Lý Quang Diệu con người lỗi lạc

LyQuangDieuÔng Lý Quang Diệu là vị Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore, từ năm 1959 đến năm 1990, sau đó làm Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor) của Thủ tướng Lý Hiển Long từ ngày 12 tháng 8 năm 2004 cho đến nay. Ông  qua đời ngày 23 tháng 3 năm 2015, hưởng thọ 92 tuổi. Ông Lý Quang Diệu là chính trị gia có ảnh hưởng lớn nhất tại nước Cộng hòa Singapore. Trang Tình yêu cuộc sống sẽ trở lại với con người này, một danh nhân gần gủi người Việt để vinh danh cuộc đời và sự nghiệp của vị chính khách lỗi lạc này những bài học làm người và kinh nghiệm, nghệ thuật chấn hưng đất nước. Mời bạn xem thông tin  Lý Quang Diệu trên Wikipedia tiếng Việt.

Lý Quang Diệu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lý Quang Diệu
李光耀
Lee Kuan Yew.jpg

Lý Quang Diệu tại Lầu Năm Góc 2002
Chức vụ
Nhiệm kỳ 3/6/1959 – 28/11/1990
Tiền nhiệm Đầu tiên
Kế nhiệm Ngô Tác Đống
Phó Thủ tướng Singapore Toh Chin Chye (5/6/1965 – 2/8/1968)
Goh Keng Swee (1/3/1973 – 3/12/1984)
Sinnathamby Rajaratnam (1/6/1980 — 2/1/1985)
Goh Chok Tong (2/1/1985 — 28/11/1990)
Vương Đỉnh Xương (2/1/1985 — 1/9/1993)
Nhiệm kỳ 28/11/1990 – 12/8/2004
Tiền nhiệm S. Rajaratnam
Kế nhiệm Goh Chok Tong
Thông tin chung
Sinh 16 tháng 9, 1923
Singapore, Các khu định cư Eo biển
Mất 23 tháng 3, 2015 (91 tuổi)
Outram, Singapore
Lý Quang Diệu
李光耀
Lee Kuan Yew.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 12/08/2004 – 21/05/2011
Tiền nhiệm Thiết lập chức vụ
Kế nhiệm Hủy bỏ chức vụ
Nhiệm kỳ 28/11/1990 – 12/08/2004
Tiền nhiệm S. Rajaratnam
Kế nhiệm Ngô Tác Đống
Thủ tướng đầu tiên của Singapore
Cuộc bầu cử: 19591988
Nhiệm kỳ 3/06/1959 – 28/11/1990
Kế nhiệm Ngô Tác Đống
Nhiệm kỳ 21/11/1954 – 1/11/1992
Kế nhiệm Ngô Tác Đống
Đại diện nhóm cử tri khu Tanjong Pagar
Ứng cử viên duy nhất của khu bầu cử (1955–1991)
Nhiệm kỳ 2/04/1955 –
Thông tin chung
Đảng phái Đảng hành động nhân dân PAP
Danh hiệu JPN Kyokujitsu-sho 1Class BAR.svg (1967)
Sinh 16 tháng 9, 1923
Singapore, Straits Settlements
Học vấn Đại học Raffles,
Đại học Fitzwilliam,
Đại học Cambridge
Nghề nghiệp Luật sư, Chính trị gia
Tôn giáo Thuyết bất khả tri[1]
Vợ Kha Ngọc Chi
(30/09/1950- 2/10/2010)
Con cái Lý Hiển Long
Lee Wei Ling
Lee Hsien Yang
Binh nghiệp

Lý Quang Diệu (tiếng Anh: Lee Kuan Yew, đôi khi cũng viết là Lee Kwan-Yew; tiếng Hán: 李光耀; bính âm: Lǐ Guāngyào; 16 tháng 9 năm 192323 tháng 3 năm 2015) là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore, ông đảm nhiệm chức vụ này từ năm 1959 đến năm 1990. Mặc dù đã rời bỏ chức vụ thủ tướng, ông vẫn được xem là một chính trị gia có ảnh hưởng nhất tại đảo quốc này. Ông tiếp tục phục vụ trong chính phủ của thủ tướng Goh Chok Tong trong cương vị Bộ trưởng Cao cấp. Cho đến khi qua đời Lý Quang Diệu giữ một chức vụ được kiến tạo riêng cho ông, Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor) dưới quyền lãnh đạo của con trai ông, Lý Hiển Long, thủ tướng thứ ba của Singapore (nhậm chức ngày 12 tháng 8 năm 2004), và là người thứ hai thuộc gia tộc Lý đảm nhiệm cương vị này. Ông còn được biết đến trong vòng thân bằng quyến hữu với tên “Harry”.

Mục lục

Xuất thân

Theo cuốn hồi ký của ông, Lý Quang Diệu là thế hệ thứ tư thuộc một gia đình người Khách Gia định cư tại Singapore: ông cố Lee Bok Boon (sinh năm 1846), rời bỏ quê nhà thuộc huyện Đại Bộ, tỉnh Quảng Đông để đến Singapore vào năm 1862, lúc đó là thuộc địa Anh dưới tên gọi “Các khu định cư Eo biển” (Straits Settlements).

Là con trai đầu của ông Lee Chin Koon và bà Chua Jim Neo, Lý Quang Diệu chào đời trong một nhà lều rộng và thoáng tại số 92 đường Kampong Java, Singapore. Ngay từ khi còn bé, văn hoá Anh đã có ảnh hưởng đậm nét trên Lý, một phần là do ông nội, Lee Hoon Leong, đã cho các con trai của mình hấp thụ nền giáo dục của Anh. Cũng chính ông nội đã cho cậu bé Lý tên Harry để thêm vào tên Quang Diệu mà người cha đặt cho con mình.

Ngày 30 tháng 9 năm 1950, Lý Quang Diệu kết hôn với Kha Ngọc Chi (Kwa Geok Choo). Họ có hai con trai và một con gái.

Vài thành viên trong gia tộc Lý đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong xã hội Singapore, các con trai và con gái của ông hiện giữ các chức vụ cao cấp trong chính quyền hoặc liên quan đến chính quyền.

Cậu con cả, Lý Hiển Long (Lee Hsien Loong), cựu chuẩn tướng quân đội, từ năm 2004 là Bộ trưởng Tài chính và nay là Thủ tướng đương nhiệm. Lý Hiển Long cũng là Phó chủ tịch Ban quản trị Công ty Đầu tư Singapore (Lý Quang Diệu là chủ tịch). Con trai thứ của ông Lý, Lý Hiển Dương (Lee Hsien Yang), cựu chuẩn tướng, hiện là chủ tịch và tổng giám đốc của Sing Tel, một tập đoàn truyền thông xuyên châu Á, cũng là công ty lớn nhất trong thị trường tư bản (liệt kê trên thị trường chứng khoán Singapore, SGX). Bảy mươi hai phần trăm cổ phần của Sing Tel thuộc quyền sở hữu của công ty Temasek Holdings, một công ty đầu tư của chính phủ có cổ phần nắm quyền kiểm soát tại những công ty có liên hệ với chính phủ như Singapore Airlines và ngân hàng DBS. Giám đốc điều hành của Tamasek Holdings là Ho Ching (Hà Tinh), vợ của thủ tướng Lý Hiển Long, con trai đầu của Lý Quang Diệu. Con gái của ông Lý, Lee Wei Ling, lãnh đạo Viện Khoa học Thần kinh Quốc gia, đến nay vẫn sống độc thân. Vợ của Lý Quang Diệu, Kwa Geok Choo từng là thành viên của công ty luật nổi tiếng Lee & Lee. Các em trai của ông, Dennis, Freddy và Suan Yew đều là thành viên của công ty luật nói trên. Ông có một em gái tên Monica. Lý Quang Diệu luôn bác bỏ mọi cáo buộc về gia đình trị, cho rằng những vị trí đặc quyền mà các thành viên trong gia đình ông có được là nhờ những nỗ lực bản thân.

Thiếu thời

Lý Quang Diệu theo học tại trường tiểu học Telok Kurau, Học viện Raffles và Đại học Raffles. Ông phải bỏ dở việc học khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore suốt những năm 19421945 trong Đệ nhị thế chiến. Trong thời kỳ chiếm đóng, ông vận hành hiệu quả những thương vụ chợ đen tiêu thụ một loại keo tapioca gọi là Stikfas.[2] Bắt đầu học tiếng Hántiếng Nhật từ năm 1942, ông làm việc với người Nhật trong công việc của một người ghi chép những bức điện báo của phe Đồng Minh, cũng như biên tập bản tiếng Anh cho tờ Hodobu (報道部 — thuộc ban thông tin tuyên truyền của người Nhật) từ năm 1943 đến năm 1944.[3][4]

Sau chiến tranh, ông theo học luật tại Đại học Fitzwilliam, Đại học Cambridge tại Anh Quốc, và trong một thời gian ngắn, theo học tại Trường Kinh tế Luân Đôn. Năm 1949, Lý Quang Diệu trở về Singapore và hành nghề luật sư tại Laycock và Ong, một công ty luật của John Laycock, một nhà tiên phong trong các hoạt động đa chủng tộc, người cùng với A.P. Rajah và C.C. Tan, thành lập câu lạc đa chủng đầu tiên tại Singapore, thâu nhận người châu Á.

Sự nghiệp chính trị (1951–1959)

Trước thời kỳ Đảng Hành động Nhân dân

Kinh nghiệm đầu tiên của Lý Quang Diệu trên chính trường Singapore là vai trò một nhân viên vận động bầu cử cho ông chủ John Laycock dưới ngọn cờ của Đảng Tiến bộ (Progressive Party) thân Anh, trong cuộc bầu cử hội đồng lập pháp năm 1951. Song, Lý Quang Diệu dần dần nhận ra hậu vận đen tối của chính đảng này do thiếu sự ủng hộ của quần chúng, nhất là của giới lao động thuộc cộng đồng nói tiếng Hoa. Nhân tố này là đặc biệt quan trọng khi ủy ban Rendel, vào năm 1953, quyết định mở rộng quyền bầu cử cho tất cả người dân sinh tại địa phương, làm gia tăng đáng kể số cử tri người Hoa. Lý Quang Diệu tiến đến ngả rẽ chính trị của mình khi ông tham gia tư vấn pháp lý cho các nghiệp đoàn thương mại và sinh viên. Các nghiệp đoàn này cung cấp cho ông mối quan hệ với giới công nhân nói tiếng Hoa (về sau, đảng Hành động Nhân dân của ông sử dụng mối quan hệ lịch sử này như là một công cụ đàm phán trong các tranh chấp công nghiệp).

Thành lập Đảng Hành động Nhân dân

Ngày 21 tháng 11 năm 1954, Lý Quang Diệu cùng với một nhóm bạn hữu thuộc giai cấp trung lưu có học vấn Anh, những người mà ông miêu tả là “những tay tư sản nghiện bia”, thành lập Đảng Hành động Nhân dân (PAP – 人民行动党) có khuynh hướng xã hội và liên minh với các nghiệp đoàn theo chủ nghĩa cộng sản. Một hội nghị sáng lập được tổ chức tại Victoria Memorial Hall, sảnh đường đầy cứng với 1.500 người ủng hộ và thành viên nghiệp đoàn. Lý Quang Diệu trở thành Tổng thư ký, chức vụ mà ông nắm giữ cho đến năm 1992, ngoại trừ một thời gian ngắn trong năm 1957. Tunku Abdul Rahman của Đảng UMNO và Tan Cheng Lock của MCA được mời làm quan khách nhằm tăng uy tín cho đảng vừa mới ra đời.

Đối lập

Lý Quang Diệu ra tranh cử và giành được chiếc ghế đại diện cho Tanjong Pagar trong cuộc tuyển cử năm 1955. Ông trở thành nhà lãnh đạo phe đối lập, chống lại chính phủ liên hiệp dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Lao động của David Saul Marshall. Ông cũng là một trong số hai đại diện của PAP đến tham dự những cuộc thương thảo về hiến pháp tổ chức tại Luân Đôn; cuộc thương thảo lần thứ nhất đặt dưới sự hướng dẫn của Marshall, lần thứ hai của Lim Yew Hock. Chính trong giai đoạn này Lý Quang Diệu phải đấu tranh với các đối thủ cả trong lẫn ngoài đảng PAP.

Thủ tướng, trước khi độc lập (1959–1965)

Chính phủ tự trị (1959-1963)

Trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 1 tháng 6 năm 1959, PAP giành được 43 trong tổng số 51 ghế trong hội đồng lập pháp. Singapore giành quyền tự trị trong mọi lĩnh vực của đất nước ngoại trừ quốc phòng và ngoại giao, Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng đầu tiên của quốc gia này vào ngày 3 tháng 6 năm 1959, thay thế thủ tướng Lim Yew Hock. Trước khi nhậm chức ông yêu cầu trả tự do cho Lim Chin Siong và Devan Nair, hai người này đã bị giam giữ bởi chính phủ Lim Yew Hock.

Sau khi giành được quyền tự trị từ tay người Anh, Singapore phải đối diện với nhiều vấn đề xã hội như giáo dục, nhà ở và tình trạng thất nghiệp. Lý Quang Diệu cho thành lập Ban phát triển gia cư để bắt đầu chương trình xây dựng chung cư hầu làm giảm nhẹ sự thiếu hụt nhà ở.

Sáp nhập rồi tách khỏi Malaysia (1963–1965)

Sau khi thủ tướng của Malaysia, Tunku Abdul Rahman, đưa ra đề nghị thành lập một liên bang bao gồm Mã Lai, Singapore, Sabah, SarawakBrunei vào năm 1961, Lý Quang Diệu khởi phát chiến dịch đòi sáp nhập với Malaysia với mục đích chấm dứt sự cai trị của người Anh. Sử dụng những kết quả thu được từ cuộc trưng cầu dân ý tổ chức ngày 1 tháng 9 năm 1962, theo đó có đến 70% lá phiếu ủng hộ đề nghị của mình, Lý Quang Diệu tuyên bố nhân dân đứng về phía ông. Suốt trong chiến dịch Coldstore, Lý Quang Diệu tìm cách loại bỏ những thành phần chống đối kế hoạch sáp nhập.

Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Singapore trở nên một phần của Liên bang Malaysia. Tuy nhiên, liên bang này không tồn tại được lâu. Chính quyền trung ương Malaysia, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Liên hiệp Dân tộc Mã Lai (UMNO), tỏ ra quan ngại về thành phần đa số của người Hoa ở Singapore cũng như những thách thức chính trị của PAP tại Malaysia. Lý Quang Diệu công khai chống lại chủ trương dân tộc cực đoan Mã Lai (bumiputra). Mối quan hệ giữa PAP và UMNO trở nên căng thẳng gay gắt. Một số người trong UMNO muốn bắt giữ ông.

Bạo động chủng tộc bùng nổ sau đó gần Kallang Gasworks vào dịp sinh nhật tiên tri Mohamet (ngày 21 tháng 6 năm 1964), có 25 người thiệt mạng khi người Hoa và người Mã Lai tấn công lẫn nhau. Đến nay vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân của cuộc bạo động này, có người cho rằng một người Hoa đã ném chai lọ vào đám đông người Mã Lai trong khi có người nghĩ ngược lại, cho rằng một người Mã Lai đã làm điều này. Thêm những vụ bạo động bùng nổ trong tháng 9 năm 1964, khi đám đông cướp phá xe hơi và các cửa hiệu, khiến cả Tunku Abdul Rahman và Lý Quang Diệu phải xuất hiện trước công chúng nhằm xoa dịu tình hình. Trong lúc này giá thực phẩm tăng cao do tắc nghẽn giao thông, làm cho tình hình càng xấu hơn.

Không tìm ra phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng, Tunku Abdul Rahman chọn lấy quyết định trục xuất Singapore ra khỏi Malaysia, “cắt đứt mọi quan hệ với chính quyền của một tiểu bang đã không đưa ra bất cứ biện pháp nào chứng tỏ lòng trung thành với chính quyền trung ương”. Lý Quang Diệu cố gắng xoay xở để tìm ra một thỏa hiệp nhưng không thành công. Sau đó, do sự thuyết phục của Ngô Khánh Thụy (Goh Keng Swee), ông nhận ra rằng ly khai là điều không thể tránh khỏi. Ngày 7 tháng 8 năm 1965, Lý Quang Diệu ký thoả ước ly khai, trong đó có bàn về mối quan hệ sau ly khai với Malaysia hầu có thể tiếp tục duy trì sự hợp tác trong những lãnh vực như thương mại và quốc phòng.

Đây là một đòn nặng đánh vào Lý Quang Diệu, vì ông tin rằng sự hợp nhất là yếu tố căn cốt cho sự tồn vong của Singapore. Trong cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp, oà vỡ trong xúc cảm, Lý Quang Diệu thông báo với dân chúng về quyết định ly khai:

Đối với tôi, đây là một khoảnh khắc đau thương. Suốt cuộc đời tôi, suốt cuộc đời trưởng thành của tôi, tôi luôn tin tưởng vào sự kết hợp và thống nhất của hai vùng lãnh thổ… Ngay lúc này, tôi, Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore, nhân danh nhân dân và chính quyền Singapore, tuyên bố rằng kể từ hôm nay, ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia độc lập, dân chủ với đầy đủ chủ quyền, lập nền trên những nguyên lý của quyền tự do và công bằng hầu mưu tìm phúc lợi và hạnh phúc cho nhân dân đang sinh sống trong một xã hội tối hảo, công bằng và bình đẳng.

Cũng trong ngày ấy, 9 tháng 8 năm 1965, Quốc hội Malaysia biểu quyết thông qua nghị quyết cắt đứt quan hệ với tiểu bang Singapore, như vậy nước Cộng hoà Singapore được hình thành. Tân quốc không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước và khả năng quốc phòng thì hết sức nhỏ bé. Nay Lý Quang Diệu phải đứng ra gánh vác trọng trách xây dựng đảo quốc mới vừa được khai sinh này.

Thủ tướng, sau độc lập (1965–1990)

Trong quyển hồi ký của mình, Lý Quang Diệu nói rằng ông không thể ngủ ngon và ngã bệnh sau ngày Singapore độc lập. Sau khi nghe Cao uỷ John Robb tường trình về hoàn cảnh của Lý Quang Diệu, Thủ tướng Anh Harold Wilson bày tỏ những quan ngại của mình và nhận được phúc đáp của Lý Quang Diệu:

Đừng lo cho Singapore. Đồng sự của tôi và tôi là những người tỉnh táo và chừng mực, ngay cả trong thời điểm đau buồn này. Chúng tôi sẽ cân nhắc mọi hệ lụy có thể xảy ra khi quyết định cho bất cứ động thái nào trên bàn cờ chính trị…

Lý Quang Diệu khởi sự tìm kiếm sự công nhận của quốc tế cho quốc gia Singapore độc lập. Ngày 21 tháng 9 năm 1965, Singapore gia nhập Liên Hiệp Quốc, và ngày 8 tháng 8 năm 1967, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngày 25 tháng 5 năm 1973, Lý Quang Diệu chính thức viếng thăm Indonesia, chỉ vài năm sau chính sách đối đầu (Konfrontasi) dưới chế độ của Sukarno. Quan hệ giữa Singapore và Indonesia có những bước cải thiện căn bản nhờ những cuộc viếng thăm qua lại sau đó giữa hai nước.

Vì Singapore chưa bao giờ có một nền văn hoá chủ đạo để dân nhập cư có thể hoà nhập, cũng không có một ngôn ngữ chung, trong hai thập niên 19701980, cùng với các nỗ lực từ chính phủ và đảng cầm quyền, Lý Quang Diệu cố gắng kiến tạo một bản sắc chung cho Singapore.

Lý Quang Diệu và chính quyền luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chủ trương bao dung tôn giáo và hoà hợp chủng tộc, sẵn sàng sử dụng luật pháp để chống lại bất kỳ hiểm hoạ nào có thể kích hoạt bạo động tôn giáo và chủng tộc. Điển hình, Lý Quang Diệu đã cảnh cáo “việc truyền bá phúc âm cách thiếu nhạy cảm” khi đề cập đến những trường hợp các tín hữu Cơ Đốc chia sẻ đức tin của mình cho người Mã Lai (tuyệt đại đa số theo Hồi giáo). Năm 1974, chính phủ khuyến cáo Thánh Kinh Hội Singapore nên ngưng xuất bản các ấn phẩm tôn giáo bằng tiếng Mã Lai.[5]

Chính sách

Trong cương vị lãnh đạo quốc gia suốt trong thời kỳ hậu độc lập, ông Lý có ba mối quan tâm chính: an ninh quốc gia, kinh tế và những vấn đề xã hội.

An ninh quốc gia

Tính dễ bị tổn thương của Singapore luôn được cảm nhận sâu sắc khi xảy ra các mối đe doạ từ nhiều phía khác nhau, trong đó có Indonesia (với chính sách đối đầu), cũng như thành phần cực đoan trong đảng UMNO, những người này muốn đem Singapore trở về với Malaysia. Ngay khi Singapore được gia nhập Liên Hiệp Quốc, Lý Quang Diệu vội vàng tìm kiếm sự công nhận của quốc tế dành cho nước Singapore độc lập. Theo gương Thuỵ Sĩ, ông tuyên bố chính sách trung lập và không liên kết. Cùng lúc, ông giao cho Ngô Khánh Thụy trọng trách xây dựng Lực lượng vũ trang Singapore và xin trợ giúp từ các quốc gia khác trong các lãnh vực tư vấn, huấn luyện và cung ứng quân dụng.

Năm 1967, khi người Anh tỏ ý cắt giảm hoặc triệt thoái quân đội khỏi Singapore và Malaysia, Lý Quang Diệu và Goh đưa ra chương trình quân dịch National Service nhằm phát triển một lực lượng trừ bị qui mô có thể huy động trong một thời gian ngắn. Tháng 1 năm 1968, ông mua một ít xe tăng AMX-13 do Pháp chế tạo, đến năm 1972, tổng số xe tăng tân trang được mua là 72 chiếc.

Sau này, Singapore thiết lập quan hệ quân sự với các quốc gia thành viên của ASEAN, với Hiệp ước Phòng thủ Ngũ Cường (Five-Powers Defense Agreement, FPDA) và các nước khác, giúp phục hồi nền an ninh quốc gia sau cuộc triệt thoái ngày 31 tháng 10 năm 1971 của quân đội Anh.

Kinh tế

Tách rời khỏi Malaysia có nghĩa là mất luôn thị trường chung và thị trường nội địa. Khó khăn càng chồng chất khi quân đội Anh triệt thoái làm mất thêm 50.000 chỗ làm. Mặc dù người Anh ủng hộ những cam kết trước đó duy trì các căn cứ quân sự cho đến năm 1975, Lý Quang Diệu không muốn làm căng thẳng mối quan hệ với Luân Đôn. Ông tìm cách thuyết phục Harold Wilson cho phép chuyển đổi các cơ sở quân sự (như xưởng sửa chữa và đóng tàu của hải quân) cho các mục đích dân sự, thay vì phá huỷ chúng như theo luật của nước Anh. Với sự tư vấn của Tiến sĩ Albert Winsemius, Lý Quang Diệu dẫn đưa Singapore vào con đường công nghiệp hoá. Năm 1961, Ban Phát triển Kinh tế được thành lập với nhiệm vụ thu hút đầu tư nước ngoài, đưa ra những ưu đãi thuế hấp dẫn và xây dựng một lực lượng lao động lương thấp nhưng có kỷ luật lao động và tay nghề cao. Đồng thời chính phủ duy trì biện pháp kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế, ban hành những qui định về phân phối đất đai, lao động và nguồn vốn. Tiến hành xây dựng hạ tầng cơ sở hiện đại như phi trường, hải cảng, đường sá và mạng lưới truyền thông. Ban Xúc tiến Du lịch cũng được thành lập để phát triển du lịch và tạo thêm việc làm. Trong vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore, Lý Quang Diệu nhận được sự hỗ trợ từ những bộ trưởng tài năng nhất, đặc biệt là Goh Keng Swee và Hon Sui sen. Họ cố xoay xở để hạ giảm tỷ lệ người thất nghiệp từ 14% trong năm 1965 xuống còn 4,5% vào năm 1973.

Ấn định ngôn ngữ chính thức

Lý Quang Diệu chọn Anh ngữ là ngôn ngữ công sở và ngôn ngữ chung cho các chủng tộc khác nhau, trong khi vẫn công nhận tiếng Mã Lai, tiếng Trung Hoatiếng Tamil là ngôn ngữ chính thức. Hầu hết trường học đều sử dụng tiếng Anh như là chuyển ngữ cho học tập, mặc dù tiếng mẹ đẻ vẫn được dạy trong trường học.

Lý Quang Diệu khuyến khích người dân ngưng sử dụng các phương ngữ của tiếng Hoa, và phát triển tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) như một ngôn ngữ thay thế, chiếm lấy vị trí “tiếng mẹ đẻ” với mục tiêu xây dựng một ngôn ngữ giao tiếp chung cho cộng đồng người Hoa. Năm 1979, Lý Quang Diệu chính thức phát động phong trào nói tiếng Hoa phổ thông. Ông cho hủy bỏ tất cả chương trình truyền hình bằng tiếng địa phương, ngoại trừ các chương trình tin tức và nhạc kịch (phục vụ cho người lớn tuổi). Biện pháp này đã làm suy tàn các phương ngữ của tiếng Hoa; ngày nay người ta nhận ra rằng giới trẻ Singapore gốc Hoa không còn thông thạo khi sử dụng phương ngữ tiếng Hoa, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn khi tiếp xúc với ông bà của họ là những người chỉ biết nói tiếng Hoa địa phương.

Trong thập kỷ 1970, sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Nanyang nói tiếng Hoa gặp trở ngại khi kiếm việc làm vì không thông thạo tiếng Anh, ngôn ngữ cần có tại chỗ làm, đặc biệt là trong khu vực công. Lý Quang Diệu phải sử dụng biện pháp triệt để bằng cách sáp nhập Đại học Nanyang vào Đại học Singapore để trở thành Đại học Quốc gia Singapore. Động thái này gây ảnh hưởng lớn trên các giáo sư nói tiếng Hoa vì họ buộc phải dạy bằng tiếng Anh. Những người có công xây dựng Đại học Nanyang cũng lên tiếng chống đối vì những tình cảm ràng buộc với trường này.

Qui chế chính phủ

Giống các quốc gia châu Á khác, Singapore cũng không miễn nhiễm đối với nạn tham nhũng. Lý Quang Diệu nhận thức rõ rằng tham nhũng là một trong những nguyên do dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Trung Hoa Dân quốc tại Trung Hoa. Ông ban hành những luật lệ cần thiết dành cho Văn phòng Điều tra Tham nhũng (Corrupt Practices Investigation Bureau, CPIB) nhiều quyền hạn hơn để bắt giữ, lục soát, triệu tập nhân chứng, điều tra các tài khoản ngân hàng và các khoản hoàn trả thuế lợi tức của những cá nhân bị tình nghi cùng với gia đình của họ. Với sự ủng hộ của Lý Quang Diệu, CPIB được giao thẩm quyền tiến hành các cuộc điều tra đối với bất kỳ viên chức hoặc bộ trưởng nào. Trong thực tế, sau đó đã có vài bộ trưởng bị cáo buộc tham nhũng.

Lý Quang Diệu tin rằng các bộ trưởng nên được trả lương cao để duy trì một chính quyền sạch và chân thật. Năm 1994, ông đề nghị nối kết mức lương của bộ trưởng, thẩm phán và viên chức công quyền cao cấp với mức lương của giới chuyên nghiệp hàng đầu trong khu vực tư, vì ông cho rằng như thế sẽ giúp tuyển mộ và duy trì nhiều tài năng phục vụ trong khu vực công.

Năm 1983, Lý Quang Diệu gây ra nhiều tranh cãi gay gắt về hôn nhân khi ông lên tiếng khuyến khích nam giới Singapore kết hôn với phụ nữ thuộc thành phần học thức. Ông bày tỏ mối quan ngại khi hiện có nhiều phụ nữ đã tốt nghiệp đại học vẫn chưa lập gia đình. Một số nhóm dân cư, trong đó có những phụ nữ tốt nghiệp đại học, tỏ ra giận dữ vì quan điểm này. Dù vậy, một cơ quan môi giới hôn nhân, Social Development Unit, đã được thành lập nhằm tạo điều kiện giao tiếp cho những người tốt nghiệp đại học của cả hai giới. Ông cũng đưa ra những biện pháp khuyến khích các bà mẹ học thức có ba hoặc bốn con, đảo ngược chiến dịch kế hoạch hoá gia đình “chỉ nên có hai con” trong hai thập niên 19601970.

Bang giao với Malaysia

Mahathir bin Mohamad

Mahathir bin Mohamad

Lý Quang Diệu mong muốn cải thiện quan hệ với Mahathir bin Mohamad ngay từ khi Mahathir được bổ nhiệm vào chức vụ phó thủ tướng. Nhận biết rằng Mahathir đang ở vị trí chuẩn bị cho chức thủ tướng Malaysia, năm 1978 ông mời Mahathir (thông qua tổng thống Singapore lúc ấy là Devan Nair) đến thăm Singapore. Cuộc viếng thăm lần đầu và những lần sau đó giúp cải thiện mối quan hệ cá nhân giữa hai nhà lãnh đạo cũng như mối bang giao giữa hai quốc gia. Mahathir yêu cầu Lý Quang Diệu cắt đứt quan hệ với các thủ lĩnh gốc Hoa thuộc đảng Hành động Dân chủ (tại Malaysia); đổi lại, Mahathir cam kết không can thiệp vào các vấn đề của người Singapore gốc Mã Lai.

Tháng 12 năm 1981, Mahathir quyết định thay đổi múi giờ của bán đảo Mã Lai để tạo nên một múi giờ thống nhất cho toàn thể đất nước Malaysia, Lý Quang Diệu chấp nhận sự thay đổi này vì những lý do kinh tế và xã hội. Nhờ vậy, mối quan hệ giữa hai phía càng được cải thiện trong năm 1982.

Tháng 1 năm 1984, Mahathir áp đặt thuế RM100 trên tất cả phương tiện vận chuyển từ Malaysia sang Singapore. Khi Musa Hitam cố phản đối chính sách này của Mahathir, thuế suất được tăng gấp đôi với mục đích ngăn cản việc sử dụng cảng biển của Singapore, vì vậy một sự đổ vỡ trong bang giao giữa hai nước trở nên rõ ràng.

Tháng 6 năm 1988, Lý Quang Diệu và Mahathir tiến tới một thoả thuận chung tại Kuala Lumpur về việc xây dựng đập Linggui trên sông Johor. Năm 1989, Lý Quang Diệu tìm cách thăm dò lập trường của Mahathir khi muốn dời những trạm hải quan đường sắt từ Tanjong Pagar ở miền Nam Singapore đến Woodlands ở đoạn cuối Causeway, một phần do sự gia tăng nạn buôn lậu ma tuý vào Singapore. Điều này gây bất bình tại Malaysia, vì một vùng đất sẽ thuộc về Singapore khi đường sắt ngưng hoạt động. Mahathir giao cho Daim Zainuddin, khi ấy là bộ trưởng tài chính Malaysia, giải quyết vấn đề này.

Sau nhiều tháng thương thảo, hai bên đạt được thỏa thuận cùng phát triển ba vùng đất ở Tanjong Pagar, Kranji và Woodlands. Malaysia được 60% vùng đất, trong khi phần của Singapore là 40%. Thoả ước được ký kết ngày 27 tháng 11 năm 1990, một ngày trước khi Lý Quang Diệu nghỉ hưu.

Bộ trưởng Cao cấp (1990–2004)

Sau khi lãnh đạo đảng PAP giành được chiến thắng trong 7 cuộc bầu cử, ngày 28 tháng 11 năm 1990, Lý Quang Diệu quyết định về hưu và bàn giao chức vụ thủ tướng cho Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) con của Ngô Khánh Thụy. Ông là chính khách có quãng thời gian dài nhất phục vụ trong cương vị thủ tướng.[6]

Cuộc chuyển giao quyền lãnh đạo được chuẩn bị và tiến hành hết sức chu đáo. Chu trình tuyển chọn và đào tạo thế hệ lãnh đạo thứ hai khởi sự từ đầu thập niên 1970. Trong thập niên 1980, Goh và các nhà lãnh đạo trẻ tuổi khác bắt đầu đảm nhận các vị trí quan trọng trong nội các. Trước cuộc chuyển giao, tất cả các nhà lãnh đạo thế hệ thứ nhất (“những cựu binh”) đều về hưu, kể cả Ngô Khánh Thụy (Goh Keng Swee), S. Rajaratnam và Đỗ Tiến Tài (Toh Chin Chye). Vì được chuẩn bị tốt, cuộc chuyển giao không gây ra bất cứ biến động nào, mặc dù đây là cuộc chuyển giao quyền lực lần đầu tiên kể từ khi Singapore độc lập.

Khi Ngô Tác Đống đảm nhận vị trí lãnh đạo chính phủ, Lý Quang Diệu vẫn tiếp tục ở lại nội các trong cương vị bộ trưởng cao cấp và đưa ra những tư vấn. Trước công chúng, ông vẫn thường nhắc đến Ngô như là “thủ tướng của tôi” để bày tỏ sự tôn trọng dành cho thẩm quyền của Ngô. Tuy vậy, quan điểm của ông vẫn được lắng nghe trong công luận và trong các buổi họp nội các. Ông vẫn tiếp tục hành xử ảnh hưởng đặc biệt to lớn trên đảo quốc này và ông cũng sẵn lòng sử dụng ảnh hưởng ấy khi cần thiết. Như ông đã phát biểu trong ngày Quốc khánh năm 1988:

Ngay cả khi nằm trên giường bệnh, ngay cả khi các bạn đem tôi đi mai táng, nếu tôi nhận thấy đang xảy ra một điều gì sai trái, tôi sẽ ngồi dậy ngay.

Lý Quang Diệu cố tự kìm chế không can thiệp vào các biện pháp của chính phủ đối với các nước ASEAN, trong đó có Malaysia, vì không muốn dẫm chân người kế nhiệm Ngô Tác Đống. Dù vậy, ông vẫn giữ vai trò quan trọng trong các vấn đề kinh tế như thoả thuận với phó chủ tịch Lý Lam Thanh ngày 26 tháng 2 năm 1994 về việc chuyển đổi phần mềm hành chính công về quản trị và phát triển của Khu công nghiệp Tô Châu.

Bộ trưởng Cố vấn (2004–2015)

Ngày 12 tháng 8 năm 2004, Ngô Tác Đống rút lui để bàn giao chức vụ thủ tướng cho Lý Hiển Long, con trai đầu của Lý Quang Diệu. Goh trở nên bộ trưởng cao cấp và ông Lý đảm nhiệm một chức vụ mới được thành lập, Bộ trưởng Cố vấn (Minister Mentor).

Mặc dù chống đối bài bạc trong “cảm xúc và trí tuệ”, Lý Quang Diệu không hành động chống lại đề án của Lý Hiển Long cho phép thành lập casino trên lãnh thổ Singapore. Ông nói: “Có casino hay không là điều mà những nhà lãnh đạo mới phải quyết định”.

Gần đây, Lý Quang Diệu bày tỏ những quan ngại về ảnh hưởng đang suy giảm của tiếng Hoa phổ thông trong giới trẻ Singapore. Trong một bài diễn văn đọc trước quốc hội, ông nói: “Người Singapore cần phải học để thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Hoa phổ thông”. Sau đó, vào tháng 1 năm 2005, ông cho xúc tiến một chương trình truyền hình gọi là 华语 Cool!, trong nỗ lực thu hút giới trẻ đến với tiếng Hoa phổ thông.

Ngày 12 tháng 6 năm 2005, trong một cuộc phỏng vấn thực hiện bởi Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV), ông Lý nhấn mạnh đến nhu cầu liên tục đào tạo những nhân tài lãnh đạo đất nước, ông nói:

Chúng ta cần những nhà lãnh đạo là những người có tầm nhìn xa và rộng, có đầu óc minh mẫn và phóng khoáng, có khả năng nắm bắt cơ hội như chúng ta đã làm… Nhiệm vụ của tôi là tìm ra người kế nhiệm xứng đáng. Tôi đã tìm ra họ, và họ đang ở đây; bây giờ đến lượt họ phải tìm ra người kế nhiệm cho mình. Như thế cần có sự liên tục tìm kiếm và đào tạo những nhà lãnh đạo có năng lực, chân thật, tận tụy và tài năng, là những người làm việc không phải vì mình, mà vì nhân dân và đất nước.

Bệnh nặng và qua đời

Từ đầu tháng 2 năm 2015, Lý Quang Diệu đã phải điều trị ở bệnh viện vì bị viêm phổi. Văn phòng thủ tướng của con trai cả ông nói ngày 17.03 là tình trạng đã xấu đi vì ông bị nhiễm trùng, ngày hôm sau lại càng trầm trọng trong đơn vị chăm sóc đặc biệt.[7]

Ông Lý Quang Diệu qua đời lúc 3 giờ 18 phút (giờ địa phương) ngày 23 tháng 3 năm 2015, khi đang điều trị tại Bệnh Viện Singapore General, Singapore, hưởng thọ 91 tuổi. Thông tin từ Văn phòng thủ tướng Lý Hiển Long nêu rõ, ông qua đời do tuổi cao và bị bệnh viêm phổi cấp tính.[8]

Giá trị và niềm tin

Tổng thống George W. Bush chào đón Lý Quang Diệu tại Phòng Bầu dục, 16 tháng 10, 2006.

Lý Quang Diệu là một trong số những người ủng hộ các giá trị châu Á, mặc dù cách giải thích của ông về các giá trị này thường gây tranh cãi. Trong thập kỷ 1980, ông tích cực cổ xuý các giá trị châu Á như Khổng học, hoặc ở mức độ ít hơn, các đức hạnh của Phật giáo. Điều này được thể hiện trong những lần viếng thăm của ông đến các đền chùa Trung Hoa.

Trong một cuộc phỏng vấn với báo The Straits Times, ông nói rằng ông là người theo thuyết bất khả tri (agnostic).

Di sản và hồi ức

Di sản

Qua ba thập kỷ nhiệm quyền của Lý Quang Diệu, Singapore từ một quốc gia đang phát triển nay đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới, mặc cho dân số ít ỏi, diện tích nhỏ bé và tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Lý Quang Diệu thường nói rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ. Ông nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập và tách rời khỏi Malaysia. Lý Quang Diệu vẫn thường được xem là nhà kiến trúc cho sự phú cường của Singapore ngày nay, mặc dù vai trò này có sự đóng góp đáng kể của phó thủ tướng, Tiến sĩ Goh Keng Swee, nhân vật chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore.

Phê phán

Mặt khác, một số người trong và ngoài nước,[9] cho rằng Lý Quang Diệu là người chủ trương dành đặc quyền lãnh đạo đất nước cho giới thượng lưu tinh hoa (elitism), hoặc có cả những cáo buộc ông là một nhà lãnh đạo chuyên quyền. Người ta thuật lại rằng có lần Lý Quang Diệu từng nói ông thích được sợ hơn là được thương.[10]

Lý Quang Diệu cũng bị chỉ trích vì đã áp dụng những biện pháp cứng rắn nhằm đàn áp phe đối lập và quyền tự do ngôn luận.[11], cấm biểu tình nơi công cộng mà không có giấy phép của cảnh sát, hạn chế các ấn phẩm và sử dụng các luật lệ về tội phỉ báng để đẩy những đối thủ chính trị của ông vào tình trạng phá sản. Về vấn đề này, năm 1999 Devan Nair, cựu tổng thống Singapore lúc đó sống tha hương ở Canada, trong một cuộc phỏng vấn với tờ báo The Globe and MailToronto đưa ra nhận xét rằng chiến lược của Lý Quang Diệu là khởi kiện đối thủ của ông cho đến khi họ phá sản hay thân bại danh liệt, như vậy chẳng khác gì thủ tiêu các quyền chính trị. Nair cho rằng Lý Quang Diệu “ngày càng trở nên loại người tự cho mình biết đủ và biết đúng mọi sự”, cũng như bị vây quanh bởi “những kẻ bù nhìn”. Phản ứng với những nhận xét này, Lý Quang Diệu lại đâm đơn khởi kiện Nair tại một tòa án tại Canada và Nair đã kiện ngược lại.[12][13]

Trong một trường hợp, sau khi toà kháng án bác bỏ một phán quyết của toà dưới có lợi cho Lý Quang Diệu, chính phủ bèn hủy bỏ quyền kháng án. Suốt trong thời gian đảm nhiệm chức thủ tướng từ 1965 đến 1990, Lý Quang Diệu đã bỏ tù Tạ Thái Bảo (Chia Thye Poh), một cựu dân biểu quốc hội thuộc đảng đối lập Barisan Socialis, trong 22 năm mà không xét xử, chiếu theo Luật An ninh Nội chính, ông này chỉ được trả tự do vào năm 1989. Cũng vậy, để có thể dành quyền hạn tuyệt đối cho các thẩm phán, Lý Quang Diệu đã huỷ bỏ luật “Xét xử có bồi thẩm đoàn” tại toà án.

Vụ kiện phỉ báng

Vào năm 2010 ông Diệu, cùng với con trai là Lý Hiển Long, và ông Goh Chok Tong, dọa sẽ đưa hãng The New York Times Company, mà làm chủ tờ báo International Herald Tribune ra tòa, vì một bài báo có tựa là ‘All in the Family (tất cả trong gia đình)’ được viết vào ngày 15 tháng 2 2010 bởi Philip Bowring, một nhà báo tự do và trước đó là chủ bút tờ Far Eastern Economic Review. Báo International Herald Tribune xin lỗi vào tháng 3 là độc giả của bài báo này có thể ‘ phỏng đoán là Lý con không xứng đáng để đạt được chức vụ thủ tướng’. The New York Times Company và Bowring cũng đồng ý trả SG$60,000 cho Lý Hiển Long, SG$50,000 cho Diệu và SG$50,000 cho Goh (tổng cổng khoảng US$114,000 vào lúc đó), cộng thêm với tiền luật sư. Câu chuyện bắt nguồn từ một dàn xếp vào năm 1994 giữa 3 lãnh tụ đề cập tới nền chính trị kiểu cha truyền con nối tại các nước Đông Á, bao gồm cả Singapore. Trong cuộc thỏa thuận, Bowring đồng ý là không có ý nói Lý Hiển Long đạt được chức vụ là do chủ trương gia đình trị của cha ông là Lý Quang Diệu. Phản ứng lại việc này, tổ chức bảo vệ thông tin báo chí Reporters Without Borders viết một lá thư công khai bảo Diệu và các viên chức cao cấp của chính phủ Singapore hãy ngưng ngay đơn tố tụng phỉ báng này đối với các ký giả.[14][15][16]

Hồi ký

Lý Quang Diệu đã viết hai cuốn hồi ký dài hai tập: Câu chuyện Singapore, trình bày quan điểm của ông về lịch sử Singapore cho đến khi tách rời khỏi Malaysia năm 1965, và Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore, thuật lại sự chuyển đổi của Singapore để trở thành; quốc gia thuộc thế giới thứ nhất.

Cảm nhận

  • Tổng thống Hoa Kỳ, Obama: ” Ông ta là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử, mà sẽ được tưởng nhớ trong nhiều thế hệ như là người cha của một nước Singapore tân tiến và là một chiến lược gia tài giỏi về quan hệ Á Châu” [17]

Chú thích

  1. ^ “Days of reflection for the man who defined Singapore: A transcript of Minister Mentor Lee Kuan Yew’s interview with The New York Times”. Today (Singapore). Ngày 13 tháng 9 năm 2010. tr. 14–17. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2010.
  2. ^ Ooi, Jeff (2005). “Perils of the sitting duck”. Truy cập 6 tháng 11, 2005.
  3. ^ Pillai, M.G.G. (1 tháng 11, 2005). “Did Lee Kuan Yew want Singapore ejected from Malaysia?”. Malaysia Today.
  4. ^ Lee, Time Magazine Asia 1999.
  5. ^ public domain information from the US State Department Country Guide.
  6. ^ Erlanger, Steven. New Leader takes Singapore’s helm, The New York Times, 29 tháng 11, 1990.
  7. ^ [ http://www.washingtonpost.com/world/singapore-tries-to-imagine-a-future-without-lee-kuan-yew/2015/03/18/b12acc7c-cbe7-11e4-8730-4f473416e759_story.html Singapore tries to imagine a future without Lee Kuan Yew], washingtonpost, 18.03.2015
  8. ^ “Singapore’s Lee Kuan Yew dies at 91”.
  9. ^ findarticles.com
  10. ^ Gordon, Uri Machiavelli’s Tiger: Lee Kuan Yew and Singapore’s Authoritarian Regime
  11. ^ “Lee Kuan Yew: Singapore’s founding father divided opinion”. CNN. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015.
  12. ^ “Lee v. Globe and Mail (Nair v. Lee)”. Sack Goldblatt Mitchell. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2007.
  13. ^ Lee v. Globe and Mail (2001), 6 C.P.C. (5th) 354 (Ont.S.C.J.).
  14. ^ Perez-Pena,Richard (ngày 25 tháng 3 năm 2010). “Times Co. Settles Claim in Singapore”. The New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2010.
  15. ^ “New York Times to pay damages to Singapore leaders”. AFP. Ngày 25 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2010.
  16. ^ “Stop suing journalists: RSF tells Singapore leaders”. Bangkok Post. Ngày 26 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2010.
  17. ^ Lee Kuan Yew, Singapore’s founding father, dies, CNN, 23.03.2015

Xem thêm

Liên kết ngoài

Advertisements

5 thoughts on “Lý Quang Diệu con người lỗi lạc

  1. LÝ QUANG ĐIỆU CÓ ĐỘC TÀI GIA ĐÌNH TRỊ?

    Huỳnh Ngọc Chênh

    Tu Zo 25-03-2015 https://anhbasam.wordpress.com/2015/03/25/3640-ly-quang-dieu-co-doc-tai-gia-dinh-tri/

    Rất nhiều bài viết và ý kiến của các tác giả Việt Nam cho rằng Singapore theo thể chế chính trị độc đảng và Lý Quang Diệu là một nhà chính trị độc tài. Rồi cũng lác đác có ý kiến cho rằng ông có chủ trương gia đình trị khi liên tục nắm quyền thủ tướng từ năm 1959 đến năm 1990 rồi truyền chức lại cho con trai Lý Hiển Long.

    Các ý kiến đó đều thống nhất với nhau rằng, tuy là nhà độc tài nhưng Lý Quang Diệu là nhà độc tài tốt vì có công đưa Singapore lên thành quốc gia tiên tiến, có thu nhập trên đầu dân cao nhất thế giới.

    Và rất nguy hiểm khi có một số kẻ suy diễn ra rằng, không cần thể chế dân chủ đa đảng, độc tài mà có người lãnh đạo tài đức như ông Lý Quang Diệu thì rất tốt.

    Nhưng cần phải xem kỹ lại Singgapore có độc đảng hay không và ông Lý có độc tài gia đình trị hay không?

    Singapore là một nước cộng hòa nghị viện, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử. Hiến pháp của quốc gia thiết lập hệ thống chính trị dân chủ đại diện. Chỉ số dân chủ ở mức trung bình, xếp hạng 82/167 quốc gia (đứng đầu là Thụy Điển, chót bảng là Triều Tiên, VN xếp thứ 145). Qua đó thấy rằng, Singapore có thể chế dân chủ chưa toàn diện chứ không phải là quốc gia chuyên chế.

    Ông Lý lên đứng đầu đất nước thông qua bầu cử đa đảng mà đảng PAP của ông chiếm đa số phiếu chứ không phải do bạo lực đứng lên cướp chính quyền. Trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 1 tháng 6 năm 1959, PAP giành được 43 trong tổng số 51 ghế trong hội đồng lập pháp, Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng thay thế thủ tướng Lim Yew Hock. Tiếp theo sau đó, nhờ uy tín cá nhân và nhờ tài năng lãnh đạo của mình, ông Lý đã giúp đảng PAP liên tục giành đa số phiếu tuyệt đối qua hầu hết các cuộc bầu cử tự do đa đảng.

    Ngay tác giả Nguyễn Hưng Quốc qua bài viết “Lý Quang Diệu, nhà độc tài được yêu mến và ngưỡng mộ nhất thế giới” cũng đã thừa nhận rằng : “Thành công thứ hai của Lý Quang Diệu là ông đã làm cho đảng Hành động Nhân dân (People’s Action Party – PAP) do ông sáng lập với một số bạn bè từ năm 1954 trở thành một đảng cầm quyền có uy tín và sức mạnh hầu như vô địch tại Singapore trong suốt 60 năm qua. Trong cuộc bầu cử năm 1963, đảng của ông chiếm 37 trên tổng số 51 chiếc ghế Quốc hội; trong các cuộc bầu cử sau đó, từ năm 1968 đến 1980, đảng của ông chiếm toàn bộ số ghế. Chỉ từ năm 1984 trở đi, trong Quốc hội mới thấp thoáng có vài ba chiếc ghế thuộc phe đối lập. Cho đến nay, đảng Hành động Nhân dân vẫn giữ ưu thế tuyệt đối trong Quốc hội”.

    Như vậy thì làm sao bảo ông Lý là một nhà độc tài. Đảng PAP thắng cử thì đương nhiên thủ lĩnh đảng làm thủ tướng. Sau năm 1990, ông nghỉ hưu, chức vụ đứng đầu đảng PAP bàn giao qua cho Ngô Tác Đống (Goh Chok Tong) và ông nầy trở thành thủ tướng tiếp theo khi PAP giành thắng lợi qua bầu cử. Rồi nhiệm kỳ tiếp theo Lý Hiển Long lại được làm thủ tướng nhờ thắng lợi của PAP. Nói rằng ông Lý Hiển Long được truyền ngôi nhờ thể chế độc tài gia đình trị thì cũng y chang khi nói rằng Bush con của Mỹ lên làm tổng thống là do Bush cha truyền ngôi lại !

    Còn tại sao đảng PAP liên tục giành thắng lợi qua các cuộc bầu cử tự do thì nhìn những gì đảng nầy làm được cho Singgapore dưới quyền lãnh đạo của ông Lý chúng ta thấy ngay ra câu trả lời. Cử tri Sing không dại gì phiêu lưu chọn lựa đảng khác khi mà đảng PAP đã quá sức tốt trong sự nghiệp đưa đất nước tiến lên đỉnh cao như ngày hôm nay. Cũng như cử tri Mỹ không dại gì phiêu lưu chọn lựa đảng thứ ba ngoài hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, một khi hai đảng đó, qua gần 250 năm, thay phiên nhau đưa nước Mỹ lên vị trí độc tôn ở hầu hết các phương diện như ngày hôm nay.

    Thể chế độc tài thì không thể nào sản sinh ra nhà lãnh đạo tài đức và nhà độc tài thì không thể nào là một người tốt. Hitle nhất thời làm cho nước Đức vươn lên siêu cường, nhưng cũng chính cái đầu óc bệnh hoạn do độc tài của Hitle đã nhanh chóng vùi dập nước Đức xuống bùn nhơ ngay sau đó. Gia đình họ Kim có thể đưa Triều Tiên lên thành một cường quốc hạt nhân, nhưng nhân dân Triều Tiên và đất nước đó đang như thế nào thì không ai không thấy kinh khủng đến rùng mình. Phác Chung Hi đặt nền móng cơ sở cho Hàn Quốc cất cánh nhưng nếu chế độ độc tài của ông ấy không được thay thế bằng một thể chế dân chủ thì Hàn Quốc cũng khó mà cất cánh thành một quốc gia văn minh giàu mạnh như hiện nay.

    Đừng bao giờ mơ thể chế độc tài mà có người tốt lãnh đạo thì vẫn tốt. Đừng bao giờ mơ thể chế độc tài thì sản sinh ra con người tốt. Đó là chân lý. Fidel Castro là một trí thức, là một nhà yêu nước, nhưng chế độ độc tài đã làm hỏng ông ngay sau đó và làm hỏng hết những tầng lớp kế thừa tiếp theo. Người dân Việt Nam đã qua 70 năm trải nghiệm và trả giá. Nhìn vào tài đức của những nhà lãnh đạo của đất nước ngày hôm nay, những kẻ được sản sinh ra trọn vẹn từ thể chế, để hiểu rằng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

  2. Ông Lý Quang Diệu và bài học cho giáo dục Việt Nam

    Việt Anh (theo Tào Nga tổng hợp- Khám phá)

    thanhnientudo / http://thanhnientudo.com/2015/03/24/ong-ly-quang-dieu-va-bai-hoc-cho-giao-duc-viet-nam-2/

    Những lời chia sẻ của cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu với nền giáo dục Việt Nam trong chuyến đi tới Việt Nam năm 2007 cho đến nay vẫn đáng suy ngẫm.

    Trong chuyến thăm Việt Nam năm 2007, cựu Thủ tướng Siangpore Lý Quang Diệu khẳng định rằng: “Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục, sẽ thắng trong phát triển kinh tế”.

    Ông Lý Quang Diệu cho rằng, chìa khóa để tránh tụt hậu đó chính là tiếng Anh. Ông chia sẻ, các trường học ở Singapore đều dùng tiếng Anh là ngôn ngữ bắt buộc. “Việc lựa chọn tiếng Anh đóng vai trò như ngôn ngữ làm việc, giúp ngăn chặn nảy sinh xung đột sắc tộc, đem lại ưu thế cạnh tranh”.

    “Ngày nay, Singapore có lợi thế lớn là nhờ vậy. Đây là phần thưởng ngoài dự đoán của Singapore khi thực hiện quy định này”.

    Nói về giáo dục Việt Nam, ông Lý Quang Diệu cho rằng: “Đại học Việt Nam nên có sách giáo khoa tiếng Anh ở các ngành quan trọng như kỹ thuật, công nghệ… bởi nếu chỉ dùng sách Việt Nam thì chắc chắn sẽ tụt hậu”. Thực tế hiện nay tất cả các kỹ sư làm việc quốc tế đều có khả năng nói tiếng Anh rất tốt và nếu tất cả sinh viên Việt Nam sau này “không thể nghe và nói tiếng Anh trôi chảy, chỉ có thể đọc thôi cũng đã là tụt hậu”.

    Bên cạnh việc sử dụng tiếng Anh tốt, giáo dục Việt Nam cần phải biết giữ chân người tài. Cuối những năm 1970, ở Singapore, khoảng 5% người có trình độ ra đi. Khó khăn về nguồn nhân tài trở nên trầm trọng khi các quốc gia phương Tây thay đổi chính sách nhập cư, chấp nhận người di dân châu Á.

    “Nếu không lấp vào chỗ trống bằng những tài năng nước ngoài, chúng tôi không làm cho đất nước vươn lên hàng đầu được. Họ chính là những megabytes bổ sung cho chiếc computer Singapore”.

    Một bài học về giáo dục khác được ông Lý Quang Diệu đưa ra cho Việt Nam là “chỉ được phép thừa, không được phép thiếu”. Quan điểm của ông là “Nếu tính toán đào tạo đủ, chúng ta sẽ không thể cung cấp đủ nhu cầu của thị trường”.

    Cựu Thủ tướng Singapore còn khẳng định: “Nếu được hỏi để cố vấn, tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam hãy gửi sinh viên miền Bắc, từ Hà Nội, Hải Phòng… vào miền Nam để họ học cách kiếm tiền, cách kinh doanh. Đây là cách tốt để bắt đầu một tham vọng. Và ngược lại, tìm những tinh hoa ở TPHCM “cấy” vào những trường ĐH ở miền Bắc, ở Hà Nội”.

    Theo ông Lý, dù làm bất kỳ công việc gì dù là bác sĩ, kỹ sư… thì sinh viên cũng cần được đào tạo đầy đủ, cung cấp các kỹ năng cần thiết để làm việc.

    Với ông Lý Quang Diệu, sinh viên Việt Nam luôn “chăm chỉ, chịu khó”, “luôn là những sinh viên hàng đầu” tại các trường đại học của Singapore.

    Theo Tào Nga (Tổng hợp) (Khám Phá)

  3. ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU

    Nguyễn Trọng Tạo https://wordpress.com/read/post/id/8481114/15412/

    NTT: Hôm qua ngủ dậy ở khách sạn Whiz, Jakarta, mở mạng, biết ông Lý Quang Diệu – một người châu Á vĩ đại, đã qua đời ở tuổi 91. Tôi không khóc như người dân nước ông, nhưng thèm nước mình có được 1 người như ông trong thời kỳ này. Bởi vì, Lý Quang Diệu, người sáng lập đất nước Singapore hiện đại, trong thời gian ông nắm quyền, Singapore đã từ một nước đang phát triển trở thành một trong những nước công nghiệp tân tiến nhất tại Á châu. Theo đánh giá của nhiều người, ông là người có 3 đức tính đáng nể: trọng hiền tài, thực tế và trung thực. Nhờ vậy đất nước ông vắng bóng tham nhũng…

    Hôm trước ngồi nói chuyện với Nguyễn Minh Nhựt, giám đốc Nhà xuất bản Trẻ, tôi mới biết Nhựt đã cho in cuốn sách về con người vĩ đại này. Dưới đây là bài giới thiệu cuốn sách đó – ĐỐI THOẠI VỚI LÝ QUANG DIỆU…

    Đây là cuốn sách đầu tiên trong bộ “Những người khổng lồ châu Á” của nhà báo Mỹ Tom Plate.

    Từ hai ngày trò chuyện riêng và rất sâu với Lý Quang Diệu tại Singapore vào tháng 7/2009, Tom Plate đã giới thiệu chân dung một trong những nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới theo cách khiến chúng ta nhớ đến cuộc phỏng vấn huyền thoại của nhà báo Anh David Frost với Richard Nixon.

    Tuy không gay gắt như Frost, nhưng cuộc phỏng vấn này cũng có mục đích tương tự, đó là thiên tài chính trị thì nhất định phải là một nhân vật gây nhiều tranh cãi và có nhiều điều bí hiểm. Chính điều đó mới thú vị và độc đáo. Vậy thì Lý Quang Diệu, một trí thức nổi tiếng trong chính trị, người thể hiện xuất sắc nhất những giá trị Á Đông và là người sáng lập ra một đất nước thực ra là ai?

    Tom Plate đã xây dựng nên một hình ảnh hết sức rõ ràng, sống động về nhân vật nổi tiếng này. Độc giả sẽ không khỏi kinh ngạc trước khối lượng thông tin khổng lồ được khai thác trong một thời gian cực kỳ ngắn – quyển sách mang tầm vóc của một quyển tiểu sử. Hiệu ứng này phần nào được tạo thành bởi sự am hiểu về nhân vật và các thông tin có liên quan của tác giả.

    Đối thoại với Lý Quang Diệu

    Ông còn làm rõ được ý thức và quan điểm của Lý Quang Diệu đối với nhiều vấn đề đối ngoại, đối nội cũng như cuộc sống riêng của ông. Phần 1 tập trung vào quan hệ quốc tế: sự gắn bó với Trung Quốc mà ngoài lý do chủng tộc còn như “loài chim sống trên lưng con hà mã, bắt các loại ký sinh gây khó chịu, đổi lại là được bảo vệ chống lại các mốAi đe dọa”, quan hệ với Ấn Độ như “kế hoạch B” để dự phòng và cũng để kiềm chế bớt sức ảnh hưởng của Trung Quốc, quan hệ với Malaysia, Indonesia, Mỹ… Phần 2 chú ý hơn đến thuật cai trị của “nền toàn trị mềm”, là sự bảo vệ của Lý Quang Diệu trước các chỉ trích của phương Tây đối với chế độ độc đảng của Singapore, đối với chính sách của cá nhân “tiểu Hitler”, việc trừng trị nghiêm khắc các tội phạm hình sự, việc con trai Lý Hiển Long “nối ngôi” làm thủ tướng Singapore…

    Rất nhiều bất ngờ, đôi khi gây sửng sốt, thi thoảng lại hài hước – nhưng không bao giờ ngớ ngẩn – cuốn sách chi tiết này đem lại cho chúng ta cái nhìn sâu sắc, đầy thú vị về Lý Quang Diệu, đạo diễn của bộ phim bom tấn có tên Singapore.

    Và độc giả sẽ còn bất ngờ hơn khi nghe Tom Plate kể lại:

    “Lúc chúng tôi không còn nói chuyện trước bốn chiếc máy ghi âm nữa, tôi nhớ là Lý Quang Diệu có thì thầm với tôi đại khái: Tom này, trong sách phải có sự phê phán, có chi tiết tiêu cực. Tôi biết, anh đừng lo cho tôi. Anh cứ viết về tôi đúng như những gì anh thấy. Đừng lo ngại về hậu quả. Anh hãy nói sự thật, anh thấy thế nào thì viết thế ấy. Đó là tất cả những gì tôi cần.”

    “Đối thoại với Lý Quang Diệu” sử dụng bút pháp đơn giản nhưng hiệu quả, sâu sắc nhưng không kém phần dí dỏm, hấp dẫn. Những cuộc trao đổi thể hiện sự thông minh, thậm chí tinh quái của hai người đối thoại, tạo nên sức hút cho quyển sách.

    Nguyễn Phương

  4. LÝ QUANG DIỆU: TRUNG QUỐC HAY HOA KỲ?

    Nguồn: Nguyễn Lân Dũng blog http://blogtiengviet.net/nguyenlandung/2015/04/05/trung_qu_c_hay_hoa_k

    Mỹ nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số một

    Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể
    . Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.
    Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin , Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.
    Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này
    Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác. Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam . (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”) Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể. Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.
    Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.
    Ví dụ như Việt Nam , là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.
    Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam . Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.
    Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.
    Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.
    Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore . Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.
    Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.
    Cuộc cạnh tranh cuối cùng
    Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.
    Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.
    Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.
    Tại sao tôi lại tin vào thành công dài hạn của Hoa Kỳ
    Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.
    Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.
    Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore . Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.
    Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.
    Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.
    Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York . Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge ). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.
    Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.
    Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York , bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.
    Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.
    Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.
    Lý Quang Diệu
    Dịch: Nguyễn Việt Vân Anh
    Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

    Nguồn: Nguyễn Lân Dũng blog http://blogtiengviet.net/nguyenlandung/2015/04/05/trung_qu_c_hay_hoa_k

  5. ĐỘC TÀI NGOẠI LỆ

    Phạm Thị Hoài

    Tháng trước, nhà độc tài của thành phố một triệu dân Đà Nẵng qua đời. Tháng này, đến lượt nhà độc tài của thành phố năm triệu dân Singapore. Cả hai để lại nhiều thương tiếc. Độc tài, nhưng mà tốt. Độc tài ngoại lệ. Thương hiệu “độc tài sáng suốt” ngày càng có giá. Không chỉ ở các nước Đông Á. Ở châu Âu tự do, nhu cầu thanh lý nền dân chủ loạn chức năng để mua gấp một nhà độc tài hiệu quả cũng đang nhen nhóm.

    Họ được gọi là những nhà độc tài anh minh, dám nghĩ dám làm, giàu năng lực, đầy viễn kiến. Thậm chí là những nhà độc tài vì dân. Đã thế họ còn là những cá nhân hấp dẫn. Sức mê hoặc của ông Lý Quang Diệu hạ gục không chỉ người Singapore, mà cả giới tinh hoa kinh tế, chính trị và truyền thông toàn thế giới. Lãnh tụ các nước cũng độc tài tự hào được gọi ông là thầy đã đành, song lãnh tụ các nước dân chủ cũng hãnh diện được gọi ông là bạn, người nào có chút băn khoăn cho lập trường dân chủ thiếu vững vàng của mình thì gọi ông là một nhà “độc tài khai sáng”. Thế là tất cả đều ổn. Tất cả đều mê man trong cái charisma vô đối của ông, “người khổng lồ của lịch sử”, “thiên tài chính trị”, “nhà chiến lược kiệt xuất”, vừa là “chúa tể các giá trị châu Á” vừa là “đại diện đặc sắc nhất của Anh quốc ở phương Đông”…

    Ông Nguyễn Bá Thanh không được chơi ở cúp ngoại hạng quốc tế đó, kiểu tóc vuốt từ mai trái qua mai phải rồi lại dồn tất cả ra sau gáy của ông đã nói rõ. Ngay ở trong nước, ông cũng không có cơ hội được thăng làm vĩ nhân. Trong thế giới cộng sản, “vĩ nhân” là danh hiệu chỉ cấp một lần, cho một nhân vật nhất định, và ở Việt Nam đó là Hồ Chủ tịch, không có cạnh tranh. Ông Thanh là một sự pha trộn lạ lùng của gian hùng và bộc trực, của một tay lâm biền hảo hớn và một chính ủy. Nghe ông diễn thuyết ta có thể cười ngất vì kiến thức của một chủ nhiệm hợp tác xã xốc vác được một ông vua tỉnh lẻ phát ngôn mạnh bạo. Nhưng dù không có hào quang của những Cha già dân tộc như Lý Quang Diệu và Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng lại có vẻ một Bố già kiểu Tony Soprano, nhưng so với các gương mặt còn lại ở cùng đẳng cấp, ông vẫn là một nhân vật gây cảm xúc. Thật khó cho những người ghét và chống độc tài, trong đó có tôi, khi cái Ác chẳng những làm được khá nhiều việc tốt mà trông lại ấn tượng, còn cái Thiện phần lớn có vẻ vô vị. Đã từ lâu chúng ta đối diện với hiện tượng The Banality of Good.

    Nhiều điều ông Lý chủ trương cho Singapore, nhìn bề ngoài không khác mấy thực tiễn chính trị ở Việt Nam, dù ông là một người chống cộng không khoan nhượng. Trong cuộc trả lời phỏng vấn nổi tiếng với Fareed Zakaria cho tạp chí Foreign Affairs năm 1994 ông cho biết, phần lớn các giá trị của nền dân chủ Mỹ hiện nay thì ông không thích thú lắm, nhưng ông luôn ngưỡng mộ nước Mỹ ở tinh thần quyết liệt chống hệ thống cộng sản; những trò gắn liền với các chính quyền cộng sản như khủng bố và giấu diếm trong bóng tối thì ông không bao giờ sờ vào. Song những người bất đồng chính kiến và đặc biệt các phần tử bị coi là cộng sản hoặc lãnh tụ công đoàn ở Singapore những thập niên trước cũng tàn đời trong ngục hàng chục năm trời không có án, như Chia Thye Poh: 23 năm, Lim Hock Siew: 19 năm 6 tháng, Said Zahari: 17 năm trong nhà tù Chương Nghi. Còn ngày nay, đối lập chính trị ở Singapore không bị cảnh sát xách nhiễu vô lối, không bị côn đồ hành hung giấu tay, không bị mật vụ trâng tráo theo dõi, chỉ bị đẩy vào chân tường của sạt nghiệp qua những vụ kiện dân sự hoàn toàn danh chính ngôn thuận mà ông Lý và Đảng Nhân dân Hành động (PAP) của ông trăm vụ trăm thắng. PAP không đơn thuần là một tổ chức chính trị của một bộ phận dân chúng, mà là một thiết chế quốc gia, đại diện cho dân tộc. Phê phán PAP đồng nghĩa với phê phán Singapore và chống chế độ, không khác gì cái đại tự sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Singapore cũng nằm gọn trong tay một gia đình, một tập đoàn, không khác cha truyền con nối ở Bắc Triều Tiên, anh truyền em nối ở Cuba và những vương triều quý tộc đỏ ở Trung Quốc và Việt Nam.

    Ông Lý cũng không cần tham khảo ý kiến của nhân dân. Phát ngôn của ông, “nếu được tuyệt đối toàn quyền ở Singapore mà không phải hỏi dân chúng rằng họ có hài lòng không thì không có gì phải hoài nghi, tôi tin chắc rằng mình sẽ điều hành hiệu quả cho chính quyền lợi của họ hơn nhiều”, đã trở thành một trong những lời bất hủ, thường xuyên được chính những người tin hoặc tưởng mình tin vào thể chế dân chủ vừa khoái trá trích dẫn vừa lè lưỡi lắc đầu. Nhà cầm quyền ở Việt Nam cũng tin chắc ở sự sáng suốt của mình như thế.

    Cũng như Việt Nam, chính quyền Singapore phản đối mọi sự thật khác ngoài sự thật chính thống. Năm 2006, ông Tạ Quốc Trung (Andy Xie), trưởng khu vực châu Á của Morgan Stanley, một chuyên gia xuất sắc từng được Bloomberg xếp vào danh sách 50 nhân vật giàu ảnh hưởng nhất trong giới tài chính quốc tế, cảnh báo trong một email nội bộ (http://www.asiasentinel.com/econ-business/a-banking-stars-inconvenient-singaporean-truth/) rằng phương Tây đã đánh giá quá cao Singapore, thực ra thành công của nước này chủ yếu nhờ vai trò làm trung tâm rửa tiền cho các doanh nghiệp và quan chức tham nhũng của Indonesia, các casino đang xây ở đây cũng nhằm hút tiền bẩn từ Trung Quốc. Bức thư bị rò rỉ. Ông Tạ lập tức bị Morgan Stanley đuổi việc, theo yêu cầu của chính quyền Singapore.

    Cũng như Việt Nam, công đoàn ở Singapore nằm dưới sự lãnh đạo của chính quyền, mà chính quyền là Đảng PAP và Đảng PAP là chính quyền như ông Lý công khai tuyên bố (“I make no apologies that the PAP is the government and the government is the PAP”), liên tục từ 56 năm nay, điều quá đương nhiên, ông không thấy có gì để xin lỗi. Cuộc đình công duy nhất, rất nhỏ, và tất nhiên bất hợp pháp, trong vòng 30 năm gần đây ở Singapore diễn ra năm 2012. Những kẻ cầm đầu đều bị nghiêm trị.

    Cũng như Việt Nam, Singapore luôn nằm ở cuối bảng xếp hạng tự do báo chí. Trong đánh giá mới nhất, ra ngày 12/2/2015, của tổ chức Phóng viên Không Biên giới, Singapore đứng ở vị trí 153/180, sau cả Nga, Thổ, thua xa Miến Điện, Campuchia, chỉ nhỉnh hơn hai nước duy nhất trong khu vực là Lào và Việt Nam, và xu hướng là ngày càng tụt hạng. Danh sách những nhà báo và blogger bị chính quyền Singapore gây áp lực hay truy tố, các thông tin và tác phẩm nghệ thuật bị ngăn cấm hay kiểm duyệt cũng chỉ ngắn hơn danh sách ở Việt Nam chút ít và vừa được bổ sung bằng Amos Yee, cậu bé 16 tuổi bị bắt và truy tố vì đoạn video 8 phút đăng trên YouTube nhan đề “Lee Kuan Yew is Finally Dead”, cuối cùng thì Lý Quang Diệu đã chết. Nhà nước bảo mẫu do ông Lý dựng nên thấy mình có bổn phận đánh đòn đứa con hư này.

    Tất cả những tương đồng ấy có vẻ gây cảm hứng mạnh mẽ cho các nhà lãnh đạo Việt Nam và không riêng gì họ: một bộ phận đáng kể trong giới tinh hoa Việt Nam không buồn giấu khao khát được một bàn tay sắt và những biện pháp thực sự cứng rắn cai trị. Tất nhiên kẻ bị trị là lũ dân đen vô học, lười biếng, loạn tặc, mọi rợ, đần độn, vừa ngu vừa bướng. Lũ vịt. Lũ lừa. Người ta tiếc thương ông Nguyễn Bá Thanh, người đã biến Đà Nẵng thành Singapore của Việt Nam.

    Song chuyên chính tư bản Singapore và chuyên chính hậu cộng sản Việt Nam chỉ chung nhau ở bề ngoài độc tài, sự khác nhau bên trong lớn chính xác bằng khoảng cách dường như vô tận giữa Brave New World, tân thế giới mỹ lệ Singapore đã hoàn thành và chân dung còn muôn phần nhếch nhác của một Việt Nam đang chuyển đổi. Ít nhất ba điểm sau đây khiến cuộc chạy theo mô hình Singapore ở Việt Nam không thể đến đích mà chỉ để lại rất nhiều tai nạn dọc đường:

    Thứ nhất, dù thiếu dân chủ, nhưng nền độc tài mềm của Singapore vẫn có những tự do tối thiểu vượt xa khả năng chịu đựng của nhà cầm quyền Việt Nam: đa đảng, cạnh tranh chính trị và tự do bầu cử.

    Thứ hai, nền pháp trị, rule of law, thành tựu then chốt của thể chế dân chủ, ở Singapore tuy có phần bị lạm dụng để bảo vệ địa vị chính trị của đảng cầm quyền, song trước hết nó được sử dụng thành công để duy trì một bộ máy công quyền trong sạch và hiệu quả, điều hoàn toàn xa lạ với nền tư pháp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

    Thứ ba, chế độ meritocracy, nền tinh anh trị của Singapore, đặt cược tất cả vào một nhóm nhỏ các chuyên gia đỉnh cao và các nhà kỹ trị hảo hạng, những Alpha Plus mà năng lực thuộc hàng đầu thế giới. Ông Lý Quang Diệu từng phát biểu, nếu 300 nhà quản trị trụ cột của Singapore cùng rơi trong một chiếc Jumbo Jet thì quốc đảo này sụp đổ. Việt Nam không sợ một kịch bản như thế. Kho dự trữ cho sự tầm thường ở đây còn rất đầy.

    P.T.H.

    Nguồn: http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Le-Cheo/c-tai-ngoi-l.html

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s