bùi Cao Nguyên mới chụp trong khu bảo tồn ở Tràm chim Tam Nông hôm 3/9/2011.

Hình suốt lúa ở Cao Lãnh và ở Miên


Suốt lúa ở Cao Lãnh, ảnh Bùi Cao Nguyên
Nghe nhạc ngày mùa và xem phóng sự ảnh suốt lúa của Bùi Cao Nguyên tại đây
Nguồn: Bùi Cao Nguyên blog

Suốt lúa ở Campuchia  (ảnh tư liệu Hoàng Kim)

MÓN LẠ MIỀN NAM

Vũ Bằng

“Chồng mà không chịu ăn thì vợ đừ ngay ra mặt, khóc đòi về với bà già. Tôi yêu người vợ miền Nam thực thà như đếm, yêu ai thì yêu lộ liễu, thích cái gì thì muốn cho ai cũng biết rằng mình thích mới nghe! Đẹp thì muốn đẹp cho sắc sảo, áo quần phải làm sao cho nổi bật lên hơn cả quần áo của chúng chị em; mà ngày lễ và chủ nhật phải nèo chồng đi chơi cho kì được để cho người ta thấy hạnh phúc lứa đôi của mình.

Miếng ngon của miền Nam cũng thành thật như người đàn bà vậy. Ăn một miếng, ngon ngay, nhưng ngon không phải do vị của chính thức ăn, mà là tại xạ và ớt làm nổi vị lên, điểm cho khẩu cái một tơ duyên ấm áp.

Ăn như thế cũng có một cái thú riêng, nhưng làm cho người ta yêu hơn các món ăn của miền Nam, chưa chắc đã là vì các món ăn đó có nhiều ớt và nhiều sả, mà cũng không phải vì món ăn của miền Nam nịnh khẩu cái ta ngay, để rồi chỉ lưu lại một dư vị rất mong manh trong cuống họng.

Tôi yêu miếng ngon miền Nam nhiều là vì nó lạ – lạ đến nhiều khi không thể tưởng tượng được – và chính những cái lạ đó đã cho tôi thấy rõ hơn tính chất thực thà, bộc lộ và chất phác của người Nam….”

(Nguồn: Món lạ miền Nam, Vũ Bằng, sách)

Biển Đông vạn dặm

ObamTap
Tình hình biển Đông có gì mới?
Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á? Báo Mỹ, tờ The New York Rewiew of Books  có bài bình luận mới, rất đáng chú ý ngày 19. 6. 2015 của tác giả George Soros:  A Partnership with China to Avoid World War (Xây dựng mối quan hệ đối tác với Trung Quốc nhằm tránh cuộc chiến tranh thế giới, người dịch Nguyễn Hoàng Mỹ Phương, trích dẫn trên trang Viet-Studies). Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Bắc Kinh, tháng 11 năm 2014, ảnh Pete Souza/ Nhà Trắng trên trang The New York Rewiew of Books.

Bài báo kết luận : “Các cuộc đàm phán (hợp tác kinh tế- HK) giữa Mỹ và Trung Quốc có thể không được hoàn thành vào tháng 10/2015, khi ban lãnh đạo của IMF dự kiến sẽ xem xét thành phần trong rổ SDR. Thực tế là phải đến chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Tập Cận Bình tới Washington vào tháng 9 mới hoàn thành việc chuẩn bị. Nhưng có nhiều điều cần đạt được bằng cách kéo dài thời hạn SDR đến năm 2016. Sau đó Trung Quốc sẽ tổ chức cuộc họp của Nhóm G20, và năm 2016 cũng là năm cuối cùng của chính quyền Obama. Triển vọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ huy động tất cả các lực lượng chính trị có lợi cho hợp tác quốc tế cả hai bên.

Nếu nỗ lực thiện chí thất bại, Mỹ sau đó sẽ hoàn toàn hợp lý trong việc phát triển quan hệ đối tác đủ mạnh với các nước láng giềng của Trung Quốc mà liên minh Trung Quốc – Nga sẽ không dám thách thức bằng vũ lực quân sự. Điều đó rõ ràng là kém hơn so với quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ đối tác với các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ đưa chúng ta trở lại chiến tranh lạnh, nhưng vẫn là thích hợp hơn so với một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, hiện đang được đàm phán, có thể mang đến cơ hội tuyệt vời cho chiến lược hai hướng nhưng cách tiếp cận hiện nay là hoàn toàn sai. Hiện tại, Trung Quốc bị loại trừ; thực sự là quan hệ đối tác được hình thành như là một liên minh chống Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội cho ông và chính quyền kế nhiệm đến sáu năm để đàm phán hiệp định thương mại theo quy định đàm phán nhanh (fast-track rules) mà có thể tước đi quyền đưa ra các sửa đổi của Quốc hội. Dự luật đã được chuyển sang Thượng viện và bài báo này được viết trước khi chuyển sang Hạ viện. Nếu Hạ viện phê duyệt, Chủ tịch Tập Cận Bình có thể đối mặt với mối đe dọa rõ ràng cho chuyến thăm vào tháng 9. Đây là phản ứng thích đáng đối với hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và các nơi khác, nhưng còn rất ít chỗ trống cho cách tiếp cận thay thế. Kết quả là, rất khó cho Tổng thống Obama đưa ra đề nghị thiện chí của quan hệ đối tác chiến lược.

Hy vọng rằng Hạ viện sẽ không cho phép dự luật có quyền đàm phán nhanh. Thay vì buộc dự luật thông qua Quốc hội nhanh chóng, nó nên được đưa khỏi quyền đàm phán nhanh. Trong trường hợp đó, Quốc hội sẽ có nhiều thời gian để điều chỉnh những sai sót cơ bản trong các hiệp ước dự kiến khiến chúng không được chấp nhận khi chúng hiện đang được soạn thảo. Và điều đó cũng sẽ cho phép Tổng thống Obama đưa cho Chủ tịch Tập lời đề nghị chân thành của quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc khi ông đến thăm Washington vào tháng 9.”

Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á: đọc và suy ngẫm. Bài viết này của tác giả George Soros đang chỉ ra những thách thức và trở ngại khó vượt qua trong đàm phán hợp tác kinh tế thương mại Trung Mỹ sắp tới. Bài báo khuyến cáo chính phủ Mỹ vẫn nên thực hiện nỗ lực có thiện chí trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc với chiến lược hai hướng vừa hợp tác vừa răn đe. Những lý lẽ hợp tác được mời gọi trong bài viết này chỉ ra sự giới hạn khi xu thế nghi ngại và kế hoạch ngăn chặn đang hình thành và tăng thêm ngay trong lòng nước Mỹ lúc chính quyền Obama chì còn một năm cho nổ lực thiện chí này.

Những góc nhìn khác, đó là:   Phỏng vấn Nye: Tái cân bằng Trung Mỹ ở châu Á (Interview Joseph Nye on China and the U.S. rebalance to Asia tác giả  Samuel Ramani người dịch Đỗ Kim Thêm ) Có thể ngăn chặn Trung Quốc được không? (Can China Be Contained? tác giả Andrew Browne , người dịch Huỳnh Phan).

Sự thay đổi tâm trạng ở Washington hiện nay liệu có thể kết thúc bằng chiến lược ngăn chặn của Chiến tranh Lạnh cơ bản giống y như sự thay đổi đến trên toàn nước Mỹ ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi Mỹ chợt nhận ra rằng Liên Xô sẽ không thể tiếp tục là một đồng minh; Và, bây giờ một nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy thì liệu sự hợp tác kinh tế thương mại khoa học công nghệ với Mỹ có còn đáng tin cậy không và liệu có nên tiếp tục? Mặc dù Chủ tịch Tập Cận Bình đang thể hiện sự cần thiết, chào đón và hoan nghênh hợp tác khoa học công nghệ, giáo dục, đối tác chiến lược với Mỹ.

Việt Nam làm gì trong thế giới biến chuyển? Bài học lịch sử dân tộc và nhân loại luôn nhắc nhở  chúng ta : “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình”. “Ta lớn mau mau. Vượt qua biển lớn”. “Tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, có lý, có lợi, đúng lúc “.

Hoàng Kim

*Xem Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015.

http://www.nybooks.com/articles/archives/2015/jul/09/partnership-china-avoid-world-war  truy cập 16/6/2015

Tiếng Anh cho em

Học song ngữ Anh Việt đối chiếu qua các trích đoạn “Tôi có một giấc mơ”

“So sánh “giấc mơ Trung Quốc” của Chủ tịch Tập với giấc mơ Mỹ nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị và xã hội. Tập tán dương thành công của Trung Quốc trong “trẻ hóa dân tộc” bằng cách khai thác những tài năng và năng lực của người dân trong việc phục vụ nhà nước. Ngược lại, giấc mơ Mỹ ca ngợi sự thành công của cá nhân mạnh mẽ – những người đạt được vị trí xã hội cao hơn và giàu có hơn bằng cách vượt qua những trở ngại gây ra bởi các quy ước hoặc thành kiến xã hội hoặc chính quyền lạm dụng quyền lực của mình, hoặc do may mắn. Mỹ muốn Trung Quốc thực hiện theo các giá trị của mình, nhưng các lãnh đạo Trung Quốc cho rằng họ đang bị lật đổ.”

“Comparing President Xi’s “Chinese dream” with the American dream highlights the difference between the two political and social systems. Xi extols China’s success in “rejuvenating the nation” by harnessing the talents and energies of its people in service of the state. By contrast, the American dream extols the success of the rugged individual who achieves upward social mobility and material prosperity by overcoming obstacles posed by social conventions or prejudices or authorities abusing their power, or sheer bad luck. The US would like China to adopt its values but the Chinese leadership considers them subversive.”

Xem thêm:
Ông Putin nói Nga không tham vọng siêu cường, chỉ cần sự tôn trọng
Tôi có một giấc mơ, Martin Luther King
Tôi có một giấc mơ, Wikipedia tiếng Việt
Tôi có một giấc mơ, Hoàng Kim

Đọc toàn văn song ngữ Anh Việt đối chiếu bài báo nổi bật trong tuần:

 

A Partnership with China to Avoid World War

This article will appear in the July 9 issue of The New York Review.International cooperation is in decline both in the political and financial spheres. The UN has failed to address any of the major conflicts since the end of the cold war; the 2009 Copenhagen Climate Change Conference left a sour aftertaste; the World Trade Organization hasn’t concluded a major trade round since 1994. The International Monetary Fund’s legitimacy is increasingly questioned because of its outdated governance, and the G20, which emerged during the financial crisis of 2008 as a potentially powerful instrument of international cooperation, seems to have lost its way. In all areas, national, sectarian, business, and other special interests take precedence over the common interest. This trend has now reached a point where instead of a global order we have to speak of global disorder.In the political sphere local conflicts fester and multiply. Taken individually these conflicts could possibly be solved but they tend to be interconnected and the losers in one conflict tend to become the spoilers in others. For instance, the Syrian crisis deteriorated when Putin’s Russia and the Iranian government came to Bashar al-Assad’s rescue, each for its own reasons. Saudi Arabia provided the seed money for ISIS and Iran instigated the Houthi rebellion in Yemen to retaliate against Saudi Arabia. Bibi Netanyahu tried to turn the US Congress against the nuclear treaty the US was negotiating with Iran. There are just too many conflicts for international public opinion to exert a positive influence.

In the financial sphere the Bretton Woods institutions—the IMF and the World Bank—have lost their monopoly position. Under Chinese leadership, a parallel set of institutions is emerging. Will they be in conflict or will they find a way to cooperate? Since the financial and the political spheres are also interconnected, the future course of history will greatly depend on how China tackles its economic transition from investment and export-led growth to greater dependence on domestic demand, and how the US reacts to it. A strategic partnership between the US and China could prevent the evolution of two power blocks that may be drawn into military conflict.

How did we reach this point of global disorder? During the cold war the world was dominated by two superpowers. Each maintained some degree of control over its allies and satellites, and avoided direct military confrontation with the other because of the danger of Mutually Assured Destruction. It was a MAD system but it worked: it produced a number of local military conflicts but it avoided a world war.

When the Soviet empire fell apart the United States had an opportunity to become the sole superpower and the guarantor of peace in the world, but it did not rise to the occasion. The US was founded on the principle of individual freedom and it was not predisposed to become the policeman of the world. Indeed, it did not have a coherent view of the meaning of leadership in international affairs. During the cold war it had a bipartisan foreign policy, on which Democrats and Republicans largely agreed; but after the cold war ended the partnership broke up. Both parties continued to emphasize American sovereignty but they rarely agreed on subordinating it to international obligations.

Then in 1997, a group of neoconservatives argued that the US should use its military supremacy to impose its national interests, and established a think tank called the Project for the New American Century, “to promote American global leadership.” But that was a false approach: military force cannot be used to rule the world. After the terrorist attack of September 11, the neocons persuaded President George W. Bush to attack Iraq on dubious grounds that turned out to be false, and the US lost its supremacy. The Project for the New American Century had approximately the same lifespan as Hitler’s Thousand-Year Reich: around ten years.

On the financial side, by contrast, there was a clear consensus—the so-called Washington Consensus—on America’s role in the world. It became dominant in the 1980s under the leadership of Ronald Reagan and Margaret Thatcher. It had strong ideological support from market fundamentalists; it had a supposedly scientific foundation in the Efficient Market Hypothesis and Rational Choice Theory; and it was efficiently administered by the International Monetary Fund (IMF). The consensus was a much more subtle compromise between international governance and national self-interest than the neocons’ view that military power is supreme.

Indeed, the Washington Consensus had its roots in the original compromise on which the Bretton Woods institutions were founded. John Maynard Keynes proposed a truly international currency, the bancor, but the US insisted on the dollar as the world’s reserve currency and it prevailed. In the memorable words of George Orwell’s Animal Farm, “all animals are equal, but some animals are more equal than others.” The Washington Consensus promoted free trade and the globalization of financial markets. In the late 1990s, market fundamentalists even tried to modify the articles of agreement of the IMF so as to impose capital account convertibility, the free exchange of currencies. That attempt failed, but by allowing financial capital to move around freely the Washington Consensus also allowed capital to escape taxation and regulation. That was a triumph for market fundamentalism.

Unfortunately, the scientific foundations of this approach proved to be ill conceived. Unregulated financial markets are inherently unstable: instead of a general equilibrium that assures the optimum allocation of resources, they produce financial crises. This was dramatically demonstrated by the crash of 2008. By coincidence, 2008 marked both the end of America’s political supremacy and the demise of the Washington Consensus. It was also the beginning of a process of financial and political disintegration that first manifested itself in the microcosm of the European Union, but then spread to the world at large.

The crash of 2008 had a lasting negative effect on all the economies of the world, with the notable exception of China’s. The Chinese banking system was relatively isolated from the rest of the world and largely government-owned. As a consequence, the Chinese banks could, at the government’s behest, offset the collapse of external demand by flooding the economy with credit. The Chinese economy replaced the American consumer as the motor of the global economy, largely by selling to the American consumer on credit. It has been a rather weak motor, reflecting the relative size of the Chinese and American economies, so that the global economy has grown rather slowly since the emergence of China’s international economic power.

The main reason why the world avoided a global depression is that economists have learned some lessons from the experience of the 1930s. The heavy load of debt and lingering political prejudices limited the scale of fiscal stimulus globally (again with the exception of China); but the Federal Reserve under the leadership of its chairman, Ben Bernanke, embarked on unorthodox monetary policies including quantitative easing—large-scale injection of money into the economy through the purchase of bonds by the Federal Reserve. This prevented the reduction in effective demand from deteriorating into a global depression.

The crash of 2008 was also indirectly responsible for the euro crisis. The euro was an incomplete currency: it had a common central bank but it did not have a common treasury. The architects of the euro were aware of this defect but believed that when the deficiency became apparent the political will could be summoned to correct it. After all, that is how the European Union was brought into existence—taking one step at a time, knowing full well that it was insufficient but that when the need arose it would lead to further steps.

Unfortunately, political conditions changed between 1999, when the euro was adopted, and 2008, when the need arose. Germany under the leadership of Helmut Kohl led the process of European integration in order to facilitate the reunification of Germany. But reunification proved expensive and the German public became unwilling to take on any additional expenses. When, after the bankruptcy of Lehman Brothers in 2008, the European finance ministers declared that no systemically important financial institution would be allowed to fail, Chancellor Angela Merkel, as a politician in touch with the prevailing public opinion, insisted that the responsibility should fall on each country separately, not on the European Union collectively. That ruled out the possibility of a common treasury just when it was needed. That was the beginning of the euro crisis. Crises in individual countries like Greece, Italy, or Ireland are essentially variants of the euro crisis.

Subsequently, the financial crisis has morphed into a series of political crises. The differences between creditor countries and debtor countries have transformed the European Union from a voluntary association of equals into a relationship between creditors, such as Germany, and debtors, such as Greece, that is neither voluntary nor equal and arouses increasing political tensions.

The European Union started out as a valiant attempt at international governance on a regional scale. In the aftermath of 2008, the EU became preoccupied with its internal problems and failed to pull its weight in the international economy. The United States also became inward-looking but by a somewhat different route. The inward turn of the EU and US led to a decline in international cooperation on a global scale.

Since the Western powers are the mainstay of the prevailing world order, their declining influence has created a power vacuum in international governance. Aspiring regional powers and nonstate actors, which are willing to use military force, have rushed to fill the vacuum. Armed conflicts have proliferated and spread from the Middle East to other parts of Asia, Africa, and even Europe.

By annexing Crimea and establishing separatist enclaves in Ukraine, Putin’s Russia has challenged both the prevailing world order, which depends on the Western powers for support, and the values and principles on which the EU was founded. Neither the European nor the American public is fully aware of the severity of the challenge. President Vladimir Putin wants to destabilize all of Ukraine by precipitating a financial and political collapse for which he can disclaim responsibility, while avoiding occupation of a part of eastern Ukraine, which would then depend on Russia for economic support. He has demonstrated his preference by twice converting an assured military victory into a cease-fire that threatened to destabilize all of Ukraine. Unfortunately, Putin is succeeding, as can be seen by comparing the “Minsk Two” cease-fire with “Minsk One,” even if his success is purely temporary. Putin now seeks to use Ukraine to sow dissension and gain political influence within the European Union.

The severity of the Russian threat is directly correlated with the weakness of the European Union. The EU has excelled at muddling through financial and political crises but now it is confronted with not one but five crises: Russia, Ukraine, Greece, immigration, and the coming British referendum on EU membership—and that may be too much. The very survival of the EU is at risk.
Vladimir Putin; drawing by John Springs

International governance on a global scale is equally fragile. The world may break up into rival camps both financially and politically. China has begun to build a parallel set of financial institutions, including the Asian Infrastructure Investment Bank (AIIB); the Asian Bond Fund Initiative; the New Development Bank (formerly the BRICS Bank); and the Chiang Mai Initiative, which is an Asian regional multilateral arrangement to swap currencies. Whether the two camps will be able to keep their rivalry within bounds will depend on how China manages its economic transition and on how the US reacts to it.

The International Monetary Fund could play a positive part in this. It has abandoned its commitment to the Washington Consensus but the controlling shareholders of the Bretton Woods institutions—the US, the UK, France, and Germany among them—are unwilling to relinquish their voting control by increasing the representation of the developing world. This is very shortsighted on their part because it does not recognize changes in the relative weight of various economies and particularly the rise of China.

The controlling shareholders are unlikely to abandon their control, however tenuous; but the IMF has an opportunity to build a binding connection between the two camps. The opportunity arises from the fact that the composition of the IMF’s Special Drawing Rights (SDR) basket will be up for its five-yearly review at the end of 2015.

The SDR is an international reserve asset, created by the IMF in 1969 to supplement the existing official reserves of member countries. The Chinese renminbi is not fully qualified to be included in the SDR basket, but the qualifications to be included are not as rigorously defined as is generally believed. The Japanese yen was introduced when it was not yet widely traded; the franc entered the basket when the French capital account was heavily controlled; and the Saudi riyal was introduced when it was completely pegged to the US currency. The criteria for inclusion have changed over the years but now call for (1) a large exporter country and (2) a “freely usable” currency. This term is often misconstrued as imposing complete convertibility of capital accounts and flexibility of exchange rates; but that is not the case. Indeed, the basket of Special Drawing Rights formerly included currencies with no or little capital account convertibility.

The Chinese leadership has now embarked on a major effort to have the renminbi included in the SDR basket, and the IMF staff is sympathetic. For instance, it has announced that the renminbi is “no longer undervalued,” and it doesn’t seek full and precipitous capital account liberalization, but rather a cautious and gradual pace of reform in order to ensure the smooth functioning of the SDR and the preservation of financial stability in China.

Much now depends on the attitude of the US government, which holds veto rights in the IMF—even if the decision regarding the SDR basket requires only a 70 percent majority of the IMF’s board. The US would be making a major concession if it opened the door to allowing the renminbi to become a potential rival to the dollar. It could demand similar concessions from China in return, but that would be the wrong approach. The relationship between two great powers is not a zero-sum game: one party’s gain is not necessarily a loss for the other.

China is seeking SDR status for the renminbi not to please or hurt the US but for reasons of its own that are only indirectly connected with China’s ultimate ambition of replacing the US dollar as the dominant currency in the world. China seeks to use financial liberalization as an engine of growth for the Chinese economy. China wants to deepen the government bond market and open it up to international investors in order to enable the central government to clean up the bad debts of insolvent local authorities; it also wants to reduce the excessive leverage in the economy by promoting conversions of debt to equity. Inclusion of the renminbi in the IMF basket would facilitate the process, and success would automatically advance the renminbi’s weight and influence in the world.

The US government has little to gain and much to lose by treating the relationship with China as a zero-sum game. In other words it has little bargaining power. It could, of course, obstruct China’s progress, but that would be very dangerous. President Xi Jinping has taken personal responsibility for the economy and national security. If his market-oriented reforms fail, he may foster some external conflicts to keep the country united and maintain himself in power. This could lead China to align itself with Russia not only financially but also politically and militarily. In that case, should the external conflict escalate into a military confrontation with an ally of the United States such as Japan, it is not an exaggeration to say that we would be on the threshold of a third world war.

Indeed, military budgets are rapidly increasing both in Russia and in China, and they remain at a very high level in the United States. For China, rearmament would be a surefire way to boost domestic demand. China is already flexing its military muscle in the South China Sea, operating in a unilateral and often quite belligerent manner, which is causing justifiable concern in Washington. Nevertheless, it may take a decade or more until a Russian–Chinese military alliance would be ready to confront the US directly. Until then, we may expect a continuation of hybrid warfare and the proliferation of proxy wars.

Both the US and China have a vital interest in reaching an understanding because the alternative is so unpalatable. The benefits of an eventual agreement between China and the US could be equally far-reaching. Recently there has been a real breakthrough on climate policy on a bilateral basis. By taking the nonbinding representations and promises made by the two countries at face value, the agreement has made more credible some recent efforts to bring climate change under control. If this approach could be extended to other aspects of energy policy and to the financial and economic spheres, the threat of a military alignment between China and Russia would be removed and the prospect of a global conflict would be greatly diminished. That is worth trying.

On his last state visit to the US in 2013, President Xi spoke of a “new type of great power relationship.” The subject has been widely discussed in China since then. President Obama should outline his own vision by drawing a distinction between Putin’s Russia, which has replaced the rule of law with the rule of force, and today’s China, which does not always abide by the rule of law but respects its treaty obligations. Russian aggression needs to be firmly resisted; by contrast China needs to be encouraged—by offering a more constructive alternative—to avoid the route of military aggression. This kind of offer may elicit a favorable response. Rivalry between the US and China is inevitable but it needs to be kept within bounds that would preclude the use of military force.

It does not follow that a far-reaching agreement amounting to a strategic partnership between the US and China would be easy to accomplish. The two countries have fundamentally different political systems. While the US is founded on the principle of individual freedom, China has no significant tradition of such freedom. It has had a hierarchical structure since time immemorial and it has been an empire throughout most of its history. In recent years the US has led the world in the innovative development of social media, while China has led the world in finding means to control it. Since the end of the cold war, China has been much more successful than Russia in creating a successful hierarchical system.

This is best seen by looking at the way information is distributed. Since the rise of social media, information increasingly travels along horizontal lines, but China is different: information is distributed vertically. Within the party–state apparatus, the closer one is to the top, the better one is informed and the more latitude one enjoys in expressing an opinion. This means that the party–state apparatus offers not only an opportunity for personal enrichment but also a semblance of individual freedom. No wonder that the apparatus has been able to attract much of China’s best talent. The degree of latitude it allows is, however, strictly circumscribed by red lines. People have to walk within a grid; those who transgress the red lines may fall into the hands of the security apparatus and disappear without a trace.

The stranglehold of the security apparatus was gradually diminishing but recently there has been an ominous reversal: under the leadership of President Xi the informal rules defining the rights and status of NGOs, for instance, are now in the process of being significantly tightened.*

Comparing President Xi’s “Chinese dream” with the American dream highlights the difference between the two political and social systems. Xi extols China’s success in “rejuvenating the nation” by harnessing the talents and energies of its people in service of the state. By contrast, the American dream extols the success of the rugged individual who achieves upward social mobility and material prosperity by overcoming obstacles posed by social conventions or prejudices or authorities abusing their power, or sheer bad luck. The US would like China to adopt its values but the Chinese leadership considers them subversive.

In this respect China has more in common with Russia than with the US. Both Russia and China consider themselves victims of America’s aspiration to world domination. From the US point of view, there is much to disapprove of in China’s behavior. There is no independent judiciary and multinational companies are often mistreated and replaced by domestic favorites. And there are conflicts with the US and other nations in the South China Sea and over cyberwarfare and human rights. These are not matters on which cooperation will be easy to achieve.

Fully recognizing these difficulties, the US government should nevertheless make a bona fide attempt at forging a strategic partnership with China. This would involve identifying areas of common interest as well as areas of rivalry. The former would invite cooperation, the latter tit-for-tat bargaining. The US needs to develop a two-pronged strategy that offers incentives for cooperation and deterrents that render tit-for-tat bargaining less attractive.

The areas for cooperation may prove to be wider than is obvious at first sight. Cooperating with China in making President Xi’s financial reforms successful is definitely in the common interest. Success would fulfill the aspirations of the ever-increasing Chinese middle class. It may also allow Xi to relax some of the restrictions he has recently introduced and that would, in turn, increase the probability that his reforms will succeed and improve global financial stability. The weak point of his current approach is that both implementing and monitoring the reform process are in the same hands. Opening up the process to criticism by the media and civil society would greatly improve the efficacy of his reforms. This is particularly true of Xi’s anticorruption campaign. And if China followed this path, it would become increasingly attractive to the US as a strategic partner.

Negotiations between the US and China could not possibly be completed by October 2015, when the board of the IMF is scheduled to consider the composition of the SDR basket. Realistically it would take until President Xi’s state visit to Washington in September to complete the preparations. But there is much to be gained by extending the SDR deadline to 2016. China will then host the meeting of the G20, and 2016 will also be the last year of the Obama administration. The prospect of a strategic partnership between the US and China would mobilize all political forces in favor of international cooperation on both sides.

If a bona fide attempt fails, the US would then be fully justified in developing a strong enough partnership with China’s neighbors that a Chinese–Russian alliance would not dare to challenge it by military force. That would be clearly inferior to a strategic partnership between the US and China. A partnership with China’s neighbors would return us to a cold war, but that would still be preferable to a third world war.

The Trans-Pacific and Trans-Atlantic Partnerships, which are currently being negotiated, could offer an excellent opportunity for a two-pronged strategy but the current approach is all wrong. At present China is excluded; indeed the partnerships are conceived as an anti-Chinese alliance under US leadership. The president has asked Congress to give him and his successor authority for up to six years to negotiate trade agreements under fast-track rules that would deprive Congress of its right to introduce amendments. The bill has passed the Senate and at this writing is before the House. If the House approves, President Xi may be presented with an apparent threat on his visit in September. This is an appropriate response to China’s aggressive behavior in the South China Sea and elsewhere, but it leaves little room for an alternative approach. It would, as a result, be difficult for President Obama to make a bona fide offer of strategic partnership.

It is to be hoped that the House will not authorize putting the bill on a fast track. Instead of railroading the bill through Congress, it ought to be taken off the fast track. In that case, Congress would have plenty of time to correct the fundamental flaws in the proposed treaties that make them unacceptable as they are currently written. And that would also allow President Obama to make President Xi a genuine offer of a strategic partnership with China when he visits Washington in September.

*

See Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015. ↩

Xây dựng mối quan hệ đối tác với Trung Quốc nhằm tránh cuộc chiến tranh thế giới

Posted by adminbasam on 19/06/2015

Viet-studies/ NY Review of Books

Tác giả: George Soros

Người dịch: Nguyễn Hoàng Mỹ Phương

09-07-2015

Hợp tác quốc tế đang suy giảm trong cả lĩnh vực chính trị và tài chính. Liên Hiệp Quốc đã thất bại trong việc giải quyết bất kỳ cuộc xung đột lớn nào kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh; Hội nghị Biến đổi Khí hậu Copenhagen 2009 đã để lại dư vị đắng; Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã không kết thúc vòng thương mại quan trọng nào kể từ năm 1994. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang ngày càng bị đặt nghi vấn bởi sự quản trị lỗi thời, và Nhóm G20, nổi lên trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 với vai trò là công cụ hợp tác quốc tế đầy quyền lực tiềm năng, dường như đã lạc đường. Trong tất cả các lĩnh vực, quốc gia, sắc tộc, kinh doanh, và các lợi ích đặc biệt khác được ưu tiên hơn lợi ích chung. Xu hướng này đã đạt đến cột mốc mà ở đó, thay vì một trật tự toàn cầu (global order) thì chúng ta phải nói về sự rối loạn toàn cầu (global disorder).

Trong lĩnh vực chính trị, xung đột địa phương xấu hơn và gia tăng. Từng xung đột riêng lẻ có thể được giải quyết nhưng chúng có xu hướng được kết nối với nhau và người thua cuộc trong một cuộc xung đột có xu hướng trở thành kẻ phá đám trong các cuộc xung đột khác. Ví dụ, cuộc khủng hoảng Syria xấu hơn khi nước Nga của Putin và chính phủ Iran giải cứu Tổng thống Bashar al-Assad với lý do riêng của mỗi bên. Ả Rập Saudi cung cấp số tiền ban đầu cho ISIS và Iran xúi giục phiến quân Houthi ở Yemen trả đũa Ả Rập Saudi. Thủ tướng Bibi Netanyahu đã cố gắng khiến cho Quốc hội Mỹ chống lại hiệp ước hạt nhân mà Mỹ đang đàm phán với Iran. Có quá nhiều xung đột cho dư luận quốc tế phát huy ảnh hưởng tích cực.

Trong lĩnh vực tài chính, các định chế Bretton Woods – IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) – đã mất đi vị trí độc quyền. Dưới sự lãnh đạo của Trung Quốc, một bộ định chế tương tự đang nổi lên. Liệu chúng sẽ mâu thuẫn hay chúng sẽ tìm ra được cách thức nào đó để hợp tác? Bởi các lĩnh vực tài chính và chính trị cũng được kết nối với nhau, con đường tương lai của lịch sử sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cách Trung Quốc giải quyết quá trình chuyển đổi kinh tế từ tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang phụ thuộc nhiều hơn vào nhu cầu nội địa, và cách Mỹ phản ứng với điều đó như thế nào. Một quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc có thể ngăn chặn sự phát triển của hai khối quyền lực mà chúng hoàn toàn có thể bị lôi kéo vào cuộc xung đột quân sự.

Chúng ta đã chạm đến cột mốc của sự rối loạn toàn cầu này như thế nào? Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, thế giới được kiềm chế bởi hai siêu cường. Mỗi siêu cường duy trì mức độ kiểm soát nhất định đối với các đồng minh và các vệ tinh của nó, và tránh đối đầu quân sự trực tiếp với bên còn lại bởi sự nguy hiểm của Tất yếu Hủy diệt Lẫn nhau (Mutually Assured Destruction – MAD). Đây là hệ thống MAD và nó đã phát huy tác dụng: gây ra một số xung đột quân sự địa phương nhưng tránh khỏi một cuộc chiến tranh thế giới.

Khi đế chế Xô Viết sụp đổ, Hoa Kỳ có cơ hội trở thành siêu cường duy nhất và là người đảm bảo hòa bình trên thế giới, nhưng Mỹ đã không cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ này. Mỹ được thành lập trên nguyên tắc tự do cá nhân và không hành xử để trở thành cảnh sát của thế giới. Thật vậy, đã không có một cái nhìn thống nhất về ý nghĩa của sự lãnh đạo trong các vấn đề quốc tế. Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, đã có chính sách đối ngoại của cả hai đảng mà cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa phần lớn đồng ý; nhưng sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ đối tác này đã tan vỡ. Cả hai đảng tiếp tục nhấn mạnh chủ quyền của Mỹ nhưng hiếm khi đồng ý về việc đem Mỹ phụ thuộc vào các nghĩa vụ quốc tế.

Sau đó, vào năm 1997, một nhóm những người theo trường phái tân bảo thủ lập luận rằng Hoa Kỳ nên sử dụng uy thế quân sự để áp đặt lợi ích quốc gia, và thành lập một think tank được gọi là Dự án vì Thế kỷ Mới của Mỹ (New American Century), “nhằm thúc đẩy vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ”. Nhưng đó là cách tiếp cận sai lầm: lực lượng quân sự không thể được sử dụng để thống trị thế giới. Sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9, nhóm tân bảo thủ thuyết phục Tổng thống George W. Bush tấn công Iraq vào các căn cứ mơ hồ mà rốt cuộc hóa ra là sai, và Mỹ đã đánh mất uy thế của mình. Dự án vì Thế kỷ Mới của Mỹ có tuổi thọ xấp xỉ với Đế chế Đức Ngàn năm (Thousand-Year Reich) của Hitler: khoảng mười năm.

Về mặt tài chính, ngược lại, đã có sự đồng thuận rõ ràng – cái được gọi là Đồng thuận Washington – về vai trò của Mỹ trên thế giới. Mỹ đã thống trị trong những năm 1980 dưới sự lãnh đạo của Ronald Reagan và Margaret Thatcher. Mỹ có sự hỗ trợ ý thức hệ mạnh mẽ từ những người theo trường phái nền tảng của thị trường (fundamentalists); có một nền tảng được cho là khoa học – Giả thuyết Thị trường Hiệu quả (Efficient Market Hypothesis) và Lý thuyết Lựa chọn Hợp lý (Rational Choice Theory); và được quản lý hiệu quả bởi IMF. Sự đồng thuận này là một thỏa hiệp tinh tế hơn nhiều giữa quản trị quốc tế và lợi ích bản thân quốc gia so với quan điểm của nhóm tân bảo thủ cho rằng sức mạnh quân sự là tối cao.

Thật vậy, Đồng thuận Washington có nguồn gốc từ sự thỏa hiệp ban đầu mà dựa vào đó các thể chế Bretton Woods được thành lập. John Maynard Keynes đề xuất đồng tiền quốc tế thực sự, đồng bancor, nhưng Hoa Kỳ vẫn khăng khăng rằng đồng đô la là đồng tiền dự trữ của thế giới và nó đã thắng thế. Những lời đáng nhớ trong Animal Farm (“Trại súc vật”) của George Orwell, “tất cả các con vật đều bình đẳng, nhưng một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác”. Đồng thuận Washington thúc đẩy thương mại tự do và toàn cầu hóa các thị trường tài chính. Trong những năm cuối thập niên 90, những người theo trường phái nền tảng của thị trường thậm chí đã cố gắng sửa đổi các điều khoản thỏa thuận của IMF nhằm áp đặt khả năng chuyển đổi của tài khoản vốn, tự do trao đổi tiền tệ. Tuy nỗ lực đó thất bại nhưng bằng cách cho phép vốn tài chính di chuyển tự do, Đồng thuận Washington cũng cho phép dòng vốn thoát khỏi thuế và sự điều chỉnh. Đó là một thắng lợi cho những người theo trường phái nền tảng của thị trường.

Thật không may, các nền tảng khoa học của phương pháp này đã được nhận thức sai lầm. Thị trường tài chính không bị điều chỉnh cơ bản là đã không ổn định: thay vì tạo ra một điểm cân bằng chung đảm bảo cho việc phân bổ tối ưu các nguồn lực, chúng đã tạo ra các cuộc khủng hoảng tài chính. Điều này đã được minh chứng rõ ràng bằng sự sụp đổ vào năm 2008. Thật trùng hợp, năm 2008 cũng đánh dấu sự kết thúc của cả uy thế chính trị của Mỹ và sự sụp đổ của Đồng thuận Washington. Đó cũng là sự khởi đầu của một tiến trình tan rã tài chính và chính trị mà tự thể hiện trước tiên là trong mô hình thu nhỏ của Liên minh châu Âu, sau đó lan rộng ra cả thế giới.

Sự sụp đổ năm 2008 gây ra tác động tiêu cực lâu dài lên tất cả các nền kinh tế trên thế giới, với ngoại lệ đáng chú ý là Trung Quốc. Hệ thống ngân hàng Trung Quốc tương đối biệt lập với phần còn lại của thế giới và phần lớn sở hữu bởi chính phủ. Kết quả là, các ngân hàng Trung Quốc có thể, theo chỉ thị của chính phủ, bù đắp sự sụp đổ của cầu bên ngoài bằng cách làm ngập lụt nền kinh tế với tín dụng. Nền kinh tế Trung Quốc đã thay thế người tiêu dùng Mỹ trở thành động cơ của nền kinh tế toàn cầu, chủ yếu bằng cách bán chịu cho người tiêu dùng Mỹ. Tuy nhiên, đó là một động cơ khá yếu, phản ánh kích thước tương đối của nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ, do đó nền kinh tế toàn cầu đã tăng trưởng khá chậm kể từ sự nổi lên của sức mạnh kinh tế quốc tế Trung Quốc.

Lý do chính vì sao thế giới tránh được cuộc suy thoái toàn cầu là các nhà kinh tế đã học được một số bài học từ kinh nghiệm của những năm 1930. Vay nợ nhiều và thành kiến chính trị kéo dài đã hạn chế quy mô của gói kích thích tài chính toàn cầu (một lần nữa với sự ngoại lệ Trung Quốc); nhưng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch, Ben Bernanke, đã bắt tay vào chính sách tiền tệ không chính thống bao gồm cả nới lỏng định lượng – bơm tiền với quy mô lớn vào nền kinh tế thông qua việc mua trái phiếu của Fed. Điều này giúp sự sụt giảm trong cầu thoát khỏi tình trạng xấu hơn để rồi lao vào cuộc suy thoái toàn cầu.

Sự sụp đổ năm 2008 cũng gián tiếp chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng đồng euro. Đồng euro là đồng tiền không hoàn chỉnh: nó có ngân hàng trung ương chung, nhưng lại không có ngân quỹ chung. Các kiến trúc sư của đồng euro đã nhận thức được lỗi này nhưng tin rằng khi điểm yếu này trở nên rõ ràng, ý chí chính trị có thể được triệu hồi để chỉnh sửa. Cuối cùng, đó là cách mà Liên minh châu Âu hoạt động – thực hiện một bước tại một thời điểm, hoàn toàn biết rằng nó không đủ nhưng khi có nhu cầu tất sẽ dẫn đến các bước tiếp theo.

Thật không may, điều kiện chính trị đã thay đổi từ giữa năm 1999, khi đồng euro được thông qua, và năm 2008, khi nhu cầu tăng lên. Đức dưới sự lãnh đạo của Helmut Kohl đã lãnh đạo quá trình hội nhập châu Âu nhằm tạo thuận lợi cho việc thống nhất Đức. Nhưng sự thống nhất đất nước đã chứng minh là tốn kém và công chúng Đức trở nên không sẵn sàng để đưa ra bất kỳ chi phí bổ sung nào. Sau sự phá sản của Lehman Brothers vào năm 2008, khi các bộ trưởng tài chính châu Âu tuyên bố rằng không có tổ chức tài chính quan trọng nào trong hệ thống được phép thất bại, Thủ tướng Angela Merkel, chính trị gia tán đồng với dư luận đang chiếm ưu thế, nhấn mạnh rằng trách nhiệm nên rơi vào mỗi quốc gia riêng biệt, không chỉ cho cả Liên minh châu Âu. Điều đó chính thức xác định khả năng có ngân quỹ chung chỉ khi cần thiết. Đó là khởi đầu của cuộc khủng hoảng đồng euro. Các cuộc khủng hoảng ở các nước riêng lẻ như Hy Lạp, Ý, hoặc Ireland cơ bản là biến thể của cuộc khủng hoảng đồng euro.

Sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính đã biến thành một loạt các cuộc khủng hoảng chính trị. Sự khác biệt giữa các quốc gia chủ nợ và quốc gia con nợ đã biến Liên minh châu Âu từ một tổ chức liên kết tự nguyện của sự bình đẳng thành mối quan hệ giữa chủ nợ, như Đức, và con nợ, như Hy Lạp, đó không còn là tự nguyện và cũng không bình đẳng và khuấy động căng thẳng chính trị gia tăng.

Liên minh châu Âu đã bắt đầu như một cố gắng dũng cảm nhằm quản trị quốc tế trên quy mô khu vực. Sau hậu quả của năm 2008, EU trở nên bận tâm với những vấn đề nội bộ và thất bại trong việc thực hiện vai trò của mình trong nền kinh tế quốc tế. Hoa Kỳ cũng trở nên hướng nội nhưng bằng con đường hơi khác. Sự chuyển hướng vào trong của EU và Mỹ đã dẫn đến sự suy giảm trong hợp tác quốc tế trên quy mô toàn cầu.

Từ khi các cường quốc phương Tây là trụ cột của trật tự thế giới hiện hành, ảnh hưởng đang suy giảm của chúng đã tạo nên khoảng trống quyền lực trong quản trị quốc tế. Các cường quốc khu vực và chủ thể phi nhà nước đầy tham vọng, sẵn sàng sử dụng vũ lực quân sự, đã vội vã lắp vào chỗ trống. Các cuộc xung đột vũ trang tăng lên nhanh chóng và lan từ Trung Đông đến các phần khác của châu Á, châu Phi, và thậm chí cả châu Âu.

 

Bằng cách thôn tính Crimea và thiết lập ốc đảo ly khai ở Ukraine, nước Nga của Putin đã thách thức cả trật tự thế giới hiện hành, phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các cường quốc phương Tây, và các giá trị và nguyên tắc mà dựa vào đó EU được thành lập. Cả công chúng châu Âu lẫn Mỹ hoàn toàn không nhận thức được mức độ nghiêm trọng của thách thức này. Tổng thống Vladimir Putin muốn gây bất ổn toàn Ukraine bằng cách làm cho sự sụp đổ tài chính và chính trị sớm xuất hiện mà ông có thể từ chối nhận trách nhiệm, trong khi tránh chiếm đóng một phần của miền đông Ukraine, sau đó sẽ phụ thuộc sự hỗ trợ kinh tế của Nga. Ông đã cho thấy lợi thế của mình hai lần trong việc chuyển chiến thắng quân sự chắc chắn thành lệnh ngừng bắn đe dọa gây bất ổn cho toàn Ukraine. Thật không may, Putin đang thành công, điều đó có thể thấy bằng cách so sánh lệnh ngừng bắn “Minsk 2” với “Minsk 1”, ngay cả khi thành công của ông là hoàn toàn tạm thời. Putin hiện đang tìm cách sử dụng Ukraine để gieo mối bất đồng và đạt được ảnh hưởng chính trị trong Liên minh châu Âu.

Mức độ nghiêm trọng của mối đe dọa của Nga tương quan trực tiếp với sự yếu kém của Liên minh châu Âu. EU đã rất xuất sắc ở tình trạng rối ren qua các cuộc khủng hoảng tài chính và chính trị, nhưng bây giờ nó đang phải đối mặt với không chỉ một mà năm khủng hoảng: Nga, Ukraine, Hy Lạp, nhập cư, và trưng cầu dân ý sắp tới của Anh về tư cách thành viên EU – và có thể là đã quá nhiều. Sự tồn tại của EU hiện đang gặp nguy cơ.

Quản trị quốc tế trên quy mô toàn cầu cũng không kém phần mong manh. Thế giới có thể chia thành các phe đối thủ cả về tài chính và chính trị. Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng một bộ các định chế tài chính tương tự, bao gồm Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB); Sáng kiến Quỹ Trái phiếu châu Á; Ngân hàng Phát triển Mới (trước đây là Ngân hàng BRICS); và Sáng kiến Chiang Mai, là sự sắp xếp đa phương khu vực châu Á để hoán đổi tiền tệ. Hai phe có thể để giữ cho sự đối đầu của chúng trong giới hạn hay không sẽ phụ thuộc vào cách Trung Quốc quản lý quá trình chuyển đổi kinh tế của nó và cách Mỹ phản ứng với điều đó như thế nào.

IMF có thể đóng một vai trò tích cực trong việc này. IMF đã từ bỏ cam kết của mình với Đồng thuật Washington nhưng các cổ đông kiểm soát của các định chế Bretton Woods – Mỹ, Anh, Pháp, và Đức – không sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát bỏ phiếu của mình bằng cách gia tăng đại diện của các nước đang phát triển. Điều này, ở vị trí của họ, là rất thiển cận, vì không nhận ra những thay đổi trong sức nặng tương đối của các nền kinh tế khác nhau và đặc biệt là sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Các cổ đông kiểm soát không có khả năng từ bỏ quyền kiểm soát của họ, tuy mong manh; nhưng IMF có cơ hội để xây dựng kết nối ràng buộc giữa hai phe. Cơ hội này phát sinh từ thực tế là thành phần của rổ Quyền Rút vốn Đặc biệt (SDR) của IMF sẽ đệ trình để xem xét mỗi 5 năm vào cuối năm 2015.

SDR là một tài sản dự trữ quốc tế, được tạo ra bởi IMF vào năm 1969 để bổ sung dự trữ chính thức hiện có của các quốc gia thành viên. Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc không đủ điều kiện để được đưa vào rổ SDR, nhưng các tiêu chuẩn được đưa vào không được quy định một cách nghiêm ngặt như vẫn thường tin tưởng. Đồng yên Nhật đã được đưa vào rổ khi nó vẫn chưa được giao dịch rộng rãi; đồng franc vào rổ khi tài khoản vốn của Pháp đang được kiểm soát chặt chẽ; và đồng riyal của Ả Rập đã được đưa vào khi nó hoàn toàn neo vào đồng đô la. Các tiêu chí đưa vào rổ đã thay đổi trong những năm qua nhưng hiện tại là (1) quốc gia xuất khẩu lớn và (2) đồng tiền “tự do sử dụng”. Thuật ngữ này thường được hiểu sai là áp đặt khả năng chuyển đổi hoàn toàn của các tài khoản vốn và tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái; nhưng không phải như vậy. Thật tế là rổ Quyền Rút vốn Đặc biệt trước đây bao gồm các đồng tiền không có hoặc có rất ít khả năng chuyển đổi tài khoản vốn.

Giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã nỗ lực bắt đầu thực hiện để đồng nhân dân tệ được đưa vào rổ SDR, và nhận được sự đồng tình từ đội ngũ nhân viên IMF. Ví dụ, IMF đã thông báo rằng đồng nhân dân tệ “không còn bị định giá thấp”, và không đòi hỏi tự do hóa tài khoản vốn đầy đủ và nhanh chóng, mà là một tốc độ cải cách thận trọng và từng bước nhằm đảm bảo sự hoạt động trơn tru của SDR cũng như duy trì sự ổn định tài chính ở Trung Quốc.

Hiện nay phụ thuộc nhiều vào thái độ của chính phủ Mỹ – nắm giữ quyền phủ quyết trong IMF, thậm chí quyết định liên quan đến rổ SDR đòi hỏi chỉ đa số 70% của ban lãnh đạo IMF. Mỹ sẽ nhượng bộ lớn nếu Mỹ cho phép đồng nhân dân tệ trở thành đối thủ tiềm năng với đồng đô la. Đổi lại, Mỹ có thể đòi hỏi những nhượng bộ tương tự từ Trung Quốc, nhưng đó sẽ là cách tiếp cận sai. Mối quan hệ giữa hai cường quốc không phải là trò chơi có tổng bằng không: lợi ích của một bên không nhất thiết phải là một mất mát cho bên còn lại.

Trung Quốc đang tìm kiếm thân phận SDR cho đồng nhân dân tệ không phải để làm hài lòng hay làm tổn thương Mỹ mà là vì những lý do riêng của Trung Quốc – đó là tham vọng cuối cùng nhằm thay thế đồng đô la Mỹ trở thành đồng tiền thống trị thế giới. Trung Quốc tìm cách sử dụng tự do hóa tài chính như là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Trung Quốc. Trung Quốc muốn đào sâu hơn thị trường trái phiếu chính phủ và cho phép các nhà đầu tư quốc tế tham gia nhằm giúp chính phủ trung ương có thể làm sạch các khoản nợ xấu của chính quyền địa phương vỡ nợ; nó cũng muốn giảm đòn bẩy tài chính quá mức trong nền kinh tế bằng cách thúc đẩy chuyển đổi nợ thành vốn chủ sở hữu. Đưa đồng nhân dân tệ vào rổ tiền tệ IMF sẽ tạo điều kiện cho quá trình này, và thành công sẽ tự động nâng cao sức nặng và ảnh hưởng của đồng nhân dân tệ trên thế giới.

Chính phủ Mỹ đạt được thì ít mà mất thì nhiều khi xử lý mối quan hệ với Trung Quốc như một trò chơi có tổng bằng không. Nói cách khác, Mỹ có ít sức mạnh thương lượng. Tất nhiên, Mỹ có thể cản trở sự tiến bộ của Trung Quốc, nhưng điều đó sẽ rất nguy hiểm. Chủ tịch Tập Cận Bình nhận trách nhiệm cá nhân đối với nền kinh tế và an ninh quốc gia. Nếu cải cách theo hướng thị trường của ông thất bại, ông có thể nuôi dưỡng một số xung đột bên ngoài để giữ cho đất nước thống nhất và duy trì quyền lực của mình. Điều này có thể khiến Trung Quốc liên kết với Nga không chỉ về mặt tài chính mà còn về chính trị và quân sự. Trong trường hợp đó, xung đột bên ngoài leo thang thành cuộc đối đầu quân sự với đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, không hề cường điệu khi nói rằng chúng ta sẽ ở ngưỡng cửa của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Thật vậy, ngân sách quân sự đang gia tăng nhanh chóng ở cả Nga và Trung Quốc, và chúng vẫn còn ở mức rất cao ở Hoa Kỳ. Đối với Trung Quốc, tái vũ trang sẽ là cách hữu hiệu nhằm thúc đẩy nhu cầu nội địa. Trung Quốc đã thể hiện sức mạnh cơ bắp quân sự tại Biển Đông, hoạt động đơn phương và thường khá hiếu chiến, đã tạo nên mối quan tâm chính đáng ở Washington. Tuy nhiên, có thể mất một hoặc nhiều thập niên cho đến khi một liên minh quân sự Nga-Trung Quốc sẵn sàng đối đầu trực tiếp với Mỹ. Cho đến lúc đó, có thể là sự tiếp tục của chiến tranh lai (hybrid warfare) và sự gia tăng của các cuộc chiến ủy nhiệm (proxy wars).

 

Cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có lợi ích thiết yếu trong việc đạt được sự thông hiểu bởi sự thay thế là khó có thể chấp nhận được. Những lợi ích của một thỏa thuận cuối cùng giữa Trung Quốc và Mỹ có thể có ảnh hưởng sâu rộng như nhau. Gần đây đã có bước đột phá thực sự về chính sách khí hậu trên cơ sở song phương. Bằng cách chấp nhận các đại diện và những cam kết không ràng buộc được thực hiện bởi hai nước, thỏa thuận đã đạt được sự đáng tin cậy hơn một số nỗ lực gần đây nhằm đưa biến đổi khí hậu dưới tầm kiểm soát. Nếu phương pháp này có thể mở rộng đến các khía cạnh khác của chính sách năng lượng và các lĩnh vực tài chính và kinh tế, mối đe dọa của liên kết quân sự giữa Trung Quốc và Nga sẽ được gỡ bỏ và triển vọng của cuộc xung đột toàn cầu sẽ bị giảm đi rất nhiều. Đó là một cố gắng đáng giá.

Trong chuyến thăm cấp nhà nước cuối cùng đến Hoa Kỳ vào năm 2013, Chủ tịch Tập nói về một “kiểu mới của mối quan hệ quyền lực rất lớn”. Chủ đề đã được thảo luận rộng rãi ở Trung Quốc kể từ đó. Tổng thống Obama nên phác thảo tầm nhìn của riêng mình bằng cách vẽ nên sự phân biệt giữa Nga của Putin, đã thay thế nhà nước pháp quyền (rule of law) bằng vũ lực (rule of force), và Trung Quốc ngày nay, không phải luôn luôn tuân theo nhà nước pháp quyền nhưng tôn trọng các nghĩa vụ hiệp ước. Cuộc xâm lược của Nga cần phải được kiên quyết phản đối; ngược lại, Trung Quốc cần phải được khuyến khích – bằng cách cung cấp sự thay thế mang tính xây dựng hơn – nhằm tránh con đường xâm lược quân sự. Kiểu đề nghị này có thể khơi gợi phản ứng thuận lợi. Sự đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc là không thể tránh khỏi nhưng nó cần phải được giữ trong giới hạn ngăn cản việc sử dụng lực lượng quân sự.

Một thỏa thuận có ảnh hưởng sâu rộng trở thành một quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ không dễ dàng thực hiện. Hai nước có hệ thống chính trị cơ bản khác nhau. Trong khi Hoa Kỳ được thành lập trên nguyên tắc tự do cá nhân, Trung Quốc lại không có truyền thống đáng kể của sự tự do như thế. Trung Quốc có cấu trúc phân cấp từ thời xa xưa và đã là một đế chế trong suốt chiều dài lịch sử. Trong những năm gần đây, Mỹ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển sáng tạo các phương tiện truyền thông xã hội, trong khi Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong việc tìm kiếm phương tiện để kiểm soát nó. Kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã có nhiều thành công hơn Nga trong việc tạo ra hệ thống phân cấp thành công.

Cách nhìn tốt nhất về điều này là nhìn vào cách thức thông tin được phân phối. Do sự gia tăng của phương tiện truyền thông xã hội, thông tin ngày càng di chuyển theo chiều ngang, nhưng Trung Quốc thì khác: thông tin được phân phối theo chiều dọc. Trong bộ máy đảng-nhà nước, người gần hơn là ở đỉnh, tốt hơn là được thông báo và quyền rộng rãi hơn là được tự do bày tỏ ý kiến. Điều này có nghĩa là bộ máy đảng-nhà nước không chỉ cung cấp cơ hội làm giàu cá nhân mà còn (trông giống như) tự do cá nhân. Không có gì ngạc nhiên khi bộ máy có thể thu hút nhiều nhân tài tốt nhất của Trung Quốc. Mức độ quyền mà nó cho phép, tuy nhiên, bị giới hạn nghiêm ngặt bởi các lằn ranh đỏ. Người dân chỉ được di chuyển trong giới hạn đó; những người vượt qua lằn ranh đỏ có thể rơi vào tay bộ máy an ninh và biến mất không dấu vết.

Thòng lọng của bộ máy an ninh đã được dần dần giảm bớt, nhưng gần đây có một sự đảo ngược đáng ngại: dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập, các quy tắc không chính thức quy định quyền và vị trí của các tổ chức phi chính phủ (NGO), ví dụ, hiện đang trong quá trình đang được thắt chặt đáng kể *.

So sánh “giấc mơ Trung Quốc” của Chủ tịch Tập với giấc mơ Mỹ nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị và xã hội. Tập tán dương thành công của Trung Quốc trong “trẻ hóa dân tộc” bằng cách khai thác những tài năng và năng lực của người dân trong việc phục vụ nhà nước. Ngược lại, giấc mơ Mỹ ca ngợi sự thành công của cá nhân mạnh mẽ – những người đạt được vị trí xã hội cao hơn và giàu có hơn bằng cách vượt qua những trở ngại gây ra bởi các quy ước hoặc thành kiến xã hội hoặc chính quyền lạm dụng quyền lực của mình, hoặc do may mắn. Mỹ muốn Trung Quốc thực hiện theo các giá trị của mình, nhưng các lãnh đạo Trung Quốc cho rằng họ đang bị lật đổ.

Ở khía cạnh này, Trung Quốc có nhiều điểm chung với Nga hơn so với Mỹ. Cả Nga và Trung Quốc tự xem mình là nạn nhân của khát vọng thống trị thế giới của Mỹ. Từ góc nhìn của Mỹ, có nhiều điều phản đối trong hành vi của Trung Quốc. Không có tư pháp độc lập và các công ty đa quốc gia thường bị ngược đãi và được thay bằng các công ty yêu thích trong nước. Và có những xung đột với Mỹ và các quốc gia khác ở Biển Đông và chiến tranh mạng và nhân quyền. Đây không phải là vấn đề mà sự hợp tác sẽ dễ dàng đạt được.

Hoàn toàn công nhận các khó khăn này, tuy nhiên, chính phủ Mỹ vẫn nên thực hiện nỗ lực có thiện chí trong việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc. Điều này sẽ liên quan đến việc xác định các phạm vi có cùng lợi ích cũng như các phạm vi của sự đối đầu. Các phạm vi có cùng lợi ích sẽ mời gọi hợp tác, các phạm vi của sự đối đầu thương lượng ăn miếng trả miếng. Mỹ cần xây dựng chiến lược hai hướng vừa thúc đẩy hợp tác vừa răn đe khiến cho thương lượng ăn miếng trả miếng kém hấp dẫn.

Các phạm vi hợp tác có thể chứng minh là rộng hơn so với cái nhìn đầu tiên. Hợp tác với Trung Quốc giúp cho cải cách tài chính của Chủ tịch Tập thành công chắc chắn là nằm trong lợi ích chung. Thành công này sẽ thực hiện được nguyện vọng của ngày càng tăng tầng lớp trung lưu Trung Quốc. Nó cũng có thể cho phép Tập nới lỏng một số hạn chế mà ông đưa ra gần đây và điều này, đến lượt nó, sẽ tăng khả năng các cải cách của ông sẽ thành công và cải thiện sự ổn định tài chính toàn cầu. Điểm yếu của phương pháp tiếp cận hiện tại của ông là cả thực hiện và giám sát quá trình cải cách nằm trong cùng một bàn tay. Quá trình này được mở ra để nhận phê bình từ giới truyền thông và xã hội dân sự sẽ cải thiện tính hiệu quả của cải cách của ông rất nhiều. Điều này đặc biệt đúng trong chiến dịch chống tham nhũng của Tập. Và nếu Trung Quốc theo con đường này, nó sẽ càng trở nên hấp dẫn đối với Mỹ như là một đối tác chiến lược.

Các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Trung Quốc có thể không được hoàn thành vào tháng 10/2015, khi ban lãnh đạo của IMF dự kiến sẽ xem xét thành phần trong rổ SDR. Thực tế là phải đến chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Tập tới Washington vào tháng 9 mới hoàn thành việc chuẩn bị. Nhưng có nhiều điều cần đạt được bằng cách kéo dài thời hạn SDR đến năm 2016. Sau đó Trung Quốc sẽ tổ chức cuộc họp của Nhóm G20, và năm 2016 cũng là năm cuối cùng của chính quyền Obama. Triển vọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ huy động tất cả các lực lượng chính trị có lợi cho hợp tác quốc tế cả hai bên.

Nếu nỗ lực thiện chí thất bại, Mỹ sau đó sẽ hoàn toàn hợp lý trong việc phát triển quan hệ đối tác đủ mạnh với các nước láng giềng của Trung Quốc mà liên minh Trung Quốc-Nga sẽ không dám thách thức bằng vũ lực quân sự. Điều đó rõ ràng là kém hơn so với quan hệ đối tác chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Quan hệ đối tác với các nước láng giềng của Trung Quốc sẽ đưa chúng ta trở lại chiến tranh lạnh, nhưng vẫn là thích hợp hơn so với một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương, hiện đang được đàm phán, có thể mang đến cơ hội tuyệt vời cho chiến lược hai hướng nhưng cách tiếp cận hiện nay là hoàn toàn sai. Hiện tại, Trung Quốc bị loại trừ; thực sự là quan hệ đối tác được hình thành như là một liên minh chống Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội cho ông và chính quyền kế nhiệm đến sáu năm để đàm phán hiệp định thương mại theo quy định đàm phán nhanh (fast-track rules) mà có thể tước đi quyền đưa ra các sửa đổi của Quốc hội. Dự luật đã được chuyển sang Thượng viện và bài báo này được viết trước khi chuyển sang Hạ viện. Nếu Hạ viện phê duyệt, Chủ tịch Tập có thể đối mặt với mối đe dọa rõ ràng cho chuyến thăm vào tháng 9. Đây là phản ứng thích đáng đối với hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và các nơi khác, nhưng còn rất ít chỗ trống cho cách tiếp cận thay thế. Kết quả là, rất khó cho Tổng thống Obama đưa ra đề nghị thiện chí của quan hệ đối tác chiến lược.

Hy vọng rằng Hạ viện sẽ không cho phép dự luật có quyền đàm phán nhanh. Thay vì buộc dự luật thông qua Quốc hội nhanh chóng, nó nên được đưa khỏi quyền đàm phán nhanh. Trong trường hợp đó, Quốc hội sẽ có nhiều thời gian để điều chỉnh những sai sót cơ bản trong các hiệp ước dự kiến khiến chúng không được chấp nhận khi chúng hiện đang được soạn thảo. Và điều đó cũng sẽ cho phép Tổng thống Obama đưa cho Chủ tịch Tập lời đề nghị chân thành của quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc khi ông đến thăm Washington vào tháng 9.

*Xem Edward Wong, “Chinese Security Laws Elevate the Party and Stifle Dissent. Mao Would Approve,” The New York Times, May 30, 2015.

http://www.nybooks.com/articles/archives/2015/jul/09/partnership-china-avoid-world-war  truy cập 16/6/2015

Bài viết mới

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

 

Con là nguồn hạnh phúc đầu tiên

HTN1

CON LÀ NGUỒN HẠNH PHÚC ĐẦU TIÊN
Hoàng Kim
tặng con Hoàng Tố Nguyên

Mẹ đi về quê ngoại để sinh con
Trời tháng Sáu xanh một màu thương nhớ
Ba mong con mấy đêm liền không ngủ
Ngày hai mươi con khóc chào đời.

Con mang về Ba Mẹ một nguồn vui
Hạnh phúc trăm năm, niềm ao ước lớn
Mong mỏi chứa chan, tình yêu trọn vẹn
Bao yêu thương âu yếm rộn trong lòng.

Ba vui mừng chọn đặt tên con
Cặp tên đẹp giữa muôn ngàn từ ngữ
Cái tên vì con mà thành rực rỡ
Con hãy làm tên đẹp hóa bài ca.

Con Tố Nguyên của Mẹ và Ba
Hoàng Tố Nguyên ngân nga niềm hạnh phúc
Mẹ cùng con Thủy Nguyên thành chữ kép
Con là nguồn hạnh phúc đầu tiên.

20.6.1983
HK

HTN1a

Cha Me va hai con

Kim Thuy Nguyen Long

HTN2  HTN5 HTN6 HTN7 HTN8

GiadinhHoangKim2015

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn Kim on Facebook  KimTwitter  hoangkim vietnam 

Từ Mao Trạch Đông tới Tập Cận Bình

TuMaoTrachDongdenTapCanBinh
TỪ MAO TRẠCH ĐÔNG TỚI TẬP CẬN BÌNH
Hoàng Kim
nghiên cứu bình sinh Mao Trạch Đông và Tập Cận Bình

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông là một nhân vật hiếm có trong lịch sử, nghìn năm công tội. Thời gian và sự khen chê không thể xóa nhòa dấu ấn nổi bật của Mao. Di sản của Mao Trạch Đông không chỉ là bốn bộ trước tác nổi tiếng “Luận về thực tiễn”, “Luận về mâu thuẫn”, “Bàn về đánh lâu dài” “Bàn về Chủ nghĩa Dân chủ mới” mà chủ yếu là triều đại, thực tiễn và tư tưởng. Chức vụ tối cao của Mao Trạch Đông  được trao truyền qua các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lần lượt  từ Mao Trạch Đông, tiếp nối là  Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, đến Tập Cận Bình, nay vừa tròn 70 năm.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là con người bí ẩn với hai cuốn sách lớn “Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu” và Những Suy tư từ sông Dương Tử góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Cách hành xử của vị lãnh tụ này thật cẩn trọng, quyết đoán và khó lường. Các chuyên gia chiến lược thế giới suy đoán về tư tưởng và đường lối chính trị của ông là “theo Mao và mãi mãi theo Mao” nhưng đó cũng chỉ là sự suy luận thông qua việc làm và dư luận.

TuMaoTrachDong

Ông chọn theo Mao là chọn theo đường lối thực tiễn “có lý, có lợi, đúng lúc”. (Một bức tượng của Mao Trạch Đông tại Thẩm Dương, ngày 7 tháng 5 năm 2013. Ảnh Reuters).

{{{caption}}}
BÌNH SINH MAO TRẠCH ĐÔNG

Ngày 19 tháng 6 năm 1945, Mao Trạch Đông được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông liên tục giữ chức vụ này cho đến khi từ trần. Ngày 19  tháng 6 năm 1944, trước đó một năm so ngày Mao đượcbầu , cũng là ngày khởi đầu  trận hải chiến bằng hàng không mẫu hạm lớn nhất trong lịch sử thế giới giữa hải quân Đế quốc Nhật Bản và hải quân Mỹ tại quần đảo Mariana, thuộc  chiến tranh thế giới lần thứ hai, kết quả hải quân Mỹ thắng.

sinh ngày 26 tháng 12 năm 1893, mất  ngày 9 tháng 9 năm 1976, ông tên tự Nhuận Chi, bút danh là Tử Nhậm, làm Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1943 đến khi qua đời. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giành thắng lợi trong cuộc nội chiến với Quốc Dân Đảng, lập nên nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 và trở thành đảng cầm quyền ở Trung Quốc.

Chủ tịch Mao Trạch Đông đã tạo ra một chủ nghĩa Mác-Lênin được Trung Quốc hóa có tên là chủ nghĩa Mao mà ngày nay ban lãnh đạo Trung Quốc gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông. Những người theo chủ nghĩa này gọi là những người Mao-ít (Maoist), tương tự như Marxist, Leninist.

Chủ tịch Mao Trạch Đông là người có công trong việc gần như thống nhất được Trung Quốc, đưa Trung Quốc thoát khỏi ách áp bức của ngoại quốc kể từ cuộc Chiến tranh Nha phiến cuối thế kỷ 19, nhưng cũng bị phê phán về trách nhiệm của ông trong nạn đói 1959 – 1961 và những tai họa của Cách mạng văn hóa. Dưới thời ông, nông nghiệp Trung Quốc được tập thể hóa dưới hình thức công xã nhân dân. Chính sách Đại nhảy vọt) trong kinh tế đã để lại những hậu quả tai hại. Mao Trạch Đông cũng là người phát động Đại Cách mạng văn hóa vô sản, thường gọi là Cách mạng văn hóa. Theo một số liệu thống kê, Mao Trạch Đông là nhà lãnh đạo đã trực tiếp hay gián tiếp gây ra cái chết cho khoảng 1 triệu người.

Chủ tịch Mao Trạch Đông thường được gọi một cách tôn kính tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Mao Chủ tịch. Vào thời đỉnh cao của sự sùng bái cá nhân, ông được tôn là người có bốn cái “vĩ đại”: Người thầy vĩ đại, Lãnh tụ vĩ đại, Thống soái vĩ đại, Người cầm lái vĩ đại.

Chủ tịch Mao Trạch Đông nắm chức vụ tối cao của thế hệ thứ nhất ngày 19 tháng 6 năm 1945 và chức vụ này được trao truyền qua các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lần lượt  từ Mao Trạch Đông, tiếp nối là  Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, đến Tập Cận Bình. Từ đó cho đến ngày 19 tháng 6 năm 2015 là vừa tròn 70 năm. Theo quy định về tuổi tác và nhiệm kỳ thì Tập Cận Bình sẽ phải về hưu sau đại hội năm 2022, và sau đại hội năm 2017 thì 5 trên 7 ủy viên thường vụ hiện nay sẽ phải về hưu nhường chỗ cho các gương mặt mới cũng như đại diện của thế hệ thứ sáu. Đường lối của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hiện nay, theo đánh giá của Peter Martin và David Cohen, là “theo Mao và mãi mãi theo Mao” (Mao and Forever).

Mao Trạch Đông gia đình và dòng họ

Chủ tịch Mao Trạch Đông sinh giờ Thìn ngày 19 tháng 11 năm Quý Tị (năm Quang Tự thứ 19) theo âm lịch, tức 26 tháng 12 năm 1893 tại làng Thiều Sơn, huyện Tương Đàm, tỉnh Hồ Nam. Ông là con  út trong một gia đình trung nông.

Mao Trạch Đông có bố là Mao Di Xương, tên tự là Mao Thuận Sinh, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1870, mất ngày  23 tháng 1 năm 1920. Mẹ của Mao Trạch Đông là Văn Thất Muội sinh ngày 12 tháng 2 năm 1867 mất ngày 5 tháng 10 năm 1919, lấy chồng năm 1885. ông nội là Mao Ân Phổ; cố nội là Mao Tổ Nhân. Dòng tộc của ông vào thời nhà Minh đã di cư từ tỉnh Giang Tây đến đây và nhiều đời làm nghề nông.

Mao Trạch Đông có bảy anh chị em gồm 5 trai và 2 gái. Hai anh trai và chị gái Mao Trạch Đông đều chết sớm. Hai em trai Mao Trạch Dân, Mao Trạch Đàm cùng Dương Khai Tuệ vợ Mao Trạch Đông và chị họ Mao Trạch Kiến (còn gọi là Mao Trạch Hồng) đều bị Quốc dân Đảng giết trong thời kỳ nội chiến.

Mao Trạch Đông lần lượt kết hôn với bốn người. Khi 14 tuổi, bố ông đã sắp xếp cho ông lấy một cô gái cùng làng là La thị (1889–1910), kết hôn năm 1907, nhưng Mao không công nhận cuộc hôn nhân ép buộc này và hai người chưa hề ăn ở với nhau và không có con. Ông kết hôn năm 1921 với Dương Khai Tuệ (1901–1930) ở Trường Sa, sống với nhau đến năm 1927. Bà bị Quốc dân Đảng hành quyết năm 1930. Bà sinh được 3 người con trai. Ông kết hôn với  Hạ Tử Trân (1910 – 1984) người Vĩnh Tân, tỉnh Giang Tây. Hai người chung sống  từ tháng 5 năm 1928, đến năm 1937 thì bà sang Liên Xô chữa bệnh. Bà sinh nở 6 lần nhưng 5 con chết non hoặc mất tích và chỉ có Lý Mẫn trưởng thành. Ông kết hôn với Giang Thanh từ năm 1938 đến lúc Mao mất và có một con gái là Lý Nạp.

Mao Trạch Đông có bốn người con trưởng thành (chưa tính những người chết lúc còn quá nhỏ): Con cả của ông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Long (1921- 1931?) mất tích. (*) Có người cho rằng đó là Tô Chú, biệt danh là Hoa Quốc Phong, là người tham gia cuộc kháng chiến chống Nhật, sau khi thực hiện cuộc Vạn lý trường chinh năm 1936, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1938, tham gia chiến đấu trong Bát Lộ Quân 12 năm dưới sự chỉ huy của tướng Chu Đức, phụ trách Uỷ ban tuyên truyền cấp tỉnh của Đảng hồi giữa thập niên 1940, được bầu vào Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản năm 1969, trở thành bộ trưởng Bộ Công an năm 1972, sau khi người tiền nhiệm là Tạ Phú Trị qua đời, vào Bộ Chính trị năm 1973, trở thành Phó Thủ tướng năm 1975, quyền Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi Chu Ân Lai mất tháng 1 năm 1976, trở thành Thủ tướng và phó Chủ tịch thứ nhất của Đảng tháng 4 năm 1976, và Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc khi Mao chết, tháng 9 năm 1976, được chỉ định kế tục Mao Trạch Đông trở thành lãnh tụ tối cao Đảng Cộng sản Trung Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vài năm sau, ông bị Đặng Tiểu Bình lật đổ và buộc phải về hưu sớm); Con trai thứ hai của Mao Trạch Đông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Anh (1922-1950), trước học ở Liên Xô, sau chết trong kháng Mỹ viện Triều, kết hôn với Lưu Tư Tề, tên khai sinh là Lưu Tùng Lâm; Con trai thứ ba của ông với bà Dương Khai Tuệ là Mao Ngạn Thanh (1923-2007), kết hôn với Thiệu Hoa, em gái Lưu Tư Tề, sinh ra con trai là Mao Tân Vũ hiện là tướng lĩnh trong quân đội Trung Quốc;  Con gái của  Mao Trạch Đông với Hạ Tử Trân là Lý Mẫn, sinh năm 1936), kết hôn với Khổng Lệnh Hoa, sinh ra con trai là Khổng Kế Ninh, con gái là Khổng Đông Mai. Mao từng có biệt danh là Lý Đức Thắng, nên có lẽ vì vậy mà Lý Mẫn lấy họ này;  Con gái của Mao Trạch Đông với Giang Thanh là Lý Nạp,  sinh năm 1940, kết hôn với Vương Cảnh Thanh, sinh ra con trai là Vương Hiệu Chi. Lý là họ gốc của Giang Thanh. Lưu ý là tên đệm trong từng thế hệ gia đình Mao là giống nhau, tuần tự các đời là Tổ-Ân-Di-Trạch-Ngạn. Các con của Mao Trạch Dân và Mao Trạch Đàm có tên đệm là Viễn. Mao Viễn Tân là một nhận vật quan trọng thời cách mạng văn hóa. Người Trung Nam Hải xì xào, Mao có đại phúc tướng nhưng chỉ có diễm phúc mà thiếu thê phúc. Quan hệ vợ con ngoài hôn thú của Mao Trạch Đông hiện vẫn còn là điều bí ẩn.

Mao Trạch Đông cuộc đời và sự nghiệp

Mao Trạch Đông lúc còn là một học sinh 18 tuổi thì Cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ, triều nhà Thanh bị lật đổ, những người lãnh đạo Cách mạng Trung Quốc tuyên bố thành lập chế độ cộng hòa nhưng không thành lập được một chính phủ thống nhất và vững vàng, dẫn đến cuộc nội chiến trong một thời gian dài. Mao Trạch Đông phục vụ trong quân đội tỉnh Hồ Nam, sau đó trở về trường học. Sau khi tốt nghiệp Trường Sư phạm số 1 tỉnh Hồ Nam vào năm 1918, Mao cùng với giáo sư Dương Xương Tế, người thầy học và là cha vợ tương lai, lên Bắc Kinh. Giáo sư Dương nhận một chân giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh và giới thiệu Mao Trạch Đông làm nhân viên thư viện của trường đại học (thư viện do Lý Đại Chiêu phụ trách). Đồng thời Mao học tại chức tại Đại học Bắc Kinh, nghe nhiều học giả hàng đầu như Trần Độc Tú, Hồ Thích và Tiền Huyền Đồng giảng bài. Sau này Mao kết hôn với Dương Khai Tuệ, con gái giáo sư Dương và cũng là sinh viên Đại học Bắc Kinh. Sau phong trào Ngũ Tứ, ngày 4 tháng 5 năm 1919, Mao về Hồ Nam tổ chức đoàn thanh niên, ra hai tờ báo tuyên truyền cách mạng là Tương Giang bình luậnTân Hồ Nam. Hai tờ báo này bị đóng cửa và Mao bị trục xuất khỏi Hồ Nam. Năm 1920, Mao đã tham gia tiểu tổ cộng sản ở Hồ Nam.

Mao Trạch Đông đã tham gia Đại hội lần thứ nhất thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải ngày 23 tháng 7 năm 1921. Hai năm sau, tại Đại hội lần thứ ba (1923), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gồm 5 người. Tháng 1 năm 1924, theo chủ trương Quốc – Cộng hợp tác, Mao Trạch Đông tham dự Đại hội lần thứ nhất Quốc dân Đảng họp ở Quảng Châu và được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng. Sau đó ông lên đường đi Thượng Hải làm việc tại cơ quan Ban chấp hành Quốc dân Đảng, rồi sang năm sau lại về Quảng Châu làm quyền trưởng Ban tuyên truyền của Quốc dân Đảng, rồi kiêm thêm một chân trong Ủy ban vận động nông dân của đảng này. Lúc này ông đã bị Trần Độc Tú đẩy ra khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản tại Đại hội 4 họp vắng mặt ông vào tháng 1 năm 1925. Tại Đại hội lần thứ hai Quốc dân Đảng (tháng 1 năm 1926), ông lại được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng và làm quyền Trưởng ban Tuyên truyền đến tháng 5 năm 1926.

Mao Trạch Đông chủ trương đấu tranh vũ trang với Tưởng Giới Thạch sau khi Tưởng quay sang đàn áp Đảng Cộng sản, nhưng ông không được Trần Độc Tú chấp nhận và Mao Trạch Đông bị thất sủng. Ông bèn lui về quê ở Hồ Nam cho ra đời Báo cáo khảo sát phong trào nông dân Hồ Nam, tác phẩm quan trọng đầu tiên của chủ nghĩa Mao.

Mao thoát được bạch sắc khủng bố vào năm 1927 và lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa Vụ gặt Mùa thu ở Trường Sa, Hồ Nam nhưng thất bại. Ông thu thập tàn quân du kích chưa đầy 1.000 người tìm nơi ẩn náu ở vùng núi Tỉnh Cương Sơn, nơi giáp giới giữa hai tỉnh Hồ Nam và Giang Tây. Năm 1928 đội quân này hợp nhất với quân của Chu Đức, lập ra Quân đoàn 4 công nông, do Chu Đức làm Quân đoàn trưởng. Mao đã góp phần xây dựng căn cứ, chính quyền và một quân đội tiến hành chiến tranh du kích có hiệu quả, thực hiện cải cách ruộng đất. Chính tại nơi đây từ 1931 đến 1934, nhà nước Cộng hòa Xô-viết Trung Hoa được lập ra và Mao được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Trung ương lâm thời. Vào thời kỳ này, Mao kết hôn với Hạ Tử Trân, sau khi Dương Khai Tuệ bị lực lượng Quốc dân Đảng giết chết.

Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản chạy trốn sự khủng bố bởi các chiến dịch bao vây càn quét của Tưởng Giới Thạch ở các thành phố lớn, chủ yếu là Thượng Hải nên chạy dạt về trú ngụ ở khu Xô-viết. Nội bộ Ban Lãnh đạo Đảng Cộng sản diễn ra cuộc tranh giành quyền lực, đấu tranh về đường lối và chiến thuật. Phe theo đường lối chính thống của Moskva, mà đại diện là nhóm 28 người Bolshevik, đã thắng thế và Mao dần dần bị gạt ra khỏi các chức vụ quan trọng.

Tưởng Giới Thạch với quyết tâm tiêu diệt bằng được những người cộng sản, tháng 10 năm 1934, đã trực tiếp chỉ huy 50 vạn quân bao vây tấn công khu Xô-viết trung ương, buộc Hồng quân phải mở đường máu rời bỏ nơi đây, tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh cực kỳ gian khổ, vượt 9.600 km trong suốt một năm trời để đến tỉnh Thiểm Tây xây dựng căn cứ mới.

Mao Trạch Đông trên đường trường chinh đã bước lên nắm quyền lãnh đạo từ Hội nghị Tuân Nghĩa họp vào tháng 1 năm 1935. Tại hội nghị này, Chu Ân Lai ngả về phía Mao, Tổng Bí thư Bác Cổ và cố vấn quân sự Otto Braun (tên Trung Quốc là Lý Đức) bị hạ bệ, Mao vào Ban thường vụ Bộ Chính trị, nắm thực quyền và năm 1943 được bầu làm Chủ tịch Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Mao Trạch Đông từ căn cứ mới ở Diên An, đã lãnh đạo những người cộng sản tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật (1937–1945) thông qua hợp tác Quốc–Cộng lần thứ hai. Tại đây, Mao đã củng cố quyền lực trong Đảng Cộng sản bằng cách mở cuộc vận động chỉnh phong. Tại Đại hội lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc họp tại Diên An tháng 6 năm 1945, Mao được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng. Cũng tại Diên An, Mao ly thân với Hạ Tử Trân và lấy Lam Bình, một diễn viên mới tới Diên An mà sau này khuynh đảo chính trường Trung Quốc với tên gọi là Giang Thanh.

Ngay sau khi Chiến tranh Trung-Nhật kết thúc, nội chiến đã diễn ra giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản, kết thúc bằng thắng lợi của Đảng Cộng sản vào năm 1949.

Mao Trạch Đông thuộc phái tả kiên định, năm 1920, Mao trở thành người Mác xít. Năm 1921, là một trong 21 người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhưng mãi đến năm 1935, Mao mới trở thành người lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản Trung Quốc sau hai lần thất bại vào năm 1927 và 1934, nhưng cuối cùng cũng vượt qua được nhờ Mao Trạch Đông lên nắm quyền lãnh đạo Đảng, lực lượng của Đảng dần được củng cố mạnh lên. Đến năm 1947, Mao Trạch Đông đã phát động cuộc tấn công toàn diện vào Chính phủ Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu. Qua hai năm rưỡi đánh nhau, bằng ba đại chiến dịch “Liêu Thẩm” “Bình Tân” và “Hoài Hải”, Mao Trạch Đông đã lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc giành chính quyền năm 1949 và giải phóng toàn bộ đại lục Trung Quốc; Mao Trạch Đông làm Chủ tịch chính phủ nhân dân trung ương , Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai làm Phó Chủ tịch, trong đó Chu Ân Lai kiêm nhiệm Thủ tướng Quốc vụ viện.

Mao Trạch Đông từ năm 1949 đến 1976, trong suốt 27 năm, ông luôn là nhân vật quan trọng nhất trong Chính quyền Trung ương Trung Quốc, đã kiên trì thực hiện công cuộc cải cách vĩ đại mang ý nghĩa sâu xa trên toàn đất nước, nhưng ông đồng thời cũng bắt nhân dân phải trả giá đau đớn. Mao phải chịu trách nhiệm chính về phong trào “trăm hoa đua nở” năm 1957 bắt hữu phái, tát cạn trí thức tinh anh;  phong trào “giương cao ba ngọn cờ hồng” năm 1958 “đường lối chung, đại nhảy vọt, công xã nhân dân” điển hình là “Đại nhảy vọt kinh tế”: ” toàn dân xây dựng công xã nhân dân, xây dựng nhà ăn công cộng” “toàn dân luyện gang thép” thiệt hại lớn, đất nước lâm vào đói kém, do “ba phần thiên tai, bảy phần nhân họa” mà không chỉ là “chính sách sai lệch, Liên Xô đòi nợ, thiên tai hoành hành”. Năm 1959, tại Lư Sơn, ông giương cao cờ chống hữu, đấu thắng Bành Đức Hoài, tẩy sạch những ai dám nói. Diệu kế của Mao là khi cảm nhận được ba ngọn cờ hồng sẽ gây ra tai họa, ông nhường bớt quyền bính giao tuyến 1 cho Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đảm nhận với cương vị là Chủ tịch Nước và Tổng Bí thư Đảng xử lý công việc thường nhật. Ông lui về tuyến 2 chuyên công tác nghiên cứu lý luận Mác Lê Nin, thông qua Lâm Bưu làm Phó Chủ tịch Đảng sau này là Bộ trưởng Quốc phòng (thay thế Bành Đức Hoài) phát động phong trào học tập “Mao tuyển” trên toàn quốc.

Tiếp đó, Mao ủng hộ “Đại Cách mạng văn hóa vô sản” vào những năm 60 của thế kỷ XX. Mao tự đánh giá “”Đại Cách mạng văn hóa” là một trong hai đại sự lớn nhất đời Mao . Có điều đặc biệt là khi phát động “Đại nhảy vọt”, Mao Trạch Đông đã hơn 60 tuổi; còn “Đại Cách mạng văn hóa” diễn ra lúc ông gần 70 tuổi; và khi quyết định thiết lập ngoại giao với Hoa Kỳ thì Mao đã gần 80 tuổi.

Mao Trạch Đông qua đời ngày 9 tháng 9 năm 1976, 10 phút sau nửa đêm ở thủ đô Bắc Kinh. Ông chết vì bệnh xơ cứng teo cơ (tên khoa học amyotrophic lateral sclerosis), ở Hoa Kỳ bệnh này thường được gọi là Lou Gehrig’s hoặc Motor Neurone, cùng một căn bệnh với Stephen Hawking. Sức khỏe của Mao Trạch Đông đã rất kém trong nhiều năm và suy giảm rất rõ rệt trong thời gian vài tháng trước khi chết. Thi hài ông được an táng tại Đại lễ đường nhân dân. Lễ tưởng niệm ông cử hành vào ngày 18 tháng 9 năm 1976 tại quảng trường Thiên An Môn. Trong lễ tưởng niệm có 3 phút mặc niệm. Sau đó thi hài ông được đặt trong Lăng Mao Trạch Đông, mặc dù ông muốn được hỏa táng và là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên ký văn bản chính thức vào tháng 11 năm 1956 quy định tất cả những người lãnh đạo cấp trung ương sau khi chết sẽ được an táng theo nghi thức hỏa táng.

Mao Trạch Đông di sản và đánh giá

Sách “Giang Thanh toàn truyện”, nguyên tác Diệp Vĩnh Liệt. Người dịch Vũ Kim Thoa, Chương 21 Màn cuối cùng. Trong bệnh nặng, Mao Trạch Đông dặn dò hậu sự. Khi xẩy ra sự kiện Thiên An Môn,  Mao Trạch Đông ốm nặng… Ông tự biết những ngày còn lại không bao nhiêu, sợ bệnh tim bột phát; vào lúc cảm thấy tinh thần còn sáng suốt, ngày 15 tháng 6 năm 1976, Mao Trạch Đông triệu tập Hoa Quốc Phong, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên, Vương Hải Dung … để nói chuyện như thể dặn dó lúc lâm chung. Mao Trạch Đông nói rất vất vả, tốn sức lực, tuy nhiên còn chưa đến nổi lắm. Mao Trạch Đông nói:

“Nhân sinh thất thập cổ lai hy” tôi đã ngoài 80, người gia bao giờ cũng nghĩ đến hậu sự. Trung Quốc có câu cổ thoại, ý nói: “đậy nắp quan tài định luận. Tôi tuy chưa đậy nắp quan tài nhưng cũng sắp đến lúc rồi, có thể định luận được rồi.

Trong đời tôi đã làm hai việc, một là đấu tranh với Tưởng Giới Thạch mấy chục năm, đuổi hắn chạy ra ngoài đảo xa. Rồi kháng chiến tám năm, đã mời được người Nhật Bản trở về nhà họ.  Với sự việc này không có mấy ai dị nghị , chỉ có năm ba người xì xào đến tai tôi, đó là muốn tôi sớm thu hồi mấy hòn đảo kia về. Một sự việc khác, các đồng chí đều biết, đó là việc phát động đại Cách mạng Văn hóa. Về việc này người ủng hộ không nhiều, người phản đối không ít.

Hai việc này đều chưa xong. Di sản này phải giao lại cho đời sau. Giao như thế nào? Giao một cách hòa bình không được thì phải giao trong sự lộn xộn . Làm không nên có khi còn đổ máu. Vì thế, các đồng chí làm như thế nào, chỉ có trời biết”.

Trong cuộc đời Mao Trạch Đông, lần nói chuyện này chính là một cuộc tổng kết. Di sản của Mao Trạch Đông không chỉ là bốn bộ trước tác nổi tiếng “Luận về thực tiễn”, “Luận về mâu thuẫn”, “Bàn về đánh lâu dài” “Bàn về Chủ nghĩa Dân chủ mới” mà chủ yếu là triều đại, thực tiễn và tư tưởng. Những câu nói nổi tiếng: “Súng đẻ ra chính quyền” “Nông thôn bao vây thành thị” “trí thức không bằng cục phân” “Dụ địch vào sâu” ” tự cũng cố và trầm tĩnh theo dõi, ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”  “Chính trị là chiến tranh không có đổ máu, chiến tranh là chính trị có đổ máu” “có lý, có lợi, đúng lúc“,…

Mao Trạch Đông khởi xướng chính sách được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lịch sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe đế quốc Tây phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau thế chiến lần thứ nhất, như Ngoại Mông, Triều Tiên, An Nam, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc.”

Mao Trạch Đông đưa ra phương lược “tam tuyến” hướng xử lý khi có chiến tranh lớn, tại Hội nghị Trung Ương từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 12 tháng 10 năm 1965. Ông nói:

Trung Quốc không sợ bom nguyên tử vì bất kỳ một ngọn núi nào cũng có thể ngăn chặn bức xạ hạt nhân. Dụ địch vào sâu nội địa tới bờ bắc Hoàng Hà và bờ nam Trường Giang, dùng kế “đóng cửa đánh chó” lấy chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, vận động chiến, đánh lâu dài níu chân địch, tận dụng thiên thời địa lợi nhân hòa, thời tiết mưa gió lầy lội, phá tan kế hoạch tốc chiến tốc thắng của địch. Bắc Kinh, Trùng Khánh, Thượng Hải, Thiên Tân là bốn thành phố trực thuộc Trung Ương, chuyển hóa công năng để phát huy hiệu lực bảo tồn và phát triển. Trùng Khánh là thủ đô kháng chiến lúc đất nước Trung Hoa động loạn”… (xem thêm: Trân Vũ Hán bài học lịch sửTừ Trường Giang Tam Hiệp đến Mekong)

Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia nhận xét:

Đánh giá một nhà chính trị thời kỳ cận đại là rất khó khăn; Có thể so sánh Mao Trạch Đông với Tần Thủy Hoàng; vì họ đều là người Trung Quốc, đều là các nhà cải cách. Nếu so sánh Mao Trạch Đông với Lê Nin cũng là xác đáng, họ đều sống ở thế kỷ 20, Mao Trạch Đông là người kiến tạo Chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc, cũng như Lê Nin là người đặt nền móng cho Chủ nghĩa Marx ở nước Nga. Mới nhìn ta thấy Mao Trạch Đông gần như nổi bật hơn Lê Nin vì Trung Quốc có số dân gấp ba lần Liên Xô, nhưng Lê Nin có trước và đã là một tấm gương cho Mao Trạch Đông, có ảnh hưởng đối với Mao Trạch Đông.

TapCanBinh
BÌNH SINH TẬP CẬN BÌNH

Chủ tịch Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo quốc gia tối cao, thuộc thế hệ lãnh đạo thứ 5 của nước Trung Quốc mới đang trỗi dậy. Trung Quốc sau bốn thập kỷ tăng trưởng liên tục, đến thời Chủ tịch Tập Cận Bình, đã vượt lên nổi nhục bị tám đế quốc xâu xé cuối thời Mãn Thanh, sự nội chiến Quốc Cộng hơn 20 năm, sự xâm lược và chiếm đóng của Nhật Bản, sự xáo động dữ dội của thời kỳ “đại loạn” đại cách mạng văn hóa, sự hiểm họa cực kỳ do tham nhũng, tranh chấp quyền lực, lũng đoạn kinh tế, suy thoái môi trường , phân hóa giàu nghèo và phát triển nóng. Đến nay, tuy nguy cơ này vẫn rất cao nhưng có vẻ như đang từng bước vượt qua.

Tập Cận Bình tiểu sử tóm tắt

Chủ tịch Tập Cận Bình hiện là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18, Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và là nhân vật số một trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, cơ quan thực quyền cao nhất Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình  và Thủ tướng Lý Khắc Cường là thế hệ tiếp nối ngay sau thế hệ thứ tư là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Chủ tịch Tập Cận Bình, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1953 tại Bắc Kinh, là con trai cựu Phó Thủ tướng Trung Quốc Tập Trọng Huân, gia đình gốc ở Phú Bình, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Khi ông  10 tuổi, cha ông bị thanh trừng và gởi đi làm việc tại một hãng xưởng ở Lạc Dương, Hà Nam.  Vào năm 1968 khi ông được 15 tuổi thì cha ông bị giam tù trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Tháng 1 năm 1969, ông tham gia đại đội Lương Gia Hà, xã Văn An Dịch, huyện Diên Xuyên, tỉnh Thiểm Tây.  Tháng 1 năm 1974, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau đó làm Bí thư Chi bộ Đảng của nhóm sản xuất (1969-1975).

Từ năm 1975 đến 1979, ông là sinh viên học tập tại Trường Đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh. Từ năm 1979 đến 1982, làm Thư ký Văn phòng Quốc vụ viện và Thư ký Văn phòng Quân ủy Trung ương. Năm 1982-1983, Phó Bí thư Huyện ủy huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc. Từ năm 1983 đến năm 2007, ông đã trải qua các chức vụ như: Bí thư Huyện ủy huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc (1983-1985); Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến (1985-1988); Bí thư Thị ủy Ninh Đức, tỉnh Phúc Kiến (1988-1990); Thường vụ Thành ủy thành phố Phúc Châu, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến (1990-1993); Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến, Bí thư thành phố Phúc Châu, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Phúc Châu (1993- 1995); Phó Bí thư Tỉnh ủy Phúc Kiến, Bí thư thành phố Phúc Châu, Chủ tịch HĐND Thành phố Phúc Châu (1995-1996); Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến (1996-1999); Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phúc Kiến, Chủ tịch lâm thời tỉnh Phúc Kiến (1999-2000); Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng Phúc Kiến (2000- 2002); Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng Triết Giang (2002- 2003); Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Triết Giang (2003-2007); Bí thư Thành phố Thượng Hải (2007). Năm 1998-2002, tiếp tục học tại Đại học Thanh Hoa và lấy bằng Tiến sỹ Luật.

Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương; được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương.

Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông được phân công làm Tổng Chỉ huy công tác tổ chức Olympic Bắc Kinh khai mạc lúc 8 giờ 8 phút tối ngày 8 tháng 8 năm 2008. (Beijing 2008 *)

Ngày 18 tháng 10 năm 2010, Hội nghị Toàn thể Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 5, khóa 17, Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Bắc Kinh đã bầu Tập Cận Bình giữ chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương – đây là cơ quan chỉ đạo và quyết định mọi hướng đi của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Ngày 15 tháng 11 năm 2012, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18 đã tiến hành phiên họp đầu tiên sau đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 18 và quyết định bầu ông làm Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc.

Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực ở quốc gia đông dân nhất thế giới.

Tập Cận Bình những chính sách lớn

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang quyết tâm cao độ theo đuổi chủ thuyết Trung Nam Hải “nắm vững Trung, hướng về Nam, mở rộng Hải” của Chủ tịch Mao Trạch Đông trên cơ sở thuyết “biển lịch sử” từ thời đế quốc La Mã tuyên ngôn cách đây 2000 năm nhằm đưa ra phương lược mưu chiếm trọn 80% hải phận của vùng Đông Nam Á (theo đường Lưỡi Bò), khôi phục vị thế và địa giới lịch sử Trung Quốc thời kỳ rộng nhất, huy hoàng nhất. Trung Quốc không còn chấp nhận vai trò của Mĩ như một cảnh sát khu vực để duy trì hòa bình và giữ cho các tuyến đường biển thông suốt.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vạch chiến lược “3 mũi nhọn” thâu tóm châu Á và đã tuyên bố tại Thượng Hải “chính người Châu Á phải điều hành công việc của Châu Á, giải quyết các vấn đề của khu vực Châu Á và duy trì an ninh của Châu Á”. Ông ráo riết thực hiện chiến lược “không đánh mà thắng” với một loạt kế sách liên hoàn trên biển Đông thông qua sức mạnh kinh tế và tiến bộ công nghệ:  xây dựng đảo trong quần đảo Trường Sa; điều giàn khoan thăm dò dầu khí chập chờn ở các điểm nóng; ký hợp tác Trung Nga nhận mua khí đốt và năng lượng dài hạn từ Nga giải tỏa giúp Nga sự căng thẳng suy thoái kinh tế do sức ép giá dầu lửa xuống thấp do sự can thiệp của Tây Âu và Mỹ; Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngồi cạnh Tổng Thống Nga Putin trong đại lễ 70 năm kỷ niệm Ngày Chiến thắng Chủ nghĩa Phát xít khi Tổng thống Mỹ Obama cùng nguyên thủ nhiều nước châu Âu và thế giới theo phe Mỹ không tham dự, Trung Quốc tỏ rõ lập trường ủng hộ Nga chống li khai để giữ vững đường hằng hải sống còn của Nga thông ra biển lớn mà Pie Đại Đế nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga quyết tâm sắt đá tranh đoạt bằng được Sankt-Peterburg  dù mọi giá  thể hiện qua chính sách là có thể nhượng bộ Thụy Điển bất cứ điều gì ngoại trừ trả lại Sankt-Peterburg. Trung Quốc thực hành chiến lược “Nam Nam” mở rộng ảnh hưởng nước lớn tại Đông Nam Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trung Quốc hiện là tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ hiện đang ngày một gia tăng tại châu Á và Thế giới (xem thêm: Biển Đông vạn dặm, Biển Đông và sông Mekong).

Chủ tịch Tập Cận Bình trước và ngay sau ngày 14 tháng 3 năm 2013 (ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đã nhanh chóng ra tay chiến dịch “đả hổ, diệt ruồi, săn sói, quét muỗi”. Các con hổ lớn Bạc Hi Lai (2012), Từ Tài Hậu (2012), Chu Vĩnh Khang (2013) và mới đây là Quách Bá Hùng (2015) lần lượt bị sa lưới. Chiến dịch này hiện đang ở vào hồi kết thúc của giai đoạn ” đả hổ, diệt ruồi” giành thắng lợi quyết định ở cấp lãnh đạo thượng tầng, quân đội, công an, tài chính kinh tế và truyền thông tại các thành phố lớn, nay đang chuyển sang giai đoạn “săn sói, quét muỗi”  càn quét cường hào tham nhũng ừa và nhỏ ở vùng nông thôn và những nguy cơ tiềm ẩn ở các lĩnh vực khác.

Chủ tịch Tập Cận Bình “chống tham nhũng không màng sống chết cá nhân”. Ông đề ra khẩu hiệu “Tứ Toàn” (Bốn toàn diện):  “Xây dựng kinh tế xã hội thịnh vượng toàn diện; Cải tổ xã hội sâu sắc toàn diện; Thực hiện Nhà nước pháp quyền toàn diện;Thực thi kỷ cương Đảng toàn diện”. Đây là một cuộc chiến sinh tử, một cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, rộng lớn và triệt để về kinh tế,  xã hội, nhà nước và đảng cầm quyền. Trong cuộc chiến này, quan điểm của ông Tập là vạch trần mọi tật xấu, sai lầm, khuyết điểm, không được che dấu đảng viên và nhân dân điều gì, không có nhân vật nào bất khả xâm phạm, không một lãnh vực nào bị cấm, dù là lãnh tụ tối cao.

Chủ tịch Tập Cận Bình thực hiện mưu lược ”dương đông kích tây” lợi dụng mâu thuẫn Mỹ – Nga và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ để hướng dư luận ra bên ngoài, rãnh tay dẹp yên trong, trực tiếp nắm lại quân đội. Hôm 25/7, Tòa án quân sự Trung Quốc đã tuyên phạt cựu Phó chủ tịch Quân ủy Quách Bá Hùng tù chung thân, tước quyền chính trị suốt đời, tước quân hàm Thượng tướng và tịch thu toàn bộ tài sản. Nga – Trung chuẩn bị tập trận trên Biển Đông vào tháng 9 tới. Ông cũng thực hành mưu lược “an dân” nhằm tháo ngòi nổ phẩn uất trong lòng của một lực lượng đông đảo nạn nhân, đối lập và bất bình đã làm chia rẽ xã hội Trung Quốc.Theo tạp chí chính trị Zhengming ở Hồng Kông.  Nhà tưởng niệm Mao sẽ biến mất khỏi Bắc Kinh. Quyết định bí mật này đã được giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra.  Xác ướp của Mao sẽ được chuyển đến thành phố quê hương của ông ta. Cấp dưới của cựu phụ tá lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bị thất sủng tiếp tục ngã ngựa.  Lệnh Kế Hoạch, 59 tuổi, từng là Chánh văn phòng Trung ương Đảng và phụ tá cho cựu lãnh đạo Đảng Hồ Cẩm Đào. Ông ta bị bắt vào ngày 20 tháng 7 năm 2015, và bị buộc tội tham nhũng và lĩnh án tù chung thân vào 4 tháng 7 năm 2016. Gần đây, hai cấp phó của Lệnh là Triệu Thắng Hiên và Hà Dũng cũng đã bị âm thầm đưa ra khỏi vị trí lãnh đạo. Hà Dũng là người  đã bị Tổ chức Thế giới Điều tra Cuộc đàn áp Pháp Luân Công (WOIPFG) nhận dạng đóng vai trò tích cực trong việc bức hại Pháp Luân Công, do cựu lãnh đạo Đảng Giang Trạch Dân phát động ngày 20 tháng 7 năm 1999 lúc Pháp Luân Công có trên 70 triệu người Trung Quốc tập luyện.

Suy ngẫm từ núi xanh Bắc Kinh

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có hai cuốn sách lớn “Làm việc với những thứ thật, bước đi ở vị trí hàng đầu” và Những Suy tư từ sông Dương Tử góp phần giúp ông giành thắng lợi trong cuộc bầu cử khó khăn chọn ra người đứng đầu chính phủ cùa một quốc gia hơn 1, 34 tỷ người, dẫn đến việc chuyển giao quyền lực năm 2012. Tư tưởng và đường lối chính trị của vị lãnh tụ này hiện còn là điều bí ẩn. Thế giới chỉ có thể suy đoán và hiểu người qua việc làm và dư luận.

Peter Martin và David Cohen có bài viết : “ Mao and Forever: Xi Jinping’s Authoritarian Reforms” (Những cải cách độc đoán của Tập Cận Bình: theo Mao và mãi mãi theo Mao), người dịch Huỳnh Phan. Bài nghiên cứu giúp chúng ta một góc nhìn đối thoại. Mao Trạch Đông là một nhân vật hiếm có trong lịch sử, nghìn năm công tội. Thời gian và sự khen chê không thể xóa nhòa những dấu ấn nổi bật của Mao. Chọn theo Mao là chọn theo đường lối thực tiễn “có lý, có lợi, đúng lúc”.


Hoang Kim: Reflections from the Green Mount, Beijing

Tôi dạo chơi Thiên An Môn, Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn trong ngày Quốc tế Lao động, ngắm những nơi lưu dấu các di sản của những triều đại hiển hách nhất Trung Hoa, lắng nghe đất trời và các cổ vật kể chuyện. Tôi ngắm nhìn người nghệ sĩ nhân gian, vui cùng ông và đùa cùng trẻ thơ. Ngày trước đó, tôi vinh hạnh được làm việc với giáo sư Zhikang Li, trưởng dự án Siêu Lúa Xanh  (Green Super Rice) chương trình nghiên cứu lúa nổi tiếng của CAAS & IRRI và có cơ hội tiếp cận với các nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc.

Suy ngẫm từ núi Xanh (景山, Jǐngshān, Cảnh Sơn, Green Mount), ngọn núi địa linh của đế đô Bắc Kinh, tôi tâm đắc lời nhắn gửi sâu xa của bậc hiền minh lỗi lạc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Muốn bình sao chẳng lấy nhân / Muốn yên sao lại bắt dân ghê mình”  “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình)  (Vạn lý Đông minh quy bá ác/ Ức niên Nam cực điện long bình). Suy ngẫm về cuộc cách mạng Xanh và đỉnh cao Hòa Bình.

Lời giáo sư Norman Borlaug văng vẳng bên tai tôi: “Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó.” Sự hiền minh lỗi lạc của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, và di sản vô giá của giáo sư Norman Borlaug cùng với các bậc Thầy về cách mạng xanh mãi mãi là niềm tin và nổ lực của chúng ta !

Hoàng Kim

Video yêu thích
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook

Ngày mới

Xuân hiểu thơ Mạnh Hạo Nhiên. Ngày mới là bản dịch thơ tiếng Việt của Hoàng Kim, tìm tòi diễn đạt mới.

NGÀY MỚI

Mạnh Hạo Nhiên

Ban mai chợt tỉnh giấc,
Nghe đầy tiếng chim kêu.
Đêm qua mây mưa thế,
Hoa xuân rụng ít nhiều?

(bản dịch Hoàng Kim)

DSC00968
Ngày mới ảnh Hoàng Kim

Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) là nhà thơ người Tương Dương, Tương Châu, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc ,Trung Quốc thời nhà Đường, thuộc thế hệ đàn anh của Lí Bạch. Ông là người nhân cách lỗi lạc, yêu thiên nhiên, phúc hậu đức độ, học vấn tài năng trác tuyệt, giỏi thơ văn, nhưng chán ghét cảnh quan trường nên ẩn cư vui với thiên nhiên, sông núi quê hương , đặc biệt là Long Môn, Nam San và Lumen Sơn. Sự nghiệp văn chương của ông sừng sững như núi cao với hai trăm sáu mươi bài thơ, phần lớn là những bài thơ sơn thuỷ tuyệt bút . Thơ năm chữ của Mạnh Hạo Nhiên luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng. Bài Xuân hiểu và Lâm Động Đình được nhiều người truyền tụng. Lí Bạch rất hâm mộ Mạnh Hạo Nhiên và có thơ tặng ông:

LyBachManhHaoNhien
Tặng Mạnh Hạo Nhiên

Lý Bạch

Ta mến chàng họ Mạnh,
Phong lưu dậy tiếng đồn
Tuổi xanh khinh mũ miện
Đầu bạc ngủ mây cồn
Dưới trăng nghiêng ngửa chén
Bên hoa mê mẩn hồn
Hương bay thầm đón nhận
Không với tới đầu non

Trang thơ Hoàng Nguyên ChươngThi Viện hiện lưu dấu thơ ông.

ManhHaoNhien

春 曉
XUÂN  HIỂU

春   眠   不   覺   曉,
Xuân miên    bất    giác   hiểu.
處   處   聞   啼   鳥。
Xứ      xứ      văn    đề     điểu
夜  來   風   雨   聲,
Dạ     lai   phong   vũ    thinh.
花  落   知   多   少?
Hoa    lạc      tri      đa    thiểu

+  Dịch nghĩa:
SỚM XUÂN
(Đang nằm trong) giấc ngủ mùa xuân, không biết trời đã sáng.
Khắp nơi nơi nghe tiếng chim kêu (rộn rã).
Đêm qua có tiếng gió mưa.
Không biết hoa rụng nhiều hay ít ?.
Hoàng Nguyên Chương dịch

Dịch thơ

Giấc xuân trời sáng không hay,
Chim kêu ríu rít từng bầy khắp nơi.
Đêm qua mưa gió tơi bời
Biết rằng hoa cũng có rơi ít nhiều.

(Bản dịch Trần Trọng Kim)
SỚM XUÂN
Giấc ngủ mùa xuân, không biết sáng.
Khắp nơi rộn rã tiếng chim kêu.
Đêm qua sầm sập trời mưa gió
Không biết hoa bay rụng ít nhiều

(bản dịch Hoàng Nguyên Chương).

BUỔI SÁNG MÙA XUÂN
Giấc xuân, sáng chẳng biết;
Khắp nơi chim ríu rít;
Đêm nghe tiếng gió mưa;
Hoa rụng nhiều hay ít ?

 

(Bản dịch Tương Như)

SỚM XUÂN
Giấc xuân nào biết hừng đông.
Tỉnh ra chim đã véo von khắp trời,
Đêm qua mưa gió bời bời,
Ngoài kia nào rõ hoa rơi ít nhiều!

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

 

BUỔI SÁNG MÙA XUÂN
Đêm xuân ngủ sáng chẳng hay,
Bên ngoài chim đã hót đầy nơi nơi.
Đêm nghe mưa gió tơi bời,
Chẳng hay hoa rụng hoa rơi ít nhiều?

(Bản dịch của Hoàng Giáp Tôn)

“Xuân hiểu” (Sớm xuân) của Mạnh Hạo Nhiên nói về giấc ngủ mùa xuân (xuân miên) thung dung, an nhiên, tự tai cho đến khi trời chợt sáng (bất giác hiểu?). “Xuân hiểu” không đơn thuần chỉ là mùa xuân mà còn chỉ ngày mới,  quy luật vĩnh cữu của trời đất, khoảnh khắc huyền diệu của vũ trụ, thời điểm chuyển tiếp từ đêm sang ngày, từ âm sang dương, từ tĩnh sang động, từ tối đến sáng. Đó là thời khắc ban mai tuyệt diệu của tạo hóa, đất trời và con người hòa chung làm một, là thời khắc giao hoà tuyệt vời được thể hiện thanh thoát lạ lùng.

Điều đặc sắc của tác phẩm “Xuân hiểu” là đã dùng chữ xuân và chữ hiểu. Chữ xuân thì dễ thấy để chỉ sự tươi trẻ, khởi đầu, triết lý sống lạc quan. Chữ  hiểu “giác” (覺) có nghĩa là hiểu mà không dùng chữ “tri” (知) có nghĩa là biết để chỉ sự hiểu biết tận cùng chân tính của sự vật. Tác giả đã dùng chữ “hiểu” (曉) để chỉ về ban mai mà không dùng các chữ khác như: đán (旦) , tảo (早) hạo (暭), thịnh (晟), thần (晨), thự (曙), hi (晞) v.v.. Bởi chữ hiểu vừa có nghĩa là hiểu biết , lại vừa có nghĩa chỉ về buổi sớm,  ban mai, ngày mới, cái khoảnh khắc huyền diệu của vũ trụ.

Nhà Phật đã dùng chữ “giác” (覺) này trong “giác ngộ”, “chính giác” để chỉ  những điều thấu hiểu đã đạt ngộ đến đích của thiền tính. Khoa học giúp ta tri thức, sự biết , Phật học là minh sư chỉ ra sự đạt ngộ, giác ngộ này . Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, nhận định: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” chính là nói trên ý nghĩa đó.

Tôi thích lời bình của Hoàng Nguyên Chương về thơ Mạnh Hạo Nhiên: “Sau cái tĩnh lặng của giấc ngủ là cái động, thức giấc của con người, mặt trời và sự sống. Ta thấy sự sống tưng bừng của vũ trụ “xứ xứ” (khắp nơi) rộn tiếng chim. Chữ “văn” ở đây cho ta xác định được cái tiểu vũ trụ của tác giả và chính tác giả là chủ thể của con người trung tâm đang nhìn ra khắp chốn (xứ xứ) của đại vũ trụ để bắt nguồn giao cảm từ ý nghĩa vạn vật đều có đủ trong ta (vạn vật giai bị ư ngã) hoặc vạn vật với ta là một (vạn vật dữ ngã vi nhất) hay nói khác hơn đó là vạn vật đã đồng nhất với cái ngã. Hình tượng chim (điểu) cũng chỉ là một thực thể bé nhỏ và âm thanh kêu, hót (đề) cũng chỉ là “dữ cộng tương sinh” nhưng lại là đại biểu cho tất cả mọi sinh vật làm biểu tượng cho cả sự sống muôn loài vừa trổi dậy. Như thế mỗi thực thể bé nhỏ ở đây không chỉ là mỗi tiểu vũ trụ mà đã hình thành biểu trưng cho cả một đại vũ trụ.”  …Con người  hiện tại tiếp tục suy tư chiêm nghiệm để tự hỏi: Dạ lai phong vũ thinh (Đêm qua có tiếng gió mưa). Hình ảnh gió mưa chính là nguyên nhân đưa đến hiện trạng của ngày mới. Đóa hoa  là biểu tượng của sự sống, của nguồn sinh mệnh trong cõi đời. Đó là những thực thể bé nhỏ nhưng lại là những tiểu vũ trụ như lời Đỗ Phủ: “Nhất phiến hoa phi giảm khước xuân” (một cánh hoa rơi làm giảm đi vẻ đẹp của xuân) nhưng ý tưởng lại còn đi xa hơn thế nữa. Bởi vì hình thức mỗi cánh hoa còn lại trên cành hay rụng đi là một nỗi băn khoăn về lẽ tồn tại hay không tồn tại. Đó là sự thao thức về đời người và thân phận con người. Câu thơ “Hoa lạc tri đa thiểu” (không biết hoa rụng nhiều hay ít?)  là câu thơ tuyệt bút đã làm bài thơ bừng tỏa. … Đây cũng là phong cách tiêu biểu của Đường thi, phong cách đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật và mỗi chữ mỗi lời là một viên ngọc...” .

Noi theo tứ thơ khoáng đạt “Chim lượn trăm vòng” của Chế Lan Viên:  “Tôi yêu quá! cuộc đời như con đẻ/ Như đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng…/ Cánh thơ tôi thoát khỏi phòng nhỏ bé? Lượn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông”: Tôi đọc và tâm đắc thơ “Xuân hiểu” của Mạnh Hạo Nhiên, nay thử tìm lối diễn đạt mới cho tuyệt phẩm này.“Xuân hiểu” là “Ngày mới”; “Ban mai chợt tỉnh giấc / Nghe đầy tiếng chim kêu/ Đêm qua mây mưa thế/ Hoa xuân rụng ít nhiều?”.

Ngày mới là ngày xuân. Mây mưa vừa tục vừa thanh như cuộc đời này. Hoa xuân rụng nhiều hay ít là sự thao thức về “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”, đời người và thân phận con người.

Hoàng Kim

Bài viết mới

Video yêu thích
Love Story (Piano & Violin Duet)
KimYouTube

Trở về trang chính
Hoàng Kim  Ngọc Phương Nam  Thung dung  Dạy và học  Cây Lương thực  Dạy và Học  Tình yêu cuộc sống  Kim on LinkedIn  Kim on Facebook