Chào ngày mới 16 tháng 11


CNM365. Chào ngày mới 16 tháng 11. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc tế khoan dung; ngày Quốc khánh tại Myanmar (hình); ngày Tuyên bố chủ quyền tại Estonia (1988). Năm 1632 – Quốc vương Gustav II Adolf của Thụy Điển tử trận khi giao chiến với quân La Mã Thần thánh trong trận Lützen. Năm 1849 – Một tòa án Nga kết án tử hình nhà văn Fyodor Dostoevsky do các hành động chống chính phủ. Năm 1920 – Hãng hàng không quốc gia Úc Qantas được thành lập tại Winton, QueenslandNăm 1945Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) được thành lập.

Myanmar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Liên bang Myanma
ပြည်ထောင်စု သမ္မတ မြန်မာနိုင်ငံတော် (tiếng Miến Điện)
Flag of Myanmar.svg State seal of Myanmar.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Myanma
Quốc ca
Kaba Ma Kyei
Hành chính
Chính phủ Dân sự
 • Tổng thống Thein Sein
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Myanma
Thủ đô Naypyidaw
19°17′B, 96°20′Đ
Thành phố lớn nhất Yangon
Địa lý
Diện tích 676.577 km² (hạng 39)
Diện tích nước 3,06% %
Múi giờ UTC+6.5
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập Từ Anh
1 tháng 1, 1948
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 54.584.650[1] người (hạng 24)
Mật độ 73,9 người/km²
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 71,772 tỉ Mỹ kim
HDI (2010) 0,451 thấp (hạng 132)
Đơn vị tiền tệ Kyat (MMK)
Thông tin khác
Tên miền Internet .mm (trước là .bu)

Myanmar (phiên âm: Mi-an-ma, Hán Việt: Miến Điện), tên chính thức: Cộng hòa Liên bang Myanmar (tiếng Myanma: ပြည်ထောင်စု သမ္မတ မြန်မာနိုင်ငံတော် Pyidaunzu Thanmăda Myăma Nainngandaw) là một quốc gia ở Đông Nam Á, tây bắc bán đảo Trung-Ấn. Có 5.876 km đường biên giới với Trung Quốc (2.185 km), Thái Lan (1.800 km), Ấn Độ (1.463 km), Lào (235 km) và Bangladesh (193 km). Đường bờ biển dài 1.930 km. Diện tích 676.577 km².
Sự đa dạng chủng tộc dân cư ở Myanmar đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chính trị, lịch sử và nhân khẩu học của quốc gia này thời hiện đại. Hệ thống chính trị của nước này vẫn nằm dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của Hội đồng Hòa bình và Phát triển Liên bang, chính phủ quân sự do Thống tướng Than Shwe lãnh đạo từ năm 1992. Từng là một nước thuộc địa bên trong Đế quốc Anh cho tới tận năm 1948, Myanmar tiếp tục đấu tranh cải thiện những căng thẳng sắc tộc, và vượt qua những cuộc đảo chính. Nền văn hóa nước này bị ảnh hưởng nhiều từ các nước xung quanh, dựa trên một hình thức Phật giáo duy nhất có hòa trộn các yếu tố địa phương.
Ngày 22 tháng 10 năm 2010, Myanma tuyên bố đổi quốc hiệu thành Cộng hòa Liên bang Myanmar, thay đổi quốc kỳ và quốc ca. Sự kiện này diễn ra chỉ trước 17 ngày diễn ra cuộc bầu cử sau 20 năm kể từ lần bầu cử gần nhất trước đây vào năm 1990.

Tên gọi

“Miến Điện” (Hán văn: 緬甸) là tên gọi người Trung Quốc đặt cho Myanmar. “Miến” có nghĩa là xa tắp, xa vời, xa tít tắp. “Điện” là chỉ vùng đất nằm bên ngoài “giao”. Theo cách gọi của người Trung Quốc thì tường trong của thành gọi là “thành”, tường ngoài gọi là “quách”. Vùng ngoại vi của quách gọi là “giao”. Vùng đất bên ngoài giao gọi là “điện”, cách thành khoảng từ một trăm dặm trở lên. “Miến Điện” ý là vùng ngoại thành xa xôi.
Myanma là tên gọi bắt nguồn từ tên địa phương Myanma Naingngandaw. Nó được sử dụng vào đầu thế kỷ 12 nhưng nguồn gốc của nó vẫn còn chưa được sáng tỏ. Một gốc của tên gọi này là từ Brahmadesh trong tiếng Phạn có nghĩa là “mảnh đất của Brahma“, vị thần Hindu của mọi sinh vật.
Năm 1989, hội đồng quân sự đổi tên tiếng Anh từ Burma thành Myanmar, cùng với nhiều thay đổi trong tên gọi tiếng Anh của nhiều vùng trong đất nước, chẳng hạn tên gọi trước kia của thủ đô đổi từ Rangoon thành Yangon. Tuy vậy, tên chính thức của đất nước trong tiếng MyanmaMyanma vẫn không đổi. Trong tiếng Myanma, Myanma là tên quốc gia, trong khi Bama (Burma lấy nguồn gốc từ đây) là tên gọi thông tục.
Sự thay đổi trong tên gọi là biểu hiện của một cuộc tranh cãi chính trị. Nhiều nhóm người Myanma tiếp tục sử dụng tên “Burma” vì họ không chấp nhận tính hợp pháp của chính quyền quân sự cũng như sự đổi tên đất nước. Một vài chính phủ phương tây, chẳng hạn Hoa Kỳ, Úc, Ireland và Anh tiếp tục sử dụng tên “Burma”, trong khi Liên minh châu Âu sử dụng cả hai. Liên Hợp Quốc sử dụng tên “Myanmar”.
Việc sử dụng tên “Burma” vẫn còn phổ biến ở Hoa Kỳ và Anh. Trong tiếng Anh, người ta vẫn dùng từ “Burmese” như một tính từ.
Sau khi giành được độc lập từ Đế quốc Anh, Myanma đã sử dụng các quốc hiệu sau:

  • Liên bang Myanma: 1948-1974
  • Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Myanma: 1974-1988
  • Liên bang Myanma: 1988-2010 (từ năm 1989 thì quốc hiệu tiếng Anh dùng Myanmar thay cho Burma)
  • Cộng hòa Liên bang Myanma: 2010-nay

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Myanmar

Các chùa và đền tại Bagan ngày nay, nơi từng là thủ đô của Vương quốc Pagan

Người Môn được cho là nhóm người đầu tiên di cư tới vùng hạ lưu châu thổ sông Ayeyarwady (ở phía nam Myanma) và tới khoảng giữa thập niên 900 trước Công nguyên họ đã giành quyền kiểm soát khu vực này[2].
Sau đó, vào thế kỷ 1 trước Công nguyên, người Pyu di cư tới đây và tiến tới xây dựng các thành bang có quan hệ thương mại với Ấn ĐộTrung Quốc. Trong đó, mạnh nhất là vương quốc Sri Ksetra, nhưng nó bị từ bỏ năm 656. Sau đó, một quá trình tái lập quốc diễn ra, nhưng đến giữa thập niên 800 thì bị người Nam Chiếu xâm lược.
Vào khoảng trước những năm 800, người Bamar (người Miến Điện) bắt đầu di cư tới châu thổ Ayeyarwady từ Tây Tạng hiện nay. Tới năm 849, vương quốc họ đã thành lập xung quanh trung tâm Pagan trở nên hùng mạnh. Trong giai đoạn Anawratha trị vì (1044-1077), người Miến Điện đã mở rộng ảnh hưởng ra khắp Myanma hiện nay. Tới thập niên 1100, nhiều vùng lớn thuộc lục địa Đông Nam Á đã thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Pagan, thường được gọi là Đế chế Miến Điện thứ nhất với kinh đô tại Mandalay. Tới cuối thập niên 1200, Hốt Tất Liệt đã thống lĩnh quân Mông Cổ xâm lược Vương quốc Pagan, nhưng tới năm 1364 người Miến Điện đã tái lập vương quốc của họ tại Ava, nơi văn hóa Miến Điện bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ. Tuy nhiên, vào năm 1527 người Shan cướp phá Ava. Trong lúc ấy người Mon thiết lập địa điểm mới của họ tại Pegu, nơi này đã trở thành một trung tâm tôn giáo và văn hóa lớn.
Những người Miến Điện đã phải chạy trốn khỏi Ava thành lập Vương quốc Toungoo năm 1531 tại Toungoo, dưới quyền Tabinshwehti, người đã tái thống nhất Miến Điện và lập ra Đế chế Miến Điện thứ hai. Vì sự ảnh hưởng ngày càng tăng từ Châu Âu ở Đông Nam Á, Vương quốc Toungoo trở thành một trung tâm thương mại lớn. Bayinnaung đã mở rộng đế chế bằng cách chinh phục các lãnh thổ Manipur, Chiang Mai, Ayutthaya, Shan, Nagaland, Tripura, Mizoram, Assam, Sikkim, Bhutan, Chittagong, Dhaka, Rajshahi, Rangpur và một số vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc gồm Đức Hoành, Nộ Giang, Bảo SơnPhổ Nhĩ. Những cuộc nổi loạn bên trong cũng như sự thiếu hụt các nguồn tài nguyên cần thiết để kiểm soát các vùng mới giành được dẫn tới sự sụp đổ của Vương quốc Toungoo. Anaukpetlun, người đã đẩy lùi cuộc xâm lăng của Bồ Đào Nha, đã lập nên một vương triều mới tại Ava năm 1613. Cuộc nổi dậy trong nước của người Mon, với sự trợ giúp của Pháp, khiến vương quốc sụp đổ năm 1752.

Một bản in thạch năm 1825 của Anh về ngôi chùa Shwedagon cho thấy buổi đầu xâm nhập của người Anh tại Miến Điện trong giai đoạn Chiến tranh Anh-Miến lần thứ nhất

Alaungpaya thành lập nên Triều đại KonbaungĐế chế Miến Điện thứ ba vào khoảng thập niên 1700[3]. Năm 1767, Vua Hsinbyushin chinh phục AyutthayaCeylon dẫn tới việc văn hóa Thái Lanvăn hóa Ceylon có ảnh hưởng lớn tới văn hóa Miến Điện. Nhà Thanh (Trung Quốc) lo ngại sự lớn mạnh của Miến Điện, đã bốn lần xâm lược nước này trong khoảng thời gian từ 1766 đến 1769 nhưng không lần nào thành công. Các triều đại sau này mất quyền kiểm soát Ayutthaya, nhưng chiếm thêm được Arakan và Tenasserim. Dưới thời cai trị của Vua Bagyidaw, năm 1824, Mahabandoola chiếm Assam, sát lãnh thổ Anh ở Ấn Độ, gây nên một cuộc chiến tranh. Trong các cuộc chiến tranh Anh-Miến (1823-26, 1852-53 và 1885-87), Miến Điện mất một số lãnh thổ vào tay người Anh và trở thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh. Ngày 1 tháng 4 năm 1937, Miến Điện trở thành một thuộc địa hành chính riêng biệt, độc lập khỏi quyền hành chính Ấn Độ. Trong thập niên 1940, Ba mươi chiến hữu, do Aung San lãnh đạo đã lập nên Quân đội Miến Điện độc lập[4]. Ba mươi chiến hữu được huấn luyện quân sự tại Nhật Bản[4].
Trong Thế chiến thứ hai Miến Điện trở thành một mặt trận chính tại Mặt trận Đông Nam Á. Sau những thắng lợi ban đầu của Nhật Bản trong Chiến dịch Miến Điện, trong đó người Anh bị đẩy lùi khỏi đa phần Miến Điện, Đồng Minh đã phản công. Tới tháng 7 năm 1945 họ đã chiếm lại toàn bộ nước này. Người Miến Điện chiến đấu cho cả hai phía trong cuộc chiến. Họ chiến đấu trong Đội quân Miến Điện Anh năm 1941-1942. Năm 1943, Chin Levies và Kachin Levies đã được thành lập ở các quận biên giới Miến Điện và vẫn thuộc quyền kiểm soát của người Anh. Đội quân Miến Điện chiến đấu trong thành phần Chindit dưới quyền Tướng Orde Wingate từ 1943-1945. Ở giai đoạn sau của cuộc chiến, người Mỹ đã lập ra Đội biệt kích Kachin-Hoa Kỳ cũng chiến đấu cho quân Đồng Minh. Nhiều người Miến Điện khác chiến đấu trong lực lượng SOE của Anh. Quân đội Miến Điện độc lập dưới quyền chỉ huy của Aung San và Quân đội quốc gia Arakan đã chiến đấu với Nhật Bản từ 1942-1944, nhưng đã nổi lên chống lại người Nhật năm 1945.
Năm 1947, Aung San trở thành Phó chủ tịch Uỷ ban hành pháp Miến Điện, một chính phủ chuyển tiếp. Tuy nhiên, trong tháng 7 năm 1947, các đối thủ chính trị đã ám sát Aung San và nhiều thành viên chính phủ khác[4]. Ngày 4 tháng 1 năm 1948, quốc gia này trở thành một nước cộng hòa độc lập, với cái tên Liên bang Myanma, với Sao Shwe Thaiktổng thống đầu tiên và U Nuthủ tướng. Không giống như đa số các thuộc địa của Anh, nước này không trở thành một thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh bởi vì họ đã giành lại độc lập trước khi Khối thịnh vượng chung cho phép các nước cộng hòa trở thành một thành viên của nó. Một hệ thống chính trị lưỡng viện được thành lập gồm Viện đại biểuViện quốc gia[5]. Vùng địa lý hiện nay của Myanma có thể suy ngược từ Thoả ước Panglong, là toàn bộ Miến Điện gồm Hạ MiếnThượng MiếnCác vùng biên giới, đã từng được quản lý hành chính độc lập bởi Anh Quốc[6].

Lá cờ của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ được thể hiện bởi một chú ‘gà chọi’, một biểu tượng của tự do[7]

Năm 1961 U Thant, khi ấy là Đại biểu thường trực của Miến Điện tại Liên hiệp quốc và cựu Thư ký Thủ tướng, được bầu làm Tổng thư ký Liên hiệp quốc; ông là người đầu tiên không xuất thân từ phương Tây lãnh đạo một tổ chức quốc tế nào cho tới lúc ấy và đã đảm nhiệm chức vụ này trong vòng mười năm[8]. Trong số những người Miến Điện làm việc tại Liên hiệp quốc khi ông đang giữ chức Tổng thư ký có cô gái trẻ Aung San Suu Kyi.
Giai đoạn dân chủ kết thúc năm 1962 với một cuộc đảo chính quân sự do Tướng Ne Win lãnh đạo. Ông này cầm quyền trong 26 năm và theo đuổi chính sách xã hội chủ nghĩa. Năm 1974, Myanma lấy quốc hiệu mới là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Myanma. Cùng năm này, đám tang của U Thant dẫn tới một cuộc biểu tình chống chính phủ đẫm máu.
Năm 1988, Cuộc nổi dậy 8888 đẩy đất nước tới bờ vực cách mạng. Để đối phó, Tướng Saw Maung tiến hành một cuộc đảo chính. Ông thành lập Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang (SLORC). Myanma quay trở lại quốc hiệu Liên bang Myanma. Năm sau, quốc hiệu bằng tiếng Anh đổi từ Union of Burma thành Union of Myanmar. Năm 1989, thiết quân luật được ban bố sau những cuộc biểu tình rộng lớn. Các kế hoạch bầu cử Quốc hội đã hoàn thành ngày 31 tháng 5 năm 1989[9]. Năm 1990, lần đầu tiên các cuộc bầu cử tự do được tổ chức trong vòng 30 năm. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, đảng của bà Aung San Suu Kyi, thắng 392 trong tổng số 485 ghế, nhưng các kết quả của cuộc bầu cử đã bị SLORC huỷ bỏ và họ từ chối giao lại quyền lực[10]. SLORC đổi tên Miến Điện (Burma) thành Myanma năm 1989. Dưới sự lãnh đạo của Than Shwe, từ năm 1992 chính quyền quân sự đã tiến hành các thoả thuận ngừng bắn với các nhóm du kích thiểu số. Năm 1992, SLORC tiết lộ các kế hoạch thành lập một hiến pháp mới thông qua Hội nghị Quốc gia, bắt đầu ngày 9 tháng 1 năm 1993[11]. Năm 1997, Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang được đổi tên thành Hội đồng Hòa bình và Phát triển Liên bang (SPDC). Ngày 23 tháng 6 năm 1997, Myanma được chấp nhận gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Hội nghị Quốc gia tiếp tục được triệu tập và hoãn lại. Nhiều đảng chính trị lớn, đặc biệt Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, đã bị trục xuất và có ít tiến bộ đã được hoàn thành[11]. Ngày 27 tháng 3 năm 2006, hội đồng quân sự đã di chuyển thủ đô đất nước từ Yangon tới một địa điểm gần Pyinmana, đặt tên chính thức cho nó là Naypyidaw, có nghĩa “vùng đất của những ông vua”[12][13]. Năm 2010, quốc hiệu của Myanma đổi thành Cộng hòa Liên bang Myanma (tiếng Myanma: ပြည်ထောင်စု သမ္မတ မြန်မာနိုင်ငံတော်, tiếng Anh: Republic of the Union of Myanmar).

Chính trị

Bài chính về chính trị và chính quyền của Myanma có thể tìm đọc tại Loạt bài về chính trị và chính quyền của Myanma.

Các đại biểu được bầu ra trong cuộc bầu cử Quốc hội nhân dân năm 1990 hình thành nên Liên minh Chính phủ Quốc gia Liên bang Miến Điện (NCGUB), một chính phủ hải ngoại vào tháng 12 năm 1990, với trách nhiệm vãn hồi nền dân chủ tại Myanma[14]. Sein Win, người anh họ của Aung San Suu Kyi, là thủ tướng hiện thời của NCGUB. Tuy nhiên, NCGUB có rất ít quyền lực và đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật tại Myanma. Lãnh đạo Nhà nước hiện nay là Thống tướng Than Shwe, người giữ chức vụ “Chủ tịch Hội đồng Hòa Bình và Phát triển Quốc gia“. Ông nắm mọi quyền lực quan trọng, gồm quyền bãi nhiệm các bộ trưởng và các thành viên chính phủ, đưa ra các quyết định quan trọng trong vấn đề chính trị đối ngoại[15]. Khin Nyunt từng là thủ tướng cho tới ngày 19 tháng 10 năm 2004, và đã bị thay thế bởi Tướng Soe Win, người có quan hệ mật thiết với Than Shwe. Đa số các bộ và các vị trí chính phủ đều do các sĩ quan quân đội nắm giữ, ngoại trừ Bộ y tế, Bộ giáo dục, Bộ lao động và Bộ kinh tế và kế hoạch quốc gia, do các viên chức dân sự quản lý[16].
Các đảng chính trị lớn ở Myanma gồm Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủLiên đoàn Dân tộc Shan vì Dân chủ, dù các hoạt động của họ bị chế độ quản lý chặt chẽ. Nhiều đàng khác, thường đại diện cho lợi ích của các dân tộc thiểu số thực sự có tồn tại. Tại Myanma ít có khoan dung chính trị cho phe đối lập và nhiều đảng đã bị đặt ngoài vòng pháp luật. Đảng Thống nhất Quốc gia đại diện cho quân đội, và được sự ủng hộ của một tổ chức to lớn tên gọi Hiệp hội Liên đoàn Đoàn kết và Phát triển[17]. Theo nhiều tổ chức, gồm cả Human Rights WatchAmnesty International, chính quyền này có bản thành tích nhân quyền kém cỏi[18]. Không có tòa án độc lập tại Myanma và đối lập chính trị với chính phủ quân sự không hề được khoan dung. Truy cập Internet tại Myanma bị hạn chế chặt chẽ thông qua các phần mềm lọc các trang web có thể truy cập đối với công dân, hạn chế đa số các trang đối lập chính trị và ủng hộ dân chủ[19][20]. Lao động cưỡng bức, buôn ngườilao động trẻ em là điều thông thường, và bất đồng chính trị không được khoan dung[21].
Năm 1988, quân đội Myanma đã dùng vũ lực đàn áp các cuộc biểu tình phản đối sự quản lý kinh tế yếu kém và sự áp bức chính trị. Ngày 8 tháng 8 năm 1988, quân đội nổ súng vào những người biểu tình trong vụ việc được gọi là cuộc Nổi dậy 8888. Tuy nhiên, cuộc biểu tình năm 1988 đã dọn đường cho cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990. Kết quả của cuộc bẩu cử sau đó đã bị chính quyền bác bỏ. Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, do Aung San Suu Kyi lãnh đạo, thắng hơn 60% số phiếu và 80% ghế trong quốc hội trong cuộc bầu cử 1990, cuộc bầu cử đầu tiên được tổ chức trong 30 năm. Aung San Suu Kyi được quốc tế công nhận là một nhà hoạt động vì dân chủ tại Myanma, đoạt Giải Nobel Hòa bình năm 1991. Bà đã nhiều lần bị quản thúc tại gia. Dù có lời kêu gọi trực tiếp từ Kofi Annan tới Than Shwe và áp lực của ASEAN, hội đồng quân sự Myanma vẫn kéo dài thời hạn quản thúc tại gia đối với Aung San Suu Kyi thêm một năm ngày 27 tháng 5 năm 2006 theo Luật Bảo vệ Quốc gia năm 1975, trao cho chính phủ quyền cầm giữ hợp pháp bất kỳ người nào[22][23]. Hội đồng quân sự ngày phải đối mặt với sự cô lập quốc tế. Vào tháng 12 năm 2005, lần đầu tiên tình trạng của Myanma đã được thảo luận không chính thức tại Liên hiệp quốc. ASEAN cũng đã bày tỏ sự thất vọng của mình với chính phủ Myanma. Tổ chức này đã thành lập Cuộc họp kín liên nghị viện ASEAN đề bàn bạc về sự thiếu dân chủ tại Myanma[24]. Sự thay đổi chính trị lớn ở nước này hiện vẫn khó xảy ra, vì sự ủng hộ từ các cường quốc trong vùng, đặc biệt là Trung Quốc[25][26].

Quan hệ đối ngoại và Quân đội

Quan hệ nước ngoài của Myanma, đặc biệt với các nước phương Tây, đã rơi vào tình trạng căng thẳng. Hoa Kỳ đã áp đặt các biện pháp trừng phạt rộng lớn với Myanma vì sự đàn áp quân sự năm 1988 và vì sự từ chối thừa nhận các kết quả cuộc bầu cử Quốc hội Nhân dân năm 1990 của chế độ quân sự. Tương tự, Liên minh châu Âu đã áp đặt lệnh cấm vận lên Myanma, gồm cả cấm vận vũ khí, ngừng ưu tiên thương mại và hoãn toàn bộ viện trợ ngoại trừ viện trợ nhân đạo[27]. Những biện pháp cấm vận của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu chống lại chính phủ quân sự, cộng với sự tẩy chay và những sức ép trực tiếp khác từ người dân ở các nước phương Tây ủng hộ phong trào dân chủ Myanma, khiến đa số các công ty Hoa Kỳ và châu Âu phải rời khỏi nước này. Tuy nhiên, nhiều công ty khác vẫn còn ở lại nhờ các kẽ hở của biện pháp cấm vận. Nói chung các tập đoàn ở châu Á vẫn muốn đầu tư vào Myanma và tiến hành thực hiện các dự án đầu tư mới, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Công ty dầu mỏ Pháp Total S.A. hiện đang điều hành đường ống dẫn khí Yadana từ Myanma tới Thái Lan dù có lệnh cấm vận của Liên minh châu Âu. Total hiện là bị đơn của nhiều vụ khiếu kiện tại Pháp liên quan tới cái gọi là mối quan hệ với những vụ vi phạm nhân quyền liên quan tới đường ống dẫn khí họ đang đồng sở hữu với các công ty Hoa Kỳ ChevronTatmadaw. Trước khi bị Chevron thâu tóm, Unocal đã giải quyết một vụ kiện tụng liên quan tới nhân quyền với phí tổn được thông báo lên tới nhiều triệu dollar[28]. Vẫn còn những cuộc tranh cãi sôi nổi về việc liệu các biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ có mang lại kết quả trái ngược trên cuộc sống của người dân chứ không phải với những nhà cầm quyền quân sự[29][30].
Chính sách đối ngoại của Myanmar là quan hệ hữu nghị với tất cả các nước trên thế giới đặc biệt với các nước láng giềng, khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Myanmar là thành viên của Tổ chức ASEAN, Phong trào không liên kếtLiên Hợp Quốc.
Từ khi Myanmar được kết nạp vào ASEAN (tháng 7 năm 1997), quan hệ Myanmar với các nước ASEAN ngày càng được tăng cường và cải thiện. Myanmar tích cực tham gia các hoạt động của ASEAN, kiên trì bảo vệ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ và đồng thuận của ASEAN để bảo vệ lợi ích của mình.
Hiện nay, Mỹ và EU điều chỉnh chính sách với Myanmar theo hướng mềm mỏng hơn, triển khai cả hai biện pháp là trừng phạt và tiếp cận nhằm đạt được cùng mục tiêu; Mỹ sẽ từng bước dỡ bỏ cấm vận và cải thiện quan hệ nếu Myanmar đáp ứng yêu cầu của Mỹ, có những tiến bộ thực chất.
Tuy bị sức ép mạnh của chính quyền Mỹ và các nước phương Tây, nhưng quan hệ của Myanmar với các tổ chức phi chính phủ hoặc có tính nhân dân của các nước phương Tây, kể cả Mỹ, Anh vẫn được duy trì. Các nước này vẫn tiếp tục giúp đỡ Myanmar các dự án xây dựng trường học, giúp đào tạo y tế, dân sinh…
Các lực lượng vũ trang Myanma được gọi là Tatmadaw, với số lượng 488.000 người[31]. Tatmadaw gồm các lực lượng vũ trang, hải quân và không quân. Myanma được xếp hạng thứ 10 trên thế giới theo số lượng binh lính của mình[31]. Quân đội có nhiều ảnh hưởng trong nước, các vị trí chủ chốt trong chính phủ và trong quân đội đều do các sĩ quan quân sự nắm giữ. Dù những con số chính thức về chi tiêu quân sự của Myanma không được công bố, Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, trong bảng xếp hạng hàng năm của mình đã đặt Myanma trong số 15 nước chi tiêu quân sự nhiều nhất thế giới[32].
Đầu tháng 2/2011,Quốc Hội Myanma đã bầu Thủ tướng mãn nhiệm trước đây là tướng lãnh, ông Thein Sein làm tổng thống dân sự đầu tiên sau gần 50 năm cầm quyền của quân đội.

Hành chính

Bài chi tiết: Hành chính Myanmar

14 bang và vùng hành chính tại Myanma

Myanmar được chia thành 7 bang và 7 vùng hành chính[33]. Vùng lớn nhất là Bamar (Tain.png). Các bang (Pyinè.png), thực chất, là các vùng sinh sống của một số sắc tộc đặc biệt. Các vùng hành chính được chia nhỏ tiếp thành các thành phố, khu vực và các làng. Các thành phố lớn được chia thành các quận.

Tên Thủ phủ
Vùng hành chính
Vùng Ayeyarwady Pathein
Vùng Bago Bago
Vùng Magway Magwe
Vùng Mandalay Mandalay
Vùng Sagaing Sagaing
Vùng Tanintharyi Dawei
Vùng Yangon Yangon
Bang
Bang Chin Hakha
Bang Kachin Myitkyina
Bang Kayin Pa-an
Bang Kayah Loikaw
Bang Mon Mawlamyaing
Bang Rakhine Sittwe
Bang Shan Taunggyi

Các vùng và bang của Myanmar lại được chia thành các huyện (kayaing). Bang Shan là bang có nhiều (11) huyện nhất. Các bang Chin, bang Monbang Kayah chỉ có hai huyện mỗi bang.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Myanma

Myanma có tổng diện tích 678.500 kilômét vuông (261.970 dặm vuông), là nước lớn nhất trong lục địa Đông Nam Á, và là nước lớn thứ 40 trên thế giới (sau Zambia). Nước này hơi nhỏ hơn bang Texas Hoa Kỳ và hơi lớn hơn Afghanistan.
Myanma nằm giữa Khu Chittagong của BangladeshAssam, NagalandManipur của Ấn Độ ở phía tây bắc. Nó có đường biên giới dài nhất với Tây TạngVân Nam của Trung Quốc ở phía đông bắc với tổng chiều dài 2.185 km (1.358 dặm)[31]. Myanma giáp biên giới với LàoThái Lan ở phía đông nam. Myanma có đường bờ biển dài 1.930 km (1.199 dặm) dọc theo Vịnh BengalBiển Andaman ở phía tây nam và phía nam, chiếm một phần ba tổng chiều dài biên giới[31].
Đồng bằng Ayeyarwady, diện tích gần 50.400 km², phần lớn canh tác lúa gạo[34]]] Ở phía bắc, núi Hengduan Shan tạo nên biên giới với Trung Quốc. Hkakabo Razi, nằm tại Bang Kachin, ở độ cao 5.881 m (19.295 feet), là điểm cao nhất Myanma[35]. Các dãy núi Rakhine Yoma, Bago Yoma và Cao nguyên Shan nằm bên trong Myanma, cả ba đều chạy theo hướng bắc-nam từ dãy Himalaya[36]. Các dãy núi phân chia ba hệ thống sông của Myanma, là Ayeyarwady, ThanlwinSittang[34]. Sông Ayeyarwady, con sông dài nhất Myanma, gần 2.170 km (1.348 dặm), chảy vào Vịnh Martaban. Các đồng bằng màu mỡ nằm ở các thung lũng giữa các dãy núi[36]. Đa số dân cư Myanma sống trong thung lũng Ayeyarwady, nằm giữa Rakhine Yoma và Cao nguyên Shan.
Đa phần diện tích Myanma nằm giữa Hạ chí tuyếnXích đạo. Myanma nằm trong vùng gió mùa Châu Á, các vùng bờ biển của nó nhận lượng mưa trung bình 5.000 mm (197 in) hàng năm. Lượng mưa hàng năm tại vùng đồng bằng gần 2.500 mm (98 in), trong khi lượng mưa trung bình hàng năm tại Vùng Khô, nằm ở trung tâm Myanma, chưa tới 1.000 mm (39 in). Các vùng phía bắc đất nước có khí hậu lạnh nhất, nhiệt độ trung bình 21 °C (70 °F). Các vùng duyên hải và đồng bằng có nhiệt độ trung bình 32 °C (90 °F)[34].
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm của Myanma góp phần giữ gìn môi trường và các hệ sinh thái. Rừng, gồm rừng nhiệt đới với loại gỗ tếch có giá trị kinh tế cao ở vùng hạ Myanma, bao phủ 49% diện tích đất nước[37]. Các loại cây khác mọc ở vùng này gồm cao su, cây keo, tre, lim, đước, dừa, cọ. Trên những cao nguyên phía bắc, sồi, thông, và nhiều giống đỗ quyên khác bao phủ đa phần diện tích[37]. Những vùng đất dọc bờ biển có nhiều cây ăn trái nhiệt đới. Tại Vùng Khô, thực vật thưa thớt và còi cọc hơn.
Các loại động vật rừng rậm tiêu biểu, đặc biệt hổbáo có nhiều tại Myanma. Ở vùng Thượng Myanma, có tê giác, trâu rừng, lợn lòi, hươu, linh dươngvoi nhà, sử dụng nhiều nhất trong công nghiệp khai thác gỗ. Các loài có vú nhỏ hơn cũng rất nhiều từ vượn, khỉ tới cáo bayheo vòi. Đáng chú ý là sự đa dạng các loài chim với hơn 800 loài gồm vẹt, peafowl, gà lôi, quạ, diệcgõ kiến (paddybird). Trong số các loài bò sátcá sấu, tắc kè, rắn mang bành, trănrùa. Hàng trăm loài nước ngọt, rất phong phú và là nguồn thực phẩm quan trọng[38].
Năm 1994, đất canh tác 15,3% (2% có tưới), đồng cỏ 0,5%, rừng và cây bụi 49,3%, các đất khác 34,9%. Khoáng sản chính: dầu khí, thiếc, kẽm, antimon, đồng, vonfram, chì, than, đá quý.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Myanmar

Myanmar là một trong những nước nghèo nhất thế giới với hàng thập kỷ ở trong tình trạng trì trệ, quản lý kém và bị cô lập. Sau khi một chính phủ nghị viện được thành lập năm 1948, Thủ tướng U Nu đã nỗ lực biến Miến Điện trở thành một quốc gia thịnh vượng. Chính quyền của ông đã thông qua Kế hoạch kinh tế hai năm nhưng tiếc thay đây là một kế hoạch sai lầm[39]. Vụ đảo chính năm 1962 tiếp sau là một kế hoạch phát triển kinh tế được gọi là Con đường Miến Điện tiến tới Chủ nghĩa xã hội, một kế hoạch nhằm quốc hữu hóa mọi ngành công nghiệp, ngoại trừ nông nghiệp. Năm 1989, chính phủ Myanma bắt đầu bãi bỏ kiểm soát tập trung hóa nền kinh tế và tự do hóa một số lĩnh vực kinh tế[40]. Các ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận như ngọc, dầu khí và lâm nghiệp vẫn bị kiểm soát chặt chẽ. Gần đây những ngành này đã được một số tập đoàn nước ngoài liên doanh cùng chính phủ tham gia khai thác.
Myanmar bị liệt vào hạng nước kém phát triển nhất năm 1987[41]. Từ năm 1992, khi Than Shwe lên lãnh đạo quốc gia, chính phủ đã khuyến khích du lịch. Tuy nhiên, chưa tới 750.000 du khách tới nước này hàng năm[42]. Các doanh nghiệp tư nhân thường là đồng sở hữu hay thuộc sở hữu trực tiếp của Tatmadaw. Trong những năm gần đây, cả Trung QuốcẤn Độ đều nỗ lực phát triển quan hệ với chính phủ nước này vì mục tiêu lợi ích kinh tế. Nhiều quốc gia khác, trong đó gồm cả Hoa Kỳ, CanadaLiên minh châu Âu, đã áp đặt các lệnh cấm vận thương mại và đầu tư đối với Myanma. Đầu tư nước ngoài chủ yếu từ Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Ấn ĐộThái Lan[43].
Ở thời thuộc địa Anh, Miến Điện là một trong những nước giàu có nhất vùng Đông Nam Á. Đây là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và là nước cung cấp dầu khí thông qua Công ty Dầu khí Miến Điện. Miến Điện cũng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nhân lực dồi dào. Họ sản xuất 75% lượng gỗ tếch của thế giới, và dân cư có tỷ lệ biết đọc biết viết cao[44]. Nước này từng được tin tưởng sẽ có tương lai phát triển nhanh chóng[44].
Ngày nay, Myanma thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết. Trao đổi hàng hóa chủ yếu qua biên giới với Thái Lan, và đó cũng là đầu mối xuất khẩu ma tuý lớn nhất, và dọc theo Sông Ayeyarwady. Đường sắt cũ kỹ và mới ở mức kỹ thuật sơ khai, hiếm khi được sửa chữa từ khi được xây dựng trong thập niên 1800[45]. Đường giao thông thường không được trải nhựa, trừ tại các thành phố lớn[45]. Thiếu hụt năng lượng là điều thường thấy trong nước, kể cả tại Yangon. Myanma cũng là nước sản xuất thuốc phiện lớn thứ hai thế giới, chiếm 8% tổng lượng sản xuất toàn cầu và là nguôn cung cấp các tiền chất ma tuý lớn gồm cả amphetamines[46]. Các ngành công nghiệp khác gồm sản phẩm nông nghiệp, dệt may, sản phẩm gỗ, vật liệu xây dựng, kim cương, kim loại, dầu mỏ và khí ga. Việc thiếu hụt nguồn nhân công trình độ cao cũng là một vấn đề ngày càng tăng đối với kinh tế Myanma[47].
Nông nghiệp chiếm 59,5% GDP và 65,9% lao động. Công nghiệp chế biến chiếm 7,1% GDP và 9,1% lao động; khai khoáng 0,5% GDP và 0,7% lao động; xây dựng 2,4% GDP và 2,2% lao động; thương mại 23,2% GDP và 9,7% lao động; tài chính, dịch vụ và công chính 1,5% GDP và 8,1% lao động. GDP/đầu người: 2.399 USD (1995); GNP/đầu người: 2610 USD (1996). Sản phẩm nông nghiệp chính (1999): lúa 17 triệu tấn, mía 5,4 triệu tấn, đậu 1,9 triệu tấn, lạc 562 nghìn tấn, ngô 303 nghìn tấn, vừng 210 nghìn tấn, bông 158 nghìn tấn. Chăn nuôi: 10,7 triệu, lợn 3,7 triệu, trâu 2,4 triệu, cừu 1,7 triệu, vịt 6,1 triệu, 39 triệu. Gỗ tròn 22,4 triệu m³ (1998). Đánh bắt cá 917,7 nghìn tấn (1997). Sản phẩm công nghiệp chính: khai khoáng (đồng 14,6 nghìn tấn, thạch cao 40,6 nghìn tấn, chì 1,6 nghìn tấn, thiếc 154 tấn); chế biến (xi măng 513 nghìn tấn, phân hóa học 66 nghìn, đường 43 nghìn; 1996). Năng lượng (1996): điện 4,3 tỉ kW.h, than 72 nghìn tấn, dầu thô 2,8 triệu thùng, khí đốt 1,6 tỉ m³. Giao thông: đường sắt 3955 km (1999-2000), đường bộ 28,2 nghìn km (1996, rải nhựa 12%).
Xuất khẩu (1997-98) 5,4 tỉ kyat (nông sản 26,9%, gỗ và cao su 15,7%). Bạn hàng chính: Singapore 13,2%; Thái Lan 11,9%; Ấn Độ 22,6%; Trung Quốc 10,6%; Hồng Kông 5,8%.
Nhập khẩu (1997-98) 12,7 tỉ kyat (máy móc và thiết bị vận tải 28,6%, tư liệu sản xuất 48%, hàng tiêu dùng 4,3%). Bạn hàng chính: Singapore 31,1%, Thái Lan 9,8%, Trung Quốc 9,4%, Malaysia 7%.
Đơn vị tiền tệ: kyat Myanma. Tỉ giá hối đoái: 1USD = 983 kyat (11/2013)

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Myanma

Một tòa nhà chung cư tại khu kinh doanh Yangon, đối diện Chợ Bogyoke. Đa số dân đô thị Yangon sống trong những khu chung cư đông đúc

Myanma có dân số khoảng 40 tới 55 triệu người[48]. Con số dân cư hiện tại chỉ là ước tính bởi vì cuộc tổng điều tra dân số toàn quốc cuối cùng, do Bộ Nội và các Vấn đề Tôn giáo tiến hành, đã xảy ra từ năm 1983[49]. Có hơn 600.000 công nhân nhập cư Myanma có đăng ký tại Thái Lan, và hàng triệu người lao động bất hợp pháp khác. Những công nhân nhập cư Myanma chiếm 80% số lao động nhập cư tại Thái Lan[50]. Mật độ dân số bình quân của Myanma là 75 người trên km², một trong những mức thấp nhất vùng Đông Nam Á. Các trại tị nạn tồn tại dọc theo biên giới Ấn Độ-Myanma, Bangladesh-Myanma và Myanma-Thái Lan và hàng ngàn người khác sống tại Malaysia. Những ước tính thận trọng cho rằng hơn 295.800 người tị nạn từ Myanma, đa số là người Rohingya, KayinKarenni[51].

Một em bé thuộc cộng đồng thiểu số Padaung, một trong nhiều dân tộc thiểu số tạo nên dân số Myanma

Myanma rất đa dạng về chủng tộc dân cư. Dù chính phủ công nhận 135 dân tộc khác nhau, con số thực thấp hơn nhiều[52]. Người Bamar chiếm khoảng 68% dân số, 10% là người Shan. Người Kayin chiếm 7% dân số, người Rakhine chiếm 4%. Người Hoa chiếm gần 3% dân số[53]. Người Mon, chiếm 2% dân số, là nhóm người có quan hệ dân tộc và ngôn ngữ với người Khmer. Người Ấn chiếm 2%. Số còn lại là người Kachin, Chin và các nhóm thiểu số khác.
Myanma có bốn ngữ hệ chính: Hán-Tạng, Nam Á, Tai-KadaiẤn-Âu[54]. Các ngôn ngữ thuộc hệ Hán-Tạng được sử dụng nhiều nhất. Chúng gồm tiếng Myanma, tiếng Karen, Kachin, tiếng Chintiếng Hoa. Ngôn ngữ Tai-Kadai chính là tiếng Shan. Tiếng Mon là ngôn ngữ Nam Á chính được sử dụng ở Myanma. Hai ngôn ngữ Ấn-Âu chính là tiếng Pali, ngôn ngữ dùng trong nghi thức của Phật giáo Tiểu thừatiếng Anh[55].
Theo Viện Thống kê UNESCO, tỷ lệ biết đọc biết viết chính thức của Myanma năm 2000 là 89,9%[56]. Về mặt lịch sử, Myanma có tỷ lệ biết chữ cao. Nhằm đạt mức đánh giá tình trạng quốc gia kém phát triển của Liên hiệp quốc để được cho vay vốn, Myanma đã hạ thấp mức biết chữ của nước mình từ 78,6% xuống còn 18,7% năm 1987[57]. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ước tính số người biết chữ thực là 30%.
Phật giáo tại Myanma chủ yếu là phái Tiểu thừa hòa trộn với những đức tin bản địa. 89% dân số nước này theo Phật giáo Tiểu thừa, gồm người Bamar, Rakhine, Shan, Mon và Hoa. 4% dân số là tín đồ Cơ Đốc giáo, chủ yếu là những cư dân vùng cao như Kachin, Chin và Kayin, và Âu Á bởi vì các nhà truyền giáo thường tới các vùng này. Đa số tín đồ Cơ Đốc giáo là Tin Lành, đặc biệt là phái Baptist của Giáo đoàn Baptist Myanmar. 4% dân số theo Hồi giáo, chủ yếu là dòng Sunni[58]. Hồi giáo thường phát triển trong các cộng đồng dân cư Ấn Độ, Ấn Miến, Ba Tư, Ả Rập, PanthayRohingya. Những người dân theo Hồi giáo và Cơ Đốc giáo không có vị trí quan trọng trong xã hội và thường sống cô lập[58][59]. Một số nhỏ dân cư theo Hindu giáo.

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Myanmar

Dù có nhiều nền văn hóa bản xứ tồn tại ở Myanmar, nền văn hóa chiếm vị trí trọng yếu là Phật giáo và Bamar. Văn hóa Bamar từng bị ảnh hưởng từ các nền văn hóa các nước xung quanh. Nó được biểu hiện qua ngôn ngữ, ẩm thực, âm nhạc, nhảy múa và sân khấu. Nghệ thuật, đặc biệt là văn học, trong lịch sử từng bị ảnh hưởng bởi phong cách Phật giáo tiểu thừa Miến Điện. Nếu coi thiên sử thi quốc gia của Myanma, Yama Zatdaw, là một sự phóng tác theo Ramayana, thì nó đã mang nhiều nét ảnh hưởng lớn từ các văn bản Thái, Mon và Ấn Độ của vở kịch này[60]. Phật giáo cùng sự thờ phụng nat liên quan tới những nghi lễ phức tạp hay đơn giản từ một đền bách thần gồm 37 nat[61][62].

Những người đi tu được kính trọng trên khắp Myanma, đây là một trong những quốc gia có đa số Phật giáo tiểu thừa trên thế giới

Trong các làng Myanmar truyền thống, chùa chiền là trung tâm của đời sống văn hóa. Các nhà sư được sùng kính và người dân luôn quỳ trước mặt để tỏ lòng tôn trọng họ. Lễ nhập tu được gọi là shinbyu là lễ đánh dấu sự trưởng thành quan trọng nhất của một chú bé khi vào chùa tu trong một khoảng thời gian ngắn[63]. Các cô bé cũng có lễ xuyên lỗ tai (Nathwin.gif) khi đến tuổi trưởng thành[63]. Văn hóa Myanma được thể hiện rõ rệt nhất tại những ngôi làng nơi các lễ hội địa phương được tổ chức trong suốt năm, lễ hội quan trọng nhất là lễ chùa[64][65]. Nhiều làng xã ở Myanma có quy ước, các phong tục mê tín và những điều cấm kị riêng.
Thời kỳ cai trị thuộc địa của Anh cũng đã để lại một số ảnh hưởng phương Tây trong văn hóa Myanma. Hệ thống giáo dục Myanma theo khuôn mẫu hệ thống giáo dục Anh Quốc. Những ảnh hưởng kiến trúc thuộc địa là điều dễ nhận thấy nhất tại các thành phố lớn như Yangon[66]. Nhiều dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Karen ở phía đông nam và người Kachin, người Chin sống ở phía bắc và tây bắc, theo Thiên chúa giáo nhờ công của các nhà truyền giáo[67].

Ngôn ngữ

Bài chi tiết: Tiếng Myanma

Tiếng Myanma, tiếng mẹ đẻ của người Bamar và là ngôn ngữ chính thức của Myanma, về mặt ngôn ngữ học có liên quan tới tiếng Tây Tạngtiếng Trung Quốc[55]. Nó được viết bằng ký tự gồm các chữ hình tròn và nửa hình tròn, có nguồn gốc từ ký tự Mon. Bảng chữ cái này được phỏng theo ký tự Mon, ký tự Mon được phát triển từ ký tự nam Ấn Độ trong thập niên 700. Những văn bản sớm nhất sử dụng ký tự được biết tới từ thập niên 1000. Ký tự này cũng được sử dụng để viết chữ Pali, ngôn ngữ thiêng liêng của Phật giáo Tiểu thừa. Ký tự Miến Điện cũng được dùng để viết nhiều ngôn ngữ thiểu số khác, gồm Shan, nhiều thổ ngữ Karen và Kayah (Karenni); ngoài ra mỗi ngôn ngữ còn có thêm nhiều ký tự và dấu phụ đặc biệt khác[68]. Tiếng Mayanma sử dụng nhiều từ thể hiện sự kính trọng và phân biệt tuổi tác[64]. Xã hội Myanma truyền thống rất nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục. Bên trong các ngôi làng, giáo dục do các giáo sĩ truyền dạy thường diễn ra trong các ngôi chùa. Giáo dục trung học và giáo dục cao đẳng/đại học thuộc các trường của chính phủ.

Ẩm thực

Bài chi tiết: Ẩm thực Myanma

Ẩm thực Myanma bị ảnh hưởng nhiều từ ẩm thực Ấn Độ, Trung Quốc, Thái, và các nền văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số khác[69]. Món chủ yếu trong ẩm thực Myanma là gạo. Mỳbánh mì cũng là các món thường thấy. Ẩm thực Myanma thường sử dụng tôm, , patê cá lên men, thịt lợnthịt cừu[69]. Thịt bò, bị coi là món cấm kỵ, rất hiếm được sử dụng. Các món cà ri, như masalaớt khô cũng được dùng. Mohinga, thường được coi là món quốc hồn Myanma, gồm nước luộc cá trê có gia vị cà ri và hoa đậu xanh, miếnnước mắm[70]. Các loại quả nhiệt đới thường dùng làm đồ tráng miệng. Các thành phố lớn có nhiều phong cách ẩm thực gồm cả Shan, Trung Quốc và Ấn Độ.

Âm nhạc

Bài chi tiết: Âm nhạc Myanma

Âm nhạc truyền thống Miến Điện du dương nhưng không hài hòa. Các nhạc cụ gồm một bộ trống được gọi là pat waing, một bộ cồng gọi là kyi waing, một đàn tre gọi là pattala, chũm chọe, nhạc cụ bộ hơi như hnè hay oboesáo, bamboo clappers, và nhạc cụ bộ dây, thường được kết hợp thành một giàn giao hưởng gọi là saing waing[63][65] Saung gauk, một nhạc cụ bộ dây hình chiếc thuyền gồm các dây tơthủy tinh trang trí dọc theo thân từ lâu đã đi liền với văn hóa Myanma[71]. Từ thập niên 1950, các nhạc cụ phương Tây đã trở nên phổ biến, đặc biệt tại các thành phố lớn[72].

Tôn giáo

Myanma có nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó đạo Phật chiếm 89,3% số dân; Thiên Chúa giáo 5,6%; đạo Hồi 3,8%; đạo Hindu 0,5%; các tôn giáo khác như Do Thái giáo, Đa Thần giáo, Vật linh giáo, v.v. Chiếm khoảng 0,8% số dân. Mọi công dân Myanma được tự do tín ngưỡng, tuy theo tôn giáo khác nhau nhưng dân chúng vẫn sống hòa bình, bằng chứng là những kiến trúc của tôn giáo khác nhau cùng được xây dựng và ton trọng tại những thành phố lớn.

Phật giáo

Người dân Myanma sùng đạo Phật, tại bất kỳ thành phố, thị xã nào đều có ít nhất một ngôi chùa và một tu viện Phật giáo. Đạo Phật có ảnh hưởng rất lớn ở Myanma, cuộc sống của người dân không tách rời các nghi lễ Phật giáo. Mùa chay Phật giáo cũng được ghi trên lịch của Myanma là ba tháng mùa mưa, tương đương với thời gian từ tháng 7 đến tháng 10 dương lịch. Trong thời gian đó có các hoạt động ăn chay, cưới xin, chuyển nhà thường được hoãn lại.
Trong các tín đồ Phật giáo ở Myanma có 99% là người Miến, người Shanngười Karen. Cả nước Myanma có khoảng 500.000 tăng ni. Đạo Phật ở Myanma theo dòng Theravada, là Phật giáo Nguyên thủy – tức dòng Phật giáo Tiểu thừa, giáo phái Nam Tông. Sự tu hành của các sư cũng giống như Phật giáo tại Thái Lan, Lào, Sri Lanka, Campuchia: các sư không ở chùa mà ở thiền viện, buổi sáng hằng ngày đi khất thực, không ăn chay và chỉ được ăn từ khi mặt trời mọc đến trước 12h trưa, sau 12h trưa đến sáng hôm sau tuyệt đối không được ăn.
Dưới thời thủ tướng Ne Win, Phật giáo tại Mianma từng được đưa vào Hiến pháp là quốc đạo, nhưng các chính quyền quân sự Myanma tiếp theo đã xóa bỏ điều khoản này để đảm bảo công bằng về tôn giáo.
Cả nước Myanma có hàng vạn đền, chùa, tháp, nằm rải rác trên khắp đất nước. Vì vậy, cũng như Campuchia, Myanma còn được gọi là đất nước Chùa tháp.
Chùa thấp tập trung nhiều nhất ở thành phố Bagan, gồm khoảng hơn 4000 đền, chùa, tháp lớn nhỏ trên diện tích khoảng 40km2.Nhiều chùa, tháp được xây dựng từ đầu thế kỷ nguyên Bagan (thế kỷ 11).
Nhiều chùa tháp của Myanma thường được xây trên các đỉnh núi cao hơn mặt nước biển hàng nghìn mét để cất gi, bảo quản xá lợi Phật và các Phật tích khác. Các ngọn tháp cất giữ xá lợi Phật là những cấu trúc liền khối hình nón với một căn phòng chứa báu vật ở bên dưới. Khu nền bao quanh ngọn tháp là nơi dành cho hành khách hương cầu nguyện, thiền định, tụng kinh hay dâng hương. Những kiến trúc Phật giáo khác gồm có: tượng Phật – được dựng ngoài trời hay dưới một mái che, Phật đường – là nơi tổ chức thuyết pháp và các buổi lễ.
Ở lối vào những ngôi đền, chùa lớn thường có nhiều quầy bán hoa tươi, cành lá, nến, vàng thếp, những chiếc dù, quạt nhỏ bằng giấy màu để dâng lên Đức Phật. Giày dép của khách thập phương phải bỏ bên ngoài mỗi khi bước chân vào đền, chùa.
Myanma cũng có rất nhiều thiền viện – là nơi ở của các nhà sư. Các Phật tử trong và ngoài nước thường tới thiền viện để tỏ lòng kính trọng và dâng đồ bố thí, cúng dường như thức ăn, tiền bạc, áo cà sa và vật dụng cho các sư. Phật tử có thể lưu lại cả tuần, cả tháng, cả năm trong thiền viện để học thiền, nghe thuyết pháp hay nghiên cứu Phật pháp. Nhiều nghi lễ tôn giáo, trong đó có lễ thụ giới và lễ dâng cà sa,… được tổ chức rất trang trọng tại các thiền viện. Một số khu vực trong thiền viện cấm phụ nữ không được lui tới. Vào các kỳ nghỉ hè hằng năm, học sinh từ 6 đến 16 tuổi cũng tạp trung ở đây làm ễ xuống tóc, đổi áo và dự một khóa tu khoảng 1 tháng để học các giới luật, nghe thuyết pháp và tu thiền.
Chùa Shwedagon (chùa vàng) ở Yangon là chùa tháp lớn nhất và đẹp nhất Myanma, được hình thành từ 2500 năm trước và được các triều đạo phong kiến Miến Điện tu bổ, mở rộng dần. Chùa Shewdagon tọa lạc trên một quả đồi cao, rộng, trên đỉnh tháp gắn nhiều kim cương, hồng ngọc, bích ngọc và các loại đá quý, chùa được dát vàng nên lấp lánh dưới ánh mặt trời vào ban ngày và ánh điện về ban đêm. Ỏ Yangoon còn có chùa Phật nằm, chùa Phật ngọc, chùa tóc Phật, chùa răng Phật, v.v.. rất độc đáo.
Chùa Kyaikhtyobang Mon là kỳ quan có một không hai trên thế giới. Chùa được xây trên tảng đá lớn màu vàng chênh vênh trên vách núi cao trông rất ngoạn mục.
Myanma có nhiều học viện Phật giáo ở các thành phố lớn, nơi đã và đang đào tạo các sư có trình độ cao về Phật học. Myanma còn có trường đại học Phật giáo quốc tế tại Yangoon, dành cho sinh viên từ nhiều nước như Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Xri Lanca, Nepan, Thái Lan, Campuchia, Lào,.. đến học miễn phí từ bậc đại học đến tiến sĩ.

Thiên Chúa giáo

Thiên chúa giáo lần đầu tiên gia nhập Myanma khoảng đầu thế kỷ 17, hiện chiếm khoảng 5,6% số dân Myanma. Phần lớn tín đồ thiên chúa giáo là người Keren, Chin, Kachin, và người Miến theo Thiên chúa giáo dòng Baptis. Những thừa sai Thiên chúa giáo hoạt động rất tích cực từ thời thuộc địa cho đến giữa những năm 1960, họ thành lập các trường học, bệnh viện và các trung tâm cứu trợ xã hội. Sau năm 1962, những cơ sở này bị chính quyền Myanma quốc hữu hóa.

Hồi giáo

Đạo Hồi tại Myanma chiếm 3,8% số dân và chủ yếu tập trung ở bang Rakhine, phía tây Myanma. Người hồi giáo dòng Rohingya sống chủ yếu ở các quận Maungdau, ButhidaungRathedaung – bang Rakhine. Từ nhiều năm nay, những khu vực này vẫn thường xảy ra xung đột quyết liệt giữa các giáo phái với nhau, đặc biệt là tín đồ Hồi giáo dòng Rohingya với tín đồ Thiên chúa giáo và Phật giáo.
Các tôn giáo khác gồm Do thái giáo, Đa thần giáo, Linh vật giáo,..chiếm khoảng 0,8% số dân Mianma.

Xem thêm

Ảnh

Ghi chú

  1. ^ Dân số các Quốc Gia trên Thế Giới, CIA World Factbook ước tính
  2. ^ George Aaron Broadwell; Dept. of Anthropology; University at Albany, Albany, NY; truy cập 11 tháng 7, 2006
  3. ^ An Account of An Embassy to the Kingdom of Ava by Michael Symes,1795.
  4. ^ a ă â Houtman, Gustaaf (1999). Mental Culture in Burmese Crisis Politics: Aung San Suu Kyi and the National League for Democracy. ISBN 4-87297-748-3.
  5. ^ “The Constitution of the Union of Burma”. DVB. 1947. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2006.
  6. ^ Smith, Martin (1991). Burma -Insurgency and the Politics of Ethnicity. London and New Jersey: Zed Books. tr. 42–43.
  7. ^ “Honoring those who fought for freedom “Golden Anniversary””. Mainichi Daily News. National Coalition Government of Union of Burma. 12 tháng 1 năm 1998. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2006.
  8. ^ Aung Zaw. “Can Another Asian Fill U Thant’s Shoes?”. The Irrawaddy tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006.
  9. ^ “PYITHU HLUTTAW ELECTION LAW”. State Law and Order Restoration Council. iBiblio.org. 31 tháng 5 năm 1989. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  10. ^ Khin Kyaw Han (1 tháng 2 năm 2003). “1990 MULTI-PARTY DEMOCRACY GENERAL ELECTIONS”. National League for Democracy. iBiblio.org. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  11. ^ a ă “The National Convention”. The Irrawaddy. 31 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  12. ^ “Chính quyền Myanma chuyển sang thủ đô mới”. VietNamNet. 7 tháng 11, 2005. Truy cập 27 tháng 3, 2007.
  13. ^ “Myanma lần đầu giới thiệu thủ đô mới với thế giới”. VietNamNet. 27 tháng 3, 2007. Truy cập 27 tháng 3, 2007.
  14. ^ “The Birth Of The NCGUB”. National Coalition Government of the Union of Burma. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2006.
  15. ^ Aung Zaw. “Than Shwe—Man in the Iron Mask”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2006.
  16. ^ “Chiefs of State and Cabinet Members of Foreign Governments: Burma”. Central Intelligence Agency. 2 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  17. ^ McCain, John (11 tháng 5 năm 2003). “Crisis in Rangoon”. National Review Online. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  18. ^ Brad Adams. “Statement to the EU Development Committee”. Human Rights Watch. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2006.
  19. ^ “Internet Filtering in Burma in 2005: A Country Study”. OpenNet Initiative.
  20. ^ “Burma bans Google and gmail”. BurmaNet News. 27 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2006.
  21. ^ “Myanmar: 10th anniversary of military repression”. Amnesty International. 7 tháng 8 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  22. ^ The Irrawaddy (2006-05-27). “Suu Kyi’s Detention Extended, Supporters likely to Protest”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2006.
  23. ^ The Irrawaddy (2006-05-27). “Opposition Condemns Extension of Suu Kyi’s Detention”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2006.
  24. ^ “About Us”. ASEAN Inter-Parliamentary Myanmar Caucus. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  25. ^ Poon, Khim Shee (2002). “The Political Economy of China-Myanmar Relations: Strategic and Economic Dimensions” (PDF). Ritsumeikan University. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  26. ^ Selth, Andrew (Spring 2002). “Burma and Superpower Rivalries in the Asia-Pacific”. Naval War College Review. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2006.
  27. ^ “The EU’s relations with Burma / Myanmar”. European Union. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  28. ^ “Dilemma of dealing with Burma”. BBC News. 2004-10-20. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2004. Đã bỏ qua tham số không rõ |firstname= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lastname= (trợ giúp)
  29. ^ “How Best to Rid the World of Monsters”. Washington Post. 2003-06-23. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2006. Đã bỏ qua tham số không rõ |firstname= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lastname= (trợ giúp)
  30. ^ “Reuters Belgian group seeks Total boycott over Myanmar”. Ibiblio (Reuters). 1999-05-10. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2006.
  31. ^ a ă â b CIA Factbook
  32. ^ Starck, Peter (7 tháng 6 năm 2005). “World Military Spending Topped $1 Trillion in 2004”. Reuters. Common Dreams NewsCenter. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2006.
  33. ^ “Administrative divisions”. The World Factbook. Central Intelligence Agency. 29 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  34. ^ a ă â Thein, Myat (2005). Economic Development of Myanmar. ISBN 981-230-211-5.
  35. ^ Dr. Patrick Hesp et al. biên tập (2000). Geographica’s World Reference. Random House Australia. tr. 738, 741.
  36. ^ a ă Than, Mya (2005). Myanmar in ASEAN: Regional Co-operation Experience. ISBN 981-230-210-7.
  37. ^ a ă Myanmar’s Forest Law and Rules BurmaLibrary.org Truy cập 15 tháng 7, 2006
  38. ^ “Flora and Fauna” at Myanmars.net
  39. ^ Watkins, Thayer. “Political and Economic History of Myanmar (Burma) Economics”. San José State University. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2006.
  40. ^ Stephen Codrington (2005). Planet geography. Solid Star Press. tr. 559. ISBN 0-9579819-3-7.
  41. ^ “List of Least Developed Countries”. UN-OHRLLS. 2005.
  42. ^ Henderson, Joan C. “The Politics of Tourism in Myanmar”. Nanyang Technological University. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2006.
  43. ^ Fullbrook, David (4 tháng 11 năm 2004). “So long US, hello China, India”. Asia Times. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên steinberg
  45. ^ a ă “Challenges to Democratization in Burma” (PDF). International IDEA. November năm 2001. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2006.
  46. ^ “Myanmar Country Profile” (PDF). Office on Drugs and Crime. United Nations. December năm 2005. tr. 5–6. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  47. ^ Brown, Ian (2005). A Colonial Economy In Crisis. Routledge. ISBN 0-415-30580-2.
  48. ^ “POPULATION AND SOCIAL INTEGRATION SECTION (PSIS)”. UN Economic and Social Commission for Asia and the Pacific.
  49. ^ “Conflict and Displacement in Karenni: The Need for Considered Responses”. PDF. Burma Ethnic Research Group. May năm 2000. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  50. ^ “Thailand: The Plight of Burmese Migrant Workers”. Amnesty International. 8 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  51. ^ “Myanmar Refugees in South East Asia”. PDF. UNHCR. April năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  52. ^ Gamanii. “135: Counting Races in Burma”. The New Era Journal. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2006.
  53. ^ Mya Than (1997). Trong Leo Suryadinata. Ethnic Chinese As Southeast Asians. ISBN 0-312-17576-0.
  54. ^ Gordon, Raymond G., Jr. (2005). “Languages of Myanmar”. SIL International. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  55. ^ a ă Gordon, Raymond G., Jr. (2005). “Language Family Trees: Sino-Tibetan”. Ethnologue: Languages of the World, Fifteenth edition. SIL International. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  56. ^ “Adult (15+) Literacy Rates and Illiterate Population by Region and Gender for 2000-2004” (XLS). UNESCO Institute of Statistics. April năm 2006. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  57. ^ Robert I Rotberg biên tập (1998). Burma: Prospects for a Democratic Future.
  58. ^ a ă Priestly, Harry (tháng 1 năm 2006). “The Outsiders”. The Irrawaddy. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2006.
  59. ^ Samuel Ngun Ling (2003). “The Encounter of Missionary Christianity and Resurgent Buddhism in Post-colonial Myanmar” (PDF). Payap University. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2006.
  60. ^ “Ramayana in Myanmar’s heart”. Goldenland Pages. 13 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2006.
  61. ^ Temple, R.C. (1906). The Thirty-seven Nats-A Phase of Spirit-Worship prevailing in Burma.
  62. ^ “The Worshipping of Nats – The Special Festival of Mount Popa”.
  63. ^ a ă â Khin Myo Chit (1980). Flowers and Festivals Round the Burmese Year.
  64. ^ a ă Tsaya (1886). Myam-ma, the home of the Burman. Calcutta: Thacker, Spink and Co. tr. 36–37.
  65. ^ a ă Shway Yoe (1882). The Burman – His Life and Notions. New York: Norton Library 1963. tr. 211–216,317–319.
  66. ^ Martin, Steven (30 tháng 3 năm 2004). “Burma maintains bygone buildings”. BBC News. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  67. ^ Scott O’Connor, V. C. (1904). The Silken East – A Record of Life and Travel in Burma. Scotland 1993: Kiscadale. tr. 32.
  68. ^ “Proposal for encoding characters for Myanmar minority languages in the UCS” (PDF). International Organization for Standardization. 2 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  69. ^ a ă Kong, Foong Ling (2002). Food of Asia. Tuttle Publishing. ISBN 0-7946-0146-4.
  70. ^ “Get a taste of Myanmar’s national dish”. Indo-Asian News Service (PlanetGuru).
  71. ^ “Postcard of Saung Gauk (arched harp)”. National Music Museum. University of South Dakota. 18 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2006.
  72. ^ “Myanmar worries as rappers upstage traditional xylophones”. Agence France Presse (BurmaNet News). 28 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2006.

Liên kết ngoài

Các bài nghiên cứu:


Estonia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Estonia
Eesti Vabariik (tiếng Estonia)
Flag of Estonia.svg Estonia coatofarms.png
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Estonia
Khẩu hiệu
Không có
Quốc ca
Mu isamaa, mu õnn ja rõõm
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống
Thủ tướng
Arnold Rüütel
Andrus Ansip
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Estonia
Thủ đô Tallinn
59°26′B, 24°45′Đ
Thành phố lớn nhất Tallinn
Địa lý
Diện tích 45.226 km² (hạng 129)
Diện tích nước 4.56% %
Múi giờ EET (UTC+2); mùa hè: EEST (UTC+3)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập Từ NgaĐức
Ngày 24 tháng 2 năm 1918
Ngày 2 tháng 2 năm 1920
Ngày 16 tháng 6 năm 1940
Ngày 20 tháng 8 năm 1991
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 1.332.893 người (hạng 148)
Mật độ 29,8 người/km² (hạng 144)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 18.563 triệu Mỹ kim
HDI (2003) 0,853 cao (hạng 38)
Đơn vị tiền tệ euro () (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .ee
Trang website chính phủ

Estonia (tiếng Estonia: Eesti, Tiếng Việt: E-xtô-ni-a[1]), tên chính thức là Cộng hòa Estonia (tiếng Estonia: Eesti Vabariik) là một quốc gia ở khu vực Bắc Âu. Estonia tiếp giáp với Liên bang Nga về phía đông, giáp với Latvia về phía nam, giáp với vịnh Phần Lan về phía bắc và giáp với biển Baltic về phía tây. Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số của Estonia là 1.315.912 người[2], mật độ dân số khoảng 30 người/km².
Estonia có địa hình tương đối thấp. Nước này có rất nhiều sônghồ, kèm theo đó là một diện tích rừng đáng kể. Estonia nằm trong khu vực khí hậu ôn hòa, có tính chất chuyển tiếp từ khí hậu hải dương sang khí hậu lục địa.
Trong suốt lịch sử của mình, Estonia đã từng bị nhiều quốc gia láng giềng đô hộ. Vào ngày 24 tháng 2 năm 1918, nền cộng hòa ở Estonia chính thức được thành lập. Tuy nhiên, trong thế chiến thứ hai, đất nước này đã bị chiếm đóng và sáp nhập vào Liên bang Xô viết. Năm 1991, Liên Xô sụp đổ dẫn đến việc Estonia lại trở thành một quốc gia độc lập. Ngày nay, Estonia là một nước cộng hòa theo thể chế dân chủ nghị viện. Nước này là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Liên minh Châu Âu, NATO.
Người Estonia có liên hệ về mặt dân tộc với người Phần Lan. Tiếng Estonia là một trong những ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Phần Lan-Ugra của hệ ngôn ngữ Ural, có liên hệ gần với tiếng Phần Lantiếng Hungary. Đây là một trong số ít những ngôn ngữ chính thức của châu Âu không bắt nguồn từ hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.

Lịch sử

Thời kỳ cổ đại

Những công cụ bằng đá thuộc nền văn hóa Kunda

Con người bắt đầu định cư tại Estonia vào khoảng từ 11.000 đến 13.000 năm về trước, khi mà băng tan chảy vào cuối Thời kỳ Băng hà. Pulli là bộ tộc đầu tiên đến định cư tại Estonia, trên bờ con sông Parnu, gần thị trấn Sindi, miền nam Estonia. Sử dụng phương pháp phóng xạ carbon, các nhà khoa học xác định rằng bộ tộc Pulli đã đến định cư tại Estonia vào khoảng 11.000 năm về trước, lúc bắt đầu thiên niên kỉ thứ 9 trước Công nguyên. Bằng chứng về những cộng đồng sống bằng săn bắt và đánh cá khoảng 6500 năm trước Công nguyên đã được tìm thấy ở thị trấn Kunda, miền bắc Estonia. Những đồ tạo tác tương tự bằng xương và đá tương tự như ở Kunda cùng đã được tìm thấy ở nhiều nơi nằm ngoài lãnh thổ Estonia như Latvia, miền bắc Litva và miền nam của Phần Lan. Nền văn hóa Kunda nằm trong Thời kỳ đồ đá giữa.
Cuối Thời kỳ đồ đồng và đầu Thời kỳ đồ sắt đã đánh dấu những thay đổi lớn về văn hóa. Sự thay đổi công cụ sản xuất đã dẫn tới những thay đổi lớn về mặt kinh tế của Estonia. Khoảng chừng từ thế kỉ thứ 1 đến thế kỉ 5, những khu dân cư nông nghiệp đã bắt đầu mở rộng. Dân số cũng tăng lên. Những ảnh hưởng về mặt văn hóa của Đế chế La Mã đã vươn tới Estonia. Tuy nhiên trong Thời kỳ Đồ sắt, những cuộc chiến tranh và xung đột với các dân tộc Baltic và người Scandinavia đã khiến tình hình Estonia trở nên bất ổn.
Vào thế kỉ 1, hệ thống phân chia hành chính đã được thành lập tại Estonia. Hai đơn vị phân chia hành chính chủ yếu là vùng (kihelkond) và tỉnh (maakond). Mỗi vùng bao gồm vài ngôi làng và thường có ít nhất một pháo đài. Còn mỗi tỉnh thì lại gồm nhiều vùng. Vào thế kỉ 13, các vùng của Estonia mở rộng và phát triển. Đến thời kỳ này, người Estonia vẫn giữ một tôn giáo cổ xưa của riêng họ, gọi là Tharapita.

Thời kỳ Trung cổ

Bản đồ Liên bang Livonia vào năm 1260

Từ năm 1228 đến 1560, Estonia trở thành một phần của Liên bang Livonia, một liên bang lỏng lẻo giữa người Estonia thuộc hệ ngôn ngữ Phần Lan và các dân tộc vùng Baltic. Trong thời gian này, Estonia liên tiếp bị nhiều quốc gia láng giềng xâm chiếm.
Estonia đã giữ mình như một vùng đất ngoại đạo trong thời gian dài tại châu Âu. Tuy nhiên đến đầu thế kỉ 13, người Đức đã xâm chiếm vùng phía nam Estonia ngày nay trong cuộc Thập tự chinh Phương Bắc và tiến hành truyền bá đạo Cơ đốc. Trong cùng thời gian đó, người Đan Mạch đã xâm chiếm và cai trị miền bắc Estonia và kéo dài cho đến năm 1346. Vào cuối thế kỉ 13, thành phố Reval (tên cũ của Tallinn, thủ đô ngày nay của Estonia) đã tham gia vào Liên minh Hanse, một liên hiệp kinh tế vùng Baltic. Năm 1343, người dân miền bắc Estonia và đảo Saaremaa đã nổi dậy chống lại sự cai trị của người Đức nhưng cuộc khởi nghĩa đã bị dập tắt.
Bên cạnh Đức và Đan Mạch, Estonia còn bị xâm chiếm bởi người Nga vào những năm 1481 và 1558 nhưng những nỗ lực này của người Nga đều không thành công.

Estonia trong cuộc Cải cách Kháng cách

Pháo đài Kuressaare ở Estonia

Cải cách Kháng Cách được bắt đầu vào năm 1517 đã gây ra một sự thay đổi lớn tại khu vực Baltic. Tại Liên bang Livonia, những ý tưởng của cuộc Cải cách Kháng cách nhanh chóng lan rộng trong những năm 1520. Những sự thay đổi lớn đã diễn ra trên các mặt ngôn ngữ, giáo dục, tôn giáo và chính trị của vùng đất này. Từ thời điểm đó, những nghi lễ nhà thờ phức tạp bằng tiếng Latin trước kia đã được thay thế bằng ngôn ngữ bản địa của người dân.
Trong cuộc chiến tranh Livonia năm 1561, miền bắc Estonia trở thành một bộ phận của Thụy Điển trong khi miền nam nhanh chóng rơi vào tay Liên bang Ba Lan – Litva vào thập niên 1580. Cuối cùng vào năm 1625, toàn bộ lãnh thổ Estonia đã về tay Đế chế Thụy Điển hùng mạnh. Khu vực này được chia làm hai tỉnh: tỉnh Estonia ở miền bắc Estonia ngày nay và tỉnh Livonia gồm miền nam Estonia và miền bắc nước Latvia ngày nay.
Năm 1631, vua Gustavus Adolphus của Thụy Điển đã buộc các quý tộc phải trao thêm quyền lợi cho nông dân, dù rằng chế độ nông nô vẫn được duy trì. Dưới sự cai trị của Thụy Điển, năm 1632 xưởng in và trường đại học đầu tiên đã được thành lập tại thành phố Dorpat (tên cũ của thành phố Tartu ngày nay).

Estonia trong Đế chế Nga

Đại chiến Bắc Âu kết thúc đã dẫn tới việc Thụy Điển để mất Estonia vào tay Đế chế Nga (năm 1710 trên thực tế và năm 1721 chính thức với Hiệp ước Nystad). Đại chiến Bắc Âu đã khiến rất nhiều người Estonia thiệt mạng nhưng dân số của nước này đã dần dần phục hồi lại sau đó. Thời gian đầu, quyền lợi của những người nông dân bị hạn chế nhưng sau đó, nước Nga đã bãi bỏ chế độ nông nô tại tỉnh Estonia vào năm 1816 và tỉnh Livonia vào năm 1819.

Đường tới nền cộng hòa

Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Cộng hòa Estonia

Sau khi chế độ nông nô bị bãi bỏ kèm theo đó là cơ hội học hành nhiều hơn đối với những cư dân nói tiếng Estonia, một phong trào vận động dân tộc của Estonia đã phát triển mạnh. Phong trào này phát triển mạnh trong lĩnh vực văn hóa với sự hình thành của nền văn học, âm nhạc, sân khấu mang bản sắc riêng của Estonia. Những người lãnh đạo tiêu biểu của các cuộc vận động là Johann Voldemar Jannsen, Jakob HurtCarl Robert Jakobson. Thời kỳ này, văn học Estonia phát triển đến đỉnh cao với sự kiện bộ sử thi Kalevipoeg của người Estonia được xuất bản năm 1862. Lễ hội âm nhạc đầu tiên của Estonia được tổ chức vào năm 1869.
Trước chính sách Nga hóa của đế chế Nga, vào những năm 1890 các nhà trí thức đã kêu gọi quyền tự trị lớn hơn cho vùng đất này, cao hơn nữa là sự độc lập hoàn toàn cho Estonia. Sau khi những người Bolshevik lên nắm chính quyền trong cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917, Estonia đã tuyên bố độc lập vào ngày 24 tháng 2 năm 1918 [3]. Tiếp đó, Estonia đã chiến thắng quân đội Liên Xô trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1918-1920). Kết quả là Hiệp định Hòa bình Tartu đã được ký kết vào ngày 2 tháng 2 năm 1920 với việc Liên Xô công nhận nền độc lập của nước Cộng hòa Estonia. Estonia trở thành một nước cộng hòa theo chế độ dân chủ nghị viện nhưng vào năm 1934, quốc hội Estonia bị giải tán bởi sự bất mãn của người dân do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra và tác động đến nền kinh tế nước này. Năm 1938, Konstantin Päts lên làm tổng thống và cuộc bầu cử quốc hội mới lại được tổ chức tại Estonia.

Estonia trong Thế chiến thứ hai

Hiệp ước Xô-Đức (hay còn gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrop) được ký kết vào năm 1939 giữa Liên XôĐức nhằm phân chia ảnh hưởng của mỗi bên đối với các nước Đông Âu và Baltic, theo đó Đức nhường cho Liên Xô Đông Ba Lan và 3 nước Baltic, trong đó có Estonia. Trong 2 năm 1939 và 1940 Đức đã di dân những người Đức ở Estonia và Latvia về nước. Vào ngày 16 tháng 6 năm 1940, Liên Xô xâm lược Estonia. Cả Latvia và Litva cũng bị chiếm đóng. Chính phủ Estonia quyết định không phản ứng lại để tránh đổ máu. Các lực lượng quân đội của Estonia được lệnh tiến hành giải giới, không chống lại Hồng quân Liên Xô.
Tháng 7 năm 1940, một cuộc bầu cử được tổ chức với kết quả Estonia trở thành một nước cộng hòa xô viết thuộc Liên Xô với tên gọi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Estonia. Nhiều quốc gia phương Tây, trong đó có Mỹ không công nhận kết quả cuộc bầu cử này. Còn theo quan điểm của Nga thì vào thời điểm đó, người dân Estonia đã tình nguyện gia nhập Liên Xô [4]. Tuy nhiên sau đó, nhiều chính trị gia và trí thức người Estonia đã bị giết hoặc bị đi đầy đến những vùng xa xôi của Liên Xô. Khi Thế chiến thứ hai sắp nổ ra, 34.000 thanh niên Estonia đã bị bắt phải gia nhập Hồng quân Liên Xô và chỉ 30% họ sống sót sau chiến tranh.
Năm 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô. Ban đầu, người Estonia đã coi quân đội Đức là những người giải phóng cho đất nước họ khỏi sự cai trị của Liên Xô và thậm chí có nhiều người Estonia đã tham chiến cho phe phát xít. Nhưng sau đó, họ đã nhận ra điều đó hoàn toàn không đúng. Đức Quốc xã nhanh chóng sáp nhập Estonia vào một tỉnh của Đức với tên gọi Ostland. Các trại tập trung được thành lập trên lãnh thổ Estonia với những vụ giết chóc và thảm sát đẫm máu. Nhiều thanh niên Estonia dù không muốn tham gia phe phát xít cũng bị bắt phải tham chiến chống lại Liên Xô. Mùa thu năm 1944, Hồng quân Liên Xô phản công và chiếm lại Estonia và tiếp tục trả thù người dân nơi đây.

Estonia thời hậu chiến

Quốc kỳ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Estonia

Sau khi Estonia được Hồng quân Liên Xô giải phóng (theo quan điểm của Nga và người Estonia gốc Nga) hoặc tái chiếm đóng (theo quan điểm của phương Tây và người Estonia bản địa), nhiều người Estonia đã rời bỏ đất nước sang tị nạn ở Thụy ĐiểnPhần Lan. Dưới sự cai trị của Joseph Stalin, hàng ngàn người Estonia đã bị giết hại và hàng chục ngàn người khác đã bị đưa đi cải tạo lao động tại những vùng xa xôi hẻo lánh của Liên Xô. Sự việc này kéo dài đến khi Stalin chết vào năm 1953. Hơn một nửa số người Estonia bị lưu đày đã chết, số còn lại chỉ được chấp nhận trở về Estonia vào khoảng đầu thập niên 1960.
Nền kinh tế kế hoạch đã kìm hãm tốc độ tăng trưởng của kinh tế Estonia. Với vị trí địa lý chiến lược của mình cùng với tình hình Chiến tranh Lạnh càng thêm căng thẳng, nhiều vùng bờ biển và quần đảo tại Estonia đã bị quân sự hóa cao độ và rất ít người được phép sống tại những vùng đó. Bên cạnh đó, hàng trăm ngàn người từ các vùng khác nhau của Liên Xô đã đến Estonia định cư để tiến hành các chính sách công nghiệp hóa và quân sự hóa đối với vùng đất này.
Từ những năm 70 của thế kỉ 20, Liên Xô bắt đầu gặp những khó khăn về kinh tế và dần dần rơi vào khủng hoảng. Năm 1987-1989, một cuộc vận động của người dân Estonia đã nổ ra yêu cầu thành lập một chính quyền tự trị tại nước này và cả sự độc lập về mặt kinh tế. Năm 1989, hơn hai triệu người Estonia, Latvia và Litva đã nối nhau thành một dải người từ Tallinn đến Vilnius để thể hiện tình đoàn kết của nhân dân ba nước Baltic cùng mong muốn tách khỏi Liên Xô.

Cộng hòa Estonia (từ năm 1991 đến nay)

Ngày 20 tháng 8 năm 1991, nhân lúc cuộc đảo chính Xô viết diễn ra tại Moskva, Estonia tuyên bố độc lập. Ngay sau đó, Iceland trở thành nước đầu tiên công nhận sự độc lập của Estonia. Và đến ngày 31 tháng 8 năm 1994, đơn vị quân đội cuối cùng của Nga đã rời khỏi Estonia.
Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, Estonia đã thắt chặt mối quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây. Năm 2004, Estonia gia nhập NATOLiên minh Châu Âu – EU. Trong khi đó, mối quan hệ giữa nước này với Nga lại xấu đi nhanh chóng và lên đến căng thẳng cực độ trong vụ Estonia di dời tượng đài Chiến sĩ đồng thiếc.

Chính trị

Chính phủ

Tòa nhà Quốc hội Estonia

Estonia là một nước cộng hòa theo chế độ dân chủ nghị viện gồm ba nhánh là: lập pháp, hành phápluật pháp.
Quyền lập pháp được thực hiện bởi Quốc hội Estonia (Riigikogu), hay còn gọi là Hội đồng Quốc gia. Quốc hội Estonia gồm 101 ghế và được bầu 4 năm một lần.
Chính phủ của Estonia thuộc nhánh hành pháp, đứng đầu là thủ tướng Estonia. Chức thủ tướng được đề cử bởi tổng thống và được bầu tại quốc hội. Chính phủ Estonia có tổng cộng 12 bộ trưởng (bao gồm cả thủ tướng). Thủ tướng có quyền chỉ định các bộ trưởng khác phụ trách các bộ chuyên trách, ngoài ra còn có thể chọn thêm tối đa 3 bộ trưởng không phụ trách một bộ nào. Như vậy, số bộ trưởng tối đa trong chính phủ Estonia là 15 bộ trưởng.
Tòa án Tối cao Estonia (Riigikohus) phụ trách việc xét xử luật pháp với 19 thẩm phán tối cao. Chức tổng thẩm phán tối cao có nhiệm kỳ 9 năm và được đề cử bởi tổng thống, thông qua bởi quốc hội.
Tổng thống Estonia là người đứng đầu nhà nước Estonia. Tổng thống Estonia có vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực ngoại giao và mang tính nghi thức, nhưng cũng có thể dừng thông qua một bộ luật. Chức tổng thống được bầu bởi quốc hội với điều kiện phải giành được ít nhất 2/3 tổng số phiếu bầu.
Estonia là nước đầu tiên bầu cử chính quyền địa phương qua internet vào năm 2005 [5] và bầu cử quốc hội qua internet vào năm 2007 [6]. Tuy nhiên người dân Estonia vẫn có thể bầu cử theo cách truyền thống nếu họ muốn.

Đối ngoại

Sau khi trở thành một quốc gia độc lập, Estonia đã thắt chặt quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây. Do có những mối quan hệ về lịch sử và văn hóa, người Estonia có mối liên hệ về mặt dân tộc gần gũi với các nước Bắc Âu như Thụy ĐiểnPhần Lan hơn là với các nước cùng nằm trong khu vực Baltic với mình là LatviaLitva. Hiện nay quan hệ kinh tế giữa Estonia với các Bắc Âu ngày càng được đẩy mạnh với hơn 3/4 đầu tư nước ngoài vào Estonia là đến từ các nước Bắc Âu.
Trong khi đó, mối quan hệ giữa Estonia và Nga lại khá lạnh nhạt, nhiều lúc lên đến căng thẳng. Những mâu thuẫn chủ yếu giữa hai nước là vấn đề lãnh thổ kể từ sau khi Liên Xô tan rã hay những quan điểm khác nhau giữa hai nước về vấn đề lịch sử trước đây. Người Estonia coi người Nga là một lực lượng chiếm đóng đất nước họ còn người Nga lại cho rằng họ đã giải phóng Estonia thoát khỏi chủ nghĩa phát xít. Căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi chính quyền Estonia quyết định di dời bức tượng đài chiến sĩ Hồng quân tại thủ đô Tallinn hồi tháng 4 năm 2007 vì lí do tượng đài này gợi nhớ lại thời kỳ đau thương khi bị Liên Xô chiếm đóng. Tuy nhiên người Estonia gốc Nga đã vô cùng phẫn nộ và coi đây là một hành động thóa mạ lịch sử. Mối quan hệ giữa Estonia với Nga trở nên căng thẳng chưa từng thấy [7].

Phân chia hành chính

Bản đồ các tỉnh của Estonia

Toàn bộ đất nước Estonia được chia thành 15 tỉnh (maakond). Mỗi tỉnh có một tỉnh trưởng được chỉ định bởi chính phủ với nhiệm kỳ 5 năm và đại diện cho chính quyền quốc gia ở cấp địa phương. Sau tỉnh, Estonia lại được chia tiếp thành 227 điểm dân cư, bao gồm điểm dân cư thành thị (linn) và điểm dân cư nông thôn (vald). Danh sách các tỉnh của Estonia:

Địa lý

Địa hình

Một bãi biển ở Estonia

Về mặt địa lý, Estonia là một trong 3 nước vùng Baltic cùng với LatviaLitva, thuộc khu vực Đông Âu. Nhưng theo phân loại của Liên Hiệp Quốc thì Estonia lại thuộc vào khu vực Bắc Âu. Nước này có tổng diện tích là 45.226 km², trong đó phần đất là 43.211 km² và phần nước là 2.015 km². Đường bờ biển của Estonia dài tổng cộng 3.794 km, phía bắc giáp với vịnh Phần Lan còn phía tây giáp với biển Baltic. Trên đất liền, Estonia có đường biên giới chung với hai nước Liên bang Nga về phía đôngLatvia về phía nam.
Nhìn chung, địa hình của Estonia khá thấp. Độ cao trung bình của Estonia chỉ đạt khoảng 50 m trên mực nước biển. Đồi Suur Munamägi là điểm cao nhất tại Estonia nhưng cũng chỉ cao có 318 m. Giống với nước láng giềng Phần Lan, Estonia cũng có rất nhiều hồ. Trên một diện tích bé nhỏ của nước này có tới 1400 hồ nước khác nhau, đa phần trong số chúng là những hồ nhỏ nhưng cũng có những hồ rất lớn như hồ Peipus, nằm giữa biên giới Estonia và Nga. Đa phần những hồ này được tạo thành sau khi băng rút đi vào cuối Thời kỳ Băng hà. Estonia cũng có rất nhiều sông, chủ yếu là các sông ngắn. Những con sông dài nhất nước này là Võhandu (162 km), Pärnu (144 km) và Põltsamaa (135 km). Bên cạnh đó Estonia cũng có rất nhiều đầm lầy.
Bờ biển Estonia có rất nhiều đảovịnh. Hai đảo lớn nhất của Estonia là đảo Saaremaa và đảo Hiiumaa được tính là hai trong số 15 tỉnh của nước này.
Estonia là một nước khá nghèo về khoáng sản. Các tài nguyên thiên nhiên chính của nước này chủ yếu bao gồm đá phiến chứa dầuđá vôi. Bên cạnh đó, rừng ôn đới cũng che phủ một phần lớn diện tích của Estonia, tới 47%.

Khí hậu

Estonia thuộc khu vực phía bắc của đới ôn hòa. Nước này nằm trên vùng chuyển tiếp giữa khí hậu ôn đới hải dương và ôn đới lục địa. Estonia (và phần lớn các nước Bắc Âu khác) được sưởi ấm thường xuyên bởi Hải lưu Gulf Stream nên có nhiệt độ ấm áp hơn so với những khu vực cùng vĩ độ khác trên thế giới. Biển Baltic cũng gây ra sự thay đổi khác nhau giữa khí hậu ven biển và khí hậu những vùng nằm sâu trong nội địa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Estonia là 5 °C. Về mùa đông, thời tiết khá lạnh những cũng không đến nỗi quá gay gắt. Nhiệt độ trung bình tháng 2, tháng lạnh nhất trong năm khoảng -5,2 °C. Mùa hè thời tiết thường dịu mát. Nhiệt độ trung bình tháng 7, tháng nóng nhất trong năm khoảng 18 °C [8].
Do chịu ảnh hưởng của dòng biển nóng Gulf Stream và vị trí gần biển, Estonia có lượng mưa khá cao. Mỗi năm nước này thường có từ 160 đến 190 ngày trời mưa. Tuyết thường rơi dày nhất tại vùng đông nam nước này, kéo dài từ giữa tháng 12 đến cuối tháng 3 năm sau. Khi tuyết tan thường gây ra những trận lũ về mùa xuân.

Kinh tế

Estonia là nước có nền kinh tế thị trường và là một trong những nước có mức thu nhập đầu người cao hơn ở Trung Âu và vùng Baltic. Chính phủ tiến hành các cải cách kinh tế thuận lợi do có Estonia là nước đầu tiên trong các nước thuộc Liên Xô cũ thoát khỏi khủng hoảng, từ năm 1994 luôn có tăng trưởng kinh tế. Sau khi gia nhập EU nhờ thực hiện chính sách kinh tế thị trường tự do, chính sách tài chính thích hợp, ngân sách cân bằng và nợ công rất thấp và được sự hỗ trợ của phương Tây nên nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển nhanh, tăng trưởng GDP trung bình đạt trên 8% (2004-2007). Tuy nhiên từ giữa năm 2008 đến đầu 2010 do tác động khủng hoảng tài chính toàn cầu, GDP năm 2008 giảm 3,6%, năm 2009 GDP giảm 14,1%, thất nghiệp tăng 13,8%, lạm phát 11% (cao nhất trong EU). Năm 2010, kinh tế có dấu hiệu phục hồi: GDP tăng 2% (dự kiến 2011 – tăng 4%), tỷ lệ thất nghiệp còn cao – 13,5%, tỷ lệ lạm phát (giá tiêu dùng) – 2,4%, nợ công – 7,7% GDP, nợ ngoài nước – 25,13 tỷ USD (2009 – 25,560). Estonia gia nhập Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD) tháng 5 năm 2010, gia nhập khu vực đồng euro từ ngày 1 tháng 1 năm 2011. Estonia có những thế mạnh: điện tử viễn thông, chi phí nhân công rẻ trình độ chuyên môn cao, chi phí về nguyên liệu, dịch vụ viễn thôngvận tải, chi phí thuê văn phòng, nhà xưởng thấp hơn các nước khác trong khu vực, Các ngành công nghiệp chủ yếu: máy móc, thiết bị điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, gỗ, hàng dệt may và dịch vụ. Tăng trưởng sản xuất công nghiệp năm 2010 là 10%. Các ngành nông nghiệp chủ yếu: ngũ cốc, khoai tây, rau, chăn nuôi và sản phẩm sữa, .

Thương mại

Năm 2010, xuất khẩu đạt 10,77 tỷ USD. Mặt hàng xuất khẩu chính: máy móc, thiết bị điện – 21%, gỗ và sản phẩm gỗ – 9%, kim loại – 9%, đồ nội thất – 7%, xe cộ và phụ tùng – 5%, các sản phẩm thực phẩm và đồ uống – 4%, dệt may – 4%, chất dẻo -3%.
Đối tác xuất khẩu chính: Phần Lan -18,57%, Thụy Điển – 12,52%, Latvia – 9,51%, Nga – 9,33%, Đức – 6,09%, Litva – 4,76%, Mỹ – 4,26%.
Nhập khẩu đạt 11,520 USD. Mặt hàng nhập khẩu chính: máy móc, thiết bị điện – 22%, nhiên liệu khoáng sản – 18%, sản phẩm hóa chất – 3%, thực phẩm – 6%, chất dẻo – 6%, dệt may – 5%. Đối tác nhập khẩu chính: Phần Lan -14,52%, Litva – 10,84%, Latvia -10,47%, Đức – 10,33%, Nga – 8,59%, Thụy Điển – 8,34%, Ba Lan – 5,63%.

Đầu tư

Do chính sách đầu tư cởi mở, đối xử nhà đầu tư nước ngoài như trong nước nên đã thu hút được khá nhiều vốn đầu tư.
Đầu tư (tổng cố định): 22,5% GDP (2010),
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài: 17,530 tỷ USD (2010).
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài: 7,134 tỷ USD (2010).

Tôn giáo

Giáo đường Alexander Nevsky luôn thu hút sự chú ý của du khách bởi lối kiến trúc kiểu lâu đài của Sa hoàng Nga

Hiến pháp Estonia bảo đảm tự do tôn giáo, tách riêng nhà thờnhà nước, và các quyền cá nhân riêng tư của tín ngưỡngtôn giáo. Theo Viện truyền thông Dentsu Inc, Estonia là một trong những nước vô thần nhất trên thế giới, với 75,7% dân số tự xưng là không theo tôn giáo nào. Các cuộc điều tra năm 2005 cho thấy chỉ có 16% dân số Estonia tuyên xưng niềm tin vào một vị thần, niềm tin thấp nhất của tất cả các nước được nghiên cứu.[9] Các giáo phái tôn giáo lớn nhất trong nước là Giáo hội Luther, có 152.000 tín hữu chiếm 14,8% dân số, chủ yếu là người Estonia. Và 143.000 tín hữu của Chính Thống giáo, chủ yếu là cộng đồng thiểu số người Nga.[10][11] Theo điều tra dân số năm 2000, có khoảng 152.000 tín đồ thuộc Giáo hội Luther, 143.000 tín đồ Chính thống giáo, 5.000 người thuộc Công giáo La Mã, 4,268 người theo Nhân chứng Jehovah, [178] và 1.000 tín đồ của đạo Taaraism[11] hoặc Maausk. Cộng đồng Do Thái giáo có dân số ước tính khoảng 1.900. Khoảng 68.000 người tự coi mình là người vô thần.[11] Đất nước này đã Kitô hóa bởi các Hiệp sĩ Teuton trong thế kỷ 13. Trong thời Cải Cách, đạo Tin Lành lan rộng, và nhà thờ Luther đã chính thức được thành lập ở Estonia năm 1686. Nhiều người Estonia tuyên xưng không được đặc biệt theo tôn giáo nào, bởi vì luật tôn giáo thông qua vào thế kỷ 19 gắn liền với quy luật phong kiến ​​Đức.[12]

Tham khảo

Xem thêm

Liên kết ngoài


Gustav II Adolf

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Gustav II Adolf
Gustav Adolf den store
Quốc vương nước Thụy Điển
Đại Công tước xứ Phần Lan
Gustav II adolf.jpg
Vua nhà Vasa
Tại vị 30 tháng 10 năm 16116 tháng 11 năm 1632
Đăng quang 12 tháng 10 năm 1617
Tiền nhiệm Karl IX Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Christina Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Hoàng hậu
Hậu duệ
Tước vị
Triều đại Nhà Vasa
Hoàng gia ca Cum Deo et victribus armis
Thân phụ Karl IX Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Christina của Holstein-Gottorp
Sinh 9 tháng 12 năm 1594
Stockholm, Thụy Điển
Mất 6 tháng 11, 1632 (37 tuổi)
Lützen, Lãnh địa Tuyển hầu tước Sachsen
An táng 22 tháng 6 năm 1634Nhà thờ Riddarholmen, Stockholm
Tôn giáo Kháng Cách

Gustav II Adolf của Thụy Điển (9 tháng 12jul (19 tháng 12greg) năm 1594 – 6 tháng 11jul (16 tháng 11greg) năm 1632), còn được biết với cái tên tiếng La TinhGustavus Adolphus (còn viết là Gustave II Adolphe và đọc theo tiếng ViệtGuxtavơ II Ađônphơ[1]). Trong các tư liệu lịch sử, ông còn được gọi là Gustavus, hay Gustavus Đại đế, và Gustav Adolph Đại đế (tiếng Thụy Điển: Gustav Adolf den store, một danh hiệu được Quốc hội Thụy Điển chính thức thông qua vào năm 1634), là người sáng lập Đế quốc Thụy Điển (còn gọi là Stormaktstiden – “giai đoạn liệt cường”) trong buổi đầu thời đại hoàng kim của Thụy Điển. Ông là vua nước Thụy Điển từ năm 1611 đến khi qua đời năm 1632. Dưới sự lãnh đạo của ông, Thụy Điển là nước có uy thế quân sự trong cuộc chiến tranh Ba mươi năm, góp phần xác định sự cân bằng quyền lực về tôn giáo và chính trị tại châu Âu.
Chiến thắng lừng lẫy nhất của ông là trận đánh Breitenfeld (1631) trước quân Đức. Với bộ máy quân sự xuất sắc, vũ khí tốt, sự đào tạo kỹ lưỡng và lực lượng pháo binh hiệu quả (tất cả đều được hỗ trợ bởi một chính quyền có hiệu lực cao ở hậu phương, luôn đáp ứng nhu cầu của ông), Đại đế Gustav II tự tin đưa ông trở thành một những lãnh đạo tiêu biểu của Âu châu. Tuy nhiên, ông tử trận vào năm 1632. Trong những năm ông lăn lộn trên chiến trường Thủ tướng Axel Oxenstierna (1583 – 1654) điều hành đất nước, thiết lập Tòa án Tối cao mới và trở thành quan Nhiếp chính sau khi ông qua đời.[2]
Dưới triều đại ông, Vương quốc Thụy Điển – vốn chỉ là nước mạnh ở một vùng và tầm thường – vươn lên thành một trong những cường quốc của châu Âu, với một chính phủ xứng đáng làm gương cho các nước thời cận đại. Ông luôn phải đối đầu với những cuộc chiến tranh: Ngày từ năm 1617 (khi 17 tuổi), ông đã thống lĩnh Quân đội Thụy Điển đánh nhau với một vài nước láng giềng, đến khi năm 1632 ông tử trận trong lúc tiến hành tấn công đối phương. Chỉ trong vòng vài năm, Thụy Điển trở thành quốc gia lớn nhất lục địa châu Âu, chỉ sau nước NgaTây Ban Nha. Quân Thụy Điển cũng đánh đuổi quân Đan Mạch khỏi miền Bắc Thụy Điển và đây là lần đầu tiên quốc gia này hùng mạnh hơn Đan Mạch.[2] Ông được một số người ca ngợi là “Cha đẻ của chiến tranh hiện đại”[3], hoặc là một “vị Thống soái vĩ đại đầu tiên”. Dưới trướng ông, nước Thụy Điển và phái Kháng Cách có nhiều vị tướng xuất sắc, chẳng hạn như Lennart Torstensson. Nhiều năm sau khi Gustav II Adolf bị giết, Torstensson đã đánh bại các kẻ thù của Thụy Điển, mở rộng biên giới và thế lực của đế quốc này.
Người Ý mệnh danh ông là “Ông vua vàng rực” (il re d’oro) do ông có mái tóc vàng hoe và nước da hồng hào. Một quý tộc người Anh, trong bản báo cáo cho Quốc vương Charles I về vị vua – chiến binh anh dũng, đã gọi ông là một vị “Vua Rồng”.[4] Nhưng trong nhiều tài liệu của người Âu châu, ông là “Hùng sư của phương Bắc” – con mãnh thú được Thiên Chúa phái xuống trần gian vì công lý[5]. Ngày nay, người ta kỷ niệm ông tại các quảng trường ở thành phố Stockholm, Gothenburg và Sundsvall. Trường Cao đẳng Gustavus Adolphus, ngôi trường Tin Lành ở thành phố St. Peter, Minnesota (Hoa Kỳ), cũng được đặt theo tên vị Quốc vương Thụy Điển.

Tiểu sử

Gustav Adolf chào đời tại kinh đô Stockholm, là con trai trưởng của Công tước Karl nhà Vasa và người vợ thứ, Christina xứ Holstein-Gottorp. Trong thời gian đó, anh họ của Gustav Adolf là Sigismund làm vua xứ Thuỵ Điển và Ba Lan. Công tước Karl – một tín đồ Tin Lành sùng đạo – đã lật đổ vị vua Công giáo khỏi ngai vàng Thuỵ Điển vào năm 1599. Cuộc chiến tranh giữa vua Sigismund và Công tước Karl là một phần của xung đột tôn giáo trước khi cuộc chiến tranh Ba mươi năm bùng nổ, sau đó Karl trở thành quan Nhiếp chính, và lên ngôi vua (Karl IX của Thuỵ Điển) vào năm 1604. Thưở bé, Hoàng tử Gustav đã thể hiện mình là một nhân tài xuất sắc, thuộc làu kinh sử. Hoàng gia Thụy Điển đã mang lại cho ông một nền giáo dục tốt đẹp, với những năm tháng rèn luyện kỹ lưỡng. Trong các môn học, Quân sự là bộ môn mà Gustav vô cùng ưa chuộng; ngoài ra, ông cũng không ngại học hỏi các môn Khoa học của chương trình giáo dục Hoàng gia. Ngoài tiếng mẹ đẻ, Gustav có thể nói tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Hà Lantiếng Ba Lan. Tuy ít tuổi nhưng ông cùng vua cha xuất binh ra trận, và giúp vua trong những vấn đề liên quan tới nền quân sự và chính trị đất nước.[6]
Dưới triều Karl IX, thực lực của Vương quốc Thuỵ Điển vẫn còn yếu đuối hơn Vương quốc Đan Mạch láng giềng; song, vị tướng 16 tuổi Gustav Adolf tỏ ra vô cùng quả cảm trong cuộc chiến tranh Kalmar.[6] Vào năm 1611 một chi đội Thụy Điển do ông thống lĩnh đã chiếm được đồn bót quân Đan Mạch, bằng việc đánh lừa đối phương và không hề nhận lấy tổn thất nào.[4][7]

Hùng sư phương Bắc: Vua Gustav II Adolph trong một bước ngoặt trong trận thắng Breitenfeld (1631), chống Quân đội Đức của Bá tước Tilly.

Sau khi vua cha đột ngột qua đời vào tháng 10 năm đó, Gustav Adolf trở thành người thừa kế Vương vị. Theo đề nghị của các quan Nhiếp chính, những người đã nhận thấy tài trí và sự cứng đầu của vị hoàng tử 16 tuổi, ông chính thức lên ngôi vào tháng 12 năm 1611,[7] tức vua Gustav II.[8] Ông trở thành vị vua thứ sáu của triều đại Vasa trong lịch sử Thuỵ Điển, đã lập quốc kể từ năm 1520 khi vua Gustavus Erickson giành lại độc lập cho Vương quốc. Dù đã thất bại và không dám liều lĩnh đòi Vương quyền Thuỵ Điển khi vua Karl IX còn sống, cựu vương Sigismund cho rằng mình dễ dàng giành lại ngôi vua Thuỵ Điển từ tên địch quá non trẻ kia.[9]
Nhưng thời cơ thuận lợi cho vị tân vương: lúc bấy giờ, Vương quốc Thụy Điển thịnh vượng, chủ nghĩa dân tộc Thụy Điển đang trên đà lớn mạnh.[7] Trong thời gian mâu thuẫn với Sigismund, vua Gustav II Adolf xua quân chinh phạt Livonia khi ông mới 31 tuổi, mở đầu cuộc chiến tranh Ba Lan – Thuỵ Điển (1625–1629). Dưới triều đại ông, chiến tranh chống quân Nga, quân Đan Mạch và quân Ba Lan nhiều lần xảy ra; trong những cuộc chiến tranh ấy, nhà vua được học những bài học vô giá từ kinh nghiệm riêng của chính ông, và từ những binh sĩ phục vụ ông sau một cuộc chiến bị hoãn lại tại Hà Lan. Nhờ có những cựu chiến binh này mà ông học được tiến bộ đáng kể về chiến thuật, tổ chức Quân đội và tài chính do Maurice xứ Nassau mở đường. Là một tín đồ Luther sùng đạo, và cũng là một nhà dân tộc chủ nghĩa lớn, ông lợi dụng những mâu thuẫn trên chính trường Âu châu để xây dựng Vương quốc Thụy Điển hùng mạnh hơn.[7] Khi Công giáoTin Lành nước Đức có bất hoà, ông đứng về phe đạo Tin Lành, những tín đồ đạo này đã mở toang cánh cổng các thành phố của họ để chào đón ông. Gustav II Adolf trở nên nổi tiếng nhờ những hoạt động của ông trong vài năm sau: vào tháng 6 năm 1630, ông kéo quân đến Đức, tiếp tục sự can thiệp của Thuỵ Điển vào cuộc chiến tranh Ba mươi năm hãy còn tiếp diễn. Trong lúc này, phe Tin Lành của Gustav II Adolf đang thất thế về tay Đế quốc La Mã Thần thánh và Liên đoàn Công giáo; tuy nhiên, Quân đội Thuỵ Điển nhanh chóng giành lấy thế thượng phong.
Gustav II Adolf kết hôn với Maria Eleonora xứ Brandenburg, con gái của John Sigismund – Tuyển hầu tước xứ Brandenburg, và chọn thành phố Elbing của nước Phổ là đại bản doanh cho những chiến dịch của ông tại Đức. Ông tử trận khi giao chiến với quân Đức tại Lützen vào năm 1632. Cái chết sớm của ông là một tổn thật nặng nề đối với phe Tin Lành. Sự kiện này cũng dẫn đến một kết quả đối với những phần lớn của Đức và các nước khác: phần lớn các nơi này, vốn trở thành tín đồ Luther, giờ đây về với phe Công giáo (tức phái Chống Kháng Cách). Sự can thiệp của ông trong cuộc chiến tranh Ba mươi năm tàn khốc đã gợi lên một lời sấm cổ: ông là hiện thân của “Hùng sư của phương Bắc”, hoặc “Der Löwe von Mitternacht” trong tiếng Đức (dịch từng chữ: “Hùng sư trong nửa đêm”). Trong thư tịch cổ nước Đức, Quốc vương Thuỵ Điển được ví von với các anh hùng trong kinh thánh Cựu Ước như Joshua, Gideon, Vua David, hay Alexandros Đại đế và Hoàng đế Theodosius.[5]

Di sản của vị tướng

Người ta xem vua Gustav II Adolf là một vị thống soái tinh thông. Những kĩ thuật cách tân của ông trong chiến thuật kết hợp Bộ binh, Kỵ binh, Pháo binh và Hậu cần giúp ông có được danh hiệu “Cha đẻ của chiến tranh hiện đại”. Có nhiều vị Tướng quân tài ba trong tương lai đã học hỏi và ngưỡng mộ ông như Hoàng đế Pháp Napoléon BonaparteĐại tướng Phổ Carl von Clausewitz. Những cải tiến của ông trong khoa học quân sự giúp Thụy Điển trở thành một cường quốc nổi trội vùng Baltic trong hơn 100 năm sau đó. Ông cũng là vị vua duy nhất của Thụy Điển được gắn tước hiệu “Đại đế”. Sau khi ông mất, Quốc hội Thuỵ Điển đã họp và quyết định truy tôn ông tước hiệu ấy vào năm 1633. Với quyết định này, cho đến ngày nay, ông chính thức được gọi là Gustaf Adolf Đại đế (Gustavus Adolphus Magnus).
Gustav II Adolf là người nắm vai trò chủ chốt đối với những thắng lợi của Thuỵ Điển trong cuộc chiến tranh Ba mươi năm và đưa quốc gia này lên hàng liệt cường. Là một vị thống soái, Gustav II Adolf nổi tiếng về việc sử dụng lực lượng pháo binh lưu động trên chiến trường, cũng như những chiến thuật vô cùng hung hãn.
Nhà Xã hội chủ nghĩa người Đức là Franz Mehring (1846 – 1919) đã viết cuốn tiểu sử Gustav II Adolf, với quan điểm Mác-xít về những hoạt động của nhà vua Thuỵ Điển trong cuộc chiến tranh Ba mươi năm tàn khốc. Trong tác phẩm này, Franz Mehring cho rằng: người ta đánh nhau trong cuộc chiến tranh ấy vì kinh tế và thương mại hơn là vì vấn đề tôn giáo.

Đối nội

Sau khi phụ vương Karl IX qua đời, vị vua trẻ nhanh chóng đề xướng một chương trình cải cách quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v… đất nước. Ông củng cố chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền và thẳng tay đàn áp những đại quý tộc có tư tưởng “phản loạn”. Không những thế, ông cũng chú trọng khai khoáng, nhờ có ngành nghề này mà Vương quốc Thụy Điển có một nền công nghiệp vững mạnh hơn trước, vượt xa thể trạng của đất nước trước kia. Công cuộc cải cách lớn của nhà vua đã thành công, Vương quốc Thụy Điển hùng mạnh vươn lên trở thành một liệt cường trên chính trường Bắc Âu.[8]

Tướng quân Thụy Điển

Công cuộc cải cách của ông có những vấn đề rất đáng chú ý: chiến thuật mới của Quân đội Thụy Điển. Trước hết, Gustav II Adolf trở thành ông vua đầu tiên không thi hành chế độ binh dịch lính đánh thuê trên lục địa Âu châu; thay vì đó, ông thi hành một chế độ khác – đó là chế độ lính nghĩa vụ. Ông dùng Luật “chọn một người trong số mười người” để thu thập tất cả những người đàn ông ở độ tuổi 15 – 44 trên khắp Vương quốc Thụy Điển. Nhờ công lao cải tổ và dạy dỗ binh sĩ của ông, Thụy Điển sở hữu đến 36.000 quân thường trực. Không những thế, lực lược pháo binh Thụy Điển của Quốc vương trở nên đáng gờm: họ chủ yếu dùng thứ pháo hỏa dã chiến loại nhẹ.[10] Thời đó, các đội quân châu Âu thường dùng một thứ hỏa pháo to tướng: người ta không thể đưa nó đến chiến trường nếu không có chừng bốn con chiến mã hoặc là lừa. Trong khi đó, Quân đội Thụy Điển chỉ dễ dàng đưa hỏa pháo ra trận bằng một con lừa hoặc một con chiến mã.[10]

Chiến tranh Kalmar

Triều đại Gustav II Adolf mở đầu với một sự kiện không may: Vua Đan Mạch là Christian IV động binh đánh bại quân Thụy Điển trong cuộc chiến tranh Kalmar – một cuộc chiến diễn ra vài tháng trước khi ông lên nối ngôi. Vì chiến thắng đầu tiên của Quân đội Đan Mạch là đánh chiếm thành Kalmar trên biển Baltic, cuộc chiến mới có tên gọi như vậy. Đến năm 1612, quân Thụy Điển lại mất một pháo đài khác.[11] Tân vương Gustav II Adolf, được sự phò tá đắc lực của de la Gardie, và ngăn chặn những cuộc tấn công kinh thành Stockholm theo đường bộ từ phía Tây và phía Nam, và theo đường biển từ phía Đông. Đây là chiến thắng đầu tiên trong triều đại ông. Vào năm 1613, cuộc chiến tranh Kalmar kết thúc: Nhờ sự đàm phán của vua Anh là James I, hai bên ký kết Hiệp định Knäred: ông phải cống cho vua Đan Mạch một khoản bồi thường lớn lao; đổi lại, vua Đan Mạch trả lại cho ông các tỉnh của Đế quốc Thụy Điển trên vùng biển Baltic.[12][13]

Thụy Điển đánh Nga và Ba Lan

Vào năm 1617, Gustav II Adolf tấn công Đế quốc Nga – một kình địch của Vương quốc Thụy Điển. Quân Nga thất bại thảm bại và quân Thụy Điển làm chủ tất cả những lãnh thổ bao bọc vịnh Phần Lan. Ngoài ra, giờ đây nước Nga đã bị mất con đường liên lạc với vùng biển Baltic. Quốc vương Thụy Điển ca khúc khải hoàn, ông vui sướng phát ngôn trước các binh sĩ:[14]

Từ nay về sau, nước Nga chẳng bao giờ còn giám vượt qua khuôn phép nữa.
—Gustav II Adolf

Vào năm 1621, ông động binh tấn công Liên bang Ba Lan-Litva, chiếm lấy Riga.[15] năm 1626, quân Thụy Điển đánh quân Ba Lan trong chiến dịch Volchov. Lực lượng Kỵ binh Ba Lan – được người đời xem là “Kỵ binh đệ nhất thiên hạ” – hoàn toàn thất bại. Với chiến thắng này, toàn cõi Âu châu phải sửng sốt trước sức mạnh của Đế quốc Thụy Điển. Không lâu sau chiến thắng, vua Gustav II Adolf đã chiếm đóng xứ Livonia. Sau khi chiếm được phần lớn Latvia, ông tiến hành chinh phạt vùng Royal Prussia, đánh bại các đạo quân Ba Lan lẻ tẻ phía trước ông. Vào ngày 17 tháng 1 năm 1626, quân Thụy Điển đánh tan tác quân Ba Lan trong khu rừng Wallhof. Bước sang năm sau (1627), ông lại tấn công vùng Danzig. Từ ngày 17 đến ngày 18 tháng 8 năm đó, trong một trận chiến tại Dirshau, ông bị thương nặng ở cổ những đã thắng trận. Đây là một trong những lần ông chiến đấu quả cảm nhưng khinh địch, và chiến thắng Dirshau cũng không phải là lần cuối cùng: ông súy nữa thì bị bắt sống trong trận chiến Stuhm vào ngày 17 tháng 6 năm 1629.[12] Sau chiến thắng Dirshau, các bác sĩ không thể bỏ viên đạn khỏi cơ thể ông. Dù ông sống sót, ông khể nào mặc chiến bào sắt từ khi đó. Ngoài ra, hai ngón tay phải của ông cũng bị tê liệt.[16] Ông từng nói:[17]

Thiên Chúa chính là chiến bào sắt của Quả nhân.
—Gustav II Adolf

Tài quân sự của ông đã gây ấn tượng cho Thủ tướng Pháp là Hồng y Richelieu: năm 1629, Hồng y Richelieu, Thụy Điển và Ba Lan tiến hành đàm phán, ký kết Hiệp định Altmark.[18] Cuối cùng thì vua Sigismund III cũng từ bỏ tham vọng về ngai vàng Thụy Điển, khiến cho nhà vua Thụy Điển có thể an toàn tham gia chiến tranh Ba mươi năm.[12] đáp ứng nhu cầu của tầng lớp quý tộc phong kiến Thụy Điển, nhà vua truyền lệnh cho người dân di cư đến sinh sống tại xứ Livonia. Một lần, Gustav II Adolf phán trước các vị quan lại:[19]

Có phải các khanh suốt ngày kêu la đòi thưởng đất đai phải không? Vậy thì các khanh hãy đến những vùng đất mới đó đi, các khanh cần bao nhiêu Trẫm ban cho bấy nhiêu. Trẫm sẽ quan tâm giúp đỡ các khanh, cho các khanh miễn thuế và hưởng nhiều đặc quyền.
—Gustav II Adolf

Chiến tranh Ba mươi năm

Giữa lúc vua Gustav II Adolf và ba quân ca khúc khải hoàn, tình hình châu Âu trở nên thuận lợi đối với Liên đoàn Công giáo: Lực lượng Tin Lành của vua Đan Mạch là Christian IV bị đập tan tác. Nhờ đó, Hoàng đế La Mã Thần thánh thống lĩnh Liên đoàn Công giáo mở rộng tầm ảnh hưởng đến tận bờ Nam Biển. Thấy uy thế của Vương quốc Thụy Điển bị đe dọa đáng sợ như thế, ông không thể nào không tham gia cuộc chiến tranh tàn khốc. Ông cho rằng, đại quân Thụy Điển cần phải tiến công Đế quốc La Mã Thần thánh – một đế chế không hề gần Vương quốc của ông.[10][19] Và, thất bại thảm hại của vua Christian IV đã kết thúc giai đoạn Vương quốc Đan Mạch can thiệp cuộc nội chiến ở Đức, và Vương quốc Thụy Điển thế chỗ cho Đan Mạch.[12]
Do đó, đầu năm 1630, trong một đêm mùa xuân, không khí đông đúc tại tòa Quốc hội Thụy Điển. Tại đó, dưới những ánh đèn sáng chói, hàng trăm vị đại thần ăn vận áo mão đầy đủ, và cùng nhau ngồi nghiêm túc mà để tai nghe lời diễn thuyết của nhà vua. Ông được miêu tả là người có “vóc dáng cao lớn, mắt to, lông mày rậm, râu quai nón rậm rì, tiếng như lệnh vỡ, dáng điệu như ngựa lồng, khẩu khí như thâu tóm cả vũ trụ, hoài bão thật to lớn”. Vị diễn giả đứng trên bục, và phát biểu:[10]

Kể từ khi Trẫm lên kế vị, nhờ các vị ra sức phò tá, phát triển công thương, xây dựng Quân đội, chấn chỉnh chính trị, mỡ mang cơ đồ và cuối cùng đã thu được nhiều thành quả rực rỡ; phía Đông thì đánh bại nước Nga Sa hoàng, miền Nam thì chiến thắng Ba Lan, biến biển Baltic thành ao nhà. Nhưng bây giờ ở Đức đang xảy ra nội chiến, Liên đoàn Công giáo, một thế lực chống Thụy Điển liên tiếp dành thắng lợi, có nghĩa là tạo ra mối đe dọa trực tiếp đối với miền nam nước ta. Kinh nghiệm cho ta biết rằng: nếu cứ đóng chặt cửa, lo giữa nhà, đợi chúng đến mới đánh trả thì chẳng bằng chủ động xông ra ngoài liều mình sống mái với chúng. Nguyên tắc của người Thụy Điển chúng ta là quyết không để kẻ thù đặt nữa bàn chân lên lãnh thổ của Trẫm. Hãy hắt ngọn lửa chiến tranh sang chính đất nước của chúng.
—Gustav II Adolf

Sau đó, bầu không khí Quốc hội Thụy Điển bừng bừng sôi nổi, tất cả các quan cùng nhau vỗ tay, và ca ngợi ông:[10]

Thánh thượng vạn tuế! Chúng ta kiên quyết đánh bại Hoàng đế La Mã Thần thánh.
—Quốc hội Thụy Điển

Thật vậy, vào tháng 7 năm 1630, Quốc vương Gustav II Adolf thân chinh dẫn những đạo quân hùng mạnh của Thụy Điển, trong bầu không khí vô cùng háo hức, tiến công mãnh liệt vào Đế quốc La Mã Thần thánh. Chỉ với 14.000 quân, vua Thụy Điển đổ bộ lên vùng Peenemünde trên sông Usedom. Ông mang theo 80 khẩu pháo chiến trường cùng nhiều khẩu súng quy mô lớn hơn, dùng trong các cuộc vây hãm.[12] Một khoảng đất không nhỏ nằm ở miền Bắc và miền Trung Đế quốc đã rơi vào tay họ.[19] Dù là một Vương quốc Công giáo, nước Pháp đã viện trợ cho nhà vua Thụy Điển.[15]
Bước sang năm sau, vào tháng 9, nhà vua quyết định thiết lập liên minh với Lãnh địa Tuyển hầu tước Sachsen (một bang của Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay). Dưới sự chỉ huy của ông, 47.000 quân Thụy Điển – trang bị khỏa 100 khẩu hỏa pháo – kéo rốc đến đất Leipzig. Vào ngày 17 tháng 9, tại thị trấn bé nhỏ Breitenfeld ở phía Bắc Liepzig, 6.000 quân Công giáo, trang bị chừng 26 khẩu hỏa pháo, đánh trận khốc liệt với liên quân Thụy Điển-Sachsen. “Hùng sư của phương Bắc” đã chia toàn quân Thụy Điển thành hai tuyến; trong khi đó, Bá tước Tilly và Liên đoàn Công giáo vẫn cứ đánh theo kiểu “trận đồ hình vuông” xưa cũ, binh sĩ Công giáo quy tụ đông đảo. Việc làm đầu tiên của Quân đội Thụy Điển là nã đạn bắn vào Liên đoàn Công giáo. Liên đoàn Công giáo đã nhận lấy chiến bại thảm bại, vì lực lượng Pháo binh của Thụy Điển nổi trội hơn hẳn. Pháo binh Công giáo thua rồi thì Bá tước Tilly lại huy động Kỵ binh Đức xung phong; tuy nhiên, Bộ binh Thụy Điển dùng súng kíp nã xối xả vào Kỵ binh Đức, đánh thắng họ đến 7 lần.[20]
Song, tình thế chuyển biến khiến cánh trái quân Thụy Điển không còn được yểm trợ nữa: do thực lực không thể bì kịp với Liên đoàn Công giáo, Quân đội Sachsen tan vỡ đội hình, binh lính bỏ chạy toán loạn. Tuy nhiên, khi mất thế thượng phong, “Hùng sư của phương Bắc” Gustav vẫn giữ vững một cái đầu lạnh: ông điềm đạm thống lĩnh ba quân, dẫn đến một chiến thắng huy hoàng của Quân đội Thụy Điển.[20]

Tiêu diệt Bá tước Tilly và tử trận

Sau chiến thắng vang dội tại Breitenfeld, ông và quân sĩ tiến công nước Áo – vốn là nơi đóng đô của triều đại Habsburg – theo đường sông Danube. Ông đã ép Hoàng đế La Mã Thần thánh phải xưng danh chư thần của Đế quốc Thụy Điển.[21]
Vào năm 1632, nhà vua thân chinh dẫn dắt sáu toán quân hùng mạnh của liên quân Tin Lành tiến đến miền Nam. Ông đã đặt chân đến vùng Nuremberg vào tháng 3 cùng năm. Tháng sau, ông cùng quân sĩ băng qua dòng sông Reyke, và đụng độ với Liên đoàn Công giáo trong một trận chiến thứ hai. Quân Thụy Điển lại giành chiến thắng, còn Bá tước Tilly già nua – giờ đã 73 tuổi – bị giết chết, kết thúc binh nghiệp 50 năm của Tilly.[21]
Sau trận thắng, quân Thụy Điển đặt chân lên xứ Bayern, và dự định tiến thẳng đến thành phố Munchen thuộc Đế quốc La Mã Thần thánh.[21]
Trong thời gian này, chính trường Âu châu có những chuyển biến không nhỏ, trong khi Liên đoàn Công giáo cận kề với chiến bại. Thấy quân Thụy Điển chiến thắng như chẻ tre, Hoàng đế Ferdinand II của nhà Habsburg lại một lần nữa phong viên thống soái nổi tiếng Albrecht von Wallenstein làm Tổng tư lệnh Quân đội Đế quốc (thay cho Bá tước Tilly quá cố), với hy vọng giành lại thế thượng phong. Vốn là một đồng minh của quân Thụy Điển, nhưng Vương quốc Pháp Công giáo lại lo sợ rằng: sau khi chiến thắng, quân Thụy Điển sẽ mở rộng ảnh hưởng của đạo Tin Lành trên toàn bộ đất đai của Đế quốc La Mã Thần thánh, gây khó khăn cho tham vọng của giới cầm quyền Pháp lúc ấy. Do đó, triều đình Pháp cố gắng kìm hãm bằng được cuộc chinh phạt đất Đức của Quân đội Thụy Điển. Không những thế, tầng lớp nông dân Đức cũng chẳng ưa gì Quân đội Thụy Điển, do họ thường gây thiệt hại về tính mạnh và tài sản của nông dân Đức trong những cuộc hành quân.[21]

Gustav II Adolf tử thương trong trận Lutzen,
tranh Carl Wahlbom, (1855).

Như vậy, nhà vua và Quân đội Thụy Điển lâm vào tình cảnh vô cùng khó khăn: kẻ thù tiến công từ bốn phía. Một điều nghiêm trọng, họ kéo chiến tuyến với độ dài quá lớn; do đó, quân lính không thể kết đoàn với nhau, gây trắc trở cho giới cầm quyền Thụy Điển. Độ dài của chiến tuyến dẫn đến hậu quả là Đế quốc Thụy Điển mất dần thế thượng phong. Và, dĩ nhiên, việc vị tướng bách chiến bách thắng Albrecht von Wallenstein chọi nhau với Gustav II Adolf là điều không thể tránh khỏi.[22]
Tại Lutzen – một phần đất thuộc Lãnh địa Tuyển hầu tước Sachsen – ông và Von Wallenstein đã chạm trán kịch liệt vào ngày 6 tháng 11 năm 1632. Trong không khí mù mịt của những đám sương mù, hai vị Thống soái lừng danh cứ choảng nhau trong một thời gian không hề ngắn ngủi, nhưng không ai đánh thắng được ai. Vua Gustav II Adolf đích thân xung phong đánh giặc, để khích lệ tinh thần của Quân đội Thụy Điển. Theo sau ông là một lực lượng Kỵ binh đánh nhau khốc liệt với Liên đoàn Công giáo. Không may thay, sự nghiệp ngắn ngủi của thiên tài quân sự chấm dứt tại đây: “Hùng sư của phương Bắc” Gustav II Adolf bị bắn chết, hưởng thọ 38 tuổi.[22]
Tuy nhiên, Quân đội Thụy Điển không dễ gì mà nhận lấy thất bại: họ và Quốc vương Gustav II đã bao lần cùng nhau chiến thắng hiển hách, do đó ông đã khắc sâu vào họ một niềm yêu thương, cảm phục. Do đó, toàn quân Thụy Điển lấy khẩu hiện “Hãy trả thù cho Đức Vua”, và xông vô tấn công dữ dội vào Liên đoàn Công giáo. Kết quả của trận đánh khốc liệt là quân Thụy Điển thắng trận và mở ra con đường máu. Thấy quân Thụy Điển giữ thế thượng phong, Albrecht von Wallenstein cùng toán quân đánh thuê rút khỏi trận địa trong đêm tối; trong khi đó, toàn bộ Pháo binh Công giáo vẫn vỏn vẹn trên trận địa Lutzen.[22]
Nhìn chung, trận chiến Lutzen đã cho danh tướng Wallenstein biết về sức mạnh đáng gờm của “chiến thuật tuyến” hoàn toàn mới, dù liên quân Tin Lành mất đi vị minh chủ của họ. Trong suốt binh nghiệp huy hoàng của Wallenstein, Lutzen là nơi vị tướng này bị đánh bại lần đầu tiên.[22] Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh cũng phải chịu mất viên Thống chế Gottfried Heinrich Graf zu Pappenheim.[23]

Phổ hệ

Gia phả ba đời của Gustavus Adolphus

Erik Johansson (Vasa)
Gustav I của Thụy Điển (Vasa)
Cecilia Månsdotter (Eka)
Charles IX của Thụy Điển (Vasa)
Erik Abrahamsson (Leijonhufvud)
Margaret Leijonhufvud
Ebba Eriksdotter (Vasa)
Gustavus Adolphus của Thụy Điển
Frederick I của Đan Mạch
Adolf, Công tước Holstein-Gottorp
Sophie xứ Pomerania
Christina của Holstein-Gottorp
Philip I, Lãnh chúa xứ Hesse
Christine xứ Hesse
Christine xứ Saxony

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Mục từ Guxtavơ II Ađônphơ trong Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam
  2. ^ a ă Delice Gan, Leslie Jermyn, Sweden, trang 24
  3. ^ Dodge, Theodore Ayrault (1890). Gustavus Adolphus: A History of the Art of War from Its Revival After the Middle Ages to the End of the Spanish Succession War, with a Detailed Account… of Turenne, Conde, Eugene and Marlborough. Boston and New York: Da Capo Press Inc. ISBN 978-0306808630.
  4. ^ a ă T.K. Derry, History of Scandinavia: Norway, Sweden, Denmark, Finland, and Iceland, trang 110
  5. ^ a ă J. P. Cooper, The New Cambridge Modern History: Volume 4, The Decline of Spain and the Thirty Years War, 1609-48/49, trang 334
  6. ^ a ă Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 302
  7. ^ a ă â b Stanley Sandler, Ground warfare: an international encyclopedia, Volume 1, trang 353
  8. ^ a ă Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 303
  9. ^ Charles Knight, The English cyclopædia: a new dictionary of universal knowledge. Biography, Volume 3, trang 233
  10. ^ a ă â b c Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, sách đã dẫn, các trang 301-302.
  11. ^ Fred Singleton, Anthony F. Upton, A short history of Finland, trang 38
  12. ^ a ă â b c Cathal J. Nolan, The age of wars of religion, 1000-1650: an encyclopedia of global warfare and civilization, các trang 374-375.
  13. ^ Stanley Mease Toyne, “The Scandinavians in history”, Tập 1970, Phần 2, Ayer Publishing, 1970, trang 145
  14. ^ Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 304
  15. ^ a ă Norman Davies, Europe: a history, trang 554
  16. ^ Kuosa, Tauno (1963). Jokamiehen Suomen historia II. Sata sotaista vuotta (“Everyman’s Finnish History II: Hundred Warlike Years”). Helsinki: Werner Söderström Publishing Ltd. (tiếng Phần Lan)
  17. ^ L. W. Heydenreich, The life of Gustavus-Adolphus, Lutheran Board of Publication, 1868, trang 116
  18. ^ Edmund Wright, Thomas Edmund Farnsworth Wright, A dictionary of world history, trang 267
  19. ^ a ă â Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 305
  20. ^ a ă Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 306
  21. ^ a ă â b Kha Xuân Kiều, Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 309
  22. ^ a ă â b Kha Xuân Kiều – Hà Nhân Học, sách đã dẫn, trang 310
  23. ^ William P. Guthrie, “Battles of the Thirty Years War: from White Mountain to Nordlingen, 1618-1635”, Greenwood Publishing Group, 2002, trang 240

Tài liệu tham khảo

Liên kết ngoài

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (tiếng Anh)
UNESCO logo.svg
Loại hình Tổ chức chuyên môn
Tên gọi tắt UNESCO
Lãnh đạo Bulgaria Irina Bokova
Hiện trạng Đang hoạt động
Thành lập 16 tháng 11, 1945
Trụ sở Pháp Paris, Pháp
Trang web unesco.org

Cờ UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (tiếng Anh: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization, viết tắt UNESCO) là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên hiệp quốc, hoạt động với mục đích “thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa họcvăn hóa để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyềntự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo” (trích Công ước thành lập UNESCO).
UNESCO hiện có 193 quốc gia thành viên. Trụ sở chính đặt tại Paris, Pháp, với hơn 50 văn phòng và vài viện hay trung tâm trực thuộc đặt khắp nơi trên thế giới.
Một số các dự án nổi bật của UNESCO là duy trì danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Chức năng

UNESCO có 3 chức năng hoạt động chính phục vụ cho mục đích của tổ chức, bao gồm:

  1. Khuyến khích sự hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa các dân tộc thông qua những phương tiện thông tin rộng rãi; khuyến nghị những hiệp định quốc tế cần thiết để khuyến khích tự do giao lưu tư tưởng bằng ngôn ngữhình ảnh;
  2. Thúc đẩy mạnh mẽ việc giáo dục quần chúng và truyền bá văn hóa bằng cách:
    • Hợp tác với các nước thành viên trong việc phát triển các hoạt động giáo dục theo yêu cầu của từng nước;
    • Hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện từng bước lý tưởng bình đẳng về giáo dục cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ hoặc bất cứ sự khác biệt nào khác về kinh tế hay xã hội;
    • Đề xuất những phương pháp giáo dục thích hợp để luyện tập thiếu nhi toàn thế giới về trách nhiệm của con người tự do;
  3. Duy trì, tăng cường và truyền bá kiến thức bằng cách:
    • Bảo tồn và bảo vệ di sản thế giới về sách báo, tác phẩm nghệ thuật và các công trình lịch sử hay khoa học, khuyến nghị với các nước hữu quan về các Công ước quốc tế cần thiết;
    • Khuyến khích hợp tác giữa các quốc gia về tất cả các ngành hoạt động trí óc, trao đổi quốc tế những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa kể cả trao đổi sách báo, tác phẩm nghệ thuật, dụng cụ thí nghiệm và mọi tư liệu có ích;
    • Tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc tiếp xúc với các xuất bản phẩm của mỗi nước thông qua các phương pháp hợp tác quốc tế thích hợp.
Nguồn: Công ước thành lập UNESCO

Cơ cấu

UNESCO được tổ chức với một Đại hội đồng, một Hội đồng chấp hành và một Ban Thư ký. Đại Hội Đồng gồm các đại diện của các nước thành viên UNESCO (mỗi nước thành viên được chọn cử 5 đại biểu). Hội đồng chấp hành gồm các ủy viên được Đại hội đồng bầu ra trong số các đại biểu được các nước thành viên ứng cử; mỗi ủy viên của Hội đồng chấp hành đại diện cho Chính phủ nước mình. Ban Thư Ký UNESCO gồm có Tổng Giám đốc và số nhân viên được thừa nhận là cần thiết. Tổng Giám đốc do Hội đồng chấp hành đề nghị và Đại hội đồng bầu cử (nhiệm kỳ 6 năm) với những điều kiện được Đại hội đồng chấp nhận. Tổng Giám đốc là viên chức cao nhất của UNESCO.
Hiện UNESCO có 193 quốc gia là thành viên. Các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc có quyền gia nhập UNESCO; còn các quốc gia khác có thể được chấp nhận nếu được Hội đồng chấp hành giới thiệu và được Đại hội đồng biểu quyết với đa số hai phần ba thành viên có mặt tán thành.
Các quốc gia thành viên thường thành lập một tổ chức đại diện cho UNESCO ở nước mình, tùy điều kiện cụ thể. Phổ biến hiện nay là Ủy ban quốc gia UNESCO, trong đó có đại diện của Chính phủ và của các ngành Giáo dục, Khoa học, Văn hóa và Thông tin. Tuy có đại diện tại từng quốc gia, phương châm hoạt động của UNESCO là không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các quốc gia. Ủy ban quốc gia UNESCO làm nhiệm vụ cố vấn cho đoàn đại biểu nước mình ở Đại hội đồng và cho Chính phủ trong các vấn đề liên quan đến UNESCO. Ủy ban này thường gồm đại diện các Vụ, Cục, các Bộ, các cơ quan và tổ chức khác quan tâm đến các vấn đề giáo dục, khoa học, văn hóa và thông tin, các nhân vật độc lập tiêu biểu cho các giới liên quan. Nó cũng có thể bao gồm Ban chấp hành thường trực, các cơ quan phối hợp, các tiểu bang và các cơ quan phụ cần thiết khác.

Lịch sử

UNESCO được thành lập ngày 16 tháng 11 năm 1945 với việc ký kết Công ước thành lập của UNESCO. Ngày 1 tháng 11 năm 1946, Công ước này được chính thức có hiệu lực với 20 quốc gia công nhận: Úc, Brasil, Canada, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Cộng hòa Dominica, Ai Cập, Pháp, Hy Lạp, Ấn Độ, Liban, Mexico, New Zealand, Na Uy, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc AnhHoa Kỳ.
Thập niên 19701980, UNESCO là trung tâm của một tranh cãi trong đó Hoa KỳAnh cho rằng đây là một diễn đàn để các nước theo chủ nghĩa cộng sảnthế giới thứ ba chống lại phương tây. Hoa Kỳ và Anh lần lượt rút khỏi tổ chức này năm 19841985. Sau đó, Anh và Hoa Kỳ lại tham gia tổ chức này lần lượt vào các năm 19972003.
Những năm cuối thập niên 1990, UNESCO đã thực hiện một số cải cách trong tổ chức, như cắt giảm nhân lực và số đơn vị. Số văn phòng giảm từ 79 (năm 1999) xuống 52 (hiện nay).
Năm 1998, UNESCO ủng hộ phần mềm tự do.

Xem thêm

Tham khảo

Liên kết ngoài

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, foodcrops.vnCassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Câu chuyện ảnh, 5 phút thư giản, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Advertisements