Chào ngày mới 03 tháng 12

Kremlinpic4.jpg

CNM365. Chào ngày mới 03 tháng 12. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc tế người tàn tật. Năm 1533Ivan IV (hình) bắt đầu trị vì với tước hiệu Đại công tước Moskva. Năm 1818Illinois trở thành bang thứ 21 của Hoa Kỳ từ phần phía nam của Lãnh thổ Illinois. Năm 1959Quốc kỳ, quốc huyquốc ca hiện nay của Singapore được bắt đầu sử dụng, sáu tháng sau khi lãnh thổ này giành được quyền tự trị trong Đế quốc Anh. Năm 1984 – Một lượng hợp chất hữu cơ Methyl isocyanate bị rò rỉ từ một nhà máy thuốc trừ sâu tại Bhopal, Ấn Độ, gây nên thảm họa công nghiệp nghiêm trọng nhất thế giới.

Ivan IV của Nga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ivan IV Bạo chúa
Иван IV Васильевич
Czar
Kremlinpic4.jpg

Sa hoàng của toàn Nga
Tại vị 3 tháng 12 năm 153318 tháng 3 năm 1584 (-51 năm, 260 ngày)
Đăng quang 16 tháng 1 năm 1547
Tiền nhiệm Vasili III Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Fyodor I Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Thê thiếp Anastasia of Russia
m. 1547, died. 1560
Maria Temrjukovna
m. 1561, died. 1569
Marfa Sobakin
m. 1571, died. 1571
Anna Koltovski
m. 1572, ann. 1574
Anna Vasilchikov
m. 1575, died. 1576-77
Vasilisa Melentev
m. 1579, ann. 1579
Maria Dolgoruki
m. 1580, killed 1580
Maria Nagaya
m. 1581
Hậu duệ
Hoàng tộc Nhà Rurik
Thân phụ Vasili III Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Elena Glinskaya
Sinh 25 tháng 8, 1530
Kolomenskoye, gần Moskva
Mất 18 March [ 18 March] năm 1584 (aged 53)
Moskva

Ivan IV Vasilyevich (tiếng Nga: Иван IV Васильевич; 25 tháng 8, 1530 – 18 tháng 3, 1584) là Đại công tước Moskva từ năm 1533 tới năm 1547. Ông là nhà cầm quyền đầu tiên của nước Nga chính thức xưng Sa hoàng (năm 1547). Trong thời gian cầm quyền kéo dài của mình ông đã chinh phục các hãn quốc TartarXibia cũng như chuyển nước Nga trở thành một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo. Trong lịch sử Nga, vị Nga hoàng này đơn giản được gọi là Ivan Grozny (tiếng Nga: Иван Грозный ), và được dịch sang tiếng Việt thành Ivan Bạo chúa, Ivan Lôi đế, Ivan Khủng khiếp hay Ivan Hung Đế

Thời kỳ đầu cầm quyền

Ivan là đứa con được chờ đợi từ rất lâu của Vasily III. Khi ông mới lên ba, vua cha Vasily III qua đời vì một cái mụn biến chứng trở thành một ung nhọt chết người ở chân. Ivan được tuyên bố trở thành Đại Công tước Moskva theo yêu cầu của vua cha. Ban đầu mẹ ông, Elena Glinskaya giữ vai trò nhiếp chính, nhưng bà cũng qua đời khi Ivan mới lên tám. Chức vụ nhiếp chính được các boyar thuộc nhà Shuisky nắm giữ cho tới khi Ivan nắm quyền lực năm 1544. Theo chính những bức thư của mình, ông thường cảm thấy bị bỏ rơi và bị các boyar thuộc hai dòng họ Shuisky và Belsky xúc phạm. Có lẽ những chấn thương tâm lý này góp phần khiến ông căm ghét các boyar và khiến ông bất ổn về tâm lý. Những tình cảm tiêu cực thể hiện trong những bức thư của ông có thể là một sự phản ánh tính khí gắt gỏng của ông.

Ivan Bạo chúa tranh của Viktor Vasnetsov

Ngai vàng bằng ngà voi của Ivan Bạo chúa.

Ngày 16 tháng 1 năm 1547, Ivan trở thành Nga hoàng tại đại giáo đường Uspensky khi 16 tuổi. Dù vừa xảy ra vụ Đại hoả hoạn 1547, thời kỳ đầu cầm quyền của ông là một trong những giai đoạn hiện đại hoá và cải cách trong hoà bình. Ivan xem xét lại các luật lệ (được gọi là sudebnik), tạo lập một đội quân thường trực (streltsy), thành lập nghị viện Nga đầu tiên cho các tiểu quốc phong kiến (Zemsky Sobor), hội đồng quý tộc (được gọi là Hội đồng được Lựa chọn), và xác nhận vị trí của Nhà thờ với Hội đồng Trăm Tăng hội, thống nhất các lễ nghi và các quy định giáo hội trong toàn bộ đất nước. Ông đưa ra sáng kiến tự quản tại các vùng nông thôn, chủ yếu tại Đông bắc Nga, nơi sinh sống của đa phần nông dân. Trong thời kỳ cầm quyền của ông lần đầu tiên báo in xuất hiện tại Nga (dù hai ông chủ nhà in đầu tiên người Nga Ivan FedorovPyotr Mstislavets đã phải bỏ chạy khỏi Moskva tới Đại Công quốc Litva).
Năm 1547, Hans Schlitte, luật sư của Ivan, đã đưa các thợ thủ công Đức tới làm việc tại Nga. Tuy nhiên tất cả những người này đã bị bắt giữ tại Lübeck theo yêu cầu của Ba LanLivonia. Các hội buôn Đức đã từ chối cảng mới được Ivan cho xây dựng trên sông Narva năm 1550 và tiếp tục giao nhận hàng hoá tới các cảng ven biển Baltic thuộc Livonia. Nước Nga vẫn bị cô lập khỏi mạng lưới thương mại đường biển.
Ivan đã thành lập các kết nối thương mại mới, mở cửa Biển Trắng và cảng Arkhangelsk cho công ty Muscovy của các thương nhân Anh. Năm 1552 ông đánh bại Hãn quốc Kazan, do quân đội nước này đã nhiều lần tàn phá vùng đông bắc Nga,[1] và sáp nhập lãnh thổ nước này. Năm 1556, ông sáp nhập Hãn quốc Astrakhan và tiêu diệt chợ nô lệ lớn nhất trên sông Volga. Những cuộc chinh phục này đã làm phức tạp thêm sự di cư của những bộ tộc du cư từ châu Á tới châu Âu qua sông Volga và biến nước Nga trở thành một quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo. Ông cho cho xây dựng đại giáo đường Thánh Basil tại kinh đô Moskva để kỷ niệm việc chinh phục Kazan. Truyền thuyết kể rằng ông ấn tượng trước kiến trúc công trình này tới mức đã cho làm mù mắt các kiến trúc sư để họ không thể xây dựng được thứ gì đẹp đẽ như thế nữa.
Những khía cạnh tiêu cực trong thời kỳ này gồm việc đưa ra áp dụng những luật lệ đầu tiên hạn chế sự di chuyển của người nông dân, cuối cùng dẫn tới tình trạng nông nô. Sự thay đổi lớn nhất trong tính cách của Ivan thường được cho là có liên quan tới lần ốm suýt chết của ông năm 1553 cùng cái chết của bà vợ đầu tiên, Anastasia Romanovna năm 1560. Ivan nghi ngờ các boyar đã đầu độc vợ mình và âm mưu lật đổ ông cùng người anh em họ, Vladimir Staritsa. Ngoài ra, trong thời kỳ ngã bệnh đó Ivan đã yêu cầu các boyar thề trung thành với người con cả của mình, khi ấy vẫn còn là một đứa trẻ. Nhiều boyar đã từ chối, vì cho rằng vị Nga hoàng không còn cơ hội sống sót. Điều này đã khiến Ivan nổi giận và càng khiến ông mất lòng tin vào họ. Sau sự kiện này nhiều người vô tội đã bị trả thù và giết hại, trong số đó có Đại giáo chủ Philip và công tước Aleksandr Gorbatyi-Shuisky.
Một vấn đề khác là việc thành lập Oprichnina năm 1565. Oprichnina là khu vực của Nga (chủ yếu là vùng đông bắc) nằm dưới quyền cai trị trực tiếp của Ivan và được duy trì an ninh bởi đội cận vệ riêng của ông, Oprichniki. Cả hệ thống Oprichnina đã bị một số nhà sử học coi là công cụ chống lại chính sách quý tộc cha truyền con nối (boyar) có truyền thống lâu dài ở Nga, những người chống lại chính sách chuyên chế Nga hoàng, trong khi những nhà sử học khác lại coi đó là một đấu hiệu bệnh hoang tưởng và sự suy sụp tinh thần của nhà vua.

Thời kỳ cuối

Nửa sau trong thời gian cầm quyền của Ivan không thành công nhiều như trước. Dù Hãn KrymDevlet I Giray nhiều lần tàn phá vùng Moskva và thậm chí đốt cháy kinh đô Moskva năm 1571, Nga hoàng ủng hộ cuộc chinh phục người Tatar Xibia của Yermak, chấp nhận một chính sách xây dựng đế chế, dẫn ông tới việc tung ra một cuộc chiến tranh thắng lợi mở rộng về biển phía tây, đương đầu với người Thụy Điển, Litva, Ba Lan, và các hiệp sĩ Teutonic Livonia.
Trong 24 năm cuộc chiến tranh Livonia kéo dài, gây thiệt hại cả về kinh tế và quân sự với Nga và không giành được bất kỳ một lãnh thổ nào cho nước Nga. Trong thập niên 1560 sự kết hợp giữa hạn hánnạn đói, cũng như các cuộc tấn công của Ba Lan-Litva, những cuộc xâm lược của người Tatar, và sự phong toả đường thương mại trên biển do người Thuỵ Điển, Ba Lan và Liên minh Hanseatic tiến hành đã tàn phá nước Nga. Giá lương thực tăng gấp mười lần. Bệnh dịch giết hại 10.000 người ở Novgorod. Năm 1570 bệnh dịch làm 600-1000 người chết hàng ngày tại Moskva.[2] Vị cố vấn thân cận nhất của Ivan, công tước Andrei Kurbsky, bỏ trốn theo người Litva, dẫn đầu quân đội Litva tàn phá vùng Velikiye Luki của nước Nga. Sự phản bội này đã làm Nga hoàng Ivan rất đau đớn. Khi chính sách Oprichnina tiếp diễn, Ivan dần trở nên bất ổn định về tinh thần và ốm yếu về thể chất. Trong một tuần, ông dễ dàng chuyển từ trạng thái ăn chơi sa đoạ nhất sang việc đi cầu nguyện và ăn chay tại một tu viện xa xôi phía bắc.

Ivan Bạo chúa và con trai Ivan ngày 16 tháng 11 năm 1581
(tranh của họa sĩ Ilya Repin vẽ năm 1885

)
Vì ông dần mất ổn định và trở nên bạo lực, những Oprichnik tại Malyuta Skuratov nhanh chóng vượt ra ngoài vòng kiểm soát và trở thành những kẻ sát nhân. Họ tàn sát các quý tộc và nông dân, bắt mọi người đi lính chiến đấu trong cuộc chiến với Livonia. Dân số sụt giảm và nạn đói kéo tới. Nơi từng là vùng giàu có nhất nước Nga đã trở thành vùng nghèo khổ nhất. Trong một cuộc tranh cãi với thành phố Novgorod giàu mạnh, Ivan đã ra lệnh cho những Oprichnik giết hại những người dân thành phố này, từ đó thành phố không bao giờ còn quay trở lại được thời kỳ thịnh vượng đó nữa. Những kẻ trung thành với ông đã đốt phá và cướp bóc thành phố cùng các làng mạc.[3] Có thể tới 60.000 người đã bị giết hại trong vụ thảm sát Novgorod nổi tiếng năm 1570;[4] nhiều người khác đã bị trục xuất.[5] Con số thống kê chính thức cho thấy 1.500 quý tộc Novgorod đã bị giết hại, chưa nói tới con số tương đương những thường dân khác. Nhiều nhà nghiên cứu hiện đại ước tính số nạn nhân trong khoảng 2 tới 3.000 người. (Sau nạn đói và các bệnh dịch số dân Novgorod trong thập niên 1560 có lẽ không vượt quá 10.000-20.000 người.)[6]
Năm 1581, Ivan đã đánh cô con dâu đang mang thai của mình vì tội mặc quần áo khiếm nhã, có thể đây là nguyên nhân khiến cô bị sẩy thai. Con trai ông, cũng tên là Ivan, khi biết tin này đã lao vào một cuộc tranh cãi nảy lửa với cha, cuộc tranh cãi kết thúc khi Ivan dùng cây gậy nhọn đánh vào đầu con mình, gây ra cái chết của người con trai (tai nạn). Sự kiện này đã được thể hiện trong bức tranh nổi tiếng của Ilya Repin, Ivan Bạo chúa và con trai Ivan vào thứ Sáu, 16 tháng 11 năm 1581 nổi tiếng hơn với tên gọi Ivan Bạo chúa giết con trai.

Qua đời và di sản

Dù nhiều người nghĩ rằng Ivan qua đời khi đang sắp xếp một bàn cờ, có lẽ đúng hơn là ông qua đời khi đang chơi cờ với Bogdan Belsky ngày 18 tháng 3 năm 1584. Khi hầm mộ của Nga hoàng Ivan được mở ra trong cuộc trùng tu hồi thập niên 1960, xác ông được xét nghiệm và phát hiện có chứa hàm lượng thuỷ ngân lớn, cho thấy rất có thể ông đã bị đầu độc.[7] Các nghi vấn hiện tại tập trung vào các cố vấn của ông là Belsky và Boris Godunov (người trở thành Nga hoàng năm 1598). Ba ngày trước đó, Ivan được cho là đã định cưỡng hiếp Irina, em Godunov và là vợ của Feodor. Những tiếng kêu của bà khiến Godunov và Belsky chú ý, sau đó Ivan thả Irina, nhưng Belsky và Godunov coi mình như đã bị lĩnh án tử hình. Truyền thống cho rằng họ đã đầu độc hoặc bóp cổ Ivan đến chết vì lo sợ cho tính mạng của mình. Thuỷ ngân được tìm thấy trong thi thể Ivan cũng có thể liên quan tới việc điều trị bệnh giang mai, bệnh được cho là Ivan đã từng mắc phải. Ngay khi Ivan qua đời, đất nước đã bị tàn phá rơi vào tay người con trai bất tài và còn nhỏ tuổi của ông là Fyodor I.

Thư từ

D.S. Mirsky đã gọi Ivan là “một người viết những cuốn sách mỏng thiên tài”. Các thư từ được cho là của ông đều là những kiệt tác của lĩnh vực báo chí chính trị Nga cổ (có lẽ trong cả lịch sử). Có thể chúng có quá nhiều văn bản từ Kinh Thánh và Giám mục, và ngôn ngữ nhà thờ Slav của chúng không phải luôn chính xác. Nhưng chúng luôn đầy chặt sự mỉa mai tàn nhẫn, được thể hiện qua những từ ngữ châm chọc đầy sức mạnh.

Sự ăn năn của Ivan: ông đã yêu cầu một cha bề trên tại Tu viện Pskovo-Pechorsky cho phép ông được vào tu tại đây.

Hành động tàn bạo không hề hổ thẹn và nhà bút chiến vĩ đại đi cùng nhau cùng nhau trong một phút loé sáng khi ông mắng nhiếc kẻ trốn chạy Kurbsky với câu hỏi:

“Nếu anh quá chắc chắn về sự ngay thẳng của mình, sau anh lại bỏ đi mà không thích sự đoạ đày trong tầm kiểm soát của ta hơn?”

Những cú tấn công đó đã được tính toán kỹ để đưa người trao đổi thư từ với ông rơi vào một cơn cuồng loạn. “Phần của một vị bạo chúa hung tợn mắng nhiếc kẻ nạn nhân đã bỏ chạy trong khi ông tiếp tục tra tấn những ai trong tầm kiểm soát của mình có thể là đáng ghê tởm, nhưng Ivan đã hoàn thành vai trò đó với quan điểm tưởng tượng chính xác như trong các tác phẩm của Shakespear”.[8].
Ngoài những bức thư gửi cho Kurbsky ông còn viết nhiều bức thư khác thoá mạ những kẻ dưới quyền. Bức thư nổi tiếng nhất là thư gửi Cha trưởng Tu viện Kirillo-Belozersky, trong đó ông đã thể hiện tất cả sự ác nghiệt và tàn bạo của mình về cuộc sống phè phỡn của các boyar, những thầy tu biến chất, và những người đã bị trục xuất theo lệnh của ông. Hình ảnh của ông về cuộc sống xa hoa của họ trong thành trì của sự khổ hạnh là một kiệt tác về sự mỉa mai đanh thép.

Biệt hiệu

Các công tước Moskva (12761598)
Daniil Aleksandrovich

Yury III Daniilovich
Ivan I Kalita

Simeon Gordyi
Ivan II Krasnyi

Dmitry Donskoy

Vasily I

Vasily II Tyomniy

Ivan III

Vasily III, vợ Elena Glinskaya

Ivan IV Grosnyi

Fyodor I
Yury Dmitrievich Zvenigorodsky

Vasily Kosoy
Dmitry Shemyaka

Cái tên Bạo chúa hay Hung Đế trong tiếng Việt thường được dùng để dịch từ grozny, tên hiệu của Ivan trong tiếng Nga. Nghĩa của từ Grozny gần với nghĩa—khiến run sợ hay kinh hoàng, nguy hiểm, ghê gớm, đe doạ, hay đáng sợ. Có lẽ để dịch gần nghĩa hơn biệt hiệu này phải là Ivan Kẻ đáng sợ, hay Ivan kẻ Kinh khủng.

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Biên niên sử Nga ghi chép lại khoảng 40 vụ tấn công của hãn quốc Kazan vào lãnh thổ Nga (chủ yếu trong khu vực Nizhniy Novgorod, Murom, Vyatka, Vladimir, Kostroma, Galich) trong nửa đầu thế kỷ 16. Năm 1521, liên quân của Hãn Muhamed Giray và các đồng minh vùng Krym đã tấn công Nga và bắt giữ trên 150.000 nông nô. Tuyển tập Biên niên sử Nga, quyển 13, S.Pb, 1904
  2. ^ R.Skrynnikov, “Ivan Grosny”, M., AST, 2001
  3. ^ Novgorod, Nga
  4. ^ Ivan Hung Đế, Nga, (1533-1584)
  5. ^ Theo biên niên sử Novgorod III, vụ thảm sát kéo dài trong 5 tuần. Gần như mỗi ngày có tới 500 hay 600 người bị giết hay bị dìm chết. Biên niên sử Pskov I ước tính số nạn nhân khoảng 60.000.
  6. ^ Điều tra báo cáo của Maljuta Skuratov và các danh sách tưởng nhớ (sinodiki), R. Skrynnikov cho rằng số nạn nhân là 2.000-3.000. (Skrynnikov R. G., “Ivan Grosny”, M., AST, 2001)
  7. ^ Đoàn, Tử Huyền (2009). Những nhân vật bí ẩn. Nhà xuất bản Lao động. tr. 81.
  8. ^ D.S. Mirsky. A History of Russian Literature. Nhà in Đại học Northwestern, 1999. ISBN 0-8101-1679-0. Trang 21.

Tài liệu tham khảo

  • Bobrick Benson. Ivan the Terrible. Edinburgh: Canongate Books, 1990 (hardcover, ISBN 0-86241-288-9).
  • Madariaga Isabel de. Ivan the Terrible. First Tsar of Russia. New Haven; London: Nhà in Đại học Yale, 2005 (bìa cứng, ISBN 0-300-09757-3); 2006 (bìa giấy, ISBN 0-300-11973-9).
  • Payne Robert; Romanoff Nikita. Ivan the Terrible. Lanham, MD: Nhà in Cooper Square, 2002 (bìa giấy, ISBN 0-8154-1229-0).
  • Henri Troyat. Ivan the Terrible. New York: Buccaneer Books, 1988 (bìa cứng, ISBN 0-88029-207-5); London: Nhà in Phoenix, 2001 (bìa giấy, ISBN 1-84212-419-6).
  • Ivan IV, World Book Inc, 2000. World Book Encyclopedia.

Đọc thêm

  • Cherniavsky Michael. “Ivan the Terrible as Renaissance Prince”, Slavic Review, Tập 27, Số 2. (tháng 6 năm 1968), các trang 195–211.
  • Hunt Priscilla. “Ivan IV’s Personal Mythology of Kingship”, Slavic Review, Tập 52, số 4. (mùa đông năm 1993), các trang 769–809.
  • Perrie Maureen. The Image of Ivan the Terrible in Russian Folklore (Cambridge Studies in Oral and Literate Culture; 14). Cambridge: Nhà in Đại học Cambridge, 1987 (bìa cứng, ISBN 0-521-33075-0); 2002 (bìa mềm, ISBN 0-521-89100-0).
  • Perrie Maureen. The Cult of Ivan the Terrible in Stalin’s Russia (Studies in Russian and Eastern European History and Society) . New York: Palgrave, 2001 (ISBN 0-333-65684-9).
  • Perrie Maureen; Pavlov Andrei. Ivan the Terrible (Profiles in Power). Harlow, UK: Longman, 2003 (bìa giấy, ISBN 0-582-09948-X).
  • Platt Kevin M.F.; Brandenberger, David. “Terribly Romantic, Terribly Progressive, or Terribly Tragic: Rehabilitating Ivan IV under I.V. Stalin”, Russian Review, Tập 58, số 4. (tháng 10 năm 1999), các trang 635–654.

Liên kết ngoài

Illinois

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
State of Illinois
Cờ Illinois Huy hiệu Illinois
Cờ Huy hiệu
Illinois in United States.svg
Biệt danh: Land of Lincoln (Quê hương của Lincoln), The Prairie State (Tiểu bang Đồng cỏ)
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Anh
Địa lý
Thủ phủ Springfield
Thành phố lớn nhất Chicago
Diện tích 149.998 km² (hạng 25)
• Phần đất 143.968 km²
• Phần nước 6.030 km² (4,0 %)
Chiều ngang 340 km²
Chiều dài 629 km²
Kinh độ 87°30′W – 91°30′W
Vĩ độ 36°58′N – 42°30′N
Dân số (2000) 12.419.293 (hạng 5)
• Mật độ 86,27 (hạng 11)
• Trung bình 182 m
• Cao nhất Mô Charles, 376 m
• Thấp nhất 85 m
Hành chính
Ngày gia nhập 3 tháng 12, 1818 (thứ 21)
Thống đốc Pat Quinn (Dân chủ)
Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Richard Durbin (DC)
Roland Burris (DC)
Múi giờ CST (UTC−6)
• Giờ mùa hè CDT (UTC−5)
Viết tắt IL Ill. US-IL
Trang web www.illinois.gov

Illinois là tiểu bang thứ 21 của Hoa Kỳ, gia nhập liên bang năm 1818. Illinois là tiểu bang đông dân nhất vùng Trung Tây nước Mỹ và đứng thứ năm toàn liên bang về dân số. Chicago nằm ở phía đông bắc là thành phố lớn nhất và trung tâm kinh tế hàng đầu tại Illinois. Đây cũng là thành phố lớn thứ ba nước Mỹ, chỉ sau thành phố New YorkLos Angeles. Thủ phủ của tiểu bang đặt tại thành phố nhỏ Springfield.
Giữa những năm 1300 và 1400, thành phố Cahokia của người da đỏ là thành phố đông dân nhất trên lãnh thổ đất nước Hoa Kỳ sau đó với tổng dân số 40.000 người, trước khi bị thành phố New York vượt qua vào cuối thế kỉ 18. Khoảng 2000 người thổ dân da đỏ và những thợ săn thú người Pháp sống tại Illinois khi cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa nước Mỹ nổ ra. Trước thế kỉ 19, Illinois vẫn là một vùng đất hoang vu, dân cư thưa thớt. Nhưng bắt đầu từ thập niên 1810, dân cư từ bang Kentucky bắt đầu đổ vào Illinois và những người này chính thức được cấp quyền công dân một tiểu bang mới vào năm 1818. Khu vực đại đô thị tương lai Chicago được thành lập bên bờ con sông Chicago, một trong số ít những cảng tự nhiên ở miền nam bờ hồ Michigan và đóng một vai trò huyết mạch trong giao thông tại vùng Ngũ Đại Hồ. Những phát minh quan trọng trong thập niên 1830 như đường sắt và máy cày đã biến những đồng cỏ của Illinois thành một vùng nông nghiệp trù phú, thu hút dân nhập cư đến từ các nước châu Âu như ĐứcThụy Điển. Nhân dân Illinois đã dành sự ủng hộ rất lớn đối với tổng thống Abraham Lincoln và tướng Ulysses S. Grant (cả hai đều là người Illinois) trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ. Từ năm 1900, sự phát triển mạnh mẽ của những thành phố công nghiệp phía bắc tiểu bang cũng như những mỏ khai thác khoáng sản tại miền trung và miền nam đã thu hút thêm dân nhập cư đến từ các nước Đông ÂuNam Âu. Dòng người da đen di cư lên miền bắc sau cuộc Nội chiến Mỹ cũng góp phần làm nên sự đa dạng chủng tộc tại Illinois và đóng góp cho nền văn hóa tại đây nhạc jazz và nhạc blue, những thể loại âm nhạc ngày nay phổ biến khắp nước Mỹ.
Tiểu bang Illinois còn có tên gọi là “Quê hương của Lincoln” (Land of Lincoln), vị tổng thống đã có công xóa bỏ chế độ nô lệ và giữ vững sự thống nhất nước Mỹ trong thế kỉ 19. Ngoài ra, Illinois còn có tên gọi là “Tiểu bang Đồng cỏ” (The Prairie State).

Tên gọi

Có hai giả thuyết về nguồn gốc tên gọi của tiểu bang Illinois. Giải thuyết thứ nhất cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ chữ ilenweewa trong tiếng thổ dân Algonquian (hay còn gọi là người Miami-Illinois) có nghĩa là “Anh/cô ấy nói bình thường”[1]. Tuy nhiên một giả thuyết khác lại cho rằng tên gọi này bắt nguồn từ tên bộ lạc thổ dân da đỏ Illiniwek một thời từng phát triển thịnh vượng tại vùng đất này. Cái tên Illiniwek có nghĩa là “những con người siêu đẳng” hoặc “con người”[2].

Địa lý

Bản đồ các thành phố và đường sá lớn ở Illinois

Nằm ở phía đông bắc tiểu bang Illinois là hồ Michigan. Illinois giáp với Indiana về phía đông, giáp với Wisconsin về phía bắc. Biên giới với hai tiểu bang Missouri về phia tây nam và Iowa về phis tây bắc là con sông Mississippi. Illinois giáp với Kentucky về phía đông nam qua sông Ohio. Ngoài ra tiểu bang này còn giáp với Michigan nhưng chỉ qua đường biên giới nước trên hồ Michigan.
Mặc dù Illinois nằm hoàn toàn trong khu vực Đồng bằng Trung tâm, nhưng tiểu bang này vẫn được chia làm 3 vùng địa lý với nhiều đặc điểm khác biệt nhau:

  • Khu vực Bắc Illinois, hay khu vực đại đô thị Chicago bao gồm thành phố Chicago lớn thứ ba nước Mỹ, các vùng ngoại ô và những khu vực đô thị mở rộng bên cạnh. Theo quy hoạch của chính phủ liên bang, khu vực đại đô thị Chicago bao gồm hầu như toàn bộ vùng tây bắc của tiểu bang Illinois và cả một số quận thuộc hai bang láng giềng là Indiana và Wisconsin. Đây là một khu vực có mật độ dân số cao, được công nghiệp hóa với lối sống đô thị và đồng thời tập trung nhiều chủng tộc khác nhau.
  • Đi về phía tây và phía nam là khu vực địa lý thứ hai của Illinois. Đó là khu vực Trung Illinois và được mệnh danh là trái tim của tiểu bang này. Đây là khu vực đặc trưng bởi những thị trấn nhỏ và những thành phố cỡ trung bình. Đây là một vùng nông nghiệp trù phú của Illinois với những ruộng ngô và đậu tương rộng lớn, cho năng suất cao và cũng là nơi tập trung nhiều viện giáo dục và trung tâm nghiên cứu của tiểu bang. Nhiều thành phố quan trọng tập trung tại miền trung Illinois là Peoria (khu vực đại đô thị lớn thứ ba tại Illinois với dân số 370.000 người) và thủ phủ Springfield.
  • Khu vực Nam Illinois bao gồm vùng đất phía nam quốc lộ 50 và bao gồm cả khu vực Tiểu Ai Cập (Little Egypt). Khu vực này có một số đặc điểm khác với các khu vực trên ở chỗ có khí hậu ấm áp hơn, về nông nghiệp có ngành canh tác bông từ lâu đời. Là một vùng đất với địa hình tương đối gồ ghề so với những đồng cỏ bằng phẳng ở miền trung, Nam Illinois có thêm một số mỏ dầu, than và khoáng sản quý giá. St. Louis là khu vực đại đô thi lớn thứ hai tại tiểu bang Illinois, với dân số lên đến 600.000 người. Mật độ dân số tại vùng này cao hơn một chút so với Trung Illinois.

Khu vực ngoài đại đô thị Chicago thường được gọi là “Hạ Illinois”. Tuy nhiên cư dân ở miền Trung và Nam Illinois coi khu vực của họ là một vùng địa lý và văn hóa riêng biệt nên không sử dụng tên gọi này.

Khí hậu

Với chiều dài từ bắc đến nam trải dài 640 km và nằm ở vị trí trung tâm lục địa Bắc Mỹ, khí hậu Illinois thay đổi giữa các vùng miền khác nhau. Phần lớn lãnh thổ bang Illinois có khí hậu lục địa ẩm với mùa hè nóng và ẩm còn mùa đông thì lạnh giá. Miền nam Illinois tiếp giáp với khu vực có khí hậu cận nhiệt đới ẩm nên có mùa đông ôn hòa hơn đôi chút. Lượng mưa trung bình của Illinois dao động từ nơi cao nhất là miền nam (1220 mm) đến nơi thấp nhất ở miền bắc là 890 mm. Khu vực thành phố Chicago thường có tuyết rơi dày vào mùa đông với lượng mưa tuyết đo được trung bình là 96 cm, trong khi ở miền nam tiểu bang lượng mưa tuyết thường ít hơn 35 cm.
Nhiệt độ cao nhất ghi được tại Illinois là 47 °C vào ngày 14 tháng 7 năm 1954 tại East St. Louis. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi được là -38 °C vòa ngày 5 tháng 1 năm 1999 tại Congerville[3].
Trung bình hàng năm, Illinois phải chịu khoảng 50 ngày mưa bão, cao hơn so với bình quân toàn nước Mỹ. Illinois là nơi thường xảy ra lốc xoáy, trung bình 35 cơn một năm. Vụ lốc xoáy gây chết người nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ đã xảy ra tại Illinois và hai bang kế cận vào năm 1925 làm cho 695 người chết, trong đó có 613 người sống tại Illinois[4].

Các thành phố lớn nhất

Thành phố Chicago là trung tâm kinh tế lớn nhất của tiểu bang Illinois cũng như của miền Trung Tây nước Mỹ. Tuy nhiên thủ phủ của tiểu bang Illinois lại đặt ở thành phố nhỏ Springfield.

Xếp hạng Thành phố Dân số Hình ảnh
1 Chicago 2.836.658 BuildingsLiningChicagoRiver.jpg
2 Aurora 170,617
3 Rockford 150,138 RockfordJeffersonStreetBridge.jpg
4 Joliet 146,000
5 Naperville 142,702 City of Naperville City Hall main entrance.jpg
6 Springfield 116,482
7 Peoria 113,107 Peoria City Hall.JPG
8 Elgin 101,903

Lịch sử

Thời kỳ Tiền Colombo

Những họa tiết của nền văn hóa tiền Colombo tại Illinois

Trước khi người châu Âu đến khai phá nước Mỹ, tại Illinois đã từng tồn tại một nền văn hóa với tên gọi Cahokia. Tuy nhiên nền văn minh này đã bị biến mất vào thế kỉ 15 mà không rõ lý do. Những người chủ tiếp theo của Illinois là người Illini, một liên minh chính trị giữa các bộ lạc da đỏ bản địa. Năm 1700, ước tính có khoảng 25.000 người da đỏ Illinois bản địa nhưng những cuộc tấn công của bộ lạc Iroquois đã khiến dân số của người Illini giảm đi nhiều. Thành viên của các bộ lạc Potawatomi, Miami, Sauk cũng đến định cư tại miền đông và miền bắc Illinois.

Người châu Âu khai phá

Năm 1673, hai nhà thám hiểm người Pháp là Jacques Marquette và Louis Jolliet đã khám phá ra sông Illinois. Năm 1680, người Pháp đã xây dựng đồn lũy đầu tiên của họ tại nơi mà ngày nay là thành phố Peoria. Illinois được duy trì là một lãnh thổ của Đế chế Pháp cho tới tận năm 1763, khi nó bị nhượng lại cho người Anh. Năm 1778, George Rogers Clark tuyên bố vùng Illinois thuộc về Virginia. Năm 1783, Virginia chuyển vùng đất này cho liên bang quản lý và Illinois được sát nhập vào Lãnh thổ tây bắc.

Thế kỉ 19

Ngày 3 tháng 2 năm 1809, vùng lãnh thổ Illinois được thành lập với thủ phủ đặt tại thành phố Kaskaskia. Năm 1818, Illinois chính thức được gia nhập Hoa Kỳ và trở thành tiểu bang thứ 21. Một lượng lớn người nhập cư từ Kentucky đã đổ vào tiểu bang mới này. Những thay đổi về địa giới hành chính sau đó đã khiến Illinois mở rộng lên phía bắc để bao gồm cả hải cảng Chicago, nay là thành phố lớn nhất Illinois.
Những cuộc chiến tranh giữa những bộ tộc da đỏ bản địa với người da trắng đến sau vẫn tiếp diễn. Năm 1832, cuộc chiến tranh Diều Hâu Đen (Black Hawk War) bùng nổ tại Illinois và Wisconsin. Quân đội chính phủ Mỹ được cử tới và đã đẩy người da đỏ sang vùng Iowa.
Illinois nổi tiếng với việc chống lại chế độ nô lệ. Ngay từ khi gia nhập liên bang, tiểu bang Illinois đã tuyên bố bãi bỏ chế độ nô lệ. Tổng thống Abraham Lincoln đến từ Illnois là một trong những nhân vật vĩ đại nhất lịch sử nước Mỹ khi ông tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ và giữ vững sự thống nhất đất nước trước việc các bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam đòi ly khai. Trong cuộc nội chiến, đã có 250.000 đàn ông Illinois tham gia vào quân đội của Liên bang, nhiều thứ 4 cả nước.
Sau cuộc nội chiến, nền công nghiệp của Illinois phát triển mạnh mẽ với những ngành như cơ khí, luyện kim, chế biến lương thực thực phẩm… Đây cũng là nơi phong trào công nhân phát triển mạnh nhất nước Mỹ. Ngày 1 tháng 5 năm 1886, cuộc Tổng bãi công của công nhân thành phố Chicago nổ ra đòi ngày làm 8 giờ đã buộc giới chủ phải nhượng bộ. Về sau ngày này được lấy làm ngày Quốc tế lao động.

Thế kỉ 20

Bước sang thế kỉ 20, kinh tế Illinois tiếp tục phát triển cho đến cuộc Đại khủng hoảng 1929 làm một nửa số công nhân tại Illinois thất nghiệp. “Chính sách mới” của tổng thống Franklin Roosevelt đã góp phần làm ổn định lại nền kinh tế. Khi Thế chiến thứ hai nổ ra, nhu cầu chiến trường tăng mạnh đã dẫn đến sự hồi phục của nền kinh tế Illinois. Illinois đã đóng góp rất nhiều sức người và sức của trong hai cuộc thế chiến.
Trong thập niên 1960thập niên 1970, kinh tế Illinois bắt đầu có biểu hiện suy thoái. Ngày nay, bên cạnh những ngành công nghiệp truyền thống như luyện kim, cơ khí, chế biến lương thực thực phẩm, Illinois đang nỗ lực xây dựng một nền kinh tế hậu công nghiệp với những ngành công nghệ cao như điện tử, tin học, tài chính…
Năm 1970, Hội nghị Hiến pháp lần thứ 6 được tổ chức nhằm soạn thảo một hiến pháp mới cho tiểu bang Illinois thay thế bản hiến pháp cũ có từ năm 1870. Trận lũ lịch sử tại vùng thượng sông Mississippi năm 1993 đã nhấn chìm nhiều nhà cửa và gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho tiểu bang này.

Nhân khẩu

Bản đồ mật độ dân số Illinois

Theo số liệu năm 2006, dân số của Illinois là 12,8 triệu người, đứng hàng thứ 5 nước Mỹ sau California, Texas, New YorkFlorida. So với năm trước, dân số Illinois tăng thêm 65.000 người. Sự gia tăng dân số tại Illinois bao gồm cả sự gia tăng dân số tự nhiên và quá trình nhập cư của người dân các nơi khác, đặc biệt là người nước ngoài vào tiểu bang này. Thống kê năm 2004 cho biết 13,3% dân số Illinois được sinh ra tại ngoại quốc[5].
Phân bố chủng tộc của Illinois trong năm 2005 như sau[6]:

  • 80,34% người da trắng
  • 15,63% người da đen
  • 0,62% người da đỏ bản địa
  • 4,45% người gốc Á
  • 0,11% người các đảo Thái Bình Dương

Trong đó, người Latinh (Hispanic) thuộc mọi sắc tộc trên chiếm tỉ lệ 14,44%.
Có tới gần 30% người Illinois da trắng thừa nhận có nguồn gốc Đức. Cộng đồng người Mỹ gốc Phi tập trung đông nhất tại hai thành phố Chicago và East St. Louis. Người Mỹ và người Mỹ gốc Anh tập trung nhiều ở vùng phía đông nam trong khi vùng đại đô thị Chicago lại có một lượng lớn các sắc dân gốc Ireland, MexicoBa Lan. Theo thống kê, cso 10,85% dân số Illinois nói tiếng Tây Ban Nha tại nhà, và 1,6% nói tiếng Ba Lan.

Tôn giáo

Đạo Thiên chúaĐạo Tin lành là những tôn giáo phổ biến tại Illinois. Cộng đồng người theo Đạo Thiên chúa tập trung chủ yếu quanh khu vực thành phố Chicago và chiếm khoảng 30% dân số, trong khi đó cộng đồng người theo các giáo phái khác nhau của đạo Tin lành chiếm 49%[7]. Thành phố Chicago với sự đa văn hóa của mình cũng là nơi tập trung nhiều tôn giáo của các cộng đồng nhập cư như đạo Hindu, đạo Sikh, đạo Hồi, đạo Do Thái và nhiều tôn giáo khác nữa.

Kinh tế

Một góc thành phố Chicago

Với nguồn đất đai màu mỡ, Illinois có một nền nông nghiệp khá phát triển. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Illinois là ngô, đậu tương, lợn, gia cầm, các sản phẩm từ sữa. Illinois là tiểu bang dẫn đầu nước Mỹ về xuất đậu tương, đạt khoảng 500 triệu giạ vào năm 2004[8]. Illinois cũng xếp thứ hai cả nước về sản lượng ngô[9]. Các trường đại học của Illinois cũng đang xúc tiến áp dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp để tạo ra nhiều loại sản phẩm nông nghiệp đa dạng hơn nữa.
Về công nghiệp, Illinois có nhiều lợi thế với những mỏ than, dầu hỏa, khoáng sản trữ lượng lớn ở phía nam, thúc đầy nền công nghiệp Illinois phát triển mạnh. Những ngành công nghiệp truyền thống của Illinois là cơ khí, luyện kim, hóa chất, chế biến lương thực thực phẩm… nhưng ngày nay đang phát triển những ngành công nghệ cao và du lịch. Chicago là trung tâm kinh tế và tài chính lớn nhất tiểu bang.

Chính trị

Toà nhà quốc hội Illinois tại Springfield

Chính quyền của tiểu bang Illinois được tổ chức thành ba nhánh là lập pháp, hành pháptư pháp. Nhánh tư pháp bao gồm Quốc hội lưỡng viện của Illinois gồm 118 ghế tại hạ viện và 59 ghế tại thượng viện. Đứng đầu nhánh hành pháp là thống đốc Illinois còn đứng đầu nhánh tư pháp là tòa án tối cao.
Suốt chiều dài lịch sử, Illinois là một chiến trường tranh đấu quyết liệt giữa Đảng Cộng hòaĐảng Dân chủ. Tuy nhiên trong những năm gần đây, Đảng Dân chủ đang có xu hướng chiếm ưu thế tại Illinois, đặc biệt là tại thành phố Chicago và khiến cho Illinois trở thành bang có tỉ lệ ủng hộ Đảng Dân chủ cao nhất tại vùng Trung Tây. Liên tục trong năm kỳ bầu cử tổng thống vừa qua, Illinois đã bầu cho các thượng nghị sĩ của Đảng Dân chủ làm tổng thống.
Illinois đã đóng góp cho nước Mỹ hai vị tổng thống. Đó là Abraham Lincoln (sinh ở Kentucky), người đã có công xóa bỏ chế độ nô lệ và thống nhất nước Mỹ và tướng Ulysses Grant (sinh tại Ohio). Tổng thống Ronald Reagan là người sinh ra ở Illinois nhưng lại tranh cử tại tiểu bang California.
Trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2008, cả hai ứng cử viên của Đảng Dân chủ đều có xuất xứ từ Illinois. Thượng nghị sĩ Hillary Clinton sinh tại Illinois nhưng tranh cử với tư cách thượng nghị sĩ bang New York. Còn ứng cử viên Barack Obama sinh tại Honolulu, Hawaii tranh cử với tư cách thượng nghị sĩ bang Illinois. Ông Barack Obama đã làm nên lịch sử khi trở thành vị tổng thống thứ ba của tiểu bang Illinois và cùng là tổng thống da màu đầu tiên của nước Mỹ[10].

Tham khảo

Liên kết ngoài

Singapore

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tọa độ: 1,3°B 103,8°Đ

Cộng hoà Singapore
Republic of Singapore (tiếng Anh)
Republik Singapura (tiếng Mã Lai)
新加坡共和國 (tiếng Trung)
சிங்கப்பூர் குடியரசு (tiếng Tamil)
Flag of Singapore.svg Coat of arms of Singapore (blazon).svg
Quốc kỳ Quốc huy
Vị trí của Singapore
Khẩu hiệu
Majulah Singapura
(“Tiến lên, Singapore”)
Quốc ca
Majulah Singapura
“Tiến lên, Singapore”

Trình đơn
0:00
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện
 • Tổng thống
Thủ tướng
Trần Khánh Viêm
Lý Hiển Long
Ngôn ngữ chính thức Anh, Mã Lai, Quan thoại, Tamil
Thủ đô Singapore
[1]) 1°17′B, 103°51′Đ
Thành phố lớn nhất Singapore
Địa lý
Diện tích 716,1[1] km² (hạng 190)
Diện tích nước 1,444 %
Múi giờ SST (UTC+8); mùa hè: Không áp dụng (UTC+8)
Lịch sử
Độc lập
6 tháng 2 năm 1819[2] Thành lập
3 tháng 6 năm 1959[3] Tự trị
31 tháng 8 năm 1963[4] Độc lập từ Anh Quốc
16 tháng 9 năm 1963[4] Sáp nhập với Malaysia
9 tháng 8 năm 1965[4] Phân tách khỏi Malaysia
Dân cư
Dân số ước lượng (2013) 5.399.200[1] người (hạng 116)
Mật độ 7.540[1] người/km² (hạng 3)
Kinh tế
GDP (PPP) (2012) Tổng số: 327,557 tỷ USD[5]
Bình quân đầu người: 61.046 USD[5]
GDP (danh nghĩa) (2012) Tổng số: 270,020 tỷ USD[5]
Bình quân đầu người: 50.323 USD[5]
HDI (2013) 0,895 cao (hạng 19)
Hệ số Gini (2012) 47,8[6] (cao) (hạng 26)
Đơn vị tiền tệ Đôla Singapore (SGD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .sg, .சிங்கப்பூர், .新加坡
¹ +02 khi gọi từ Malaysia

Singapore (phiên âm tiếng Việt: Xin-ga-po, Hán-Việt: Tân Gia Ba), tên chính thức là nước Cộng hòa Singapore, là một thành bang và đảo quốc tại Đông Nam Á. Đảo quốc nằm ngoài khơi mũi phía nam của bán đảo Mã Lai và cách xích đạo 137 km về phía bắc. Lãnh thổ Singapore gồm có một đảo chính hình thoi, và khoảng 60 đảo nhỏ hơn. Singapore tách biệt với Malaysia bán đảo qua eo biển Johor ở phía bắc, và tách biệt với quần đảo Riau của Indonesia qua eo biển Singapore ở phía nam. Singapore là quốc gia đô thị hóa cao độ, chỉ còn lại ít thảm thực vật nguyên sinh. Lãnh thổ của Singapore liên tục mở rộng thông qua hoạt động cải tạo đất.
Các hòn đảo của Singapore có người định cư vào thế kỷ thứ 2 Công nguyên và sau đó thuộc một số quốc gia bản địa. Năm 1819, chính trị gia Anh Quốc Stamford Raffles thành lập Singapore hiện đại với vai trò là một trạm mậu dịch của Công ty Đông Ấn Anh, hành động này được Vương quốc Johor cho phép. Anh Quốc giành được chủ quyền đối với đảo vào năm 1824, và Singapore trở thành một trong Các khu định cư Eo biển của Anh Quốc vào năm 1826. Nhật Bản chiếm đóng Singapore trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và sau chiến tranh Singapore tuyên bố độc lập từ Anh Quốc vào năm 1963, và hợp nhất với các cựu lãnh thổ khác của Anh Quốc để hình thành Malaysia, tuy nhiên Singapore bị trục xuất khỏi Malaysia hai năm sau. Kể từ đó, Singapore phát triển nhanh chóng, được công nhận là một trong Bốn con hổ châu Á.
Singapore là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thế trung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất. Nền kinh tế mang tính toàn cầu và đa dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vào mậu dịch, đặc biệt là chế tạo, chiếm 26% GDP vào năm 2005. Theo sức mua tương đương, Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba trên thế giới. Quốc gia này xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế liên quan đến giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sự minh bạch của chính phủ, và tính cạnh tranh kinh tế.
Singapore là một nước cộng hòa nghị viện đa dảng nhất thể, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster. Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959. Có hơn năm triệu người sống tại Singapore, trong đó xấp xỉ hai triệu người sinh ra tại nước ngoài. Singapore có thành phần dân tộc đa dạng, song các dân tộc châu Á chiếm ưu thế: 75% dân số là người Hoa, các cộng đồng thiểu số đáng kể là người Mã Lai, người Ấn Độ, và người Âu-Á. Quốc gia này có bốn ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, tiếng Mã Lai, tiếng Hoatiếng Tamil, và chính phủ thúc đẩy chủ nghĩa văn hóa đa nguyên thông qua một loạt các chính sách chính thức.
Singapore là một trong năm thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và là nơi đặt Ban thư ký APEC, là một thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á, Phong trào không liên kết, và Thịnh vượng chung các quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của Singapore tạo cho quốc gia này có ảnh hưởng đáng kể trong các vấn đề toàn cầu, khiến một số nhà phân tích nhận định Singapore là một cường quốc bậc trung.[7][8]

Từ nguyên

Tên gọi tiếng Anh “Singapore” bắt nguồn từ tiếng Mã Lai Singapura (tiếng Phạn: सिंहपुर, nghĩa là thành phố Sư tử). Tuy nhiên, người ta tin rằng sư tử chưa từng sống trên đảo, và loài thú mà Sang Nila Utama (người thành lập và định danh cho Singapore cổ đại) nhìn thấy có lẽ là một con hổ.[9]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Singapore

Khu định cư đầu tiên được biết đến tại Singapore là một tiền đồn của Đế quốc Srivijaya có tên là Temasek (‘hải trấn’). Hòn đảo vẫn là một phần của Đế quốc Srivijaya khi Hoàng đế Rajendra Chola I của Đế quốc Chola tại Nam Ấn xâm chiếm nó vào thế kỷ 11.[10][11] Năm 1613, những hải tặc người Bồ Đào Nha đốt khu định cư và hòn đảo chìm trong tăm tối vào hai thế kỷ sau đó.[12]
Năm 1819, chính khách người Anh Quốc Thomas Stamford Raffles đến và thay mặt Công ty Đông Ấn Anh để ký kết một hiệp định với Quốc vương Hussein Shah của Vương quốc Johor nhằm phát triển phần phía nam của Singapore thành một trạm mậu dịch của Đế quốc Anh. Năm 1824, Anh Quốc có quyền sở hữu đối với toàn bộ đảo theo một hiệp định khác với Quốc vương và Temenggong (thống lĩnh).[13] Năm 1826, Singapore trở thành một phần của Các khu định cư Eo biển, thuộc phạm vi quyền hạn của Ấn Độ thuộc Anh, rồi trở thành thủ đô của lãnh thổ vào năm 1836.[14] Trước khi Raffles đến, có xấp xỉ 1.000 người sống trên đảo, hầu hết là người Mã Lai bản địa cùng với một số người Hoa.[15] Năm 1860, dân số vượt quá 80.000 và hơn một nửa là người Hoa. Nhiều người nhập cư đến để làm việc trong các đồn điền cao su, và sau thập niên 1870 thì đảo trở thành một trung tâm xuất khẩu cao su toàn cầu.[13]
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Quân đội Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Malaya thuộc Anh, đỉnh điểm là trận Singapore. Người Anh chiến bại, và đầu hàng vào ngày 15 tháng 2 năm 1942. Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill gọi đây là “thảm họa tệ nhất và sự đầu hàng lớn nhất trong lịch sử Anh Quốc”.[16] Số người Hoa bị thảm sát sau khi Singapore thất thủ ước tính từ 5.000 đến 25.000.[17] Người Anh tái chiếm đảo vào tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng.[18]
Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1955, lãnh đạo ủng hộ độc lập của Mặt trận Lao động là David Marshall giành chiến thắng. Ông dẫn đầu một phái đoàn đến Luân Đôn để yêu cầu tự trị hoàn toàn, song người Anh bác bỏ. Sau đó, David Marshall từ chức và Lâm Hữu Phúc trở thành người thay thế, ông thi hành các chính sách nhằm thuyết phục người Anh trao cho Singapore quyền tự trị nội bộ hoàn toàn đối với toàn bộ các vấn đề ngoại trừ quốc phòng và đối ngoại.[19]
Trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1959, Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng vang dội. Singapore trở thành một nhà nước tự trị nội bộ bên trong Thịnh vượng chung và Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của quốc gia.[20] Tổng đốc William Allmond Codrington Goode giữ vai trò là Yang di-Pertuan Negara (“nguyên thủ quốc gia”) đầu tiên, người kế nhiệm là Yusof bin Ishak trở thành Tổng thống Singapore đầu tiên vào năm 1965.[21] Trong thập niên 1950, những người cộng sản gốc Hoa vốn có quan hệ chặt chẽ với các thương hội và các trường tiếng Hoa tiến hành một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại chính quyền tại Malaya, dẫn đến Tình trạng khẩn cấp Malaya, và sau đó là Chiến tranh phản loạn cộng sản. Bạo động phục vụ toàn quốc 1954, bạo động trung học Hoa văn và bạo động xe buýt Phúc Lợi tại Singapore đều có liên hệ với các sự kiện này.[22]
Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Mã Lai được tiến hành vào năm 1962, đưa Singapore trở thành một thành viên của Liên bang Malaysia cùng với Malaya, SabahSarawak với vị thế một bang có quyền tự trị vào tháng 9 năm 1963. Singapore bị trục xuất khỏi liên bang vào ngày 7 tháng 8 năm 1965 sau những bất đồng quan điểm chính trị chính phủ của bang và hội đồng liên bang tại Kuala Lumpur. Singapore được độc lập 2 ngày sau đó, vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore. Malaysia là nước đầu tiên công nhận nền độc lập của Singapore.[23]
Độc lập đồng nghĩa với tự túc, Singapore đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn này, bao gồm nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ. Với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và đồng minh, trong nhiệm kỳ của mình từ năm 1959 đến 1990, Thủ tướng Lý Quang Diệu từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn. Các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập. Singapore từ một nước đang phát triển trở thành một nước phát triển vào cuối thế kỷ 20.[24]
Năm 1990, Ngô Tác Đống kế nhiệm chức thủ tướng, đối mặt với nhiều khó khăn bao gồm ảnh hưởng kinh tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, sự lan tràn của SARS năm 2003 cũng như những đe dọa khủng bố từ Jemaah Islamiah, hậu 11 tháng 9 và các vụ đánh bom ở Bali. Năm 2004, con trai cả của Lý Quang Diệu là Lý Hiển Long trở thành thủ tướng thứ ba.[25]

Địa lý

Singapore được chia thành 55 khu vực quy hoạch

Vườn Thực vật Singapore, khu vườn thực vật 52 ha của Singapore, nơi có Vườn Lan Quốc gia với hơn 3,000 loài hoa phong lan

Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương được nhiều đảo nhỏ khác bao quanh. Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor của Malaysia — một con đường nhân tạo có tên Đường đắp cao Johor-Singapor ở phía bắc, băng qua eo biển Tebrau và Liên kết thứ hai Tuas, một cầu phía tây nối với Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau UbinSentosa là những đảo lớn nhất của Singapore, ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ khác. Vị trí cao nhất của Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m.
Vùng thành thị trước đây chỉ tập trung bao quanh sông Singapore, hiện nay là trung tâm buôn bán của Singapore, trong khi đó những vùng còn lại rừng nhiệt đới ẩm hoặc dùng cho nông nghiệp. Từ thập niên 1960, chính phủ đã xây dựng nhiều đô thị mới ở những vùng xa, tạo nên một Singapore với nhà cửa san sát ở khắp mọi miền, mặc dù Khu vực Trung tâm vẫn là nơi hưng thịnh nhất. Ủy ban Quy hoạch Đô thị là một ban của chính phủ chuyên về các hoạt động quy hoạch đô thị với nhiệm vụ là sử dụng và phân phối đất hiệu quả cũng như điều phối giao thông. Ban đã đưa ra quy hoạch chi tiết cho việc sử dụng đất ở 55 khu vực.
Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước lân cận. Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay, và có thể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030.
Singapore có khí hậu xích đạo ẩm với các mùa không phân biệt rõ rệt. Đặc điểm của loại khí hậu này là nhiệt độ và áp suất ổn định, độ ẩm cao và mưa nhiều. Nhiệt độ thay đổi trong khoảng 22°C đến 31 °C (72°–88°F). Trung bình, độ ẩm tương đối khoảng 90% vào buổi sáng và 60% vào buổi chiều. Trong những trận mưa lớn kéo dài, độ ẩm tương đối thường đạt 100%. Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất đã từng xuất hiện là 18,4 °C (65,1 °F) và 37,8 °C (100,0 °F).
Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời, hiện nay chỉ còn lại một trong số chúng là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah. Tuy nhiên, nhiều công viên đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, ví dụ như Vườn Thực vật Quốc gia. Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế – một loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.

[ẩn]Dữ liệu khí hậu của Singapore
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 34.3 35.2 36.0 35.8 35.4 35.0 34.0 34.2 34.3 34.6 34.2 33.8 36,0
Trung bình cao °C (°F) 30.1 31.2 31.6 31.7 31.6 31.3 30.9 30.9 30.9 31.1 30.6 30.0 31,0
Trung bình ngày, °C (°F) 26.0 26.5 27.0 27.4 27.7 27.7 27.4 27.3 27.2 27.0 26.5 26.0 26.98
Trung bình thấp, °C (°F) 23.3 23.6 23.9 24.4 24.8 24.8 24.6 24.5 24.2 24.1 23.7 23.5 24,1
Thấp kỉ lục, °C (°F) 19.4 19.7 20.2 20.7 21.2 20.8 19.7 20.2 20.7 20.6 21.1 20.6 19,4
Lượng mưa, mm (inches) 243.2
(9.575)
159.9
(6.295)
185.7
(7.311)
178.9
(7.043)
171.3
(6.744)
162.1
(6.382)
158.7
(6.248)
175.4
(6.906)
169.2
(6.661)
193.8
(7.63)
256.9
(10.114)
287.4
(11.315)
2.342,5
(92,224)
độ ẩm 84.7 82.8 83.8 84.8 84.4 83.0 82.8 83.0 83.4 84.1 86.4 86.9 84,2
Số ngày mưa TB 15 11 14 15 15 13 13 14 14 16 19 19 178
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 173.6 183.6 192.2 174.0 179.8 177.0 189.1 179.8 156.0 155.0 129.0 133.3 2.022,4
Tỷ lệ khả chiếu 47 54 52 48 48 49 51 48 43 42 36 36 554
Nguồn #1: Cơ quan Môi trường Quốc gia Singapore (nhiệt độ 1929–1941 và 1948–2011, lượng mưa 1869–2011, độ ẩm 1929–1941 và 1948–2011, số ngày mưa 1891–2011) [26]
Nguồn #2: Đài thiên văn Hong Kong (giờ nắng, 1982—2008) [27]

Chính phủ và chính trị

Tòa nhà Quốc hội của Singapore.

Singapore là một nước cộng hòa nghị viện, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử. Hiến pháp của quốc gia thiết lập hệ thống chính trị dân chủ đại diện.[28] Freedom House xếp hạng Singapore là “tự do một phần” trong báo cáo Freedom in the World của họ,[29]The Economist xếp hạng Singapore là một “chế độ hỗn hợp”, hạng thứ ba trong số bốn hạng, trong “Chỉ số dân chủ” của họ.[30] Tổ chức Minh bạch Quốc tế liên tục xếp Singapore vào hạng các quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới.[31]
Quyền hành pháp thuộc về Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo, và ở một mức độ thấp hơn rất nhiều là Tổng thống.[21] Tổng thống được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, và có quyền phủ quyết đối với một tập hợp cụ thể các quyết định hành pháp, như sử dụng dự trữ quốc gia và bổ nhiệm các thẩm phán, song vai trò phần lớn mang tính lễ nghi.[32]
Quốc hội đóng vai trò là nhánh lập pháp của chính phủ.[21] Các thành viên của Quốc hội gồm có các thành viên đắc cử, phi tuyển khu và được chỉ định. Các thành viên đắc cử được bầu vào Quốc hội trên cơ sở “đa số chế” và đại diện cho các khu vực bầu cử có một hoặc nhóm đại diện.[33] Đảng Hành động Nhân dân giành quyền kiểm soát quốc hội với đa số lớn trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959.[29]
Hệ thống tư pháp của Singapore dựa trên thông luật Anh, song có các khác biệt địa phương đáng kể. Việc bồi thẩm đoàn xử án bị bãi bỏ vào năm 1970, các phán quyết tư pháp sẽ hoàn toàn nằm trong tay các thẩm phán được chỉ định.[34] Singapore có các hình phạt bao gồm cả trừng phạt thân thể tư pháp dưới dạng đánh đòn, có thể áp dụng đối với các tội hình như hiếp dâm, gây rối loạn, phá hoại, và các vi phạm di trú nhất định.[35][36] Ân xá Quốc tế cho rằng một số điều khoản pháp lý của Singapore xung đột với quyền được cho là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội, và rằng Singapore “có thể có tỷ lệ hành quyết cao nhất trên thế giới so với dân số của quốc gia”.[37] Chính phủ Singapore bất đồng ý kiến với các tuyên bố của Ân xá Quốc tế.[38] Trong một nghiên cứu vào năm 2008, Singapore và Hong Kong xếp hàng đầu về chất lượng hệ thống tư pháp tại châu Á.[39]

Quan hệ đối ngoại

Quốc vụ tư chính Lý Quang Diệu cùng Đại sứ Singapore tại Hoa Kỳ Trần Khánh Châu gặp Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ William Cohen vào năm 2000.

Chính sách đối ngoại của Singapore có mục đích duy trì an ninh tại Đông Nam Á và các lãnh thổ phụ cận. Một nguyên tắc cơ bản là tính ổn định chính trị và kinh tế trong khu vực.[40] Singapore có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia có chủ quyền.[41] Là một trong năm thành viên sáng lập của ASEAN,[42] Singapore là một quốc gia ủng hộ mạnh mẽ đối với Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Khu vực đầu tư ASEAN. Cựu Thủ tướng Ngô Tác Đống đề xuất hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN, một bước vượt qua AFTA, đưa Đông Nam Á tiến gần hơn đến một thị trường chung. Singapore duy trì tư cách thành viên trong các tổ chức khu vực khác như Hội nghị Á-Âu, Diễn đàn Hợp tác Đông Á-Mỹ Latinh, Hệ thống các thành phố lớn châu Á 21, và Hội nghị cấp cao Đông Á.[40] Đảo quốc cũng là một thành viên của Phong trào không liên kết[43]Thịnh vượng chung Các quốc gia.[44]
Về tổng thể, Singapore có quan hệ song phương vững chắc với các thành viên khác trong ASEAN; tuy nhiên, có những bất đồng phát sinh,[40] và quan hệ với Malaysia và Indonesia đôi khi trở nên căng thẳng.[45] Malaysia và Singapore phát sinh mâu thuẫn về vấn đề cung cấp nước sạch đến Singapore,[46] và vấn đề Quân đội Singapore tiếp cận không phận Malaysia.[45] Có những vấn đề biên giới tồn tại với Malaysia và Indonesia, và hai quốc gia này đều cấm bán cát biển đến Singapore do những tranh nghị về hành động cải tạo đất của Singapore.[47] Một số tranh chấp trước đó được giải quyết thông qua Tòa án Công lý Quốc tế. Vấn nạn hải tặc trên eo biển Malacca tạo ra mối quan tâm chung của cả ba quốc gia.[46] Singapore có các quan hệ kinh tế mật thiết với Brunei, và hai quốc gia chia sẻ một giá trị tiền tệ cố định.[48]
Singapore có tiếp xúc ngoại giao đầu tiên với Trung Quốc trong thập niên 1970, và quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa hai quốc gia được thiết lập trong thập niên 1990. Kể từ đó, Singapore và Trung Quốc là những bên chủ yếu trong việc tăng cường quan hệ ASEAN–Trung Quốc.[49] Singapore và Hoa Kỳ có quan hệ mật thiết lâu dài, đặc biệt là trong các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế, y tế, và giáo dục. Hoa Kỳ là đối tác mậu dịch lớn thứ ba của Singapore trong năm 2010, sau Trung Quốc (thứ 2) và Malaysia (thứ 1).[50] Hai quốc gia có một hiệp định mậu dịch tự do, và Singapore nhận định quan hệ với Hoa Kỳ là một đối trọng quan trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc.[51]

Quân sự

RSS Steadfast và RSS Vigilance của Hải quân Singapore, năm 2010.

Quân đội Singapore được cho là có kỹ thuật tiến bộ nhất tại Đông Nam Á,[52] gồm có Lục quân Singapore, Hải quân Cộng hòa Singapore, và Không quân Cộng hòa Singapore.[6] Quân đội được nhìn nhận là lực lượng bảo đảm cho độc lập quốc gia.[53] Triết lý quốc phong của đảo quốc mang tính ngoại giao và răn đe.[54] Nguyên lý này biến thành văn hóa, yêu cầu mọi công dân tham dự phòng thủ quốc gia.[55] Chính phủ dành 4,9% GDP toàn quốc cho quốc phòng,[6] và khoảng 1/4 chi tiêu của chính phủ là dành cho quốc phòng.[56]
Sau khi độc lập, Singapore có hai trung đoàn bộ binh do các sĩ quan người Anh chỉ huy. Lực lượng này được nhận định là quá nhỏ để đáp ứng an ninh hiệu quả cho quốc mới, do vậy việc phát triển quân đội trở thành một điều ưu tiên.[57] Anh đưa quân đội ra khỏi Singapore vào tháng 10 năm 1971, chỉ còn hiện diện tượng trưng bằng một lực lượng nhỏ người Anh, Úc và New Zealand. Quân nhân Anh cuối cùng rời khỏi Singapore vào tháng 3 năm 1976. Các binh sĩ New Zealand là những người cuối cùng rời đi, vào năm 1989.[58]
Singapore nhận được trợ giúp ban đầu trên quy mô lớn từ Israel,[57] một quốc gia không được Malaysia, Indonesia hay Brunei công nhận.[59][60][61] Mối lo chính sau khi độc lập là một cuộc xâm chiếm của Malaysia. Các sĩ quan chỉ huy của Lực lượng Phòng vệ Israel được giao nhiệm vụ thiết lập Lực lượng vũ trang Singapore từ con số không, và những giáo viên hướng dẫn người Israel được đưa đến nhằm huấn luyện cho các binh sĩ Singapore. Các khóa huấn luyện quân sự được tiến hành theo khuôn mẫu của Lực lượng Phòng vệ Israel, và Singapore tiếp nhận một chế độ nghĩa vụ quân sự và lực lượng dự bị dựa theo mô hình Israel.[57] Singapore vẫn duy trì các quan hệ an ninh mật thiết với Israel và là một trong những khách hàng lớn nhất của vũ khí Israel.[62]
Lực lượng vũ trang Singapore đang được phát triển nhằm đáp ứng một loạt các vấn đề, trong cả chiến tranh quy ước và phi quy ước. Cục khoa-kỹ Quốc phòng chịu trách nhiệm thu thập tiềm lực cho quân đội.[54] Hạn chế trên phương diện địa lý của đảo quốc có nghĩa là Lực lượng vũ trang Singapore cần phải có kế hoạch đẩy lui hoàn toàn một cuộc tấn công, do họ không thể rút lui rồi tái tập hợp. Quy mô dân số nhỏ cũng tác động đến phương pháp mà Lực lượng vũ trang Singapore trù tính, với một lực lượng tích cực nhỏ song có một lượng dự trữ lớn.[55] Do khan hiếm đất trống tại đảo chính, các hoạt động liên quan đến huấn luyện như bắn đạn thật và diễn tập đổ bộ thường được tiến hành trên các đảo nhỏ hơn, thường cấm chỉ thường dân tiếp cận, nó cũng ngăn ngừa rủi ro tại đảo chính và khu vực đô thị. Tuy nhiên, các cuộc tập trận quy mô lớn được nhận định là quá nguy hiểm khi tiến hành trong khu vực, và chúng được thực hiện tại Đài Loan từ năm 1975.[63] Hoạt động huấn luyện cũng được tổ chức tại nhiều quốc gia khác. Về tổng thể, các cuộc luyện tập quân sự được tổ chức với lực lượng ngoại quốc một hoặc hai lần mỗi tuần.[55]
Do không phận và lãnh thổ hạn chế, Không quân Cộng hòa Singapore duy trì một số căn cứ hải ngoại tại Úc, Hoa Kỳ, và Pháp. Phi đội 130 của Không quân Cộng hòa Singapore đặt tại RAAF Base Pearce, Tây Úc,[64] còn Phi đội 126 đặt tại Trung tâm Hàng không Lục quân Oakey, Queensland.[65] Phi đội 150 đặt tại căn cứ không quân Cazaux tại miền nam Pháp.[66][67] Không quân Cộng hòa Singapore cũng có một vài phân đội hải ngoại tại Hoa Kỳ, như tại San Diego, Marana, Grand Prairie và căn cứ không quân Luke.[68][69]
Lực lượng vũ trang Singapore đã phái quân đi hỗ trợ các hoạt động bên ngoài đảo quốc, tại các khu vực như Iraq[70]Afghanistan,[71] trong cả vai trò quân sự và dân sự. Trong khu vực, Lực lượng vũ trang Singapore giúp ổn định Đông Timor và cung cấp viện trợ đến Aceh tại Indonesia sau Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004. Lực lượng vũ trang Singapore cũng tham gia giúp đỡ trong các nỗ lực cứu trợ sau Bão Katrina.[72] Singapore là một bên trong Dàn xếp phòng vệ 5 quốc gia (FPDA), một liên minh quân sự với Anh, Malaysia, New Zealand, và Úc.[55]

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Singapore

Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài. Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, raucây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là Khu công nghiệp Jurong. Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á. Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Kinh tế Singapore từ cuối những năm 1980 đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới: 1994 đạt 10%, 1995 là 8,9%. Tuy nhiên, từ cuối 1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ, đồng đô la Singapore đã bị mất giá 20% và tăng trưởng kinh tế năm 1998 giảm mạnh chỉ còn 1,3%. Từ 1999, Singapore bắt đầu phục hồi nhanh: Năm 1999, tăng trưởng 5,5%, và năm 2000 đạt hơn 9%. Do ảnh hưởng của sự kiện 11 tháng 9, suy giảm của kinh tế thế giới và sau đó là dịch SARS, kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề: Năm 2001, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt -2,2%, 2002, đạt 3% và 2003 chỉ đạt 1,1%. Từ 2004, tăng trưởng mạnh: năm 2004 đạt 8,4%; 2005 đạt 5,7%; năm 2006 đạt 7,7% và năm 2007 đạt 7,5%. Năm 2009, GDP chỉ tăng 1,2% do tác động của khủng hoảng kinh tế.
Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh.[73]

Giao thông

Bài chi tiết: Giao thông Singapore

Một đoàn thuyền chạy trên sông Singapore về đêm

Hệ thống giao thông công chánh ở Singapore rất phát triển. Chất lượng đường bộ của đảo quốc này được đánh giá là vào loại tốt nhất thế giới. Giao thông tại Singapore được vận hành theo mô hình của Anh, trái với giao thông tay phải của châu Âu lục địa.

Đường phố của Singapore

Singapore có nhiều loại phương tiện giao thông công cộng, trong đó hai phương tiện phổ biến nhất là xe bus (hơn 3 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010) và tàu điện ngầm mà người Singapore thường gọi là MRT (Mass Rapid Transit) (hơn 2 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010)[74]. Người đi xe bus trả tiền mua vé cho từng chặng, ngoại trừ trường hợp họ có thẻ từ tự động EZlink (thẻ này cho phép họ sử dụng dịch vụ của xe bus giá rẻ và trong một thời gian dài). Hệ thống tàu điện ngầm của Singapore có 84 ga với chiều dài 129.9 km [74] và có giờ làm việc là từ 06:00 tới 24:00. Taxi cũng là một phương tiện giao thông khá phổ biến ở Singapore nhưng khá khó bắt và đắt trong giờ cao điểm.
Do Singapore có diện tích rất hẹp, nên chính quyền Singapore thường có những biện pháp đặc biệt để tránh tình trạng nghẽn xe, tắc đường. Hệ thống thuế giờ cao điểm ERP (Electronics Road Pricing) được đưa vào hoạt động trong khu vực trung tâm thành phố để giảm lưu lượng xe lưu thông qua các khu vực này vào giờ cao điểm. Số tiền này được trừ thẳng vào thẻ EZLink cài trên xe hơi. ERP có thể lên đến SGD15 nếu 1 chiếc xe chạy qua 5 trạm ERP trong khu vực nội thành.
Singapore cũng có phương tiện giao thông đường thủy phổ biến là thuyền máy nhỏ, tuy nhiên đa số chúng chỉ được dùng cho mục đích du lịch. Các du khách tới Singapore có thể tham quan thành phố bằng đường thủy trên sông Singapore trong những tour kéo dài khoảng 30 phút.

Nhân khẩu

Năm 2012, dân số Singapore là 5,312 triệu người, trong đó 3,285 triệu (62%) là công dân Singapore và những người còn lại (38%) là những cư dân thường trú hoặc công nhân/học sinh ngoại quốc. 23% công dân Singapore sinh ra bên ngoài Singapore. Có một triệu cư dân thường trú tại Singapore vào năm 2012. Số cư dân này không tính đến 11 triệu du khách tạm thời đến thăm quan Singapore mỗi năm.[1][75][76]
Tuổi trung bình của người Singapore là 37 tuổi và quy mô hộ gia đình trung bình là 3,5 người. Do khan hiếm đất, 4/5 người Singapore sống trong các căn hộ được trợ cấp, cao tầng, công cộng được gọi là các căn hộ Cục Nhà ở và Phát triển (HDB), theo sau việc cục chịu trách nhiệm đối với nhà ở công tại quốc gia.[77] Có gần 200.000 người giúp việc gia đình tại Singapore.[78]
Năm 2010, tỷ lệ sở hữu nhà tại Singapore là 87,2%.[79][80] Điện thoại di động thâm nhập với tỷ lệ rất cao là 1.400 điện thoại di động trên 1000 người. Khoảng 1/10 cư dân sở hữu một ô tô.[76]
Tổng tỷ suất sinh được ước tính là 0,79 trẻ em trên mỗi phụ nữ vào năm 2013, đây là tỷ lệ thấp nhất thế giới và thấp hơn tỷ lệ cần thiết là 2,1 để thay thế dân số.[81] Để khắc phục vấn đề này, chính phủ Singapore khuyến khích người ngoại quốc nhập cư đến Singapore trong vài thập niên gần đây. Một lượng lớn người nhập cư giúp cho dân số của Singapore không suy giảm.[82] Singapore có truyền thống là một trong những quốc gia phát triển có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, tỷ lệ thất nghiệp tại đây không vượt quá 4% trong thập kỷ qua, chạm mức cao 3% trong khủng hoản tài chính toàn cầu 2009 và giảm xuống 1,9% vào 2011.[83][84]
Năm 2009, khoảng 40% cư dân Singapore là người ngoại quốc, một trong những tỷ lệ cao nhất trên thế giới.[85] Công nhân ngoại quốc chiếm 80% lao động trong ngành xây dựng và chiếm 50% trong ngành phục vụ.[86][87]
Năm 2009, điều tra dân số của chính phủ báo cáo rằng 74,2% cư dân là người gốc Hoa, 13,4% là người gốc Mã Lai, và 9,2% là người gốc Ấn Độ,[88] người Âu-Á và các nhóm khác chiếm 3,2%. Trước năm 2010, mỗi cá nhân chỉ có thể đăng ký làm thành viên của một chủng tộc, mặc định theo phụ hệ, do đó, những người hỗn chủng được xếp theo nhóm chủng tộc của người cha. Từ năm 2010 trở đi, người dân có thể đăng ký theo phân loại kép, trong đó họ có thể chọn một chủng tộc chính và một chủng tộc thứ, song không quá hai.[89]

Tôn giáo

Tôn giáo tại Singapore (Pew Research)[90][91]
Tôn giáo Tỷ lệ
Phật giáo
34%
Ki-tô giáo
18%
Không tôn giáo
16%
Hồi giáo
14%
Khác
(chủ yếu là Đạo giáo)
10%
Ấn Độ giáo
5%
Dân gian
3%

Phật giáo là tôn giáo được thực hành phổ biến nhất tại Singapore, với 33% số cư dân tuyên bố bản thân họ là tín đồ trong cuộc điều tra dân số gần đây nhất. Tôn giáo được thực hành phổ biến thứ nhì là Ki-tô giáo, sau đó là Hồi giáo, Đạo giáo, và Ấn Độ giáo. 17% dân số không gia nhập tôn giáo nào. Tỷ lệ tín đồ Ki-tô giáo, Đạo giáo, và người không tôn giáo tăng trong khoảng thời gian giữa năm 2000 và 2010, mỗi nhóm tăng 3%, trong khi tỷ lệ tín đồ Phật giáo thì giảm xuống. Các đức tin khác vẫn ổn định trên quy mô lớn về tỷ lệ dân số.[90]
Tại Singapore có các chùa và trung tâm Phật pháp từ cả ba tông phái truyền thống chính của Phật giáo: Thượng tọa bộ, Đại thừa, và Kim cương thừa. Hầu hết tín đồ Phật giáo tại Singapore là người Hoa và theo truyền thống Đại thừa.[92] Đại thừa Trung Hoa là tông phái Phật giáo chiếm ưu thế nhất tại Singapore, với các hòa thượng truyền giáo đến từ Đài Loan và Trung Quốc trong vài thập kỷ gần đây. Tuy nhiên, Phật giáo Thượng tọa bộ từ Thái Lan ngày càng phổ biến trong cư dân Singapore (không chỉ người Hoa) trong thập niên qua. Học hội Sáng giá Quốc tế là một tổ chức Phật giáo của Nhật Bản, hiện được nhiều người thực hành theo tại Singapore, song hầu hết họ là người gốc Hoa. Phật giáo Tây Tạng cũng xâm nhập chậm vào quốc đảo trong những năm gần đây.[93]

Ngôn ngữ

Tiếng mẹ đẻ của người Singapore[94]
Ngôn ngữ Tỷ lệ
tiếng Trung Quốc
49.9%
tiếng Anh
32.3%
tiếng Mã Lai
12.2%
tiếng Tamil
3.3%

Singapore có bốn ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Mã Lai, Quan thoại, và Tamil.[95] Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến tại quốc đảo và là ngôn ngữ của kinh doanh, chính phủ, và là phương tiện giảng dạy trong trường học.[96][97] Các cơ cấu công cộng tại Singapore quản lý công việc của họ bằng tiếng Anh, và các tài liệu chính thức được viết bằng các ngôn ngữ chính thức khác như tiếng Hoa, tiếng Mã Lai, hay tiếng Tamil thường phải được dịch sang tiếng Anh để việc đệ trình được chấp nhận. Hiến pháp Singapore và toàn bộ các luật được viết bằng tiếng Anh,[98] và người dịch được yêu cầu nếu một người muốn nói chuyện với tòa án bằng một ngôn ngữ không phải tiếng Anh.[99][100] Tuy nhiên, tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ mẹ đẻ của một phần ba người Singapore, với khoảng một phần ba người Singapore gốc Hoa, một phần tư người Singapore gốc Mã Lai và một nửa người Singapore gốc Ấn Độ có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Anh. 20% người Singapore không thể đọc hoặc viết bằng tiếng Anh.[90][101]
Nhiều người Singapore là người song ngữ trong tiếng Anh và ngôn ngữ chính thức khác, với mức độ lưu loát khác nhau. Xếp hạng các ngôn ngữ chính thức về tỷ lệ đọc viết là tiếng Anh (80% biết đọc viết), Quan thoại (65% biết đọc viết), Mã Lai (17% biết đọc viết), và Tamil (4% biết đọc viết).[90][102] Tiếng Anh-Singapore dựa trên tiếng Anh-Anh,[103] và các dạng tiếng Anh được nói tại Singapore biến thiên từ “tiếng Anh-Singapore chuẩn” đến một thứ tiếng bồi gọi là “Singlish“. Singlish bị chính phủ ngăn trở quyết liệt.[104]
Tiếng Hoa là ngôn ngữ mẹ đẻ của nhiều người Singapore nhất, chiếm một nửa trong số họ.[94] Quan thoại Singapore là phương ngôn tiếng Hoa phổ biến nhất tại quốc đảo,[105] với 1,2 triệu người sử dụng nó làm ngôn ngữ nói tại nhà. Gần nửa triệu người nói các phương ngôn tiếng Hoa khác, chủ yếu là tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu, và tiếng Quảng Đông, như ngôn ngữ tại nhà của họ, song việc sử dụng các phương ngôn này đang suy giảm khi thế hệ sau này chuyển sang Quan thoại và tiếng Anh.[106]
Chính phủ Singapore chọn tiếng Mã Lai làm ngôn ngữ quốc gia sau khi giành độc lập từ Anh Quốc trong thập niên 1960 nhằm tránh xích mích với các láng giềng — Malaysia và Indonesia — những quốc gia nói tiếng Mã Lai.[107] Việc này mang mục đích biểu tượng hơn là chức năng.[95][108][109] Ngôn ngữ này được sử dụng trong quốc ca “Majulah Singapura”,[110] trong các trích dẫn của hệ thống thứ bậc và huy chương của Singapore, và trong chỉ huy quân sự. Ngày nay, về tổng thể, tiếng Mã Lai được nói trong cộng đồng người Singapore gốc Mã Lai, chỉ 16,8% người Singapore biết đọc viết tiếng Mã Lai[111] và chỉ 12% sử dụng nó làm ngôn ngữ mẹ đẻ.[94]
Khoảng 100.000, hay 3%, người Singapore nói tiếng Tamil như ngôn ngữ mẹ đẻ của họ.[94] Tamil có địa vị chính thức tại Singapore và không có nỗ lực nào nhằm ngăn cấm việc sử dụng các ngôn ngữ Ấn Độ khác.[112]

Giáo dục-Y tế

Giáo dục các cấp tiểu học, trung học, và đại học hầu hết được nhà nước hỗ trợ. Toàn bộ các tổ chức dù là công hay tư đều phải được đăng ký với Bộ Giáo dục.[113] Tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy trong toàn bộ các trường học công,[114] và toàn bộ các môn học được dạy và thi bằng tiếng Anh ngoại trừ bài luận “tiếng mẹ đẻ”.[115] Trong khi thuật ngữ “tiếng mẹ đẻ” về tổng thể tầm quốc tế là đề cập đến ngôn ngữ thứ nhất, song nó được sử dụng nhằm đề cập đến ngôn ngữ thứ hai trong hệ thống giáo dục của Singapore, do tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất.[116][117] Các học sinh ở tại nước ngoài trong một thời gian, hoặc gặp khó khăn với “tiếng mẹ đẻ” của họ, được phép có một đề cương giản hóa hoặc bỏ qua môn học.[118][119]
Giáo dục gồm ba giai đoạn: tiểu học, trung học, và tiền đại học, trong đó chỉ có cấp tiểu học là bắt buộc. Học sinh bắt đầu với 6 năm tiểu học, gồm 4 năm cơ sở và hai năm định hướng, chương trình giảng dạy tập trung vào phát triển Anh ngữ, bản ngữ, toán học, và khoa học.[120][121] Trung học kéo dài 4-5 năm, và được phân thành các ban Đặc thù, Nhanh, Phổ thông (Học thuật), và Phổ thông (Kỹ thật) trong mỗi trường, dựa theo trình độ năng lực của mỗi học sinh.[122] Phân loại chương trình cơ bản tương tự cấp tiểu học, song các lớp học chuyên biệt hơn nhiều.[123] Giáo dục tiền đại học diễn ra trong 2-3 năm tại các trường cao đẳng, hầu hết gọi là Học viện sơ cấp.[124] Một số trường học được tự do trong chương trình giảng dạy của mình và được gọi là trường tự chủ. Các trường này tồn tại từ cấp trung học trở lên.[122]
Các kỳ thi quốc gia được tiêu chuẩn hóa trong tất cá các trường học, với một bài kiểm tra được thực hiện sau mỗi giai đoạn. Sau sáu năm giáo dục đầu tiên, học sinh tham gia khảo thí rời tiểu học (PSLE),[120] nó quyết định vị trí của họ tại trường trung học. Cuối giai đoạn trung học, khảo thí GCE trình độ “O” được tiến hành; vào cuối giai đoạn tiền đại học sau đó, khảo thí GCE trình độ “A” được tiến hành. Năm 2005, trong toàn bộ người Singapore 15 tuổi và lớn hơn mà không còn là học sinh, có 18% không có trình độ giáo dục.[125]
Singapore có một hệ thống chăm sóc y tế hiệu quả về tổng thể, dù chi phí y tế tại đây tương đối thấp so với các quốc gia phát triển.[126] Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng hệ thống y tế của Singapore đứng thứ 6 về tổng thể trong Báo cáo Y tế thế giới 2000.[127] Singapore có tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới trong hai thập niên qua.[128] Tuổi thọ dự tính khi sinh (2012) tại Singapore là 83, trong khi số liệu toàn cầu là 70. Hầu như toàn bộ dân cư được tiếp cận với nước và điều kiện vệ sinh được cải thiện.[129]

Văn hóa

Một cảnh tượng trên phố Trung Hoa tại Singapore dịp Tết Nguyên Đán.

Singapore là một quốc gia đa dạng và non trẻ, với nhiều ngôn ngữ, tôn giáo, và văn hóa.[130] Khi Singapore độc lập từ Anh Quốc vào năm 1963, hầu hết công dân là những lao động không có học thức đến từ Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ. Nhiều người trong số họ là những lao động ngắn hạn, đến Singapore nhằm kiếm một khoản tiền và không có ý định ở lại. Ngoại trừ người Peranakan (hậu duệ của người Hoa nhập cư vào thế kỷ 15-16) đảm bảo lòng trung thành của họ với Singapore, thì hầu hết người lao động trung thành với quê hương của họ.[131][132] Sau khi độc lập, quá trình thiết lập một bản sắc Singapore được khởi động.
Các cựu thủ tướng Lý Quang Diệu và Ngô Tác Đồng từng tuyên bố rằng Singapore không thích hợp với mô tả truyền thống về một quốc gia, gọi đây là một xã hội quá độ, chỉ ra thực tế rằng không phải toàn bộ người Singapore nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng một tôn giáo, hoặc có phong tục tương đồng.[130][133] Mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất của quốc gia, song theo điều tra nhân khẩu năm 2010 của chính phủ thì có 20% người Singapore không biết đọc viết bằng tiếng Anh, con số này vào năm 1990 là 40%.[134][135] Chính phủ nhận định sự hài hòa chủng tộc và tôn giáo là bộ phận quan trọng trong thành công của Singapore, và đóng vai trò quan trọng trong việc kiến thiết một bản sắc Singapore.[136]
Quốc hoa của Singapore là Vanda ‘Miss Joaquim’, được đặt tên theo một phụ nữ Armenia sinh tại Singapore, bà phát hiện loài hoa này trong vườn nhà tại Tanjong Pagar vào năm 1893.[137] Nhiều phù hiệu quốc gia như quốc huy Singapore và biểu tượng đầu sư tử Singapore sử dụng hình tượng sư tử, do Singapore được mệnh danh là ‘Thành phố Sư tử’. Các ngày lễ công cộng tại Singapore bao trùm các lễ chính của người Trung Hoa, Tây phương, Mã Lai, Ấn Độ.[138]
Ở tầm quốc gia, Singapore là một xã hội bảo thủ, song xuất hiện một số sự tự do hóa.[139] Ở cấp độ quốc gia, trọng dụng nhân tài được chú trọng cao độ, mỗi cá nhân được đánh giá dựa trên năng lực của họ.[140]
Ẩm thực cùng với mua sắm được cho là những hoạt động tiêu khiển quốc gia tại Singapore.[141] Sự đa dạng của thực phẩm được quảng cáo là một trong những lý do để đến thăm đảo quốc,[142] và sự đa dạng của thực phẩm đại diện cho các dân tộc khác nhau, chính phủ nhận định đây là một tương trưng cho sự đa dạng văn hóa của đảo quốc.[143] “Quốc quả” của Singapore là sầu riêng.[144]
Từ thập niên 1990, chính phủ xúc tiến các hoạt động nhằm biến Singapore thành một trung tâm nghệ thuật và văn hóa, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn, và biến đổi quốc gia thành một “cửa ngõ giữa phương Đông và phương Tây”.[145]
Các môn thể thao đại chúng tại Singapore gồm có bóng đá, bóng rổ, cricket, bơi, đi thuyền, bóng bàn và cầu lông. Hầu hết người Singapore sống trong các khu chung cư gần các tiện ích như hồ bơi, bên ngoài có sân bóng rổ và khu thể thao trong nhà. Các môn thể thao dưới nước phổ biến tại đảo quốc, trong đó có đi thuyền, chèo thuyền kayak và lướt ván. Lặn biển là một môn thể thao tiêu khiển phổ biến khác, đảo Hantu đặc biệt nổi tiếng với các rạn san hô phong phú.[146] Giải bóng đá của Singapore mang tên S-League được hình thành vào năm 1994,[147] Singapore bắt đầu tổ chức một vòng thi đấu của giải vô địch công thức 1 thế giới, Singapore Grand Prix, vào năm 2008. Singapore tổ chức Thế vận hội trẻ kỳ đầu tiên, vào năm 2010
Các công ty có liên kết với chính phủ kiểm soát hầu hết truyền thông nội địa tại Singapore.[148] MediaCorp vận hành hầu hết các kênh truyền hình và phát thanh phát sóng miễn phí tại Singapore. Có tổng cộng 7 kênh truyền hình phát sóng miễn phí do Mediacorp cung cấp.[149] Các kênh Channel 5 (tiếng Anh), Channel News Asia (tiếng Anh), Okto (tiếng Anh), Channel 8 (tiếng Trung), Channel U (tiếng Trung), Suria (tiếng Mã Lai) và Vasantham (tiếng Ấn).[150] StarHub Cable Vision (SCV) cung cấp dịch vụ truyền hình cáp với các kênh từ khắp thế giới[151] và Mio TV của SingTel cung cấp một dịch vụ IPTV.[152] Singapore Press Holdings có liên hệ với chính phủ và kiểm soát hầu hết ngành báo chí tại Singapore.[153] Các tổ chức nhân quyền như Freedom House đôi khi chỉ trích ngành truyền thông Singapore chịu quản lý quá mức và thiếu tự do.[148] Năm 2010, Phóng viên không biên giới xếp hạng Singapore thứ 136 trong số 178 trong Chỉ số Tự do Báo chí của mình.[154]

Giao thông

Cảng Singapore, hậu cảnh là đảo Sentosa

Do Singapore là một đảo quốc nhỏ với mật độ dân số cao, số lượng ô tô cá nhân trên đường bị hạn chế nhằm giảm ô nhiễm và tắc nghẽn. Những người mua ô tô phải trả thuế cao gấp 1,5 lần giá thị trường của phương tiện, và phải đấu giá cho một giấy chứng nhận quyền lợi (COE) để ô tô của họ được phép chạy trên đường trong một thập niên. Giá ô tô tại Singapore thường cao hơn đáng kể so với các quốc gia nói tiếng Anh.[155] Giống như hầu hết các quốc gia trong Thịnh vượng chung, các phương tiện đi trên đường và người đi bộ trên phố theo quy tắc bên trái.[156]
Cư dân Singapore cũng di chuyển bằng cách phương thức đi bộ, xe đạp, xe buýt, taxi và tàu hỏa (MRT hoặc LRT). Hai công ty vận hành xe buýt công cộng và hệ thống giao thông tàu hỏa là SBS Transit và SMRT Corporation. Taxi là hình thức giao thông công cộng phổ biến do chi phí tương đối rẻ so với nhiều quốc gia phát triển khác.[157]
Năm 2010, Singapore sở hữu một hệ thống đường bộ dài tổng cộng 3.356 kilômét (2.085 mi), trong đó có 161 kilômét (100 mi) đường cao tốc.[6][158][159] Kế hoạch giấy phép khu vực Singapore được thi hành vào năm 1975, là kế hoạch giải quyết tắc nghẽn thông qua phí đầu tiên trên thế giới, gồm các biện pháp bổ sung như hạn ngạch sở hữu ô tô nghiêm ngặt và cải thiện giao thông công cộng.[160][161] Năm 1998, nó được nâng cấp và đổi tên thành phí đường bộ điện tử, hệ thống thực hiện thu thuế điện tử, phát hiện điện tử, và giám sát bằng video.[162]
Cảng Singapore là cảng nhộn nhịp hàng đầu thế giới.[163] Singapore là một trung tâm hàng không tại Đông Nam Á, và là điểm dừng chân của tuyến Kangaroo giữa Sydney và Luân Đôn.[164] Singapore có 8 cảng hàng không, Sân bay quốc tế Singapore Changi sở hữu một mạng lưới gồm trên 100 hãng hàng không kết nối Singapore với khoảng 300 thành thị tại khoảng 70 quốc gia và lãnh thổ trên toàn cầu.[165]

Tham khảo

  1. ^ a ă â b “Statistics Singapore – Latest Data – Population & Land Area (Mid-Year Estimates)”. Statistics Singapore. Tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013.
  2. ^ Chew, Ernest (1991). Trong Lee, Edwin. A History of Singapore. Oxford University Press. ISBN 0-19-588917-7.
  3. ^ Hoe Yeen Nie (2 tháng 6 năm 2009). “State of Singapore came into being 50 years ago on 3 June”. Channel News Asia (Singapore).
  4. ^ a ă â Leitch Lepoer, Barbara (1989). “Singapore as Part of Malaysia”. Library of Congress Country Studies. Washington, D.C.: Government Printing Office. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011.
  5. ^ a ă â b “Singapore”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2012.
  6. ^ a ă â b “Distribution of family income – Gini Index”. CIA. 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2013.
  7. ^ Loo BF (2005) Transforming Singapore’s Military Security Landscape: Problems and Prospects, allacademic
  8. ^ Tan ATH (1999) Singapore’s Defence: Capabilities, Trends, and Implications, questia
  9. ^ “Sang Nila Utama”. Singapore Infopedia. National Library Board. 26 tháng 11 năm 1999. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2011.
  10. ^ The Population of Singapore by Swee-Hock Saw p.2-3
  11. ^ Malayan Place Names by S. Durai Raja Singam p.C-186
  12. ^ “Country Studies: Singapore: History”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007.
  13. ^ a ă “Founding of Modern Singapore”. Ministry of Information, Communications and the Arts. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2011.
  14. ^ “East & South-East Asia Titles: Straits Settlements Annual Reports (Singapore, Penang, Malacca, Labuan) 1855–1941”. Cambridge University Press. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012.
  15. ^ “The Malays”. National Heritage Board 2011. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011.[liên kết hỏng]
  16. ^ “On This Day – 15 February 1942: Singapore forced to surrender”. BBC News. 15 tháng 2 năm 1942. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007.
  17. ^ Leitch Lepoer, Barbara (1989). “Singapore, Shonan: Light of the South”. Library of Congress Country Studies. Washington, D.C.: Government Printing Office. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011.
  18. ^ “Country studies: Singapore: World War II”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  19. ^ “Country studies: Singapore: Road to Independence”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  20. ^ “Headliners; Retiring, Semi”. The New York Times. 2 tháng 12 năm 1990. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2008.
  21. ^ a ă â “The Singapore Legal System”. Singapore Academy of Law. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.[liên kết hỏng]
  22. ^ “Communism”. Thinkquest. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012.
  23. ^ “Road to Independence”. U.S. Library of Congress. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2006.
  24. ^ “Country Groups”. The World Bank. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2006.
  25. ^ “Country profile: Singapore”. BBC News. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2006.
  26. ^ “Weather Statistics”. National Environment Agency. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012.
  27. ^ “Climatological Normals of Singapore”. Hong Kong Observatory. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010.
  28. ^ “World Factbook – Singapore”. U.S. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011.
  29. ^ a ă “Freedom in the World 2010 – Singapore”. Freedom House. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011.
  30. ^ “Democracy index 2010”. The Economist. 2010. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  31. ^ “Corruption Perceptions Index 2009”. Transparency International. 2009. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
  32. ^ “The President”. Singapore Government. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011.
  33. ^ “Members of Parliament”. Government of Singapore. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011.
  34. ^ “The Singapore Legal System”. Singapore Academy of Law. 25 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011.[liên kết hỏng]
  35. ^ “Judicial caning in Singapore, Malaysia and Brunei”. World Corporal Punishment Research. 2008. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  36. ^ Kuntz, Tom (26 tháng 6 năm 1994). “Ideas & Trends; Beyond Singapore: Corporal Punishment, A to Z”. The New York Times.
  37. ^ “Singapore: The death penalty – A hidden toll of executions”. Amnesty International USA. 2003. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2011.
  38. ^ “The Singapore Government’s Response To Amnesty International’s Report “Singapore – The Death Penalty: A Hidden Toll Of Executions”” (Thông cáo báo chí). Ministry of Home Affairs. 30 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  39. ^ “Hong Kong has best judicial system in Asia: business survey”. ABS-CBN News (Philippines). Agence France-Presse. 15 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  40. ^ a ă â “Australia – New Zealand Free Trade Agreement (AANZFTA)”. New Zealand Government. 4 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  41. ^ “Singapore Missions Overseas”. Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2014.
  42. ^ “Overview”. ASEAN. 2009. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  43. ^ “NAM Member States”. The Non-Aligned Movement. 23 tháng 1 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  44. ^ “Member States”. Commonwealth Secretariat. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  45. ^ a ă Gifford, Rob (18 tháng 9 năm 1998). “Malaysia and Singapore: A rocky relationship”. BBC News.
  46. ^ a ă “World Factbook – Field Listing: International disputes”. Central Intelligence Agency (USA). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  47. ^ Lloyd Parry, Richard (17 tháng 3 năm 2007). “Singapore accused of land grab as islands disappear by boatload”. The Times (London).(cần đăng ký mua)
  48. ^ “Brunei Foreign and Trade Relations: ASEAN”. New Zealand Ministry of Foreign Affairs and Trade. 14 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  49. ^ Zhang Xuegang (20 tháng 11 năm 2007). “Opening “window of opportunity” for China-Singapore cooperation”. People’s Daily (Beijing). Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012.
  50. ^ “Total trade by selected country at current prices”. Ministry of trade and industry. 2010. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012.
  51. ^ Matthew, David (14 tháng 2 năm 2012). “Singapore Eyes U.S. Balance”. The Diplomat (Tokyo). Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012.
  52. ^ Moss, Trefor (18 tháng 1 năm 2010). “Buying an advantage”. Jane’s Defence Review (London).
  53. ^ “SAF remains final guarantor of Singapore’s independence”. Channel NewsAsia (Singapore). 1 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  54. ^ a ă “Speech by Minister for Manpower and Second Minister for Defence Dr Ng Eng Hen” (Thông cáo báo chí). Ministry of Defence. 18 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  55. ^ a ă â b “Lunch Talk on “Defending Singapore: Strategies for a Small State” by Minister for Defence Teo Chee Hean” (Thông cáo báo chí). Ministry of Defence. 21 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  56. ^ “S’pore to boost expenditure, raise defence spending”. AsiaOne (Singapore). 13 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
  57. ^ a ă â Barzilai, Amnon. “A Deep, Dark, Secret Love Affair”. University of Wisconsin (originally published by Haaretz, July 2004). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  58. ^ Marsita Omar; Chan Fook Weng (31 tháng 12 năm 2007). “British withdrawal from Singapore”. National Library Board. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2012.
  59. ^ “Israel alarm at UN force members”. BBC News. 18 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.
  60. ^ Rosenberg, Matt. “Diplomatic and Foreign Relations of Israel”. About.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.
  61. ^ “Malaysian FA apologises to Benayoun over racist abuse”. BBC News. 29 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.
  62. ^ “Jewish Virtual History Tour: Singapore”. Jewish Virtual Library. 1 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
  63. ^ “Singapore – Recruitment and Training of Personnel”. Country-data.com. Tháng 12 năm 1989. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  64. ^ “RAAF Base Pearce”. Royal Australian Air Force. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.
  65. ^ “Opening Ceremony of the RSAF Helicopter Detachment in Oakey, Australia” (Thông cáo báo chí). Ministry of Defence. 20 tháng 8 năm 1999. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013.
  66. ^ “Beyond Limits – Jet Training in France”. Ministry of Defence. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.[liên kết hỏng]
  67. ^ “Equipment – Republic of Singapore Air Force”. GlobalSecurity. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.
  68. ^ Reif, Jasmine (23 tháng 11 năm 2009). “Singapore celebrates Peace Carvin V partnership with U.S. Air Force”. U.S. Air Combat Command. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013.
  69. ^ Chua Chin Hon (13 tháng 7 năm 2010). “PM gets feel of RSAF’s new jet at US base”. The Straits Times (Singapore). Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2013.[liên kết hỏng]
  70. ^ “Singapore to send 192 military personnel to Iraq”. Singapore Window. Agence France-Presse. 7 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  71. ^ “SAF to provide medical aid, set up dental clinic in Afghanistan”. Channel NewsAsia (Singapore). 16 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  72. ^ “Katrina Relief Operations”. Ministry of Defence. 2011. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011.
  73. ^ http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/ca_tbd/nr040819104347/ns070731160923#XCTxV8IkRXba
  74. ^ a ă Thống kê giao thông Singapore 2010
  75. ^ “Census of population”. Singapore Department of Statistics. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  76. ^ a ă “Key annual indicators”. Singapore Department of Statistics. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.[liên kết hỏng]
  77. ^ “HDB InfoWEB: HDB Wins the 2010 UN-HABITAT Scroll of Honour Award:”. Hdb.gov.sg. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013.
  78. ^ Wong, Gillian (16 tháng 8 năm 2008). “Singapore Advocacy Groups Campaign ‘Days Off’ for Maids”. The Irrawaddy (Chiang Mai, Thailand). Associated Press. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.[liên kết hỏng]
  79. ^ “Key demographic indicators, 1970–2010”. Singapore Department of Statistics. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.[liên kết hỏng]
  80. ^ “Resident Population by Place of Birth, Ethnic Group and Sex”. Singapore Department of Statistics. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.[liên kết hỏng]
  81. ^ “The World Factbook”. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013.
  82. ^ Ng, Julia (7 tháng 2 năm 2007). “Singapore’s birth trend outlook remains dismal”. Channel NewsAsia (Singapore). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  83. ^ “Unemployment”. Ministry of Manpower. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  84. ^ Chan, Joanne (15 tháng 6 năm 2011). “S’pore unemployment rate falls to three-year low”. Channel NewsAsia. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  85. ^ “Trends in international migrant stock: The 2008 revision”, United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division (2009).
  86. ^ “Executive summary”. Building and Construction Authority. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  87. ^ Sudderuddin, Shuli (22 tháng 2 năm 2009). “Singapore’s phantom workers”. The Straits Times (Singapore). Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.[liên kết hỏng]
  88. ^ “Population Trends 2009”. Singapore Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2009.
  89. ^ Hoe Yeen Nie (12 tháng 1 năm 2010). “Singaporeans of mixed race allowed to ‘double barrel’ race in IC”. Channel NewsAsia (Singapore). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  90. ^ a ă â b “Census of population 2010: Statistical Release 1 on Demographic Characteristics, Education, Language and Religion” (Thông cáo báo chí). Singapore Statistics. 12 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2011.
  91. ^ Pew Research Center’s Religion & Public Life Project: Singapore. Pew Research Center. 2010.
  92. ^ Khun Eng Kuah (2009). State, society, and religious engineering: toward a reformist Buddhism in Singapore. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies. ISBN 978-981-230-865-8. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010.
  93. ^ “Modernity in south-east Asia”. Informaworld. 2 tháng 12 năm 1995. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010.
  94. ^ a ă â b “Census of Population 2010:Key Indicators of the resident Population”. 2010. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013.
  95. ^ a ă “Republic of Singapore Independence Act, s.7”.
  96. ^ “Education UK Partnership – Country focus”. British Council. Tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  97. ^ “Speech by Mr S. Iswaran, Senior Minister of State, Ministry of Trade and Industry and Ministry of Education”. Ministry of Education. 19 tháng 4 năm 2010.
  98. ^ “Constitution of the Republic of Singapore. Part I”. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  99. ^ “What do I do if I can’t speak English?”. Singapore Subordinate Courts. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011.
  100. ^ “Dependant’s Pass – Before you apply”. Ministry of Manpower. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011.
  101. ^ “Census of Population”. Singapore Statistics. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  102. ^ “Census of Population 2010”. Singapore Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  103. ^ “What are some commonly misspelled English words?”. Singapore: National Library Board. 18 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  104. ^ Tan Hwee Hwee (22 tháng 7 năm 2002). “A war of words is brewing over Singlish”. Time (New York). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011.
  105. ^ Oi, Mariko (5 tháng 10 năm 2010). “Singapore’s booming appetite to study Mandarin”. BBC News. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  106. ^ “Chapter 2 Education and Language”. General Household Survey 2005, Statistical Release 1: Socio-Demographic and Economic Characteristics. Singapore Statistics. 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2010.[liên kết hỏng]
  107. ^ Lee, Lee Kuan Yew (2000). From Third World to First. Singapore: Marshall Cavendish.
  108. ^ Afendras, Evangelos A.; Kuo, Eddie C.Y. (1980). Language and society in Singapore. Singapore University Press. ISBN 978-9971-69-016-8. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  109. ^ Ammon, Ulrich; Dittmar, Norbert; Mattheier, Klaus J. (2006). Sociolinguistics: An international handbook of the science of language and society 3. Berlin: Walter de Gruyter. ISBN 978-3-11-018418-1. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  110. ^ Bản mẫu:Singapore legislation
  111. ^ “Literacy and Language”. Singapore Statistics. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  112. ^ “Returning Singaporeans – Mother-Tongue Language Policy”. Ministry of Education. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2010.
  113. ^ “Private Education in Singapore”. Ministry of Education. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  114. ^ “International Student Admissions: General Information on Studying in Singapore”. Ministry of Education. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  115. ^ “ASEAN Scholarships: Frequently Asked Questions”. Ministry of Education. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  116. ^ “Speech by Tharman Shanmugaratnam, Senior Minister of State for Trade & Industry and Education at the Seminar on “The Significance of Speaking Skills For Language Development”, organised by the Tamil Language and Culture Division of Nie On 15 February 2003” (Thông cáo báo chí). Ministry of Education. 2 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  117. ^ “Mandarin is important but remains a second language in S’pore MM Lee”. Channel NewsAsia (Singapore). 26 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  118. ^ “Returning Singaporeans – Mother-Tongue Language Policy”. Ministry of Education. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  119. ^ “Refinements to Mother Tongue Language Policy” (Thông cáo báo chí). Ministry of Education. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  120. ^ a ă “Primary Education”. Ministry of Education. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  121. ^ “Primary School Curriculum”. Ministry of Education. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  122. ^ a ă “Secondary Education”. Ministry of Education. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  123. ^ “Special/Express Courses Curriculum”. Ministry of Education. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  124. ^ “Pre-University Education”. Ministry of Education. 2011. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  125. ^ “Education and Language”. Singapore Statistics.
  126. ^ Tucci, John (2010). “The Singapore health system – achieving positive health outcomes with low expenditure”. Towers Watson. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011.
  127. ^ “World Health Organization Assesses the World’s Health Systems” (Thông cáo báo chí). Geneva: World Health Organization. 21 tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  128. ^ “Statistics Singapore – Latest Data – Births & Deaths”. Singapore Department of Statistics. 2013. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2014.
  129. ^ “Singapore: Health Profile”. World Health Organization. 13 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011.
  130. ^ a ă “Speech by Prime Minister Goh Chok Tong on Singapore 21 Debate in Parliament”. singapore21. 5 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.
  131. ^ “A Short History of Southeast Asia: Singapore”. ASEANfocus, Peter Church. 10 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.
  132. ^ “Crown Colony”. U.S. Library of Congress. 10 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.
  133. ^ “MM Lee says Singapore needs to do more to achieve nationhood”. Channel NewsAsia (Singapore). 5 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.
  134. ^ “Findings”. Singapore Statistics. 5 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.
  135. ^ “Literacy and language”. Singapore Statistics. 5 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.
  136. ^ “PM Lee on racial and religious issues (National Day Rally 2009)”. Singapore United. 16 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  137. ^ National Flower
  138. ^ “National Symbols”. mystory.sg. 16 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  139. ^ Lloyd-Smith, Jake (24 tháng 7 năm 2004). “Singapore filmmaker takes Cut at censors”. Houston Chronicle (Texas). Associated Press. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  140. ^ “Old and new citizens get equal chance, says MM Lee”. PMO. 5 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.[liên kết hỏng]
  141. ^ “Singapore Dining”. App.www.sg. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010.
  142. ^ Wu, David Y.H.; Chee Beng Tan (2001). Changing Chinese foodways in Asia. Hong Kong: Chinese University Press. tr. 161 ff. ISBN 978-962-201-914-0. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  143. ^ Martini, Fadhel; Wong Tai Chee (2001). “Restaurants in Little India, Singapore: A Study of Spatial Organization and Pragmatic Cultural Change”. Journal of Social Issues in Southeast Asia 16: 161–164.
  144. ^ “In durian love”. Time Out Singapore. 23 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011.
  145. ^ “Culture and the Arts in Renaissance Singapore”. Ministry of Information, Communications and the Arts. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2006.
  146. ^ “About us”. The Hantu Bloggers. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  147. ^ “About S-League”. Football Association Singapore. 2008. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  148. ^ a ă “Country Report 2010 Edition”. Freedom House. 2010. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011.
  149. ^ “Free-to-Air Television”. MDA. 2011. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011.
  150. ^ “TV listings”. XIN MSN. 2011. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011.
  151. ^ “Cable Television”. XIN MSN. 2011. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011.
  152. ^ “Internet Protocol Television (IPTV)”. XIN MSN. 2011. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011.
  153. ^ “Singapore country profile”. BBC News. 16 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  154. ^ “Press Freedom Index”. Reporters Without Borders. 2010. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  155. ^ Aquino, Kristine (17 tháng 2 năm 2011). “BMW Costing $260,000 Means Cars Only for Rich in Singapore as Taxes Climb”. Bloomberg (New York). Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  156. ^ “Once you’re here: Basic Road Rules and Regulations”. Expat Singapore. 16 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2011.
  157. ^ “Taxi info”. Land Transport Authority. 2014. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014.
  158. ^ “Public transport ridership”. Land Transport Authority. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.
  159. ^ “Tracing our steps”. Land Transport Authority. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011.[liên kết hỏng]
  160. ^ Small, Kenneth A.; Verhoef, Erik T. (2007). The Economics of Urban Transportation. London: Routledge. tr. 148. ISBN 978-0-415-28515-5.
  161. ^ Cervero, Robert (1998). The Transit Metropolis. Washington DC: Island Press. tr. 169. ISBN 1-55963-591-6. Chapter 6/The Master Planned Transit Metropolis: Singapore.
  162. ^ “Electronic Road Pricing”. Land Transport Authority. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2008.
  163. ^ “Singapore remains world’s busiest port”. China View (Beijing). Xinhua. 12 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  164. ^ Marks, Kathy (30 tháng 11 năm 2007). “Qantas celebrates 60 years of the ‘Kangaroo Route’”. The Independent (London).
  165. ^ About Changi Airport

Đọc thêm

  • Hill, Michael (1995). Trong Kwen Fee Lian. The Politics of Nation Building and Citizenship năm Singapore. Routledge. ISBN 0-415-12025-X.
  • King, Rodney (2008). The Singapore Miracle, Myth and Reality. Insight Press. ISBN 0-9775567-0-0.
  • Mauzy, Diane K.; Milne, R.S. (2002). Singapore Politics: Under the People’s Action Party. Routledge. ISBN 0415246539.
  • Tan, Kenneth Paul (2007). Renaissance Singapore? Economy, Culture, and Politics. NUS Press. ISBN 9789971693770.
  • Lee Kuan Yew (2000). From Third World To First: The Singapore Story: 1965–2000. New York: HarperCollins. ISBN 0-06-019776-5
  • Worthington, Ross (2002). Governance năm Singapore. Routledge/Curzon. ISBN 0-7007-1474-X.
  • “Census of Population (2000)” (PDF). Singapore Department of Statistics. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2000.
  • “Key Facts & Figures”. Ministry of Transport, Singapore. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2003.
  • “Nation’s History”. Singapore Infomap. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2004.
  • “MOE-PRIME”. Programme For Rebuilding and IMproving Existing schools (PRIME). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
  • “Eight More Schools to Benefit from Upgrading” (Thông cáo báo chí). Ministry of Education. 14 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.

Liên kết ngoài

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam
Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s