Chào ngày mới 15 tháng 10

RIAN archive 850809 General Secretary of the CPSU CC M. Gorbachev (crop).jpg
 CNM365. Chào ngày mới 15 tháng 10. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày thế giới rửa tay; ngày Trồng cây quốc gia tại Sri Lanka.  Năm 869 – Quân của triều đình Đường chiếm được Bành thành, kết thúc biến loạn của các binh sĩ Từ châu. Năm 1582 – Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Liên bang Ba Lan–Litva, và nhiều quốc gia Ý trở thành các quốc gia đầu tiên thay thế lịch Julius bằng lịch Gregorius. Năm 1949 – Hiệp định Hợp nhất Tripura có hiệu lực, Tripura gia nhập Liên bang Ấn Độ với địa vị một bang loại “C”. Năm 1990 – Nhà lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachyov (hình) được trao giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực của ông nhằm làm dịu đi căng thẳng trong Chiến tranh Lạnh và mở cửa đất nước.

 

Lịch Gregorius

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(danh sách)
Rộng rãi Thiên vănGregoriusHồi giáoIS
Các kiểu lịch
Âm dươngDươngÂm

Hạn hẹp AssyriaArmeniaAtticaAztec (TonalpohualliXiuhpohualli) • BabylonBahá’íBengalBerberBikram SamwatPhậtCeltTrung QuốcAlexandriaAi CậpEthiopiaCalendrier RépublicainĐứcDo TháiHellenicHinduẤn ĐộIranIrelandNhật BảnJavaJucheJulius mớiTriều TiênLitvaMalayalamMaya (Tzolk’inHaab’) • Dân quốcNanakshahiNepal SambatPawukonPentecontadRapa NuiLa MãRumiXô viếtTamilThái (ÂmDương) • Tây TạngMyanmaViệt NamXhosaZoroaster
Các kiểu lịch
RunTrung Mỹ (Đếm dàiVòng tròn)
Lịch Kitô giáo
JuliusNăm phụng vụ (Chính thống giáo) • Lịch các thánh
Hiếm dùng DariusDiscordia
Thể hiện và ứng dụng Lịch vĩnh cửuLịch vạn niênLịch bànLịch treo tườngLịch kinh tế

Lịch Gregorius (còn gọi là Tây lịch, Công lịch) là một bộ lịch do Giáo hoàng Grêgôriô XIII đưa ra vào năm 1582. Lịch Gregorius chia thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm một ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận. Trước đó lịch Julius quy ước một năm có 365,25 ngày, song độ dài của năm mặt trời là 365,242216 ngày cho nên một năm theo lịch Julius dài hơn khoảng 0,0078 ngày so với năm mặt trời (tức là khoảng 11 phút 14 giây).

Phép tính năm nhuận

Để bù vào sự khác biệt giữa năm theo lịch và chu kỳ của mặt trời thì cứ 400 năm phải bỏ bớt đi 3 ngày cho năm nhuận. Tính đến năm 1582, thì sự sai biệt đã lên đến 10 ngày. Ngày 24 tháng 2 năm 1582[1][2] (khi vẫn đang dùng lịch Julius), trong chiếu thư giáo hoàng Inter gravissimas, Gregorius XIII quyết định bỏ 10 ngày trong tháng 10 năm đó để cho lịch và mùa màng ăn khớp với nhau trở lại. Giáo hoàng lấy ngày ngay sau ngày thứ năm 4 tháng 10 năm 1582 (lịch Julius), đáng ra là ngày thứ sáu 5 tháng 10, thì đổi thành là ngày thứ sáu 15 tháng 10 năm 1582 theo lịch mới. Và để tránh lập lại sai biệt, phép lịch mới này vẫn lấy năm nhuận là năm có số thứ tự chia hết cho 4 (như năm 1964, 1980, 2004,…), nhưng trừ các năm tận cùng bằng 00 thì phải vừa chia hết cho 4 vừa cho 400 mới là năm nhuận (kể từ năm 1582 đến nay, các năm 1600, 2000 chia hết cho cả 4 và 400 nên là năm nhuận, những năm 1700, 18001900 chỉ chia hết cho 4 nhưng không chia hết cho 400 nên không phải là năm nhuận…). Lịch mới này mang tên lịch Gregorius và được áp dụng cho đến bây giờ.
Lịch Gregorius chỉ được tính từ năm 1582. Còn đối với các năm trước năm 1582 và những ngày trước ngày 15 tháng 10 của năm này, lịch Gregorius đón trước được tạo ra bằng cách mở rộng lịch Gregorius, để tra cứu thuận tiện.

Lịch Gregorius trên thế giới

Vì sự thông tin chậm trễ và vì lý do tôn giáo, nhiều nước không áp dụng lịch Gregorius ngay sau đó. Nước Anh (và Hoa Kỳ lúc còn là thuộc địa của Anh) mãi đến 1752 mới theo lịch này, và khi đó phải bỏ bớt 11 ngày trong lịch (do đó George Washington sinh ngày 11 tháng 2 năm 1731, nhưng Hoa Kỳ ăn mừng sinh nhật của ông vào ngày 22 tháng 2). Nga chỉ theo lịch này sau năm 1917, do đó Cách mạng tháng Mười Nga diễn ra vào tháng 11 dương lịch.

Hình khắc trên mộ của Giáo hoàng Gregorius XIII, kỷ niệm lịch Gregorius được áp dụng

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Inter Gravissimas Bản dịch Inter Gravissimas (tiếng Anh) của Bill Spencer, 1999, hiệu đính 2002, dựa trên bản phiên âm (tiếng Latinh) của Rodolphe Audette. Cũng bao gồm cả bản dịch (tiếng Pháp) của Rodolphe Audette.
  2. ^ Inter Gravissimas prepared for ISO TC 154 (tiếng Anh) (tiếng Latinh) (tiếng Pháp)

Liên kết ngoài

Tripura

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tripura
ত্রিপুরা (tiếng Bengal)
—  Bang của Ân Độ  —
Con dấu chính thức của Tripura
Con dấu
Vị trí Tripura (đỏ) tại Ấn Độ

Vị trí Tripura (đỏ) tại Ấn Độ

Tọa độ: 23,84°B 91,28°Đ
Quốc gia Flag of India.svg Ấn Độ
Thành lập 21 tháng 1 năm 1972
Thủ phủ Agartala
Chính quyền
 – Thống đốc Devanand Konwar[1]
 – Thủ tịch bộ trưởng Manik Sarkar[2]
Diện tích
 – Tổng cộng 10.491,69 km² (4.050,9 mi²)
Dân số (2011)
 – Tổng cộng 3.671.032
 – Mật độ 350/km² (906,5/mi²)
Múi giờ IST (UTC+05:30)
HDI Green Arrow Up Darker.svg 0.663 (trung bình)
Xếp hạng HDI 18 (2006)
Tỷ lệ biết chữ 94,65% (2013)[3]
Ngôn ngữ chính thức tiếng BengalKokborok[4]
Website: tripura.nic.in

Tripura là một bang nằm tại Đông Bắc Ấn Độ. Đây là bang nhỏ thứ ba toàn quốc với diện tích 10.491 km2 (4.051 sq mi) và có biên giới quốc tế với Bangladesh ở phía bắc, phía nam, và phía tây, và có biên giới quốc nội với hai bang AssamMizoram ở phía đông. Theo điều tra năm 2011, bang có 3.671.032 cư dân, trong đó các cộng đồng bản địa chiếm khoảng 30%. Người Bengal chiếm đa số trong dân cư, còn người Tripura nói tiếng Kokborok là nhóm chiếm đa số trong các bộ lạc. Tripura cùng với quốc gia Bangladesh và bang Tây Bengal tạo thành khu vực dân tộc-ngôn ngữ Bengal.
Trong nhiều thế kỷ, khu vực nay là Tripura nằm dưới quyền cai trị của triều đại Tripura. Tripura trở thành một phiên vương quốc trong thời gian người Anh đô hộ Ấn Độ, rồi gia nhập nước Ấn Độ độc lập vào năm 1949. Kể từ đó, xung đột sắc tộc giữa người bản địa và người Bengal dẫn đến căng thẳng và bạo động rải rác, song việc thành lập các đơn vị hành chính bộ lạc tự trị và áp dụng các chiến lược khác đã giúp đem hòa bình đến bang.
Tripura có vị trí địa lý bất lợi bên trong Ấn Độ, chỉ có một xa lộ lớn là Quốc lộ 44 kết nối bang với phần còn lại của quốc gia. Năm dãy núi là Boromura, Atharamura, Longtharai, Shakhan và Jampui chạy từ bắc đến nam Tripura, xen lẫn là các thung lũng. Thủ phủ Agartala nằm trên một bình nguyên ở phía tây. Tripura có khí hậu xa van nhiệt đới, nhận được lượng mưa lớn theo mùa từ gió mùa tây nam. Các khu rừng bao phủ trên một nửa diện tích của bang. Tripura có số lượng loài linh trưởng cao nhất trong số các bang tại Ấn Độ.
Do bị cô lập về vị trí địa lý, Tripura gặp trở ngại trong phát triển kinh tế, bị nghèo khổ và thất nghiệp đe dọa. Cơ sở hạ tầng tại Tripura có hạn chế. Hầu hết cư dân trong bang tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động có liên quan, song lĩnh vực dịch vụ đóng góp lớn nhất vào tổng sản phẩm quốc nội của bang. Các yếu tố văn hóa Ấn Độ chủ đạo, đặc biệt là từ văn hóa Bengal, cùng tồn tại với các tập tục truyền thống của các dân tộc bản địa, như các vũ đạo khác nhau được trình diễn trong các lễ hội; việc sử dụng các nhạc cụ và trang phục địa phương; và thờ phụng các thổ thần.

Tên gọi

Trong tiếng Phạn, tên gọi Tripura có nghĩa là “ba thành phố”. Tên tiếng Phạn có liên hệ với Tripura Sundari, là thần chủ trì của đền Tripura Sundari tại Udaipur, và đền là một trong 51 Shakti Peetha (các trung tâm hành hương của giáo phái Shakti);[5][6][7] và đến bạo quân truyền thuyết Tripur từng cai trị khu vực. Tripur là hậu duệ thứ 39 của Druhyu, Druhyu thuộc dòng dõi của Yayati- một quốc vương của triều đại Lunar.[8]
Tuy nhiên, có các ý kiến nghi ngờ về nguồn gốc tên gọi Tripura, đề cao khả năng dạng tiếng Phạn chỉ là do một từ nguyên dân gian của một tên tiếng Tạng-Miến (Kokborok). Các biến thể của tên gọi gồm có Twipra, TuipuraTippera. Một từ nguyên tiếng Kokborok bắt nguồn từ tui (nước) và pra (gần) được đề xuất; biên giới của Tripura mở rộng đến vịnh Bengal khi các quốc vương của nó nắm quyền cai trị từ vùng đồi Garo thuộc Meghalaya đến Arakan thuộc Myanmar ngày nay; do đó tên gọi có thể phản ánh sự lân cận với biển.[5][6]

Lịch sử

Không có bằng chứng về các khu định cư hạ kỳ và trung kỳ đồ đá cũ tại Tripura, song phát hiện được các công cụ thượng kỳ đồ đá mới làm từ gỗ nay đã hóa thạch tại các thung lũng Haora và Khowai.[9] Sử thi Mahabharata; bản văn tôn giáo cổ Purana; và các chiếu thư của Ashoka đều đề cập đến Tripura.[8] Một tên gọi cổ của Tripura là Kirat Desh (“vùng đất của Kirat”), có lẽ ám chỉ đến các vương quốc Kirata hay thuật ngữ Kirata tổng quát hơn.[10]:155 Tuy nhiên, không rõ liệu phạm vi Tripura hiện nay có ranh giới tương ứng với Kirat Desh hay không.[11] Khu vực nằm dưới quyền cai trị của Vương quốc Twipra trong hàng thế kỷ, song không có tư liệu về niên đại. Rajmala là một biên niên sử về các quốc vương Tripura, nó được viết lần đầu vào thế kỷ 15,[12] cung cấp một danh sách gồm 179 quốc vương từ thời cổ cho đến Krishna Kishore Manikya (1830–1850),[13]:3[14][15] song tính khả tín của Rajmala bị nghi ngờ.[16]

Quốc vương Bir Chandra Manikya (trị vì 1862-1896) cùng Vương hậu Manamohini

Biên giới của vương quốc thay đổi theo thời gian, tại các thời điểm khác nhau, biên giới mở rộng về phía nam đến các khu rừng Sundarban bên vịnh Bengal; về phía đông đến Myanmar; và về phía bắc đến biên giới của Vương quốc Kamarupa tại Assam.[12] Từ thế kỷ 13 trở đi, người Hồi giáo từng vài lần tiến hành xâm chiếm khu vực,[12] cực điểm là Đế quốc Mogul thống trị các đồng bằng của vương quốc vào năm 1733,[12] song quyền lực của họ chưa từng mở rộng đến các vùng đồi.[12] Người Mogul có uy thế trong việc bổ nhiệm các quốc vương của Tripura.[12] Tripura trở thành một phiên vương quốc trong giai đoạn Anh Quốc cai trị Ấn Độ. Các quốc vương của Tripura có một bất động sản tại Ấn Độ thuộc Anh, được gọi là huyện Tippera hay Chakla Roshnabad (nay là huyện Comilla của Bangladesh), cùng với một khu vực độc lập gọi là Đồi Tippera mà nay là Tripura.[12] Udaipur nằm tại nam bộ của Tripura và đóng vai trò là kinh đô của vương quốc cho đến khi Quốc vương Krishna Manikya dời đô đến Agartala Cổ trong thế kỷ 18. Kinh đô được dời đến thành phố mới Agartala trong thế kỷ 19. Quốc vương Bir Chandra Manikya (1862–1896) tái cấu trúc chính quyền theo mô hình của Ấn Độ thuộc Anh, và ban hành các cải cách bao gồm việc thành lập Hội đồng thành phố Agartala.[17]
Sau khi Ấn Độ độc lập vào năm 1947, huyện Tippera trở thành một bộ phận của Đông Pakistan, còn Đồi Tippera vẫn nằm dưới quyền của hội đồng nhiếp chính cho đến năm 1949. Nhiếp chính của Tripura là Vương hậu Kanchanprabha Devi ký vào Hiệp định Hợp nhất Tripura vào ngày 9 tháng 9 năm 1949, theo đó Tripura trở thành một bộ phận của Ấn Độ.[18]:3 Tripura gia nhập Liên bang Ấn Độ vào ngày 15 tháng 10 năm 1949 với địa vị một bang loại “C”[19], trở thành một Lãnh thổ liên bang không có cơ quan lập pháp vào tháng 11 năm 1956 và nội các tuyển cử nhậm chức vào tháng 7 năm 1963.[18]:3 Việc Ấn Độ bị phân chia sau khi độc lập gây nên các trở ngại lớn về kinh tế và cơ sở hạ tầng đối với Tripura, giao thông đường bộ giữa Tripura và các thành thị lớn của Ấn Độ phải đi theo đường vòng. Trước khi phân chia, khoảng cách đường bộ giữa Kolkata và Agartala là dưới 350 km (220 mi), song tăng lên 1.700 km (1.100 mi) sau khi phân chia do phải tránh Đông Pakistan.[20] Cô lập về địa chính trị của Tripura càng tăng thêm do không có giao thông đường sắt.[21][22]:93
Một số nơi tại Tripura từng bị Quân đội Pakistan pháo kích trong Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan 1971. Sau chiến tranh, chính phủ Ấn Độ tái tổ chức khu vực Đông Bắc nhằm bảo đảm kiểm soát hiệu quả biên giới quốc tế; trong đó ba bang mới được hình thành vào ngày 21 tháng 1 năm 1972:[23] Meghalaya, Manipur và Tripura.[23] Kể từ khi Ấn Độ bị phân chia, người Bengal theo Ấn Độ giáo di cư đến Tripura trong thân phận người tị nạn từ Đông Pakistan;[18]:3–4 số người Bengal đến định cư tăng lên trong thời gian diễn ra Chiến tranh giải phóng Bangladesh vào năm 1971. Trước khi Ấn Độ độc lập, hầu hết cư dân trong bang là người bản địa;[18]:9 song họ hiện là thiểu số. Xung đột sắc tộc giữa các bộ lạc và cộng đồng người Bengal nhập cư chiếm đa số dẫn đến các hành động bạo lực rải rác,[24] và một cuộc nổi dậy kéo dài hàng thập niên. Tình trạng này dần hạ nhiệt sau khi thành lập một hội đồng khu vực tự trị bộ lạc và tiến hành các chiến dịch bình loạn chiến lược,[25]

Địa lý và khí hậu

Lúa được trồng trên các đồng bằng phù sa tại Tripura.

Tripura là một bang nội lục tại Đông Bắc Ấn Độ với diện tích 10.491,69 km2 (4.050,86 sq mi), là bang nhỏ thứ ba tại Ấn Độ, đứng trên GoaSikkim. Tripura trải dài từ 22°56’B đến 24°32’B, và từ 91°09’Đ đến 92°20’Đ.[18]:3 Khoảng cách tối đa của bang là 184 km (114 mi) từ bắc đến nam, và 113 km (70 mi) từ đông sang tây. Tripura giáp với quốc gia Bangladesh ở phía tây, bắc và nam; giáp với bang Assam ở phía đông bắc; và giáp với bang Mizoram ở phía đông.[18]:3 Có thể tiếp cận với Tripura thông qua các quốc lộ đi qua huyện Karimganj của Assam và huyện Mamit của Mizoram.[26]
Địa văn học của Tripura mang đặc trưng với các dãy đồi, thung lũng và đồng bằng. Bang có năm dãy nếp lồi gồm các đồi chạy từ bắc xuống nam, từ Boromura ở phía tây, qua Atharamura, Longtharai và Shakhan, đến vùng Đồi Jampui ở phía đông.[27]:4 Các nếp lõm xen giữa là các thung lũng Agartala–Udaipur, Khowai–Teliamura, Kamalpur–Ambasa, Kailasahar–Manu và Dharmanagar–Kanchanpur.[27]:4 Trên cao độ 939 m (3.081 ft), Betling Shib trên dãy Jampui là điểm cao nhất trong bang.[18]:4 Các gò nhỏ biệt lập nằm rải rác khắp bang được gọi là tillas, các thung lũng phù sa màu mỡ song hẹp chủ yếu nằm ở phía tây và chúng được gọi là lungas.[18]:4 Một số sông khởi nguồn từ các đồi của Tripura và chảy sang Bangladesh.[18]:4 Khowai, Dhalai, Manu, Juri và Longai chảy hướng về phía bắc; Gumti chảy về phía tây; và Muhuri cùng Feni chảy về phía tây nam.[27]:73
Dữ liệu thạch địa tầng do Cục Nghiên cứu địa chất Ấn Độ phát hành xác định niên đại của các đá nằm giữa thế Tiệm Tân (34-23 triệu năm trước), và thế Toàn Tân (bắt đầu từ 12.000 năm trước) theo niên đại địa chất.[27]:73–4 Các đồi có đất laterit đỏ có đặc tính xốp. Đất phù sa phủ trên các bãi bồi và thung lũng hẹp, hầu hết đất nông nghiệp nằm trên các bãi bồi và thung lũng ở phía tây và nam.[18]:4 Theo Cục Tiêu chuẩn Ấn Độ, theo thang đo từ I đến V theo thứ tự tăng dần về tính nhạy cảm với địa chấn, Tripura thuộc khu địa chấn V.[28]
Tripura có khí hậu xa van nhiệt đới, được xác định là Aw theo phân loại khí hậu Köppen. Địa hình nhấp nhô dẫn đến những biến thiên địa phương, đặc biệt là trên các dãy đồi.[29] Bốn mùa chính trong năm là mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2; mùa trước gió mùa hay mùa hè kéo dài từ tháng 3 đến tháng 4, mùa gió mùa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9; và mùa sau gió mùa kéo dài từ tháng 10 đến tháng 11.[30] Trong mùa gió mùa, gió mùa tây nam đưa đến các cơn mưa lớn, gây lũ lụt thường xuyên.[18]:4[27]:73 Lượng mưa trung bình năm từ năm 1995 đến năm 2006 dao động từ 1.979,6 đến 2.745,9 mm (77,94 đến 108,11 in).[31] Trong mùa đông, nhiệt độ dao động từ 13 đến 27 °C (55 đến 81 °F), còn nhiệt độ vào mùa hè dao động từ 24 và 36 °C (75 và 97 °F).[30] Theo tường trình của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Tripura nằm trên đới “có nguy cơ chịu thiệt hại rất cao” do gió lốc.[32]

Dữ liệu khí hậu của Agartala, thủ phủ của Tripura
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 25.6 28.3 32.5 33.7 32.8 31.8 31.4 31.7 31.7 31.1 29.2 26.4 30.52
Trung bình thấp, °C (°F) 10
(50)
13.2 18.7 22.2 23.5 24.6 24.8 24.7 24.3 22
(72)
16.6 11.3 20
Giáng thủy mm (inches) 27.5
(1.083)
21.5
(0.846)
60.7
(2.39)
199.7
(7.862)
329.9
(12.988)
393.4
(15.488)
363.1
(14.295)
298.7
(11.76)
232.4
(9.15)
162.5
(6.398)
46
(1.81)
10.6
(0.417)
2.146
(84,49)
Nguồn: [33]

Động thực vật

Biểu tượng cấp bang của Tripura[34]
Bang thú Voọc xám
Bang điểu Gầm ghì lưng xanh
Bang thụ Trầm hương
Bang hoa Vắp

Tripura nằm trong vùng sinh thái Indomalaya giống như hầu hết những nơi khác trên tiểu lục địa Ấn Độ. Theo phân loại địa lý học sinh vật của Ấn Độ, bang thuộc về vùng địa lý học sinh vật “Đông-Bắc”.[35] Tính đến năm 2011, rừng bao phủ 57,73% diện tích của bang.[36] Tripura có ba loại hệ sinh thái khác biệt: núi, rừng và nước ngọt.[37] Các loài thuộc chi dầu, mít, Amoora, côm, trâmvối chiếm ưu thế trong các khu rừng thường xanh trên các sườn đồi và bãi đất cát ven sông.[38] Đa số các loài thực vật xuất hiện trong hai loại rừng rụng lá ẩm: rừng hỗn tạp rụng lá và loại rừng mà Sala (Shorea robusta) chiếm ưu thế.[38] Các rừng tre và mây nằm rải rác với các loài thực vật rụng lá và thường xanh là điểm đặc biệt của hệ thực vật trong bang.[38] Tripura cũng có các thảo nguyên và đầm lầy, đặc biệt là tại các đồng bằng. Các loài thực vật thân thảo, cây bụi, và thực vật thuộc chi bản xe, lộc vừng, tử vimã rạng mọc sum sê trong các đầm lầy của Tripura. Các loài cây bụi và thân cỏ gồm có Schumannianthus dichotoma (shitalpati), PhragmitesSaccharum.[38]
Theo một nghiên cứu vào năm 1989–90, Tripura có 90 loài thú trên cạn thuộc 65 chi và 10 bộ,[39] bao gồm các loài như voi (Elephas maximus), gấu (Melursus ursinus), cầy mực (Arctictis binturong), sói đỏ (Cuon alpinus), đon (Artherurus assamensis), mang (Muntiacus muntjak), nai (Cervus unicolor), lợn rừng (Sus scrofa), bò tót (Bos gaurus), báo hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (Neofelis nebulosa), và nhiều loài nhỏ thuộc họ Mèo và loài thuộc bộ Linh trưởng.[39] Trong số 15 loài linh trưởng sinh sống trong môi trường tự do tại Ấn Độ, có bảy loài được phát hiện tại Tripura; đây là con số cao nhất trong các bang của Ấn Độ.[39] Trâu rừng (Bubalus arnee) hiện đã tuyệt chủng tại bang.[40] Có gần 300 loài chim tại bang.[41]
Tipura có các khu bảo tồn loài hoang dã Sipahijola, Gumti, Rowa và Trishna.[42] có các vườn quốc gia Báo gấm và Rajbari.[42] Tổng cộng, các khu bao tồn này bao phủ một diện tích 566,93 km2 (218,89 sq mi).[42] Gumti cũng là một vùng chim quan trọng.[43] Vào mùa đông, có hàng nghìn cá thể chim nước tụ tập tại các hồ Gumti và Rudrasagar.[44]

Hành chính

Các huyện của Tripura

Tripura trải qua thay đổi lớn về phân chia hành chính vào tháng 1 năm 2012. Trước đó, bang có bốn huyện là Dhalai (thủ phủ là Ambassa), Bắc Tripura (thủ phủ là Kailashahar), Nam Tripura (thủ phủ là Udaipur), và Tây Tripura (thủ phủ là Agartala). Bốn huyện mới được tách ra từ các huyện này vào tháng 1 năm 2012 là Khowai, Unakoti, SipahijalaGomati.[45] Huyện trưởng là người quản lý mỗi huyện, họ thường được Cục Hành chính Ấn Độ bổ nhiệm. Các đơn vị hành chính trực thuộc mỗi huyện do phó phân khu trưởng quản lý, mỗi phó phân khu lại được chia tiếp thành các block. Các block gồm có các Panchayat (hội đồng làng) và chính quyền đô thị. Tính đến năm 2012, bang có tám huyện, 23 phó phân khu và 45 block.[46] Agartala là thủ phủ của Tripura, và cũng là thành phố đông dân nhất trong bang.[47] Các đô thị khác có 10.000 cư dân hoặc nhiều hơn (điều tra năm 2001) là Badharghat, Dharmanagar, Jogendranagar, Kailashahar, Pratapgarh, Udaipur, Amarpur, Belonia, Gandhigram, Indranagar, Kumarghat, Ranirbazar, Sonamura, và Teliamura.[47]

Chính phủ và chính trị

Giống với các bang khác tại Ấn Độ, Tripura có một hệ thống nghị viện theo hình thức dân chủ đại nghị. Các cư dân trong bang được trao quyền tuyển cử phổ thông. Chính phủ Tripura gồm ba nhánh: hành pháp, lập pháptư pháp. Hội đồng lập pháp Tripura gồm có các thành viên được bầu và các cán sự đặc thù do các thành viên bầu nên. Chủ tịch hội đồng là người chủ trì các cuộc họp của hội đồng lập pháp, nếu chủ tịch vắng mặt thì phó chủ tịch là người thay thế. Hội đồng lập pháp Tripura là đơn viện với 60 thành viên.[48] Các thành viên được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm, trừ trường hợp Hội đồng bị giải tán trước khi kết thúc nhiệm kỳ. Hệ thống tư pháp gồm có Tòa cấp cao Tripura và một hệ thống các tòa cấp thấp.[49][50] Quyền hành pháp được trao cho Hội đồng bộ trưởng, với người đứng đầu là Thủ tịch bộ trưởng (Chief Minister). Thống đốc là người đứng đầu bang trên danh nghĩa, người này do Tổng thống Ấn Độ bổ nhiệm. Lãnh đạo của đảng hoặc liên minh đảng phái chiếm đa số trong Hội đồng lập pháp sẽ được Toàn quyền bổ nhiệm làm Thủ tịch bộ trưởng. Các thành viên trong Hội đồng bộ trưởng do Toàn quyền bổ nhiệm theo cố vấn của Thủ tịch bộ trưởng. Hội đồng bộ trưởng phải tường trình trước Hội đồng lập pháp.

Cung Ujjayanta từng là cung điện của vương thất Tripura, tòa nhà là nơi Hội đồng lập pháp Tripura tiến hành hội họp cho đến năm 2011.

Tripura gửi hai đại diện đến Lok Sabha (hạ nghị viện Ấn Độ) và một đại diện đến Rajya Sabha (thượng nghị viện Ấn Độ). Các Panchayat (chính quyền tự trị địa phương) được bầu trong các cuộc tuyển cử hội đồng địa phương và hiện diện tại nhiều làng tự trị. Tripura cũng có một hội đồng tự trị bộ lạc độc nhất đó là Hội đồng khu vực tự trị các khu vực bộ lạc Tripura (TTAADC).[51] Hội đồng này chịu trách nhiệm đối với một số khía cạnh trong quản trị địa phương tại hàng trăm làng có tỷ lệ lớn “các bộ lạc được liệt kê”.[51][52]
Các chính đảng lớn tại Tripura là Mặt trận Cánh Tả và Đảng Quốc Đại, Đảng Quốc Đại cầm quyền tại Tripura cho đến năm 1977.[53]:255–66 Mặt trận Cánh Tả giành được quyền lực từ năm 1978 đến năm 1988, và từ năm 1993 trở đi.[54] Trong giai đoạn 1988–1993, Đảng Quốc Đại và Hiệp hội Thanh niên bộ lạc Tripura tạo thành một liên minh cầm quyền.[55] Trong cuộc tuyển cử được tổ chức vào tháng 2 năm 2013, Mặt trận Cánh Tả giành được 50 trong số 60 ghế tại Hội đồng lập pháp, 49 ghế trong đó thuộc về Đảng Cộng sản Ấn Độ (Marxist) (CPM).[56] Trong năm 2013, Tripura là bang duy nhất tại Ấn Độ có một đảng cộng sản cầm quyền. Trước đó, hai bang Tây Bengal và Kerala cũng từng có các chính phủ cộng sản được bầu lên theo cách thức dân chủ.[57]
Chủ nghĩa cộng sản tại Tripura khởi đầu từ thời kỳ tiền độc lập, lấy cảm hứng từ các hoạt động đấu tranh đòi tự do tại Bengal, và lên đến cực độ khi có các chính đảng địa phương mang khuynh hướng cộng sản.[58]:362 Phong trào cộng sản lợi dụng sự bất mãn của các bộ lạc đối với người thống trị chủ đạo.[58]:362 và được biết đến vì các liên kết với việc tìm kiếm bản sắc địa phương hoặc sắc tộc.[59] Kể từ thập niên 1990, diễn ra một cuộc nổi dậy liên tục của người Tripura nhằm đòi đất, với sự tham gia của các tổ chức quân sự như Mặt trận Giải phóng Dân tộc TripuraLực lượng Hổ Toàn Tripura (ATTF); các sự kiện khủng bố có liên quan đến ATTF được ghi nhận là có 389 nạn nhân từ năm 1993 đến năm 2000.[60]

Kinh tế

Tổng sản phẩm nội địa bang theo giá cố định
(căn cứ 2004–05)[61]
đơn vị:10 triệu rupee Ấn Độ
Năm Tổng sản phẩm
nội địa bang
2004–05   8.904
2005–06   9.482
2006–07 10.202
2007–08 10.988
2008–09 11.596
2009–10 12.248
2010–11 12.947

Tổng sản phẩm nội địa bang của Tripura năm 2010–11 là 129,47 tỷ rupee theo giá cố định (2004–05),[61] tăng trưởng 5,71% so với năm trước. Trong cùng thời kỳ, GDP của Ấn Độ tăng trưởng 8,55%.[61] Năm 2009-2010, thu nhập bình quân đầu người hàng năm theo giá hiện tại của Tripura là 38.493 rupee, trong khi thu nhập bình quân đầu người toàn quốc là 44.345 rupee.[62] Năm 2009, khu vực thứ ba của nền kinh tế (dịch vụ) có đóng góp lớn nhất vào tổng sản phẩm nội địa của bang, với 53,98% so với đóng góp 23,07% của khu vực sơ khai (nông lâm nghiệp, khai mỏ) và đóng góp 22,95% của khu vực thứ hai (công nghiệp và chế tạo).[62] Theo Điều tra Kinh tế năm 2005, sau nông nghiệp, số lao động lớn nhất là trong lĩnh vực bán lẻ (28,21% tổng số lao động phi nông nghiệp), tiếp đến là ngành chế tạo (18,60%), hành chính công (14,54%), và giáo dục (14,40%).[63]
Tripura là một bang nông nghiệp, với trên một nửa dân số phụ thuộc vào nông nghiệp và các hoạt động có liên quan.[64] Tuy nhiên, do địa hình nhiều đồi và có độ che phủ rừng lớn, chỉ có 27% đất có thể canh tác.[64] Lúa là cây trồng chính trong bang, chiếm khoảng 91% diện tích gieo trồng.[64] Theo cục Kinh tế và Thống kê của Chính phủ Tripura, trong năm 2009–10, khoai tây, mía, bụt giấm, các loại đậu và đay là những cây trồng chính khác tại bang.[65] Mítdứa đứng đầu trong số các sản phẩm từ vườn.[65] Theo truyền thống, hầu hết cư dân bản địa sử dụng phương pháp trồng trọt jhum (một kiểu chặt và đốt). Số người dựa vào jhum suy giảm theo thời gian.[66]:37–9

Lúa là cây trồng chính tại Tripura.

Ngư nghiệp Tripura đạt được những tiến bộ đáng kể. Đến cuối năm 2009-2010, bang sản xuất thặng dư 104,3 triệu cá giống.[67] Cao su và trà là các cây trồng kinh tế quan trọng tại bang, Tripura xếp thứ nhì sau Kerala về sản lượng cao su tự nhiên tại Ấn Độ.[68] Thủ công nghiệp Tripura được biết đến, đặc biệt là vải bông dệt thủ công, đồ khắc gỗ, và các sản phẩm từ tre. Cây gỗ chất lượng cao gồm sala, dầu, tếch và lõi thọ, chúng có nhiều trong các khu rừng tại Tripura.
Khu vực công nghiệp của Tripura vẫn hết sức kém phát triển; hai ngành được tổ chức duy nhất là gạch và trà.[63] Tripura có trữ lượng đáng kể về khí đốt tự nhiên, song nghèo các loại khoáng sản khác như khoáng vật sét, cát thủy tinh, than nâu, và đá vôi.[27]:78–81 Theo ước tính của Tổng công ty Dầu và Khí thiên nhiên (ONGC) của Ấn Độ, Tripura có trữ lượng 400 tỷ m³ khí đốt thiên nhiên, trong đó có thể khai thác 16 tỷ m³.[68] ONGC sản xuất 480 triệu m³ khí đốt thiên nhiên tại Tripura vào năm 2006–07.[68] Ngành công nghiệp du lịch Tripura đang phát triển, thu nhập từ lĩnh vực du lịch vượt 10 triệu rupee lần đầu tiên vào năm 2009–10, và vượt 15 triệu rupee vào năm 2010–11.[69] Mặc dù Bangladesh nằm trong tình trạng thâm hụt mậu dịch với Ấn Độ, song xuất khẩu của nước này sang Tripura nhiều hơn đáng kể so với nhập khẩu từ bang; một tường thuật trên báo The Hindu ước tính Bangladesh xuất khẩu hàng hóa trị giá 3,5 tỷ rupee sang Tripura vào năm 2012, song nhập khẩu “số lượng rất ít”.[70] Bên cạnh mậu dịch quốc tế hợp pháp, hoạt động biên mậu phi chính thức và phi pháp diễn ra tràn lan.[71]

Cơ sở hạ tầng

Giao thông

Quốc lộ 44 kết nối Tripura với phần còn lại của Ấn Độ

Quốc lộ 44 (NH-44) là tuyến đường bộ lớn duy nhất kết nối Tripura với phần còn lại của Ấn Độ.[72] Quốc lộ bắt đầu từ Sabroom tại nam bộ Tripura, chạy hướng về phía bắc đến thủ phủ Agartala, rồi chuyển sang hướng đông rồi đông bắc và đi sang bang Assam. Quốc lộ 44 được người địa phương gọi là “đường Assam”, và thường được gọi là đường sinh mệnh của Tripura.[72] Tuy nhiên, tuyến đường này chỉ có một làn và có chất lượng kém, thường xảy ra lở đất, mưa và các sự cố khác trên đường khiến Tripura bị cô lập với các bang khác.[27]:73[66]:44 Quốc lộ 44A (NH 44A) nối đô thị Manu tại huyện Nam Tripura với Aizawl thuộc Mizoram.[26] Tổng công ty giao thông đường bộ Tripura là cơ quan chính phủ làm nhiệm vụ giám sát giao thông công cộng bằng đường bộ. Tripura là một bang nội lục nhiều đồi, dựa chủ yếu vào loại hình giao thông đường bộ.[72] Tổng chiều dài các tuyến đường bộ trong bang là 16.931 km (10.520 mi), trong đó theo số liệu năm 2009–10 thì các quốc lộ dài tổng cộng 448 km (278 mi) và các bang lộ dài tổng cộng 689 km (428 mi).[72] Dân cư tại các khu vực nông thôn thường xuyên sử dụng phương thức vận chuyển bằng đường thủy.[73]:140
Sân bay Agartala nằm cách thủ phủ Agartala 12,5 km về phía tây bắc, và là sân bay bận rộn thứ nhì tại Đông Bắc Ấn Độ, sau Guwahati. Cảng hàng không này có các chuyến bay thẳng kết nối đến Kolkata, Imphal, Delhi, Silchar, Aizwal, Guwahati, Bangalore, Chennai, AhmedabadMumbai. Các hãng hàng không hoạt động tại cảng hàng không là Air India, Jet Airways, Indigo AirlinesSpicejet. Dịch vụ trực thăng hành khách khả dụng giữa thủ phủ và các đô thị lớn (Kailashahar, Dharmanagar) cũng như đến các khu vực hẻo lánh hơn như Kanchanpur và Gandacherra.[72]
Tripura không có loại hình giao thông đường sắt cho đến năm 2008–09, khi đó một tuyến đường sắt giữa thủ phủ Agartala và ga đầu mối Lumding tại Assam được hoàn thành.[72] Đây là tuyến đường sắt có đường ray khổ mét, nối với đường ray khổ Ấn Độ tại Lumding. Các ga chính trên tuyến đường sắt này là tại Agartala, Dharmanagar, và Kumarghat. Tính đến năm 2009–10, tổng chiều dài đường ray đường sắt trong bang là 153 kilômét (95 mi)[Chuyển đổi: Tùy chọn không hợp lệ]. Việc kéo dài tuyến đường sắt từ Agartala về đô thị Sabroom ở cực nam cũng được tiến hành.[72]
Tripura có tuyến biên giới quốc tế dài 856 km (532 mi) với Bangladesh, chiếm 84% chu vi của bang.[74] Một số địa điểm dọc theo biên giới đóng vai trò là các trạm mậu dịch song phương giữa Ấn Độ và Bangladesh, như Akhaura gần Agartala, Raghna, Srimantpur, Belonia, Khowai và Kailasahar.[70] Có dịch vụ xe khách giữa Agartala và thủ đô Dhaka của Bangladesh.[75][76] Năm 2013, hai quốc gia ký kết một hiệp định về việc thiết lập một tuyến đường sắt dài 15 km (9,3 mi) kết nối giữa Agartala và ga đầu mối Akhaura của Bangladesh.[77] Công dân hai quốc gia cần phải có thị thực để nhập cảnh quốc gia khác một cách hợp pháp; song di chuyển và buôn lậu phi pháp qua biên giới diễn ra phổ biến.[78]:314[79]

Truyền thông và thông tin

Tính đến năm 2012, có 56 nhật báo và tuần báo phát hành tại Tripura.[80] Hầu hết các báo phát hành bằng tiếng Bengal, ngoại trừ một nhật báo viết bằng tiếng Kokborok (Hachukni Kok), một tuần báo viết bằng tiếng Manipur (Marup), hai nhật báo tiếng Anh và ba tuần báo song ngữ.[80] Các nhật báo trứ danh là Daily Desher Katha, Ajkal Tripura, Dainik Sambad, và Syandan Patrika.[80] Một nghiên cứu của Viện Ấn Độ về truyền thông đại chúng (IIMC) vào năm 2009 cho thấy có 93% số phiếu lấy mẫu tại Tripura đánh giá truyền hình là rất hữu hiệu đối với thông tin và giáo dục đại chúng.[81] Theo nghiên cứu, 67% số phiếu lấy mẫu trả lời có nghe phát thanh và 80–90% trả lời có đọc báo.[81] Hầu hết các công ty truyền thông lớn của Ấn Độ hiện diện tại Tripura, chẳng hạn như Airtel, Aircel, Vodafone, Reliance, Tata Indicom, IdeaBSNL. Kết nối di động vượt trội so với kết nối cố định, tính đến năm 2011, công ty quốc doanh BSNL có 57.897 thuê bao cố định và 325.279 thuê bao di động GSM.[72] Tính đến năm 2011, có 84 tổng đài điện thoại (dành cho điện thoại cố định) và 716 bưu cục tại Tripura.[72]

Điện năng và thủy lợi

Tính đến năm 2013, Tripura có ba nhà máy phát điện thuộc sở hữu của Tập đoàn điện năng bang Tripura, đó là các nhà máy nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên tại Rokhia và Baramura, và nhà máy thủy điện trên sông Gumti. Tổng công suất của ba nhà máy điện này là 100–105 MW.[82] Công ty Điện lực Đông Bắc Bộ (NEEPCO) điều hành nhà máy điện tuốc bin khí Agartala có công suất 84 MW nằm gần Agartala. Trong những thời điểm nhu cầu điện năng đạt cực độ, bang phải vay 50–60 MW điện năng từ lưới điện Đông Bắc của mạng lưới truyền tải quốc gia.[82] Một nhà máy nhiệt điện do Tập đoàn dầu và khí thiên nhiên điều hành được khánh thành vào tháng 6 năm 2013 tại Palatala, có công suất dự kiến đạt trên 700 MW.[83] Tính đến tháng 3 năm 2014, một nhà máy nhiệt điện khác đang chờ được vận hành tại Monarchak.[84]
Tính đến năm 2011, 255.241 hécta (985 sq mi) đất tại Tripura có thể canh tác, trong đó các dự án tưới tiêu có khả năng bao phủ 108.646 hécta (419 sq mi). Tuy nhiên, chỉ có 74.796 hécta (289 sq mi) là được tưới.[85] Tripura thiếu các dự án tưới tiêu lớn; phải dựa và các dự án quy mô trung bình lấy nước từ các sông Gumti, Khowai và Manu, và các dự án quy mô nhỏ do hội đồng cấp làng quản lý, các dự án này sử dụng các giếng ống, bơm tay, bể và nâng thủy lợi.[85]

Giáo dục

Phòng học được dựng bằng tre trong một trường học. Trong năm 2010–11, Tripura có 4.455 trường công lập hoặc tư thục.[86] Ngôn ngữ giảng dạy chính là tiếng Anh hoặc tiếng Bengal.

Các trường học tại Tripura do chính phủ bang và các tổ chức tư nhân điều hành, trong đó có các tổ chức tôn giáo. Ngôn ngữ giảng dạy chính trong các trường học là tiếng Anh hoặc tiếng Bengal, song tiếng Kokborok và các ngôn ngữ địa phương khác cũng được sử dụng. Các trường học là thành viên của Hội đồng Khảo thí chứng chỉ trường học Ấn Độ (CISCE), Ủy ban Trung ương về giáo dục trung học (CBSE), Viện quốc gia về giáo dục mở (NIOS) hay Ủy ban Tripura về giáo dục trung học.[87] Theo kế hoạch 10+2+3, sau khi tốt nghiệp trung học, học sinh thường theo học hai năm cao đẳng hoặc trong một trường trung học cao cấp là thành viên của Ủy ban Tripura về giáo dục trung học hoặc các ủy ban trung ương khác. Học sinh lựa chọn một trong ba ban: khai phóng, thương mại hay khoa học.[87] Giống như phần còn lại của Ấn Độ,[88] sau khi vượt qua kỳ khảo thí trung học cao cấp (kỳ thi lớp 12), học sinh có thể ghi danh vào các chương trình đào tạo tổng quát hoặc chuyên nghiệp.
Theo Bình luận kinh tế Tripura 2010–11, Tripura có tổng cộng 4.455 trường học, trong đó có 2.298 trường tiểu học.[86] Tổng số học sinh ghi danh trong các trường học tại bang là 767.672.[86] Tripura có một Đại học trung tâm (Đại học Tripura) và một đại học tư thục (một phân hiệu của Học viện phân tích viên tài chính đặc hứa Ấn Độ). Bang có 15 trường tổng quát, hai trường kỹ thuật (trường kỹ thuật Tripura và trường quốc gia về kỹ thuật, Agartala), hai trường y (trường y chính phủ Agartala và trường y Tripura), ba trường bách khoa, một trường luật, một trường nhạc, và một trường nghệ thuật.[86]

Y tế

Chỉ số y tế năm 2010[89]
Chỉ số Tripura Ấn Độ
Tỷ suất xuất sinh 14,9‰ 22,1‰
Tỷ suất tử vong 5,0‰ 7,2‰
Tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh 27‰ 47‰
Tổng tỷ suất sinh 22‰ 27‰
Tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên 9,9‰ 14,9‰

Tripura có một hệ thống y tế phổ thông do Bộ Y tế và Phúc lợi gia đình của Chính phủ Tripura vận hành.[90] Cơ sở hạ tầng chăm sóc y tế được chia thành ba bậc: mạng lưới chăm sóc y tế sơ cấp, một hệ thống chăm sóc trung cấp gồm các bệnh viện huyện và phó phân khu, và các bệnh viện cấp ba cung cấp dịch vụ chăm sóc chuyên khoa và siêu chuyên khoa. Tính đến năm 2010–11, Tripura có 17 bệnh viện, 11 bệnh viện nông thôn và trung tâm y tế cộng đồng, 79 trung tâm y tế sơ cấp, 635 phân trung tâm/trạm phát thuốc, 7 ngân hàng máu và 7 trung tâm kho máu.[91] Các phương pháp y khoa vi lượng đồng cănAyurveda cũng phổ biến tại bang.[91] Điều tra y tế gia đình quốc gia – 3 tiến hành vào năm 2005–06 cho thấy rằng 20% cư dân tại Tripura không thường xuyên sử dụng các phương tiện y tế của chính phủ, và ưa thích khu vực y tế tư nhân hơn.[92] Tỷ lệ này thấp hơn so với mức trung bình toàn quốc, theo đó 65,6% dân số Ấn Độ không dựa vào các phương tiện y tế của chính phủ.[92] Giống như phần còn lại của Ấn Độ, cư dân Tripura cũng cho rằng chất lượng chăm sóc yếu kém là nguyên nhân phổ biến nhất khiến họ không dựa vào dịch vụ y tế công. Các lý do khác bao gồm khoảng cách xa xôi với dịch vụ y tế công, thời gian chờ đợi lâu, và thời gian hoạt động bất tiện[92] Tính đến năm 2010, thành tích của Tripura trên các chỉ số lớn về chăm sóc y tế công cộng, như tỷ suất tử vong, tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh và tổng tỷ suất sinh là tốt hơn so với trung bình toàn quốc.[89]

Nhân khẩu

Tăng trưởng dân số[93]
Điều tra Dân số  %±
1951 639.000  —
1961 1.142.000 78,7%
1971 1.556.000 36,3%
1981 2.053.000 31,9%
1991 2.757.000 34,3%
2001 3.199.203 16%
2011 3.671.032 14,7%

Tripura là bang đông dân thứ nhì tại Đông Bắc Ấn Độ, đứng sau Assam. Theo kết quả tạm thời của cuộc điều tra nhân khẩu năm 2011 tại Ấn Độ, Tripura có dân số 3.671.032, với 1.871.867 nam và 1.799.165 nữ.[94] Tỷ suất giới tính trong bang là 961 nữ trên một nghìn nam,[94] cao hơn mức trung bình toàn quốc là 940. Mật độ dân số là 350 người/km².[95] Tỷ lệ biết chữ tại Tripura vào năm 2011 là 87,75%,[94] cao hơn mức trung bình toàn quốc là 74,04%. Đến năm 2013, chính quyền bang tuyên bố tỷ lệ biết chữ đã lên đến 94,65%, chiếm vị trí hàng đầu toàn quốc.[3]
Năm 1875, thành viên các bộ lạc chiếm 63,77% dân số trong khu vực, điều này cho thấy dân số phi bản địa khi đó có sự hiện diện đáng kể, chủ yếu là người Bengal.[58]:359 Các quốc vương của phiên vương quốc Tripura khuyến khích người Bengal di cư đến, và người Bengal tham gia vào các công việc hành chính và tiến hành canh tác hiện đại năng suất cao hơn, trong khi người bản địa canh tác theo kiểu jhum (đốt nương rẫy).[58]:359 Số người Bengal di cư tăng lên đáng kể sau khi Ấn Độ phân chia, khiến các bộ lạc trở thành thiểu số.

Trẻ em người Tripura chuẩn bị biểu diễn vũ đạo. Người Tripura thuộc nhóm Tạng-Miến có nguồn gốc gần thượng du của Trường GiangHoàng Hà tại Trung Quốc, họ chiếm 17% dân số toàn bang.[24][96]

Trong điều tra nhân khẩu năm 2001 tại Ấn Độ, người Bengal chiếm 69% dân số Tripura, trong khi người bản địa chiếm 31%.[96] “Các bộ lạc được liệt kê” gồm các nhóm dân tộc chịu thiệt thòi trong lịch sử được công nhận theo hiến pháp Ấn Độ, trong đó Tripura có 19 dân tộc và nhiều phân nhóm,[97] với sự đa dạng về ngôn ngữ và văn hóa. Năm 2001, nhóm “bộ lạc được liệt kê” lớn nhất là người Tripura nói tiếng Kokborok, họ có dân số là 543.848 và chiếm 17,0% dân số toàn bang, chiếm 54,7% dân số “các bộ lạc được liệt kê”.[96] Các nhóm lớn khác theo thứ tự dân số giảm dần là Reang, Jamatia, Chakma, Halam, Mog, Munda, Kuki và Garo.[96] Tiếng Bengal là ngôn ngữ được nói phổ biến nhất trong bang do người Bengal có số lượng lớn. Kokborok là một ngôn ngữ chiếm ưu thế trong các bộ lạc. Một số ngôn ngữ khác như tiếng Hindi, Mog, Oriya, Bishnupriya Manipur, Manipur, Halam, Garo và Chakma thuộc các ngữ hệ Ấn-ÂuHán-Tạng được nói tại bang.[98]

Tôn giáo tại Tripura[99]
Tôn giáo Tỷ lệ
Ấn Độ giáo
85.60%
Hồi giáo
7.90%
Cơ Đốc giáo
3.20%
Phật giáo
3.10%
Khác
0.15%

Tripura xếp thứ 18 về chỉ số phát triển con người (HDI) trong số các bang và lãnh thổ liên bang tại Ấn Độ, theo ước tính năm 2006 của Bộ Phát triển Phụ nữ và Thiếu nhi; HDI của Tripura là 0,663, trong khi mức trung bình toàn quốc là 0,605.[100] Theo điều tra nhân khẩu năm 2001, Ấn Độ giáo là tôn giáo đa số trong bang, được 85,8% dân số trong bang tin theo.[101] Người Hồi giáo chiếm 7,9% dân số, người Cơ Đốc giáo chiếm 3,2%, và người Phật giáo chiếm 3,1%.[101] Tỷ lệ người Hồi giáo tại Tripura dần suy giảm kể từ năm 1971 do những tín đồ Ấn Độ giáo nhập cư từ Bangladesh, trong khi tín đồ Hồi giáo trong bang di cư đến quốc gia này với quy mô lớn. Đa số các bộ lạc trong bang theo Ấn Độ giáo và tiến hành các nghi thức tôn giáo Ấn Độ giáo. Họ tin tưởng và sự tồn tại của Thượng đế trong toàn bộ các yếu tố tự nhiên do họ tin theo thuyết vật linh.[102]:110 Người Mog và người Chakma là các cộng đồng theo Phật giáo tại Tripura. Những tín đồ Cơ Đốc giáo trong bang chủ yếu là thành viên của các bộ lạc Lushai, Kuki và Garo.[73]:135–6

Văn hóa

Các nhóm dân tộc-ngôn ngữ đa dạng tại Tripura tạo ra một văn hóa hỗn hợp.[103][104] Người Bengal là cộng đồng dân tộc-ngôn ngữ lớn nhất trong bang, văn hóa Bengal do vậy là văn hóa phi bản địa chính tại Tripura. Trên thực tế, có nhiều gia đình sinh sống trong đô thị thuộc tầng lớp tinh hoa trong các bộ lạc đã và đang tích cực tiếp nhận văn hóa và ngôn ngữ Bengal.[105] Các quốc vương Tripura xưa kia là những nhà bảo trợ lớn đối với văn hóa Bengal, đặc biệt là văn học;[105] Tiếng Bengal khi đó là ngôn ngữ của triều đình.[106] Các yếu tố của văn hóa Bengal như văn học, âm nhạc, ẩm thực trở nên phổ biến, đặc biệt là tại các khu vực đô thị của bang.[102]:110[105][107]

Unakoti là một di chỉ hành hương của giáo phái Ấn Độ giáo Shaiva trong lịch sử, có niên đại từ thế kỷ 7–9. Các khối đá được chạm khắc mô tả các thần ShivaGanesha.

Tripura nổi tiếng với các đồ thủ công làm bằng tre và mây.[104] Tre, gỗ và mây được sử dụng để tạo ra một loạt gia cụ, dụng cụ, quạt cầm tay, chế phẩm mô phỏng, chiếu, rổ, tượng thần và vật liệu trang trí nội thất.[22]:39–41[108] Âm nhạc và vũ đạo là các loại hình không thể thiếu trong văn hóa Tripura. Một số nhạc cụ địa phương là sarinda, chongpreng (các loại đàn), và sumui (một loại sáo).[10]:344–5 Mỗi cộng đồng bản địa lại sở hữu riêng vốn tiết mục ca khúc và vũ đạo biểu diễn trong các hôn lễ, các công việc tôn giáo, và các lễ hội khác. Người Tripura và người Jamatia biểu diễn vũ điệu Goria trong dịp Goria Puja. Các vũ điệu khác của người Tripura là Jhum, Lebang, Mamita, hay Mosak sulmani.[109] Cộng đồng Reang được chú ý với vũ điệu Hojagiri, vũ điệu này do các thiếu nữ biểu diễn với các động tác giữ thăng bằng đồ vật.[109] Vũ điệu Bizhu được người Chakma biểu diễn vào lễ hội Bizhu (ngày cuối của tháng Chaitra theo lịch Hindu). Các vũ điệu khác bao gồm Wangala của người Garo, Hai-hak của nhánh Halam của người Kuki, và Sangrai và Owa của người Mog.[109] Bên cạnh đó, âm nhạc và vũ đạo cổ điển Ấn Độ, Rabindra Sangeet của Rabindranath Tagore cũng được biểu diễn.[110] Sachin Dev Burman là một thành viên vương thất Tripura, ông là một nhà soạn nhạc bậc thầy trong thể loại âm nhạc đại chúng filmi.[111]
Các tín đồ Ấn Độ giáo tin rằng Tripureshwari là nữ thần bảo hộ của Tripura và một diện mạo của Shakti.[13]:30 Các lễ hội quan trọng trong bang là Durga Puja, Kali Puja, Ashokastami và thờ phụng các thần Chaturdasha. Một số lễ hội tiêu biểu cho việc dung hợp các truyền thống địa phương các nhau, như Ganga Puja, Garia Puja, Kharchi Puja và Ker Puja.[112][113] Unakoti, Pilak và Devtamura là các di chỉ lịch sử, nổi tiếng với các bộ sưu tập lớn về tác phẩm khắc đá.[104][114] Những tác phẩm điêu khắc này là bằng chứng cho sự hiện diện của tín đồ Phật giáo và giai cấp Bà-la-môn trong nhiều thế kỷ, và đại diện cho một sự dung hợp nghệ thuật hiếm hoi của các tôn giáo có tổ chức truyền thống và ảnh hưởng bộ lạc.[115][116][117]
Bóng đácricket là hai môn thể thao phổ biến nhất tại Tripura. Thủ phủ Agartala có giải vô địch các câu lạc bộ bóng đá riêng, được tổ chức thường niên với thể thức loại trực tiếp. Tripura tham gia giải cricket quốc nội của Ấn Độ là Ranji Trophy với tư cách đội của một bang miền Đông. Tripura tham gia đều đặn Đại hội thể thao quốc gia Ấn Độ và Đại hội thể thao Đông Bắc Bộ (Ấn Độ).[118][119]

Tham khảo

  1. ^ “Our Governor”. Chính phủ Tripura. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013.
  2. ^ “Profile of Chief Minister”. Chính phủ Tripura. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2012.
  3. ^ a ă “Tripura beats Kerala in literacy chart”. The Hindu. Truy cập 16 tháng 6 năm 2014.
  4. ^ “Bengali and Kokborok are the state/official language, English, Hindi, Manipuri and Chakma are other languages”. Trang điện tử chính thức chính phủ Tripura. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013.
  5. ^ a ă Das, J.K. (2001). “Chapter 5: old and new political process in realization of the rights of indigenous peoples (regarded as tribals) in Tripura”. Human rights and indigenous peoples. APH Publishing. tr. 208–9. ISBN 978-81-7648-243-1.
  6. ^ a ă Debbarma, Sukhendu (1996). Origin and growth of Christianity in Tripura: with special reference to the New Zealand Baptist Missionary Society, 1938–1988. Indus Publishing. tr. 20. ISBN 978-81-7387-038-5.
  7. ^ Prakash (ed.), Encyclopaedia of North-east India, vol. 5, 2007, tr. 2272
  8. ^ a ă Acharjya, Phanibhushan (1979). Tripura. Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông, Chính phủ Ấn Độ. tr. 1. ASIN B0006E4EQ6.
  9. ^ Singh, Upinder (2008). A history of ancient and early medieval India: from the stone age to the 12th century. Pearson Education India. tr. 77. ISBN 978-81-317-1677-9.
  10. ^ a ă Tripura district gazetteers. Vụ Xuất bản giáo dục, Bộ Giáo dục, Chính phủ Tripura. 1975.
  11. ^ Rahman, Syed Amanur; Verma, Balraj (5 tháng 8 năm 2006). The beautiful India – Tripura. Reference Press. tr. 9. ISBN 978-81-8405-026-4.
  12. ^ a ă â b c d đ “Hill Tippera – history” (GIF). The Imperial Gazetteer of India 13: 118. 1909. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011.
  13. ^ a ă Bera, Gautam Kumar (2010). The land of fourteen gods: ethno-cultural profile of Tripura. Mittal Publications. ISBN 978-81-8324-333-9.
  14. ^ Sen, Kali Prasanna biên tập (2003). Sri rajmala volume – IV (bằng Bengali). Viện nghiên cứu bộ lạc, Chính phủ Tripura. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2103.
  15. ^ Bhattacharyya, Apurba Chandra (1930). Progressive Tripura. Inter-India Publications. tr. 179. OCLC 16845189.
  16. ^ Sircar, D.C. (1979). Some epigraphical records of the mediaeval period from eastern India. Abhinav Publications. tr. 89. ISBN 978-81-7017-096-9.
  17. ^ “AMC at a glance”. Agartala Municipal Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2012.
  18. ^ a ă â b c d đ e ê g h “The state of human development” (PDF). Tripura human development report 2007. Chính phủ Tripura. 2007. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  19. ^ “Historical Background”. Chính phủ Tripura. Truy cập 13 tháng 6 năm 2014.
  20. ^ “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 3–6. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  21. ^ Census of India, 1961: Tripura. Văn phòng hộ tịch viên trưởng. Chính phủ Ấn Độ. 1967. tr. 980.
  22. ^ a ă Chakraborty, Kiran Sankar biên tập (2006). Entrepreneurship and small business development: with special reference to Tripura. Mittal Publications. ISBN 978-81-8324-125-0.
  23. ^ a ă Wolpert, Stanley A. (2000). A new history of India. Oxford University Press. tr. 390–1. ISBN 978-0-19-533756-3.
  24. ^ a ă Kumāra, Braja Bihārī (1 tháng 1 năm 2007). Problems of ethnicity in the North-East India. Concept Publishing Company. tr. 68–9. ISBN 978-81-8069-464-6. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2012.
  25. ^ Sahaya, D.N. (19 tháng 9 năm 2011). “How Tripura overcame insurgency”. The Hindu. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  26. ^ a ă “National highways and their length” (PDF). cục Quốc lộ Ấn Độ. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012.
  27. ^ a ă â b c d đ (2011) Geology and mineral resources of Manipur, Mizoram, Nagaland and Tripura , Cục đo đạc địa chất, Chính phủ Ấn Độ. (Report). Retrieved on 10 July 2012.
  28. ^ Cục Khí tượng Ấn Độ. Seismic zoning map [bản đồ]. Truy nhập 19 January 2013.
  29. ^ “Land, soil and climate”. Bộ Nông nghiệp, Chính phủ Tripura. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012.
  30. ^ a ă “Annual plan 2011–12” (PDF). Bộ Nông nghiệp, Chính phủ Tripura. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2012.
  31. ^ “Monthly and yearly quinquennial average rainfall in Tripura” (PDF). Statistical abstract of Tripura – 2007. Tổng cục Kinh tế & Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê), Chính phủ Tripura. tr. 13. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2012.
  32. ^ “Hazard profiles of Indian districts” (PDF). National capacity building project in disaster management. UNDP. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2006.
  33. ^ “Monthly mean maximum & minimum temperature and total rainfall based upon 1901–2000 data” (PDF). Cục Khí tượng Ấn Độ. tr. 6. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2013.
  34. ^ “State animals, birds, trees and flowers” (PDF). Viện động vật hoang dã Ấn Độ. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2012.
  35. ^ Wildlife Institute of India. Biogeographic classification of India: zones [bản đồ], 1 cm=100 km. Truy nhập 12 October 2012.
  36. ^ “Forest and tree resources in states and union territories: Tripura” (PDF). India state of forest report 2011. Cục nghiên cứu rừng, Bộ Môi trường & Rừng Ấn Độ. tr. 225–9. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2012.
  37. ^ “Biodiversity”. State of environment report of Tripura – 2002. Bộ Môi trường & Rừng Ấn Độ. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012.
  38. ^ a ă â b “Forest”. State of environment report of Tripura – 2002. Bộ Môi trường & Rừng Ấn Độ. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012.
  39. ^ a ă â Gupta, A.K. (tháng 12 năm 2000). “Shifting cultivation and conservation of biological diversity in Tripura, Northeast India”. Human Ecology 28 (4): 614–5. doi:10.1023/A:1026491831856. ISSN 0300-7839. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012.
  40. ^ Choudhury, A.U. (2010). The vanishing herds: the wild water buffalo. Gibbon Books & The Rhino Foundation, Guwahati, India, 184pp.
  41. ^ Choudhury, A.U. (2010). Recent ornithological records from Tripura, north-eastern India, with an annotated checklist. Indian Birds 6(3): 66–74.
  42. ^ a ă â “Protected area network in India” (PDF). Bộ Môi trường & Rừng Ấn Độ. tr. 28. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2012.
  43. ^ Choudhury, Anwaruddin (July–September 2009). “Gumti –Tripura’s remote IBA” (PDF). Mistnet (Mạng lưới Bảo tồn chim Ấn Độ) 10 (3): 7–8. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2013.
  44. ^ Choudhury, Anwaruddin (April–June 2008). “Rudrasagar – a potential IBA in Tripura in north-east India.” (PDF). Mistnet (Mạng lưới Bảo tồn chim Ấn Độ) 9 (2): 4–5. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2013.
  45. ^ “Four new districts, six subdivisions for Tripura”. CNN-IBN. 26 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012.
  46. ^ “New districts, sub-divisions and blocks for Tripura”. Yahoo News. 28 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2012.
  47. ^ a ă “Alphabetical list of towns and their population: Tripura” (PDF). Văn phòng Hộ tịch viên trưởng và chuyên viên điều tra nhân khẩu, Ấn Độ. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012.
  48. ^ “Tripura Legislative Assembly”. Legislative Bodies in India. Trung tâm thông tin quốc gia. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2007.
  49. ^ “About us”. Tripura High Court. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2013.
  50. ^ Sharma, K Sarojkumar; Das, Manosh (24 tháng 3 năm 2013). “New Chief Justices for Manipur, Meghalaya & Tripura high courts”. The Times of India. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013.
  51. ^ a ă “State and district administration: fifteenth report” (PDF). Ủy ban cải cách hành chính lần thứ nhì, Chính phủ Ấn Độ. 2009. tr. 267. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012.
  52. ^ “About TTAADC”. Hội đồng khu vực tự trị các khu vực bộ lạc Tripura. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012.
  53. ^ Bhattacharyya, Banikantha (1986). Tripura administration: the era of modernisation, 1870-1972. Mittal Publications. ASIN B0006ENGHO.
  54. ^ “Manik Sarkar-led CPI(M) wins Tripura Assembly elections for the fifth straight time”. CNN-IBN. 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. “The Left Front has been in power since 1978, barring one term during 1988 to 1993.”
  55. ^ Paul, Manas (24 tháng 12 năm 2010). “Tripura terror outfit suffers vertical split”. The Times of India. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2013. “ATTF was an off shoot of All Tripura Tribal Force formed during the Congress-TUJS coalition government-1988-1993 in Tripura”
  56. ^ “CPI(M) win in Tripura reflects re-emergence of Left Parties”. The Indian Express. 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013.
  57. ^ Singh, M.P.; Saxena, R. (2011). Indian politics constitutional foundations and institutional functioning. PHI Learning. tr. 294–5. ISBN 978-81-203-4447-1.
  58. ^ a ă â b Chadha, Vivek (2005). Low intensity conflicts in India: an analysis. Sage. ISBN 978-0-7619-3325-0.
  59. ^ Bhattacharya, Harihar (2004). “Communist party of India (Marxist): from rebellion to governance”. Trong Mitra, Subrata Kumar. Political Parties in South Asia. Greenwood Publishing Group. tr. 88–9. ISBN 978-0-275-96832-8.
  60. ^ Prakash, Col.Ved (2008). “”Secessionist Movements of Tripura” in Prakash”. Terrorism in India’s North-East A Gathering Storm (bằng tiếng Anh). New Delhi, Ấn Độ: Kalpaz Publications (xuất bản 8 tháng 8 năm 2008). ISBN 978-81-7835-660-0.
  61. ^ a ă â “Gross state domestic product of Tripura”. Công ty phát triển tài chính Đông Bắc Bộ. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012.(cần đăng ký mua)
  62. ^ a ă “Economic review of Tripura 2009–2010” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 9. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2012.
  63. ^ a ă “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 77–82. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  64. ^ a ă â “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 8–10. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  65. ^ a ă “Tripura at a glance – 2010” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. Section: Agriculture 2009–10. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2012.
  66. ^ a ă “The economy” (PDF). Tripura human development Report 2007. Chính phủ Tripura. 2007. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012.
  67. ^ “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 133–8. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  68. ^ a ă â “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 14–6. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  69. ^ “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 228–30. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  70. ^ a ă Ali, Syed Sajjad (5 tháng 3 năm 2013). “Bangladesh violence hits border trade in Tripura”. The Hindu. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013.
  71. ^ Dey, Supratim (9 tháng 2 năm 2011). “Tripura-Bangladesh border fencing to boost trade”. Business Standard. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.
  72. ^ a ă â b c d đ e ê “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 195–201. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  73. ^ a ă Bareh, Hamlet (2001). Encyclopaedia of North-East India: Tripura. Mittal Publications. ISBN 978-81-7099-795-5.
  74. ^ “Tripura – A brief profile”. Bộ Công thương, Chính phủ Tripura. Truy cập 23 tháng 6 năm 2014.
  75. ^ “How to reach Tripura by international bus service”. Công ty Phát triển Du lịch Tripura, Chính phủ Tripura. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013.
  76. ^ Paul, Manas (9 tháng 9 năm 2003). “Dhaka-Agartala bus service agreement signed”. The Times of India. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013.
  77. ^ “Progress of Akhaura-Agartala rail link to be reviewed on December 4”. The Economic Times. 26 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2013.
  78. ^ Saha, Arunadoy (2004). “Tripura”. Trong Murayama, Mayumi; Inoue, Kyoko; Hazarika, Sanjoy. Sub-regional relations in the eastern South Asia: with special focus on India’s North Eastern region (PDF). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.
  79. ^ Soondas, Anand (29 tháng 4 năm 2005). “Drug smuggling rampant on Tripura-Bangla border”. The Times of India. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.
  80. ^ a ă â “List of newspapers categorized by the state Government as per advertisement guidelines – 2009”. Bộ Thông tin, sự vụ Văn hóa và Du lịch, Chính phủ Tripura. 13 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2012.
  81. ^ a ă “Impact and penetration of mass media in North East and J and K regions” (PDF). Indian Institute of Mass Communication. Tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2012.
  82. ^ a ă “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 190–2. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  83. ^ Iqbal, Naveed (22 tháng 6 năm 2013). “President inaugurates ONGC Tripura power plant”. The Indian Express. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2013.
  84. ^ “Commissioning of Monarchak power project uncertain: NEEPCO”. The Economic Times. 11 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014.
  85. ^ a ă “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 193–5. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2012.
  86. ^ a ă â b “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 232–3. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  87. ^ a ă “Boards of secondary & senior secondary education in India”. Cục giáo dục trường học và biết chữ, Bộ Phát triển nhân lực, Chính phủ Ấn Độ. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012.
  88. ^ Singh, Y.K.; Nath, R. History of Indian education system. APH Publishing. tr. 174–5. ISBN 978-81-7648-932-4.
  89. ^ a ă “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 251. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. Các số liệu này dựa trên hệ thống đăng ký mẫu của Văn phòng Hộ tịch viên trưởng và chuyên viên điều tra nhân khẩu, Ấn Độ.
  90. ^ “Health care centres of Tripura”. Chính phủ Tripura. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2012.
  91. ^ a ă “Economic review of Tripura 2010–11” (PDF). Cục Kinh tế và Thống kê, Bộ Kế hoạch (Thống kê) Tripura. tr. 254–5. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  92. ^ a ă â International Institute for Population Sciences and Macro International (tháng 9 năm 2007). “National Family Health Survey (NFHS – 3), 2005–06” (PDF). Bộ Y tế và Phúc lợi gia đình, Chính phủ Ấn Độ. tr. 438. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2012.
  93. ^ “Census population” (PDF). Census of India. Ministry of Finance India. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008.
  94. ^ a ă â “Provisional population totals paper 2 of 2011: Tripura” (PDF). Văn phòng Hộ tịch viên trưởng và chuyên viên điều tra nhân khẩu, Ấn Độ. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  95. ^ “Provisional population totals at a glance figure: 2011 – Tripura”. Văn phòng Hộ tịch viên trưởng và chuyên viên điều tra nhân khẩu, Ấn Độ. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  96. ^ a ă â b “Tripura data highlights: the scheduled tribes” (PDF). Văn phòng Hộ tịch viên trưởng và chuyên viên điều tra nhân khẩu, Ấn Độ. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  97. ^ “State wise scheduled tribes: Tripura” (PDF). Bộ Sự vụ bộ lạc, Chính phủ Ấn Độ. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  98. ^ “Report of the commissioner for linguistic minorities: 47th report (July 2008 to June 2010)” (PDF). Bộ Sự vụ dân tộc thiểu số, Chính phủ Ấn Độ. 2011. tr. 116–21. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012.
  99. ^ “Census of India – Socio-cultural aspects”. Bộ Nội vụ, Chính phủ Ấn Độ. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011.
  100. ^ “HDI and GDI estimates for India and the states/UTs: results and analysis” (PDF). Gendering human development indices: recasting the gender development index and gender empowerment measure for India. Bộ Phát triển Phụ nữ và Thiếu nhi Ấn Độ. 2009. tr. 30–2. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2012.
  101. ^ a ă “Population by religious communities”. Văn phòng Hộ tịch viên trưởng và chuyên viên điều tra nhân khẩu, Ấn Độ. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.
  102. ^ a ă Sircar, Kaushik (2006). The consumer in the north-east: new vistas for marketing. Pearson Education India. ISBN 978-81-317-0023-5.
  103. ^ Das, J.K (2001). Human rights and indigenous peoples. APH Publishing. tr. 215. ISBN 978-81-7648-243-1.
  104. ^ a ă â Chaudhury, Saroj (2009). “Tripura: a composite culture”. Glimpses from the North-East. National Knowledge Commission. tr. 55–61. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012.
  105. ^ a ă â Paul, Manas (19 tháng 4 năm 2010). The eyewitness: tales from Tripura’s ethnic conflict. Lancer Publishers. tr. 104. ISBN 978-1-935501-15-2.
  106. ^ Boland-Crewe, Tara; Lea, David (15 tháng 11 năm 2002). The territories and states of India. Psychology Press. tr. 238. ISBN 978-1-85743-148-3.
  107. ^ Prakash (ed.), Encyclopaedia of North-east India, vol. 5, 2007, tr. 2268
  108. ^ “Handicrafts”. Chính phủ Tripura. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012.
  109. ^ a ă â “The folk dance and music of Tripura” (PDF). Hội đồng khu vực tự trị các khu vực bộ lạc Tripura. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012.
  110. ^ Hazarika, Sanjoy (2000). Rites of passage: border crossings, imagined homelands, India’s east and Bangladesh. Penguin Books India. tr. 169. ISBN 978-0-14-100422-8.
  111. ^ Ganti, Tejaswini (24 tháng 8 năm 2004). Bollywood: a guidebook to popular Hindi cinema. Psychology Press. tr. 109. ISBN 978-0-415-28853-8.
  112. ^ Sharma, A.P. (8 tháng 5 năm 2010). “Tripura festival”. Famous festivals of India. Pinnacle Technology. ISBN 978-1-61820-288-8.
  113. ^ “Fairs and festivals”. Chính phủ Tripura. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012.
  114. ^ “Tripura sculptures, rock images speak of glorious past”. Deccan Herald. 25 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2012.
  115. ^ Chauley, G. C. (1 tháng 9 năm 2007). Art treasures of Unakoti, Tripura. Agam Kala Prakashan. ISBN 978-81-7320-066-3.
  116. ^ North East India History Association. Session (2003). Proceedings of North East India History Association. The Association. tr. 13.
  117. ^ Chaudhuri, Saroj; Chaudhuri, Bikach (1983). Glimpses of Tripura 1. Tripura Darpan Prakashani. tr. 5. ASIN B0000CQFES.
  118. ^ “34th National Games medal tally”. Ranchi Express. 2011. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012.
  119. ^ “Northeastern games”. Cục Thể thao Ấn Độ. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012.

Đọc thêm

(tiếng Anh)

  • Gan-Chaudhuri, Jagadis (1 tháng 1 năm 1985). An anthology of Tripura. Inter-India Publications. OCLC 568730389.
  • Roychoudhury, Nalini Ranjan (1977). Tripura through the ages: a short history of Tripura from the earliest times to 1947 A.D. Bureau of Research & Publications on Tripura. OCLC 4497205.
  • Bhattacharjee, Pravas Ranjan (1993). Economic transition in Tripura. Vikas Pub. House. ISBN 978-0-7069-7171-2.
  • Palit, Projit Kumar (1 tháng 1 năm 2004). History of religion in Tripura. Kaveri Books. ISBN 978-81-7479-064-4.
  • DebBarma, Chandramani (2006). Glory of Tripura civilisation: history of Tripura with Kok Borok names of the kings. Parul Prakashani. OCLC 68193115.

Liên kết ngoài

Biểu đồ gió Sylhet,  Bangladesh Assam Biểu đồ gió
Chittagong,  Bangladesh B Mizoram
T    Tripura    Đ
N
Chittagong,  Bangladesh

Mikhail Sergeyevich Gorbachyov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mikhail Sergeyevich Gorbachyov
Михаил Горбачёв.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 11 tháng 3 năm 1985 – 25 tháng 12 năm 1991
Tiền nhiệm Konstantin Ustinovich Chernenko
Tổng bí thư Đảng CS Liên Xô
Kế nhiệm Vladimir Antonovich Ivashko
Tổng bí thư Đảng CS Liên Xô
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Liên xô
Sinh 2 tháng 3, 1931 (83 tuổi)
Stavropol, Liên bang Xô viết
Vợ Raisa Maksimovna Gorbachyova

(phiên âm tiếng Việt: Mi-kha-in Goóc-ba-chốp; tiếng Nga: Михаи́л Серге́евич Горбачёв, Mihail Sergeevič Gorbačëv; IPA: [mʲɪxʌˈil sʲɪrˈgʲejɪvʲɪʨ gərbʌˈʨof], thường được Anh hoá thành Gorbachev; sinh ngày 2 tháng 3, 1931) từng là lãnh đạo Liên bang Xô viết từ năm 1985 tới 1991. Những nỗ lực thực hiện cải cách của ông giúp chấm dứt Chiến tranh Lạnh, nhưng cũng góp phần kết thúc quyền uy tối cao của Đảng Cộng sản Liên xô (CPSU) và giải thể Liên bang Xô viết. Ông đã được trao Giải Nobel Hoà bình năm 1990.

Tuổi trẻ và nghề nghiệp chính trị

Mikhail Sergeyevich Gorbachyov sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Privolnoye gần Stavropol. Là con trai của một công nhân cơ khí nông nghiệp Nga Alexi Gorbachov và Maria Pantelyeva, ông trải qua thời thơ ấu khó khăn trong thời gian cầm quyền của lãnh tụ Iosif Vissarionovich Stalin; ông bà Gorbachyov bị trục xuất vì là những nông dân giàu có, thời ấy bị gọi là kulaks. Dù lý lịch không hoàn hảo, ông luôn tỏ ra xuất sắc trong lao động và học tập. Ông được coi là học sinh thông minh nhất lớp, đặc biệt trong môn lịch sửtoán học. Sau khi ra trường, ông cùng lao động và giúp gia đình có được sản lượng thu hoạch cao kỷ lục bên trong hợp tác xã. Nhờ thành tích này, ông được trao Huy chương lao động Cờ Đỏ khi mới 17 tuổi. Khá hiếm người ở độ tuổi ấy từng được vinh dự này. Chắc chắn rằng giải thưởng cùng với trí thông minh của ông đã giúp ông được vào học ngành luật tại Đại học Quốc gia Moskva. Cũng cần nhớ rằng để vào được một đại học danh tiếng như vậy, cần phải có khá nhiều ước vọng chính trị cũng như khả năng học tập thực sự. Trong thời gian sống tại Moskva, ông gặp người vợ tương lai, Raisa. Họ làm đám cưới tháng 9 năm 1953 và trở về quê hương của Gorbachyov ở Stavropol, phía nam nước Nga, sau khi ông tốt nghiệp năm 1955.
Gorbachyov gia nhập Đảng Cộng sản Liên xô năm 1952 khi 21 tuổi. Năm 1966, ở độ tuổi 35, ông được Học viện nông nghiệp cấp bằng nông học-kinh tế học. Ông bắt đầu thăng tiến nhanh chóng trên con đường sự nghiệp, năm 1970 ông được chỉ định vào chức Thư ký thứ nhất phụ trách nông nghiệp và năm sau trở thành thành viên Ủy ban trung ương. Năm 1972, ông dẫn đầu một đoàn đại biểu Xô viết tới Bỉ và hai năm sau đó, năm 1974 trở thành đại biểu trong Xô viết tối cao, và Chủ tịch Ủy ban thường trực phụ trách các vấn đề thanh niên.
Năm 1979, Gorbachyov được vào Bộ chính trị. Ở đó, ông được Yuri Vladimirovich Andropov, lãnh đạo KGB, một người cũng xuất thân từ vùng Stavropol đỡ đầu và tiếp tục thăng tiến trong khoảng thời gian ngắn Andropov nắm quyền lãnh đạo đảng trước khi Andropov mất năm 1984. Chịu trách nhiệm quản lý nhân sự, cùng với Andropov, ông đã thay đổi 20% quan chức cao cấp, các bộ trưởng trong chính phủ cũng như các thống đốc địa phương bằng những người trẻ tuổi. Trong thời gian này Grigory Vasilyevich Romanov, Nikolai Ivanovich RyzkovYegor Kuzmich Ligachev bắt đầu được cất nhắc. Ryzhkov và Ligachev là những đồng minh thân cận của Gorbachyov, Ryzhkov về vấn đề kinh tế, Ligachev phụ trách nhân sự. Ông cũng có quan hệ thân thiết với Konstantin Ustinovich Chernenko, người thay thế Andropov khi ông này còn giữ chức Thư ký thứ hai[1].
Các chức vụ mới bên trong Đảng Cộng sản Liên xô khiến ông có nhiều cơ hội đi ra nước ngoài và nó đã gây ảnh hưởng to lớn tới những quan điểm chính trị, xã hội của ông sau này khi lãnh đạo đất nước. Năm 1975, ông dẫn đầu một phái đoàn tới Tây Đức, và vào năm 1983 dẫn đầu một đoàn đại biểu Xô viết tới Canada gặp Thủ tướng Pierre Trudeau và các thành viên Hạ viện cũng như Thượng viện Canada. Năm 1984, ông tới Anh, tại đây ông đã gặp Thủ tướng Margaret Thatcher.

Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô

Gorbachev đối thoại trực tiếp với Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan

Ngay khi Chernenko qua đời, Mikhail Sergeyevich Gorbachyov, khi ấy 54 tuổi, được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 11 tháng 3 năm 1985. Ông trở thành lãnh tụ đầu tiên của đảng sinh ra sau cuộc Cách mạng Nga năm 1917.
Trên thực tế là người nắm quyền lãnh đạo Liên bang Xô viết, ông đã tìm cách cải cách tình trạng trì trệ của đảng Cộng sản cũng như của nền kinh tế bằng cách đưa ra các mô hình glasnost (“mở cửa”), perestroika (“cải tổ”) và uskoreniye (“tăng tốc”, phát triển kinh tế), những chương trình này bắt đầu được đưa ra tại Đại hội lần thứ 27 Đảng Cộng sản Liên Xô tháng 2 năm 1986.

Cải cách trong nước

Trong nước, Gorbachyov áp dụng các cải cách kinh tế mà ông hy vọng qua đó cải thiện đời sống nhân dân, năng suất sản xuất của công nhân qua chương trình perestroika của ông. Tuy nhiên, nhiều biện pháp cải cách của ông bị những thành viên lãnh đạo cộng sản bên trong chính phủ Xô viết vào thời điểm ấy coi là cực đoan.
Năm 1985, Gorbachyov thông báo rằng kinh tế Xô viết đang bị sa lầy và rằng việc tái tổ chức là cần thiết. Ban đầu, các cải cách của ông được gọi là “uskoreniye” (tăng tốc) nhưng sau này thuật ngữ “perestroika” (cải tổ) trở nên phổ biến hơn.
Gorbachyov không phải được tự do hành động. Dù kỷ nguyên Brezhnev thường được coi là một thời kỳ đình trệ kinh tế, một số thử nghiệm kinh tế (đặc biệt trong việc tổ chức các doanh nghiệp, và liên doanh với phương Tây) cũng đã diễn ra. Một số ý tưởng của những nhà cải cách bị các giám đốc doanh nghiệp có tư tưởng kỹ trị, không đồng tình, họ thường sử dụng các cơ sở của Liên đoàn Cộng sản trẻ làm nơi bàn bạc. Cái gọi là “Thế hệ Komsomol” là những người dễ tiếp thu tư tưởng của Gorbachyov nhất, họ cũng là những người hình thành nên thế hệ nhà kinh doanh, nhà chính trị thời hậu Xô viết, đặc biệt tại Các nước vùng Baltic.
Cải cách đầu tiên được đưa ra thời Gorbachyov là cải cách rượu năm 1985, có mục đích ngăn chặn chứng nghiện rượu đang ngày càng phát triển ở Liên bang Xô viết. Giá các loại vodka, rượubia tăng lên, và việc mua bán chúng cũng bị ngăn cấm. Những ai uống rượu tại nơi làm việc cũng như nơi công cộng sẽ bị truy tố. Uống rượu bia trên tàu tốc hành cũng bị cấm. Nhiều nhà máy rượu vang nổi tiếng bị đóng cửa. Những cảnh uống rượu bị cắt khỏi các bộ phim. Cuộc cải cách không mang lại một hiệu quả rõ rệt nào đối với chứng nghiện rượu trong nước, nhưng về mặt kinh tế, nó là một cú đánh mạnh vào ngân khố quốc gia (theo Alexander Nikolaevich Yakovlev con số thiệt hại khoảng 100 tỷ rúp) vì việc sản xuất rượu đã được chuyển sang cho nền kinh tế chợ đen. Cải cách rượu là một trong những hành động đầu tiên kéo theo một chuỗi sự kiện chỉ chấm dứt cùng với sự chấm dứt của Liên bang Xô viết và sự khủng hoảng kinh tế sâu sắc bên trong CIS mới được thành lập sáu năm sau đó[cần dẫn nguồn].
Luật Hợp tác xã được ban hành tháng 5 năm 1988 có lẽ là cải cách cấp tiến nhất trong số những cải cách kinh tế thời đầu kỷ nguyên Gorbachyov. Lần đầu tiên kể từ thời Chính sách kinh tế mới của Vladimir Ilyich Lenin, luật cho phép người dân sở hữu các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực dịch vụ, sản xuất và thương mại với nước ngoài. Ban đầu luật áp dụng mức thuế cao và hạn chế doanh nghiệp sử dụng nhân công, nhưng sau này nó đã được sửa đổi nhằm tránh cản trở hoạt động của lĩnh vực tư nhân. Nhờ điều luật này, các nhà hàng, cửa hiệu, các nhà máy sản xuất đã phát triển trở thành một thành phần trong xã hội Xô viết. Cần lưu ý rằng một số nước cộng hòa thuộc liên bang không cần quan tâm tới các quy định hạn chế của luật. Ví dụ, tại Estonia, các hợp tác xã được phép cung cấp hàng hóa cho người nước ngoài và được phép quan hệ làm ăn với các công ty nước ngoài.
Các tổ chức công nghiệp rộng lớn trên “Toàn Liên bang” bắt đầu được tái cơ cấu. Ví dụ, Aeroflot được chia thành một số doanh nghiệp độc lập, một số doanh nghiệp đó trở thành hạt nhân hình thành các công ty hàng không tương lai. Các doanh nghiệp tự chủ mới xuất hiện đó được khuyến khích tìm kiếm đầu tư nước ngoài để tái cơ cấu.
Việc Gorbachyov đưa ra chương trình mở cửa khiến người dân có nhiều quyền tự do hơn, như tự do ngôn luận. Đây là một thay đổi căn bản, bởi vị việc giám sát ngôn luận và đàn áp những kẻ chỉ trích chính phủ trước kia là một chính sách căn bản của hệ thống Xô viết. Báo chí ít bị kiểm soát hơn, và hàng ngàn tù nhân chính trị cũng như những nhân vật bất đồng được trả tự do. Mục đích của Gorbachyov khi thực hiện chương trình mở cửa là muốn gây áp lực tới những thành viên bảo thủ bên trong Đảng Cộng sản Liên xô, những người phản đối các chính sách tái cơ cấu kinh tế của ông, và ông cũng hy vọng rằng thông qua những biện pháp tự do hoá, các cuộc tranh luận, người dân Xô viết sẽ ủng hộ các sáng kiến cải cách của ông.
Tháng 1 năm 1987, Gorbachyov kêu gọi dân chủ hoá: đưa ra các yếu tố dân chủ như các cuộc bầu cử nhiều ứng cử viên bên trong hệ thống chính trị Xô viết. Tháng 6 năm 1988, tại Hội nghị lần thứ hai bảy của đảng, Gorbachyov đưa ra các cải cách căn bản nhằm giảm sự kiểm soát của đảng đối với các cơ quan chính phủ. Tháng 12 năm 1988, Xô viết tối cao đồng ý thành lập Đại hội các đại biểu do nhân dân ủy quyền, với những thay đổi hiến pháp để biến tổ chức này trở thành một cơ quan lập pháp. Các cuộc bầu cử Đại hội được tổ chức trên toàn Liên bang Xô viết trong tháng 3 và tháng 4 năm 1989. Ngày 15 tháng 3 năm 1990, Gorbachyov được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Liên bang Xô viết.

Truyền bá “Tư tưởng mới”

Trên trường quốc tế, Gorbachyov tìm cách cải thiện các quan hệ và thương mại với phương Tây. Ông thiết lập những mối quan hệ thân thiết với nhiều nhà lãnh đạo phương Tây, như Thủ tướng Đức Helmut Kohl, Tổng thống Hoa Kỳ Ronald ReaganThủ tướng Anh Margaret Thatcher – người đã đưa ra câu nói nổi tiếng: “Tôi thích ông Gorbachyov – chúng tôi có thể làm việc với nhau.”[2]
Ngày 11 tháng 10 năm 1986, Gorbachyov và Reagan gặp gỡ tại Reykjavík, Iceland đàm phán về việc giảm trừ vũ khí hạt nhân tầm trung ở Châu Âu. Trước sự ngạc nhiên khôn xiết của phái đoàn hai bên, hai người đã đồng ý trên nguyên tắc việc dỡ bỏ các hệ thống vũ khí hạt nhân tầm trung khỏi Châu Âu và cân bằng các giới hạn toàn cầu ở mức 100 đầu đạn vũ khí hạt nhân tầm trung. Thỏa thuận này được cụ thể hóa bằng việc ký kết Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 1987.
Tháng 2 năm 1988, Gorbachyov thông báo việc rút các lực lượng Xô viết ra khỏi Afghanistan. Việc rút quân hoàn thành năm sau đó, dù cuộc nội chiến vẫn tiếp diễn khi quân Mujahedin lật đổ chính quyền Najibullah thân Xô viết. Ước tính 15.000 lính Xô viết đã thiệt mạng trong khoảng thời gian từ 1979 tới 1989 trong cuộc xung đột này. (Xem Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan)
Cũng trong năm 1988, Gorbachyov thông báo rằng Liên bang Xô viết sẽ từ bỏ Học thuyết Brezhnev, và cho phép các quốc gia khối Đông Âu tự quyết các vấn đề bên trong của mình. Được người phát ngôn Bộ Ngoại giao chính quyền Gorbachyov, Gennadi Gerasimov, gọi đùa là “Học thuyết Sinatra“, chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước thuộc khối Warszawa cho thấy những cải cách trọng yếu nhất trong chính sách đối ngoại của Gorbachyov. Việc Moskva từ bỏ Học thuyết Brezhnev dẫn tới một làn sóng cách mạng tại Đông Âu trong suốt năm 1989, dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Trừ România, các cuộc cách mạng chống lại các chính quyền thân Xô viết đều diễn ra trong hòa bình. (Xem Các cuộc cách mạng năm 1989)
Việc Xô viết nới lỏng kiểm soát Đông Âu đã hoàn toàn chấm dứt Chiến tranh Lạnh, và vì thế, Gorbachyov được trao Giải Nobel Hòa bình ngày 15 tháng 10, 1990.

Đảo chính và sụp đổ

Trong khi những sáng kiến chính trị của Gorbachyov mang lại hiệu quả tốt cho tự dodân chủ tại Liên bang Xô viết và Đông Âu, thì chính sách kinh tế của chính phủ này lại dần đưa đất nước tới bờ vực thảm hoạ. Tới cuối thập niên 1980, tình trạng khan hiếm các loại thực phẩm chủ yếu (thịt, đường) ở mức nghiêm trọng dẫn tới việc tái lập hệ thống phân phối thời chiến tranh sử dụng tem phiếu hạn chế mỗi người dân chỉ được tiêu thụ sản phẩm ở một mức nào đó mỗi tháng. So với năm 1985, thâm hụt ngân sách nhà nước tăng từ 0 lên 109 tỉ rúp; dự trữ vàng giảm từ 2.000 xuống 200 tấn; và nợ nước ngoài tăng từ 0 tới 120 tỷ Đô la.
Hơn nữa, quá trình dân chủ hóa Liên bang Xô viết và Đông Âu đã làm xói mòn nghiêm trọng quyền lực của Đảng Cộng sản Liên xô và chính Gorbachyov. Việc Gorbachyov nới lỏng hệ thống kiểm duyệt và những nỗ lực của ông nhằm mở cửa chính trị hơn nữa đã mang lại những hiệu ứng khó lường như sự phục hồi chủ nghĩa quốc gia từ lâu từng bị đàn áp và tình cảm chống Nga bên trong các nước Cộng hoà. Những lời kêu gọi giành lấy quy chế độc lập rộng lớn hơn nữa khỏi Moskva ngày càng tăng, đặc biệt tại Các nước cộng hòa vùng Baltic gồm Estonia, LitvaLatvia, những nước đã bị Stalin sáp nhập vào Liên bang Xô viết năm 1940. Những phong trào quốc gia bên trong các nước Cộng hòa như Gruzia, Ukraina, ArmeniaAzerbaijan cũng không ngừng lớn mạnh. Gorbachyov đã tạo ra một lực lượng sau này chính là kẻ tiêu diệt Liên bang Xô viết.
Ngày 10 tháng 1 năm 1991 Mikhail Sergeyevich Gorbachyov đưa ra tối hậu thư yêu cầu Hội đồng tối cao Litva tái lập tính pháp lý của hiến pháp Xô viết tại nước này và thu hồi mọi đạo luật không hợp hiến. Ngày hôm sau Gorbachyov cho phép quân đội Xô viết tìm cách lật đổ chính phủ Litva. Hậu quả của sự kiện này, ít nhất 14 thường dân thiệt mạng và hơn 600 người bị thương trong các ngày 11-13 tháng 1 năm 1991 tại Vilnius, Litva. Phản ứng mạnh mẽ của phương Tây và các hoạt động của các lực lượng dân chủ Nga khiến tổng thống và chính phủ Liên bang Xô viết rơi vào tình thế khó xử và tin tức về những hành động ủng hộ Litva từ các quốc gia dân chủ phương Tây bắt đầu xuất hiện.
Hành động của Gorbachyov nhằm ngăn cản chủ nghĩa li khai từ các nước cộng hòa là đưa ra một hiệp ước liên bang mới với mục tiêu thành lập một nhà nước liên bang tự nguyện và dân chủ hóa thực sự. Hiệp ước liên bang mới được các nước cộng hòa vùng Trung Á, những nước cần tới sức mạnh kinh tế và các thị trường của Liên bang cho sự phát triển thịnh vượng của mình, ủng hộ mạnh mẽ. Tuy nhiên, những nhà cải cách cấp tiến hơn như Tổng thống Nga Boris Nikolayevich Yeltsin, ngày càng tin tưởng rằng sự chuyển tiếp nhanh chóng sang một nền kinh tế thị trường là cần thiết và sẵn sàng chấp nhận sự tan rã của Liên bang Xô viết nếu điều đó là cần thiết để hoàn thành các mục tiêu của họ.
Trái với sự thờ ơ của những người theo phe cải cách với Hiệp ước liên bang mới, những người cộng sản cứng rắn, vẫn là một lực lượng mạnh bên trong đảng cộng sản và quân đội, hoàn toàn phản đối bất kỳ điều gì có thể dẫn tới sự tan rã đất nước Xô viết. Buổi tối diễn ra lễ ký kết, những người thuộc phe cứng rắn đã hành động.
Phe cứng rắn bên trong bộ máy lãnh đạo Xô viết tiến hành Vụ đảo chính tháng 8 năm 1991 trong nỗ lực nhằm loại bỏ Gorbachev khỏi cơ cấu quyền lực và ngăn chặn sự ký kết hiệp ước liên bang. Trong lúc ấy, Gorbachyov bị quản thúc ba ngày (19 đến 21 tháng 8) trong một ngôi nhà nông thônKrym trước khi được trả tự do và thu hồi quyền lực. Tuy nhiên, ngay khi trở về, Gorbachyov thấy rằng cả nhà nước liên bang lẫn các cơ cấu quyền lực Nga đều không còn chú ý tới các mệnh lệnh của ông và quyền lực thật sự đã rơi vào tay Yeltsin, người đã tiêu diệt cuộc đảo chính. Hơn nữa, Gorbachyov bị buộc phải hạ bệ một số lớn các thành viên bên trong Bộ chính trị của mình, và trong nhiều trường hợp, bắt giữ họ. Những cuộc bắt giữ với lý do phản bội đó gồm cả “Bè lũ tám tên” lãnh đạo cuộc đảo chính.
Gorbachyov đã có ý định giữ Đảng Cộng sản Liên xô là một đảng thống nhất nhưng đưa nó đi theo con đường dân chủ xã hội. Những mâu thuẫn vốn có của cách tiếp cận này – được Lenin ca ngợi, theo hình mẫu xã hội của Thụy Điển và tìm cách buộc cách nước vùng Baltic phải nằm trong Liên bang bằng sức mạnh vũ lực – rất khó thực hiện. Nhưng khi Đảng Cộng sản Liên xô bị đặt ra ngoài vòng pháp luật sau vụ đảo chính tháng 8, Gorbachyov bị bỏ lại, không còn chút quyền lực nào đối với các lực lượng vũ trang. Cuối cùng Yeltsin giành được tín nhiệm của quân đội với những lời hứa về tiền bạc. Sau chót Gorbachyov từ chức ngày 25 tháng 12 năm 1991 khi Liên bang Xô viết chính thức tan rã.

Hoạt động chính trị sau khi từ chức

Gorbachyov đã thành lập Quỹ Gorbachyov[3] năm 1992. Năm 1993, ông cũng thành lập Chữ thập xanh quốc tế, cùng với tổ chức này ông là một trong ba nhà tài trợ cho Hiến chương Trái đất. Ông cũng là một thành viên Câu lạc bộ Rome.
Năm 1995 Gorbachyov được Đại học Durham trao bằng Tiến sĩ danh dự vì đóng góp của mình cho “sự nghiệp khoan dung chính trị và chấm dứt xung đột kiểu chiến tranh lạnh”[4].
Năm 1996, Gorbachyov chạy đua chức Tổng thống Nga nhưng chỉ nhận được khoảng 1% phiếu bầu, có lẽ vì sự thù ghét ông sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ. Trong khi đi vận động tranh cử, ông đã bị một người đàn ông vô danh đấm vào mặt.
Năm 1997, Gorbachyov đóng vai trong một đoạn phim quảng cáo Pizza Hut tại Hoa Kỳ để kiếm tiền cho Perestroika Archives.
Ngày 26 tháng 11 năm 2001, Gorbachyov thành lập Đảng dân chủ xã hội Nga— là một liên minh giữa nhiều đảng dân chủ xã hội ở Nga. Ông đã từ chức lãnh đạo đảng tháng 5 năm 2004 sau khi có bất đồng với chủ tịch đảng về đường lối chạy đua trong cuộc bầu cử tháng 12 năm 2003.
Đầu năm 2004, Gorbachyov đăng ký nhãn hiệu loại rượu vang đỏ mang nhãn cái bớt của mình, sau khi một công ty vodka đưa cái bớt này lên nhãn một trong các loại sản phẩm của mình để lợi dụng sự nổi tiếng của nó. Công ty này hiện không còn sử dụng mác đó nữa[5].
Tháng 6 năm 2004, Gorbachyov đại diện cho nước Nga tại lễ tang Ronald Reagan.
Tháng 9 năm 2004, sau khi quân du kích Chechen tấn công nước Nga, Tổng thống Vladimir Vladimirovich Putin đưa ra sáng kiến thay thế các cuộc bầu cử thống đốc địa phương bằng một hệ thống chỉ định trực tiếp từ tổng thống và được hội đồng lập pháp địa phương thông qua. Gorbachyov cùng với Yeltsin chỉ trích hành động của Putin, coi đó là một bước rời xa con đường dân chủ[6].
Năm 2005, Gorbachyov được trao giải thưởng Point Alpha cho vai trò của mình trong việc ủng hộ thống nhất nước Đức. Ông cũng được Đại học Münster trao bằng Tiến sĩ danh dự[7] Hiện nay ông là hội viên Câu lạc bộ Madrid.

Di sản

Ở phương Tây Gorbachyov thường có thiện cảm như là người góp phần chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Ví dụ, tại Đức, ông được hoan nghênh vì đã đồng ý để sự thống nhất nước Đức diễn ra. Tuy nhiên, tại Nga ông mang tiếng xấu vì bị coi là kẻ làm sụp đổ đất nước và chịu trách nhiệm về cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra sau đó. Tuy vậy, những cuộc điều tra cho thấy phần lớn người Nga hài lòng với những mục tiêu hướng tới các cá nhân của perestroika, di sản lập pháp chính của Gorbachyov, và sự tự do mang lại từ quá trình đó.
Chiến tranh tại Afghanistan đã bắt đầu từ cuối thập niên 1970, làm tiêu mòn các nguồn tài nguyên Xô viết. Cuộc chiến này và nhiều phong trào cách mạng tại các nước vệ tinh của Xô viết (được trợ cấp nhiều từ các chiến dịch bí mật của phương Tây), ví dụ nổi bật nhất là Ba Lan và Afghanistan, khiến Liên bang Xô viết phải chi ra những khoản tiền lớn nhằm giữ ổn định trật tự và giúp các chính phủ tại đó hoạt động. Một số người cho rằng cuộc chạy đua vũ trang của phương Tây cũng khiến Liên Xô phải chịu những chi phí lớn tới mức, khi cộng thêm các chi phí cho Afghanistan, họ không còn khả năng chi trả nữa. Hạ tầng kinh tế Xô viết rơi vào tình trạng suy sụp đặc biệt nghiêm trọng năm 1985 (khi Gorbachyov lên nắm quyền) và các sự kiện đó có ảnh hưởng to lớn tới những quyết định của Gorbachyov về tự do hoá. Cuối cùng, những nỗ lực nhằm “mở cửa” Liên bang Xô viết là quá chậm chạp, các nước vệ tinh cũng phải chịu một phần trách nhiệm, dẫn tới sự chấm dứt tồn tại của một giai đoạn đối đầu dài 50 năm giữa Đông và Tây.
Trái lại, những người khác, đặc biệt những người sống ở Liên Xô cũ, tin rằng Liên bang Xô viết không phải ở tình trạng khủng hoảng kinh tế tồi tệ như đã từng được tuyên bố và coi Gorbachyov là một chính trị gia kém cỏi, người đã đưa ra những cải cách sai lầm. Ông bị coi là phải chịu trách nhiệm cho sự tan rã của Liên Xô, dẫn đến sự hỗn loạn kinh tế và chính trị ở Nga và không gian hậu Xô viết trong những năm 1990.
Trong những năm cuối đời, Lazar Moiseyevich Kaganovich đã nói trong một cuộc phỏng vấn rằng thời kỳ cầm quyền của Gorbachyov chính là sự phá hủy trực tiếp đất nước. Năm 2012, tổ chức Liên minh các công dân Nga còn nộp đơn kiện Gorbachyov với tội danh Phản bội Tổ quốc.[8]

Chuyện ngoài lề

  • Ở phương Tây, Gorbachyov thường được gọi là “Gorby”, một phần bởi vì mọi người cho rằng ông kém phần mộc mạc so với những người tiền nhiệm.
  • Khi viết trong tiếng Anh, chữ ё trong tên ông thường được thay bằng chữ е thành Gorbachev dù nó thường được đánh vần thành Gorbachyov.
  • Năm 1987, Gorbachyov thấy rằng các chính sách tự do hoá glasnostperestroika rất giống với các tư tưởng của Alexander Dubček trong cuốn “Chủ nghĩa xã hội mang khuôn mặt người”. Khi được hỏi cái gì là điều khác biệt giữa Mùa xuân Praha và các cuộc cải cách của ông, Gorbachev đã trả lời, “Mười chín năm”[9].
  • Năm 1989, trong một chuyến viếng thăm chính thức tới Trung Quốc khi Sự kiện Thiên An Môn đang diễn ra, một thời gian ngắn trước khi thiết quân luật được ban hành ở Bắc Kinh, Gorbachyov được hỏi về ý kiến của ông về Vạn lý trường thành: “Đó là một công trình đẹp”, ông nói, “nhưng đã có quá nhiều bức tường giữa con người”. Một nhà báo hỏi, “Ông có muốn Bức tường Berlin bị phá bỏ?” Gorbachyov trả lời rất nghiêm túc, “Tại sao không?”
  • Gorbachyov được xếp hạng #95 trong Danh sách những khuôn mặt có ảnh hưởng nhất trong lịch sử của Michael H. Hart.
  • Gorbachyov hiện đang sống tại Bielefeld.

Tình cảm tôn giáo

Khi ra đời Mikhail Sergeyevich Gorbachyov chịu rửa tội của Nhà thờ Chính Thống giáo Nga nhưng ông là người vô thần. Ông đã kêu gọi đưa ra các bộ luật tự do tôn giáo tại Liên Xô cũ.
M. S. Gorbachyov cũng thể hiện một số quan điểm phiếm thần khi nói, trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Resurgence:

Thiên nhiên là vị thánh của tôi.

Cuối buổi phỏng vấn tháng 11 năm 1996 trên CSPAN’s Booknotes, Gorbachyov đã miêu tả các kế hoạch của mình cho những cuốn sách trong tương lai. Ông đã nói về Chúa như sau:

“Tôi không biết Chúa sẽ trao cho mình bao nhiêu tuổi, [hay] các kế hoạch của Chúa như thế nào.

Vết chàm

Gorbachyov là người nổi tiếng nhất thời hiện đại có vết chàm nhìn thấy được. Vết bớt màu đỏ trên cái trán hói của ông là nguồn gốc nhiều ý châm biếm trong giới phê bình và biếm hoạ. (Trong số những bức ảnh chính thức của ông ít nhất có một bức với vết chàm bị xóa đi.) Trái với một số dư luận, nó không phải là rosacea. Vết bớt này và hai ngón tay cụt trên bàn tay trái của Yeltsin đã được một số người (bất mãn vì sự cầm quyền của họ) so sánh với một đoạn trong Kinh thánh nói rằng Satan sẽ đánh dấu những đứa con của mình trên trán và trên bàn tay.

Tham khảo

  1. ^ Roxburgh, Angus (1991). The Second Russian Revolution: The Struggle for Power in the Kremlin. Luân Đôn: BBC Books.
  2. ^ “Gorbachev becomes Soviet leader”. BBC News. Tháng ba năm 1985. Truy cập 22 tháng 5. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |tiếng= (trợ giúp)
  3. ^ Gorbachev Foundation – English
  4. ^ Honorary Doctorate from Durham
  5. ^ “Gorbachev to Trademark His Forehead”. NewsMax.Com. Tháng hai năm 2004. Truy cập 22 tháng 5. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  6. ^ “Mikhail Gorbachev on Putin’s Reforms: “A Step Back from Democracy””. MosNews. Tháng chín năm 2004. Truy cập 22 tháng 5. Đã bỏ qua tham số không rõ |tiếng= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  7. ^ “Reunification Politicians Accept Prize” (HTML). Deutsche Welle. Tháng sáu năm 2005. Truy cập 2 tháng 5. Đã bỏ qua tham số không rõ |tiếng= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)
  8. ^ http://rt.com/politics/gorbachev-high-treason-trial-175/
  9. ^ Almond, Mark (2002). Uprising: Political Upheavals that have Shaped the World. London: Mitchell Beazley.

Xem thêm

Trích dẫn

  • “Bạn gọi nó là cái gì khi một đất nước bị cai trị bởi những ông già tham quyền cố vị đến khi chết, [do đó] đất nước rơi vào tình trạng không có một ban lãnh đạo thông thường?”
  • “Tôi bắt đầu cảm thấy mong ước về một thứ gì nhiều hơn thế; tôi đã muốn làm một thứ gì đó khiến mọi điều trở nên tốt đẹp hơn.”
  • “Nguy hiểm chỉ chờ đợi những người không phản ứng trước cuộc sống.”, thường được trích dẫn sai thành “Những người đến muộn sẽ bị cuộc đời trừng phạt” (Đông Berlin, 7 tháng 10, 1989)

Đọc thêm

Nguồn thứ nhất

  • Mikhail Gorbachev, Perestroika: New Thinking for Our Country and the World, Perennial Library, Harper & Row, 1988, ISBN 0-06-091528-5
  • Mikhail Gorbachev, Memoirs, Doubleday, 1996, ISBN 0-385-48019-9
  • Mikhail Gorbachev Moral Lesson of the Twentieth Century with Daisaku Ikeda (2005)
  • “At Historic Crossroads: Documents on the December 1989 Malta Summit” in Cold War International History Project Bulletin 2001 (12-13): 229-241. Issn: 1071-9652

Nguồn thứ hai

  • Anders Aslund, Gorbachev’s Struggle for Economic Reform Cornell University Press, 1991
  • Archie Brown, The Gorbachev Factor, Oxford University Press, 1997, ISBN 0-19-288052-7
  • Farnham, Barbara. “Reagan and the Gorbachev Revolution: Perceiving the End of Threat” Political Science Quarterly 2001 116(2): 225-252. Issn: 0032-3195
  • Marshall Goldman, What Went Wrong with Perestroika? W.W. Norton, 1992
  • Jackson, William D. “Soviet Reassessment of Ronald Reagan, 1985-1988” Political Science Quarterly 1998-1999 113(4): 617-644. Issn: 0032-3195
  • Jack Matlock, Reagan and Gorbachev: How the Cold War Ended (2004)
  • Jack Matlock, Autopsy on an Empire: The American Ambassador’s Account of the Collapse of the Soviet Union (1995)
  • David Remnick, Lenin’s Tomb: The Last Days of the Soviet Empire (New York: Random House, 1993)_.
  • Robert Strayer, Why Did the Soviet Union Collapse? Understanding Historical Change M. E. Sharpe. 1998

Liên kết ngoài


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
hoangkim vietnam, hoangkim, hoangkimvietnam, Hoàng Kim, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, DayvahocHọc mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s