Chào ngày mới 10 tháng 10

CNM365. Chào ngày mới 10 tháng 10.Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Sức khỏe tâm thần thế giới; ngày độc lập tại Cuba (1868); ngày quốc khánh Trung Hoa Dân Quốc (1911); ngày thành lập Đảng Lao động tại Triều Tiên (1945). Năm 732 – Trong trận Tours, Charles Martel cùng các chiến binh người Frank đánh bại quân đội al-Andalus gần ToursPoitiers, ngăn chặn lực lượng Hồi giáo khuếch trương tại Tây Âu.Năm 1780Một siêu bão tấn công Barbados, bắt đầu gây thiệt hại nghiêm trọng cho khu vực Caribe với hơn 20.000 người thiệt mạng. Năm 1911Cách mạng Tân Hợi bắt đầu với Khởi nghĩa Vũ Xương, (Tượng Tôn Dật Tiên đứng tại quảng trường Đệ Nhất Khởi Nghĩa tại Vũ Hán )  dẫn đến sự sụp đổ của nhà Thanh. Năm 1982Giáo hội Công giáo Rôma phong thánh cho Maximilian Kolbe (hình), linh mục tình nguyện chết thay cho người khác tại Trại tập trung Auschwitz trong Thế chiến II.

Ngày Sức khỏe tâm thần thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ngày Sức khỏe tâm thần thế giới được tổ chức vào ngày 10 tháng 10 hàng năm trên toàn thế giới, để giáo dục, nâng cao nhận thức và ủng hộ sự nghiệp sức khỏe tâm thần.[1]

Lịch sử

Ngày Sức khỏe tâm thần thế giới được cử hành lần đầu vào năm 1992 do sáng kiến của Liên đoàn sức khỏe tâm thần thế giới (World Federation for Mental Health), một tổ chức bảo vệ sức khỏe tâm thần toàn cầu có các thành viên ở hơn 150 quốc gia.[2] Vào ngày này, hàng ngàn người hỗ trợ đã tổ chức chương trình tuyên truyền nâng cao nhận thức, đem lại sự chú ý tới bệnh tâm thần và hậu quả của nó trên cuộc sống của những bệnh nhân trên khắp thế giới.[3] Tại một số nước, ngày này là thành phần của Tuần lễ nhận thức bệnh tâm thần (Mental Illness Awareness Week) lớn hơn.[4]

Một số chủ đề ngày sức khỏe tâm thần

  • 1996: Phụ nữ và sức khỏe tâm thần
  • 1997: Trẻ em và sức khỏe tâm thần
  • 1998: Sức khỏe tâm thần và Nhân quyền
  • 1999: Sức khỏe tâm thần và Sự lão hóa
  • 2000-2001: Sức khỏe tâm thần và việc làm
  • 2002: Các kết quả của chấn thương tâm thần vào bạo lực ở trẻ em và thanh thiếu niên
  • 2003: Những rối loạn tình cảm và ứng xử ở trẻ em và thanh thiếu niên
  • 2004: Mối liên quan giữa sức khỏe thể xác và rối loạn tâm thần trong cùng thời gian
  • 2005: Sức khỏe thể xác và tâm thần suốt cuộc sống
  • 2006: Nâng cao nhận thức và giảm nguy cơ: sức khỏe tâm thần và tự tử
  • 2007: Sức khỏe tâm thần trong một thế giới đổi thay: các hiệu quả của văn hóa và tình trạng đa dạng

Chú thích

  1. ^ Jenkins, Rachel; Lynne Friedli, Andrew McCulloch, Camilla Parker (2002). Developing a National Mental Health Policy. Psychology Press. tr. 65. ISBN 1841692956.
  2. ^ Watson, Robert W. (2006). Nova Science Publishers. tr. 69. ISBN 1600215424. Đã bỏ qua tham số không rõ |titl e= (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  3. ^ “World Mental Health Day”. Mental Health in Family Medicine 7 (1): 59–60. 2010.
  4. ^ “Let compassion substitute stigmatisation”. Times of Malta (www.timesofmalta.com). 10 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010.

Tham khảo

Rối loạn tâm thần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Rối loạn tâm thần
Phân loại và tư liệu bên ngoài

* phụ nữ đại diện cho các chẩn đoán tâm thần nổi tiếng trong thế kỷ 19. (Armand Gautier)
ICD10 F.
MeSH D001523

Rối loạn tâm thần hoặc rối loạn tinh thần là hình thức tâm lý hoặc hành vi cá biệt được cho là gây ra sự đau đớn, mất khả năng cư xử cũng như phát triển bình thường. Những người rối loạn tâm thần vẫn có những quyền nhất định và việc bắt giữ họ mà không có căn cứ pháp lývi phạm nhân quyền.[cần dẫn nguồn]
Có nhiều nhóm rối loạn tâm thần, và cũng có nhiều khía cạnh hành vi của con người và cá nhân có thể trở nên rối loại.[1][2][3][4][5]
Lo lắng hay sợ hãi cản trở các chức năng bình thường có thể được xếp vào rối loạn lo âu.[6] Nhóm thường gặp bao gồm ám ảnh, rối loạn lo âu tổng quát, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn sợ hãi, sợ khoảng trống, rối loạn ám ảnh cưỡng chếrối loạn căng thẳng sau chấn thương.

Dịch tễ học

Năm sống điều chỉnh theo khuyết tật với các bệnh thần kinh trên 100.000 dân năm 2004.

   <2200
   2200-2400
   2400-2600
   2600-2800
   2800-3000
   3000-3200
   3200-3400
   3400-3600
   3600-3800
   3800-4000
   4000-4200
   >4200

Rối loạn tâm thần là phổ biến. Trên thế giới cứ 3 người là có một người mắc bệnh (ở hầu hết các nước có tiêu chí đầy đủ) tại một thời điểm nào đó trong đời họ.[7] Ở Hoa Kỳ 46% thõa tiêu chí của một bệnh tâm thần tại cùng một thời điểm.[8] Một cuộc khảo sát đang diễn ra cho thấy rối loạn lo âu là phổ biến nhất trong tất cả các quốc gia trừ một quốc gia, theo sau là rối loạn tâm trạng trừ 2 quốc gia, trong khi rối loạn chất và rối loạn kiểm soát ít phổ biến.[9] Các tỉ lệ thay đổi theo khu vực.[10]
Một đánh giá về các khảo sát rối loạn lo âu ở nhiều đất nước khác nhau cho thấy khả năng xuất hiện trung bình trong đời họ ước tính 16,6%, ỏ nữ có khả năng cao hơn trung bình.[11] Đánh giá về các khảo sát rối tâm trạng ở những quốc gia khác nhau cho thấy tỉ lệ tuổi thọ là 6,7% đối với rối loạn trầm cảm chính (cao hơn một số nghiên cứu, và ở nữ) và 0,8% rối với rối loạn lưỡng cực I.[12]
Ở Hoa Kỳ, tuần suất của rối loạn: rối loạn lo âu (28,8%), rối loạn tâm trạng (20,8%), rối loạn kiểm soát xung (24,8%) hay rối loạn sử dụng chất (14,6%).[8][13][14]
Một nghiên cứu trên toàn châu Âu năm 2004 cho thấy rằng có khoảng 1 trong 4 người tại một thời điểm nào đó trong đời họ được cho là thõa các tiêu chí của ít nhất một trong các rối loạn DSM-IV, trong đó bao gồm rối loạn tâm trạng (13,9%), rối loạn lo âu (13,6%) hoặc rối loạn do cồn (5,2%). Có khoảng 1 trong 10 người thõa các tiêu chí trong một chu kỳ khảo sát 12 tháng. Nữ và người trẻ hơn của cả hai giới mắc nhiều chứng rối loạn hơn.[15] Một đánh giá về khảo sát năm 2005 ở 16 nước châu Âu cho thấy 27% người châu Âu trưởng thành bị ảnh hưởng bởi ít nhất một chứng rối loạn tinh thần trong thời gian 12 tháng.[16]
Một đánh giá quốc nghiên cứu về sự phổ biến của tâm thần phân liệt cho thấy trung bình chiếm 0,4% xảy ra trong cuộc đời; con số này thấp hơn ở những nước nghèo hơn.[17]
Các nghiên cứu về tần suất của rối loạn nhân cách (PDs) thì ít hơn và ở quy mô nhỏ hơn, nhưng trong một cuộc khảo sát rộng rãi tại Na Uy thì thấy rằng tần suất trong 5 năm là 13,4%. Tỉ lệ các rối loạn đặc biệt dao động từ 0,8% đến 2,8%, khác nhau theo quốc gia, giới tính, mức độ giáo dục, và các yếu tố khác.[18] Một cuộc khảo sát ở Hoa Kỳ sàng lọc một cách tình cờ đối với rối loạn nhân cách thì thấy tỉ lệ là 14,79%.[19]
Khoảng 7% trong một mẫu trẻ em ở tuổi trước khi đến trường được chẩn đoán tâm thần trong một nghiên cứu lâm sàng, khoảng 10% trong số trẻ 1 tuổi và 2 tuổi được đánh giá và nhận thấy có các vấn đề về tình cảm/hành vi đáng quan tâm dựa trên những báo cáo của phụ huynh và bác sĩ nhi khoa.[20]
Trong khi tỉ lệ các rối loạn tâm lý thường bằng nhau giữa nam và nữ, thì nữ có khuynh hướng có tỉ lệ cao hơn ở nhóm trầm cảm. Mỗi năm có khoảng 73 triệu phụ nữa bị ảnh hưởng của trầm cảm nặng, và tự tử xếp hạng thứ 7 trong các nguyên nhân gây tử vong trong độ tuổi 20-59. Rối loạn trầm cảm chiếm gần 41,9% bệnh về rối loạn tâm thần ở phụ nữ so với nam là 29,3%.[21]

Chú thích

  1. ^ Gazzaniga, M.S., & Heatherton, T.F. (2006). Psychological Science. New York: W.W. Norton & Company, Inc.[cần số trang]
  2. ^ WebMD Inc (2005, July 01). Mental Health: Types of Mental Illness. Retrieved April 19, 2007, from http://www.webmd.com/mental-health/mental-health-types-illness
  3. ^ United States Department of Health & Human Services. (1999). Overview of Mental Illness. Retrieved April 19, 2007
  4. ^ NIMH (2005) Teacher’s Guide: Information about Mental Illness and the Brain Curriculum supplement from The NIH Curriculum Supplements Series
  5. ^ Phillip W. Long M.D. (1995-2008). “Disorders”. Internet Mental Health. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2009.
  6. ^ “Mental Health: Types of Mental Illness”. WebMD. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2009.
  7. ^ “Cross-national comparisons of the prevalences and correlates of mental disorders. WHO International Consortium in Psychiatric Epidemiology”. Bulletin of the World Health Organization 78 (4): 413–26. 2000. doi:10.1590/S0042-96862000000400003 (không tích cực May 26, 2013). PMC 2560724. PMID 10885160.
  8. ^ a ă Kessler, Ronald C.; Berglund, P; Demler, O; Jin, R; Merikangas, KR; Walters, EE (2005). “Lifetime Prevalence and Age-of-Onset Distributions of DSM-IV Disorders in the National Comorbidity Survey Replication”. Archives of General Psychiatry 62 (6): 593–602. doi:10.1001/archpsyc.62.6.593. PMID 15939837.
  9. ^ “The World Mental Health Survey Initiative”. Harvard School of Medicine. 2005.
  10. ^ Demyttenaere, Koen; Bruffaerts, Ronny; Posada-Villa, Jose; Gasquet, Isabelle; Kovess, Viviane; Lepine, Jean Pierre; Angermeyer, Matthias C.; Bernert, Sebastian và đồng nghiệp (2004). “Prevalence, Severity, and Unmet Need for Treatment of Mental Disorders in the World Health Organization World Mental Health Surveys”. JAMA 291 (21): 2581–90. doi:10.1001/jama.291.21.2581. PMID 15173149.
  11. ^ Somers, Julian M; Goldner, Elliot M; Waraich, Paul; Hsu, Lorena (2006). “Prevalence and Incidence Studies of Anxiety Disorders: A Systematic Review of the Literature”. Canadian Journal of Psychiatry 51 (2): 100–13. PMID 16989109.
  12. ^ Waraich, Paul; Goldner, Elliot M; Somers, Julian M; Hsu, Lorena (2004). “Prevalence and Incidence Studies of Mood Disorders: A Systematic Review of the Literature”. Canadian Journal of Psychiatry 49 (2): 124–38. PMID 15065747.
  13. ^ Kessler, Ronald C.; Chiu, WT; Demler, O; Merikangas, KR; Walters, EE (2005). “Prevalence, Severity, and Comorbidity of 12-Month DSM-IV Disorders in the National Comorbidity Survey Replication”. Archives of General Psychiatry 62 (6): 617–27. doi:10.1001/archpsyc.62.6.617. PMC 2847357. PMID 15939839.
  14. ^ “The Numbers Count: Mental Disorders in America”. National Institute of Mental Health. 24 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2013.
  15. ^ Alonso, J.; Angermeyer, M. C.; Bernert, S.; Bruffaerts, R.; Brugha, T. S.; Bryson, H.; Girolamo, G.; Graaf, R. và đồng nghiệp (2004). “Prevalence of mental disorders in Europe: Results from the European Study of the Epidemiology of Mental Disorders (ESEMeD) project”. Acta Psychiatrica Scandinavica 109 (420): 21–7. doi:10.1111/j.1600-0047.2004.00327.x. PMID 15128384.
  16. ^ Wittchen, Hans-Ulrich; Jacobi, Frank (2005). “Size and burden of mental disorders in Europe—a critical review and appraisal of 27 studies”. European Neuropsychopharmacology 15 (4): 357–76. doi:10.1016/j.euroneuro.2005.04.012. PMID 15961293.
  17. ^ Saha, Sukanta; Chant, David; Welham, Joy; McGrath, John (2005). “A Systematic Review of the Prevalence of Schizophrenia”. PLoS Medicine 2 (5): e141. doi:10.1371/journal.pmed.0020141. PMC 1140952. PMID 15916472.
  18. ^ Torgersen, S.; Kringlen, E; Cramer, V (2001). “The Prevalence of Personality Disorders in a Community Sample”. Archives of General Psychiatry 58 (6): 590–6. doi:10.1001/archpsyc.58.6.590. PMID 11386989.
  19. ^ Grant, Bridget F.; Hasin, Deborah S.; Stinson, Frederick S.; Dawson, Deborah A.; Chou, S. Patricia; Ruan, W. June; Pickering, Roger P. (2004). “Prevalence, Correlates, and Disability of Personality Disorders in the United States”. The Journal of Clinical Psychiatry 65 (7): 948–58. doi:10.4088/JCP.v65n0711. PMID 15291684.
  20. ^ Carter, Alice S.; Briggs-Gowan, Margaret J.; Davis, Naomi Ornstein (2004). “Assessment of young children’s social-emotional development and psychopathology: Recent advances and recommendations for practice”. Journal of Child Psychology and Psychiatry 45 (1): 109–34. doi:10.1046/j.0021-9630.2003.00316.x. PMID 14959805.
  21. ^ “Gender disparities and mental health: The Facts”. World Health Organization. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012.

Đọc thêm

  • Atkinson, J. (2006) Private and Public Protection: Civil Mental Health Legislation, Edinburgh, Dunedin Academic Press ISBN 1-903765-61-7
  • Hockenbury, Don and Sandy (2004). Discovering Psychology. Worth Publishers. ISBN 0-7167-5704-4.
  • Fried, Yehuda and Joseph Agassi, (1976). Paranoia: A Study in Diagnosis. Boston Studies in the Philosophy of Science, 50. ISBN 90-277-0704-9.
  • Fried, Yehuda and Joseph Agassi, (1983). Psychiatry as Medicine. The HAgue, Nijhoff. ISBN 90-247-2837-1.
  • Porter, Roy (2002). Madness: a brief history. Oxford [Oxfordshire]: Oxford University Press. ISBN 0-19-280266-6.
  • Weller M.P.I. and Eysenck M. The Scientific Basis of Psychiatry, W.B. Saunders, London, Philadelphia, Toronto etc. 1992
  • Wiencke, Markus (2006) Schizophrenie als Ergebnis von Wechselwirkungen: Georg Simmels Individualitätskonzept in der Klinischen Psychologie. In David Kim (ed.), Georg Simmel in Translation: Interdisciplinary Border-Crossings in Culture and Modernity (pp. 123–155). Cambridge Scholars Press, Cambridge, ISBN 1-84718-060-5

Liên kết ngoài

Cuba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Cuba
República de Cuba (tiếng Tây Ban Nha)
Flag of Cuba.svg Coat of arms of Cuba.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Cuba
Khẩu hiệu
¡ Patria o Muerte, Venceremos !
(Tổ quốc hay là Chết, chúng ta sẽ vượt qua !)
Quốc ca
La Bayamesa (Bài ca Bayamo)
Hành chính
Chính phủ Xã hội chủ nghĩa
Chủ tịch nước Raúl Castro
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Tây Ban Nha
Thủ đô La Habana
km²) 23°8′B, 82°23′T
Thành phố lớn nhất La Habana
Địa lý
Diện tích 110.860 km² km² (hạng 104)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ UTC5; mùa hè: UTC4
Ngày thành lập 10 tháng 10, 1898
Dân cư
Dân số ước lượng (2009) 11.239.363 người (hạng 75)
Dân số (2002) 11.177.743 người
Mật độ 102 người/km² (hạng 73)
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 111.1 tỷ Mỹ kim
HDI (2007) 0,863 cao (hạng 51)
Đơn vị tiền tệ Peso Cuba
Thông tin khác
Tên miền Internet .cu

Cuba, cũng được phiên âm ra tiếng Việt là Cu Ba, Quy Ba hay Cổ Ba, tên gọi chính thức là Cộng hòa Cuba (tiếng Tây Ban Nha: Cuba hay República de Cuba, IPA: [re’puβlika ðe ‘kuβa]) là Quốc gia bao gồm đảo Cuba (hòn đảo hình con cá sấu vươn dài trên biển Caribe, cũng là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Đại Antilles), cùng với đảo Thanh Niên (Isla de la Juventud) và các đảo nhỏ xung quanh. Cuba nằm ở phía bắc Vùng Caribe ở giao điểm của ba miền biển lớn: Biển Caribe, Vịnh MexicoĐại Tây Dương. Cuba nằm ở phía nam miền đông Hoa KỳBahamas, phía tây Quần đảo Turks và CaicosHaiti và phía đông Mexico. Quần đảo CaymanJamaica ở phía nam.
Cuba là quốc gia đông dân nhất vùng Caribe. Dân chúng và văn hóa Cuba kết hợp từ nhiều nguồn dựa trên quá trình nhân chủng, lịch sử và địa lý: bộ tộc người bản xứ TaínoCiboney, lịch sử thời kỳ Tây Ban Nha thống trị, chế độ đồn điền nhập cư nô lệ Châu Phi, và vị trí địa lý gần Hoa Kỳ. Hòn đảo này có khí hậu nhiệt đới nhưng điều hòa bởi vùng biển bao quanh; tuy nhiên vì nhiệt độ cao của Biển Caribe và địa thế hầu như chắn ngang Vịnh Mexico, Cuba hằng năm thường hứng chịu những trận bão lớn.

Lịch sử

Theo văn tịch thì lịch sử Cuba bắt đầu ngày 28 tháng 10 năm 1492, khi Colombo nhận diện đảo này trong chuyến đi thứ nhất của ông và tuyên bố chủ quyền nhân danh triều đình Tây Ban Nha.[1] (Điều này vẫn còn chưa chắc chắn và là một vấn đề chưa ngã ngũ.[2]) Hòn đảo này trước đó đã được thổ dân châu Mỹ, bộ tộc TaínoCiboney xuất xứ từ Nam Mỹ nhiều thế kỷ trước đến lập nghiệp. Người Taíno và người Ciboney (cũng được viết là Siboney các quốc gia Taino mới) đều là những cư dân biết trồng cấy cùng săn bắn-hái lượm; có thuyết cho rằng kỹ thuật đồ đồng đã khá phát triển dựa trên số di vật phát hiện được[3] trong các di chỉ Taino.
Bờ biển Cuba được Sebastián de Ocampo vẽ bản đồ đầy đủ vào năm 1511, và cũng trong năm ấy thôn ấp của nhóm di dân Tây Ban Nha đầu tiên đến lập nghiệp được Diego Velázquez de Cuéllar khai sáng tại Baracoa. Các thị trấn khác như La Habana (thành lập năm 1515) nhanh chóng mọc lên. Người Tây Ban Nha, như họ đã hành động trên khắp Châu Mỹ, đàn áp và bắt làm nô lệ gần 100.000 người bản xứ chống việc cải đạo theo Thiên chúa giáo trên đảo. Trong một thế kỷ vì chính sách lao động cưỡng bức, diệt chủng cộng với những ảnh hưởng từ các dịch bệnh được đem tới từ Châu Âu hầu như các yếu tố quốc gia trên hòn đảo đã biến mất, dù một số khía cạnh di sản bản xứ vẫn còn lại một phần qua sự gia tăng đáng kể của số người Mestizo.[4][5] Với sự phá hủy xã hội bản xứ, những người định cư bắt đầu khai thác những nô lệ Châu Phi, họ đã có khả năng chống chịu tốt hơn với các loại bệnh dịch từ thế giới cũ, và nhanh chóng chiếm một phần đáng kể dân số.

Cuba thuộc địa

Cuba thuộc quyền sở hữu của người Tây Ban Nha trong 388 năm, được cai trị bởi một vị Toàn quyền tại La Habana, với một nền kinh tế dựa trên trồng trọt nông nghiệp và xuất khẩu đường, cà phêthuốc lá tới Châu Âu và sau này là tới Bắc Mỹ. Nước này bị Anh Quốc chiếm năm 1762, nhưng quay trở lại dưới quyền Tây Ban Nha vào năm sau. Dân số Tây Ban Nha đã tăng mạnh sau khi người định cư Tây Ban Nha rời Haiti khi lãnh thổ này được nhượng lại cho Pháp. Tương tự như tại các vùng khác của Đế chế Tây Ban Nha, một giới chủ đất giàu có với dòng máu Tây Ban Nha nắm quyền kinh tế và xã hội, tiếp đó là giới bình dân tiểu điền chủ người lai, pha trộn (Mestizo), giới lao động và những nô lệ da đen nguồn gốc Châu Phi.
Trong thập niên 1820, khi những vùng khác của Đế chế Tây Ban Nha tại Mỹ Latinh nổi loạn và thành lập nên các nhà nước độc lập, Cuba tiếp tục trung thành, dù đã có một số khích động độc lập. Điều này một phần bởi sự thịnh vượng của những người định cư Cuba phụ thuộc vào thương mại xuất khẩu tới Châu Âu, một phần bởi lo ngại về một cuộc nổi loạn nô lệ (như đã xảy ra tại Haiti) nếu người Tây Ban Nha rút đi và một phần bởi người Cuba e ngại sự lớn mạnh của Hoa Kỳ hơn là họ ghét chính quyền cai trị thuộc địa Tây Ban Nha.
Một yếu tố khác là quá trình di cư liên tục của người Tây Ban Nha tới Cuba từ mọi tầng lớp xã hội, một khuynh hướng nhân khẩu đã không còn tồn tại tại các vùng thuộc địa khác của Tây Ban Nha từ nhiều thập kỷ trước đó góp phần làm giảm sự phát triển bản sắc quốc gia Cuba.
Sự gần gũi địa lý của Cuba với Hoa Kỳ gây ảnh hưởng rất mạnh trên lịch sử nước này. Trong suốt thế kỷ 19, các chính trị gia phương Nam Hoa Kỳ đã âm mưu sáp nhập hòn đảo này và coi đó là công cụ để tăng cường sức mạnh cho phe ủng hộ chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ, và luôn có một đảng tại Cuba ủng hộ chính sách đó. Năm 1848, một cuộc nổi dậy ủng hộ sáp nhập đã bị đập tan và đã có nhiều nỗ lực khác của các kẻ muốn ủng hộ sáp nhập nhằm xâm lược hòn đảo này từ Florida. Cũng có nhiều đề xuất tại Hoa Kỳ nhằm mua Cuba từ Tây Ban Nha. Trong mùa hè năm 1848, Tổng thống James Knox Polk đã bí mật cho phép đại sứ của mình tại Tây Ban Nha, Romulus Mitchell Saunders, đàm phán mua Cuba và đưa ra giá tới 100 triệu dollar, một khoản tiền lớn đáng ngạc nhiên ở thời điểm đó cho một vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, Tây Ban Nha đã từ chối vì không muốn mất một trong những vùng lãnh thổ cuối cùng của mình tại Châu Mỹ.
Sau cuộc Nội chiến Mỹ với thắng lợi của phương Bắc góp phần chấm dứt nỗi lo sáp nhập của phái ủng hộ chế độ nô lệ, làn sóng đòi độc lập tại Cuba xuất hiện trở lại, dẫn tới một cuộc nổi dậy năm 1868 do Carlos Manuel de Céspedes, một luật sư và chủ đất giàu có từ tỉnh Oriente, người đã trả tự do cho các nô lệ của mình, lãnh đạo. Ông tuyên chiến và được phong là Tổng thống Cộng hòa Cuba. Sự kiện này đã dẫn đến một cuộc xung đột kéo dài được gọi là cuộc Chiến tranh Mười Năm giữa các lực lượng ủng hộ độc lập và Quân đội Tây Ban Nha, với đồng minh là những kẻ phản đối độc lập người địa phương. Người Mỹ đồng tình với mong muốn độc lập của Cuba, nhưng Hoa Kỳ không can thiệp quân sự hay thậm chí là công nhận tính hợp pháp của chính phủ Cuba, dù nhiều quốc gia Châu Âu và Mỹ Latinh đã làm như vậy. [6] Năm 1878, Hòa bình Zanjon chấm dứt cuộc xung đột, với lời hứa của Tây Ban Nha trao quyền tự trị rộng rãi hơn cho Cuba.
Hòn đảo này đã kiệt quệ sau cuộc xung đột dai dẳng đó và tình cảm độc lập tạm thời lắng dịu. Cũng có mối lo ngại rằng nếu người Tây Ban Nha rút đi hay nếu xung đột kéo dài, chủ nghĩa bành trướng Mỹ sẽ phát triển dẫn tới sự sáp nhập hòn đảo này. Trong giai đoạn 1879-1880, nhà yêu nước Cuba Calixto Garcia đã tìm cách khởi động một cuộc chiến khác, được gọi là “la guerra chiquita” (cuộc chiến nhỏ) trong lịch sử Cuba nhưng không nhận được nhiều sự hỗ trợ.[7] Một phần để vì áp lực của Mỹ, chế độ nô lệ đã bị bãi bỏ năm 1886, cộng đồng thiểu số gốc Phi vẫn bị đàn áp cả về kinh tế và xã hội, dù đã được chính thức trao quyền bình đẳng năm 1893. Trong giai đoạn này, sự nghèo khổ tại các vùng nông thôn ở Tây Ban Nha do Cuộc cách mạng Tây Ban Nha năm 1868 và những hậu quả của nó khiến làn sóng người Tây Ban Nha di cư tới Cuba càng tăng thêm.
Trong thập niên 1890, các phong trào ủng hộ độc lập hồi sinh, được thúc đẩy bởi sự oán giận do các biện pháp hạn chế áp đặt lên thương mại Cuba và tình trạng thù địch với chính sách quản lý ngày càng phân biệt đối xử và không hiệu của Tây Ban Nha. Rất ít lời hứa cải cách kinh tế theo Hiệp ước Zanjon được chính phủ Tây Ban Nha thực hiện. Tháng 4 năm 1895, một cuộc chiến tranh mới nổ ra, do tác gia và là nhà thơ José Martí người đã tổ chức chiến tranh trong giai đoạn mười năm sống tha hương tại Hoa Kỳ lãnh đạo. Ông tuyên bố Cuba trở thành một nước Cộng hòa độc lập — Martí bị giết hại tại Dos Rios ngay sau khi đặt chân tới Cuba cùng lực lượng viễn chinh phía đông. Cái chết đã khiến ông trở thành bất tử và được coi là một anh hùng quốc gia Cuba.
Các lực lượng vũ trang Tây Ban Nha với tổng số 200.000 quân chỉ phải chống lại một lực lượng nổi dậy nhỏ chủ yếu sử dụng các chiến thuật du kích và phá hoại, và quân Tây Ban Nha thường trả đũa bằng các chiến dịch đàn áp. Tướng Valeriano Weyler được chỉ định làm Toàn quyền quân sự của Cuba, và với một biện pháp hà khắc ông dồn người dân thôn quê vào cái ông gọi là reconcentrados, được các nhà quan sát nước ngoài miêu tả như là các “thị trấn pháo đài.” Các reconcentrados thường được coi là nguyên mẫu đầu tiên của các trại tập trung trong thế kỷ 20.[8] Những con số ước tính cho thấy khoảng 200.000 tới 400.000 thường dân Cuba đã chết vì đói khát và bệnh tật trong giai đoạn này tại các trại đó. Con số này đã được cả Hội Chữ thập Đỏ và Thượng nghị sĩ Mỹ, và cựu Thư ký An ninh Quốc gia, Redfield Proctor kiểm chứng. Hoa Kỳ và Châu Âu phản đối những hành động của Tây Ban Nha trên hòn đảo.[9] Lo ngại sự can thiệp của Mỹ, Tây Ban Nha áp dụng một chính sách mang tính hòa giải hơn, hứa hẹn cho phép tự quản bởi một nghị viện qua bầu cử. Những người nổi dậy từ chối đề xuất đó và chiến tranh giành độc lập tiếp tục diễn ra. Một thời gian ngắn sau đó, ngày 15 thán 2 năm 1898, tàu chiến Mỹ Maine bất ngờ bị nổ tung tại cảng La Habana, làm thiệt mạng 266 người. Các lực lượng muốn can thiệp vào Cuba ở Hoa Kỳ muốn nhân cơ hội này buộc tội Tây Ban Nha làm nổ tàu chiến Mỹ (dù Tây Ban Nha không hề có động cơ để hành động như vậy và không có bằng chứng về sự liên can của Tây Ban Nha). Cùng với làn sóng tình cảm chủ nghĩa quốc gia, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một nghị quyết kêu gọi can thiệp và Tổng thống William McKinley nhanh chóng đáp ứng.
Kết quả là cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ, trong đó các lực lượng Mỹ đổ bộ xuống Cuba tháng 6 năm 1898 và nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự yếu ớt của Tây Ban Nha. Tháng 8 một hiệp ước hòa bình được ký kết theo đó Tây Ban Nha đồng ý rút lui khỏi Cuba. Một số người ủng hộ ý kiến Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Cuba, trong khi những người khác muốn sáp nhập lãnh thổ này. Để dàn xếp, chính quyền McKinley đặt Cuba dưới một hiệp ước bảo hộ 20 năm của Hoa Kỳ. Phong trào độc lập tại Cuba phản đối kế hoạch này, nhưng không giống như Philippines, nơi các sự kiện cũng diễn ra tương tự, không hề có cuộc kháng chiến vũ trang nào xảy ra.

Độc lập

Theodore Roosevelt, người đã chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ và có một số tình cảm với phong trào độc lập, kế tục McKinley trở thành Tổng thống Hoa Kỳ năm 1901 và bãi bỏ đề xuất bảo hộ 20 năm. Thay vào đó, Cộng hòa Cuba chính thức được độc lập ngày 20 tháng 5 năm 1902, và vị lãnh đạo cuộc kháng chiến đòi độc lập Tomás Estrada Palma trở thành tổng thống đầu tiên của đất nước. Tuy nhiên, theo hiến pháp mới của Cuba, Hoa Kỳ giữ quyền can thiệp vào các công việc của Cuba và giám sát tài chính cũng như quan hệ ngoại giao của nước này. Theo Tu chính Platt, Cuba cũng đồng ý cho Hoa Kỳ thuê căn cứ hải quân tại Vịnh Guantánamo. Cuba ngày nay không tổ chức lễ kỷ niệm ngày 20 tháng 5 là ngày độc lập, mà là ngày 10 tháng 10, ngày lần đầu tuyên ngôn độc lập được công bố và ngày Castro cùng đội quân của mình tiến vào La Habana, 1 tháng 1 năm 1959 là ngày “thắng lợi cách mạng”.
Cuba độc lập nhanh chóng phải đối mặt với những khó khăn do sự tranh giành bè phái và tình trạng tham nhũng trong giới trí thức lãnh đạo và sự lực của chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội sâu sắc hậu quả của chế độ thực dân Tây Ban Nha. Năm 1906, sau cuộc bầu cử lựa chọn người kế tục Estrada Palma gây nhiều tranh cãi, một cuộc nổi dậy vũ trang bùng phát và Hoa Kỳ đã thực hiện quyền can thiệp của minh. Đất nước này được đặt dưới quyền kiểm soát của Mỹ và một vị Thống đốc, Charles Edward Magoon, nhận trách nhiệm quản lý trong ba năm. Thời kỳ cầm quyền của Magoon tại Cuba bị nhiều nhà sử học nước này coi là không thành công, họ cho rằng tình trạng tham nhũng của chính quyền Magoon còn trầm trọng hơn trước đó.[10] Năm 1908 chính phủ tự quản được tái lập khi José Miguel Gómez được bầu làm tổng thống, nhưng Hoa Kỳ vẫn giữ quyền giám sát các công việc của Cuba. Tuy nhiên, dù những cuộc phản đối bất tuân lệnh chính phủ vẫn diễn ra, chính phủ lập hiến vẫn tồn tại cho tới năm 1925, khi Gerardo Machado y Morales, đã được bầu làm tổng thống, tạm ngưng hiệu lực của hiến pháp. Machado là một người Cuba theo đường lối quốc gia và chế độ của ông được sự ủng hộ rộng rãi của người dân trong nước dù chính phủ vẫn thường sử dụng bạo lực đàn áp sự chỉ trích. Trong thời kỳ cầm quyền của ông, người dân Cuba có quyền kiểm soát rộng rãi hơn với nền kinh tế của họ và các dự án phát triển quốc gia lớn được triển khai. Quyền lực của ông giảm sút sau cuộc Đại Suy thoái, khiến giá các mặt hàng xuất khẩu của Cuba giảm mạnh gây tình trạng nghèo đói khắp nước. Tháng 8 năm 1933, các nhóm trong quân đội Cuba tổ chức một cuộc đảo chính hạ bệ Machado và đưa Carlos Manuel de Céspedes, con trai người sáng lập nhà nước Cuba lên làm Tổng thống. Tuy nhiên, vào tháng 9 một cuộc đảo chính thứ hai do Fulgencio Batista lãnh đạo lật đổ Céspedes dẫn tới sự hình thành chính phủ Ramón Grau San Martín thứ nhất. Chính phủ này chỉ tồn tại 100 ngày nhưng đã đặt những cơ sở cho những thay đổi tự do căn bản của xã hội Cuba và sự khước từ Tu chính Platt.
Năm 1934, Batista và quân đội, phe nắm quyền lực thực sự tại Cuba, thay thế Grau bằng Carlos Mendieta y Montefur. Năm 1940, Batista quyết định tự mình ra tranh cử tổng thống. Lãnh đạo của phái tự do lập hiến Ramón Grau San Martín từ chối ủng hộ ông, và quay sang phía Đảng Cộng sản Cuba, đã phát triển cả về tầm vóc và ảnh hưởng trong thập niên 1930.

Cuba năm 1910

Với sự hỗ trợ của các liên đoàn lao động do những người Cộng sản kiểm soát, Batista được bầu làm Tổng thống và chính quyền của ông đã tiến hành các cải cách xã hội rộng lớn cũng như đưa ra một bản hiến pháp mới tiến bộ hơn. Nhiều thành viên của Đảng Cộng sản giữ các chức vụ trong chính quyền này. Chính quyền Batista chính thức đưa Cuba tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai với tư cách đồng minh của Mỹ, tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản ngày 9 tháng 12 năm 1941, sau đó với Đức quốc xãphát xít Ý ngày 11 tháng 12 năm 1941; Tuy nhiên, Cuba không tham gia nhiều về mặt quân sự vào các cuộc xung đột trong Thế chiến II. Vào cuối nhiệm kỳ của mình năm 1944, theo hiến pháp Batista lùi bước và Ramón Grau được bầu làm người kế tục ông. Grau tăng chi tiêu chính phủ cho y tế, giáo dục và nhà cửa. Phái tự do của Grau đối lập với những người Cộng sản và Batista phản đối hầu hết các chương trình của Grau.
Năm 1948, Carlos Prío Socarrás lên thay Grau, ông này từng là bộ trưởng lao động trong chính quyền trước và đặc biệt bị những người Cộng sản căm ghét. Prío ít tư tưởng tự do hơn Grau và dưới thời cầm quyền của ông tình trạng tham nhũng đa gia tăng đáng kể. Điều này một phần có nguyên nhân ở sự phục hồi sức mạnh của Hoa Kỳ thời hậu chiến và dòng tiền cờ bạc đổ vào La Habana, vốn đã trở thành một thiên đường cho các hoạt động của mafia. Quả thực Prío đã tiến hành nhiều cải cách lớn như thành lập Ngân hàng Quốc gia và ổn định đồng tiền tệ Cuba. Dòng vốn từ Bắc Mỹ đã trở thành nhiên liệu cho cuộc bùng nổ kinh tế, làm tăng mức sống của nhân dân và tạo ra một tầng lớp trung lưu khá giả tại hầu hết các vùng đô thị, dù hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo trở nên rộng hơn và rõ ràng hơn.

Từ Batista tới Castro

Bài chi tiết: Cách mạng Cuba

Tổng thống Cuba Fulgencio Batista (bị lật đổ ngày 31 tháng 12 năm 1958)

Cuộc bầu cử năm 1952 là cuộc chạy đua giữa ba người. Roberto Agramonte thuộc đảng Chính thống luôn dẫn đầu trong các cuộc thăm dò ý kiến, tiếp theo là tiến sĩ Aurelio Hevia thuộc đảng Auténtico, và ở một khoảng cách khá xa phía sau là Batista, người đang tìm cách quay lại phủ tổng thống. Cả hai đối thủ hàng đầu, Agramonte và Hevia, đều quyết định chỉ định Đại Tá Ramon Barquin người đang đảm trách nhiệm vụ ngoại giao tại Washington DC lãnh đạo các lực lượng vũ trang Cuba sau cuộc bầu cử. Barquin từng là một sĩ quan cao cấp, người chỉ huy đội quân chuyên nghiệp và đã hứa hẹn hành động chống tham nhũng. Batista sợ rằng Barquin sẽ cho ông và những người theo ông ra rìa, và khi hiển nhiên rằng Batista có ít cơ hội chiến thắng, ông đã lên kế hoạch một cuộc đảo chính ngày 10 tháng 3 năm 1952 và nắm quyền lực với sự ủng hộ của một phái quốc gia trong quân đội với tư cách “tổng thống lâm thời” trong vòng hai năm. Justo Carrillo đã nói với Barquin tại Washington DC tháng 3 năm 1952 rằng những người thân cận cho ông biết Batista đã có kế hoạch đảo chính chống lại ông; họ nhanh chóng bắt đầu hợp sức tiêu diệt Batista và tái lập nền dân chủ cũng như chính phủ dân sự trong cái saunày sẽ được gọi là La Conspitacion de los Puros de 1956 (Agrupacion Montecristi). Năm 1954, dưới sức ép từ Hoa Kỳ, ông đồng ý tổ chức bầu cử. Partido Auténtico đưa cựu tổng thống Grau ra làm ứng cử viên của mình, nhưng ông này rút lui trong bối cảnh có tin đồn rằng Batista đang âm mưu thao túng bầu cử từ trước. Batista sau đó được tuyên bố làm tổng thống do dân bầu.
Fidel Castro đã lãnh đạo một cuộc tấn công bất thành vào Pháo đài Moncada, tại Santiago de Cuba, và Pháo đài Carlos Manuel de Cespedes nhỏ hơn, vào buổi tối ngày Thánh Ann, ngày 26 tháng 7 năm 1953.[11]
Nhiều tên mafiosi tại Florida Mỹ đã vào Cuba trong thời kỳ cầm quyền của Batista, đáng chú ý là tên trùm Santo Trafficante, Jr. Những hoạt động của chúng gồm điều hành khách sạnsòng bạc hợp pháp cũng như các hoạt động bất hợp pháp tại Florida. Những tên trùm gangster Mỹ đã trở thành những kẻ ủng hộ đáng kể cho Batista trên vũ đài chính trị Cuba, chính phủ nước này làm ngơ cho các hoạt động của chúng để đổi lấy các khoản hối lộ và lại quả.[12][13]

Chiếc xe tải đã được sử dụng trong cuộc tấn công Phủ Tổng thống tại La Habana bởi Directorio Revolucionario (Ban chỉ huy Cách mạng)và Organizacion Autentica năm 1957

Tháng 4 năm 1956, Batista đã ra lệnh đưa Barquin lên làm Tướng và Chỉ huy quân đội. Nhưng đã là quá muộn. Thậm chí sau khi Barquin được thông báo, ông đã quyết định hành động đảo chính nhằm cứu vãn đạo đức các lực lượng vũ trang và của người dân Cuba. Ngày 4 tháng 4 năm 1956, một cuộc đảo chính do một trăm sĩ quan dưới sự chỉ huy của Đại táCol. Barquin (khi ấy là Phó chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Liên Mỹ tại Washington DC và Đại diện Hải quân, Không quân và Bộ binh Cuba tại Hoa Kỳ) diễn ra nhưng không thành công bởi Rios Morejon. Cuộc đảo chính làm tan rã xương sống các lực lượng vũ trang Cuba. Các sĩ quan bị xét xử với mức phạt cao nhất theo Thiết quân Luật Cuba. Barquin bị kết án biệt giam 8 năm. La Conspiración de los Puros khiến nhiều sĩ quan hàng đầu các lực lượng vũ trang bị bỏ tù và các học viện quốc phòng bị đóng cửa. Barquin là người sáng lập La Escuela Superior de Guerra (Cao đẳng Quân sự Cuba) và từng là hiệu trưởng của La Escuela de Cadetes (Viện Quân sự Cuba – West Point). Không có các sĩ quan của Barquin khả năng chiến đấu chống các lực lượng nổi dậy cách mạng đã bị suy yếu nghiêm trọng.

Che Guevara chỉ huy trận Santa Clara, tháng 12 năm 1958

Năm 1956 một đảng của những người nổi dậy, gồm cả Fidel Castro, đổ bộ từ một con tàu từ Mexico và tìm cách khởi động một phong trào kháng chiến vũ trang tại Sierra Maestra. Tại Mexico, đội quân của ông được tăng cường sức mạnh với sự cộng tác của Ernesto Che Guevara người sau này sẽ trở thành một trong những nhân vật nổi bật nhất của cách mạng Cuba và là một trong những đồng minh thân cận của Castro. Castro đã tới Mexico sau khi bị kết án hai mươi năm tù vì tham gia vào cuộc tấn công năm 1953 vào Pháo đài Moncada tại Santiago de Cuba. Castro đã được Batista ân xá sau yêu cầu của Tổng Giám mục Santiago, Monseñor Enrique Perez Serantes và Thượng nghị sĩ Rafael Diaz-Balart, khi ấy là anh/em rể của Fidel Castro. Sau vụ đổ bộ, Batista tung ra một chiến dịch chống phe đối lập, nhưng chỉ làm tăng sự ủng hộ của dân chúng cho phong trào nổi dậy. Với việc các sĩ quan của Barquin đều bị tống giam tại La Prision Modelo de Isla de Pinos ở Vịnh Mexico, quân đội thiếu sự lãnh đạo và ý chí chống phe nổ dậy.
Trong hai năm 1957 và 1958, sự phản kháng Batista ngày càng tăng, đặc biệt trong các tầng lớp trung lưu và thượng lưu và sinh viên, cũng như trong giới tăng lữ Nhà thờ Cơ đốc giáo và tại nhiều vùng nông thôn. Trước yêu cầu mua vũ khí hiện đại từ Hoa Kỳ nhằm đối phó với phe nổi dậy, chính phủ Hoa Kỳ đã áp đặt một lệnh cấm vận vũ khí với chính phủ Cuba ngày 14 tháng 3 năm 1958. Tới cuối năm 1958, nhiều thành viên nổi dậy đã trốn thoát khỏi Sierra Maestra và tổ chức một cuộc tổng khởi nghĩa, được hàng trăm sinh viên và những người khác bất đồng với chính quyền Batista gia nhập. Khi phe nổi dậy chiếm Santa Clara, phía đông La Habana, Batista cho rằng chiến đấu là vô ích và bỏ chạy khỏi đất nước tới Bồ Đào Nha và sau này là Tây Ban Nha. Batista chỉ định Tướng Eulogio Cantillo làm Chỉ huy Quân đội và trao cho ông chỉ thị không được phóng thích Barquin cùng các sĩ quan của ông ta. Tuy vậy, Barquin, người có sự ủng hộ của Hoa Kỳ, đã được giải thoát khỏi Isla de Pinos ngay từ những giờ đầu tiên và được đưa tới Campamento Ciudad Militar Columbia nơi ông thay thế Cantillo và nắm chức Tham mưu trưởng (giữ quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang và trên thực tế là Tổng thống Cuba trong một thời gian ngắn) trong một nỗ lực nhằm tái lập trật tự trên đường phố và trong các lực lượng vũ trang. Ông đã đàm phán sự thay đổi mang quyền chỉ huy tính biểu tượng giữa Camilo Cienfuegos, Che Guevara, Raaul và Fidel Castro, sau khi Tòa án Tối cao quyết định rằng Cách mạng là nguồn gốc luật pháp và những đại diện của nó phải được nắm quyền chỉ huy. Với chỉ chưa tới 300 người Camilo nhận quyền từ Barquin mà chỉ riêng tại Columbia đã có 12.000 binh sĩ chuyên nghiệp. Các lực lượng nổi dậy của Castro đã tiến vào thủ đô ngày 3 tháng 1 năm 1959. Một thời gian ngắn sau khi Tiến sĩ Manuel Leo Urrutia lên nắm quyền.

Cuba sau cách mạng

Các nhà lãnh đạo cách mạng Cuba tham gia tuần hành tại thủ đô La Habana, ngày 5 tháng 3 năm 1960

Fidel Castro trở thành thủ tướng Cuba tháng 2 năm 1959, và trên thực tế đã nắm quyền lực tối cao tại đất nước cho tới khi tạm thời chuyển giao nó cho người em trai, Raul Castro, vì những lý do sức khỏe tháng 7 năm 2006. Trong năm 1959, Castro đã tiến hành nhiều biện pháp như tịch thu bất động sản tư nhân, quốc hữu hóa các vật dụng công cộng, và bắt đầu một chiến dịch thắt chặt quản lý lĩnh vực tư nhân như đóng cửa ngành công nghiệp sòng bạc. Castro cũng đã trục xuất nhiều người Mỹ, gồm cả những tên cướp khỏi hòn đảo này. Những biện pháp đó được chính phủ của ông tiến hành dưới danh nghĩa chương trình mà ông đã vạch ra trong Manifiesto de Montecristi khi còn đang ở tại Sierra Maestra. Tuy nhiên, ông đã không thành công trong việc thực hiện hầu hết những điểm quan trọng của chương trình cải cách, như tổ chức bầu cử theo Luật bầu cử năm 1943 trong vòng 18 tháng cầm quyền đầu tiên và tái áp dụng các điều khoản của Hiến pháp 1940 đã bị tạm ngừng hiệu lực từ thời Batista.
Castro bay tới Washington, DC tháng 4 năm 1959, nhưng không được Tổng thống Eisenhower, người đã quyết định tham gia một giải golf chứ không phải gặp Castro, tiếp đón.[14] Castro quay trở lại Cuba sau một loạt những cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo Châu Phi-Châu Mỹ tại quận Harlem New York, và sau một bài diễn thuyết về “Cuba và Hoa Kỳ” đã được chuyển tới các trụ sở của Hội đồng quan hệ nước ngoài tại New York.[15] Những vụ hành quyết những người bị nghi là hợp tác với Batista, cùng với việc chiếm đoạt các công ty thuộc sở hữu của người Cuba và sự vi phạm nhanh chóng vào quyền độc lập của báo chí, trên danh nghĩa là ấn bản phụ thuộc các liên đoàn ủng hộ cách mạng,[10] khiến mọi người đặt ra nghi ngờ về bản chất của chính phủ mới. Thái độ đối với cuộc cách mạng Cuba cả tại Cuba và tại Hoa Kỳ đều thay đổi nhanh chóng. Việc quốc hữu hóa các công ty thuộc sở hữu Hoa Kỳ (giá trị ước tính năm 1959 là 1 tỷ dollar[cần dẫn nguồn]) nhanh chóng gây ra tình trạng thù địch bên trong chính quyền Eisenhower. Người Cuba bắt đầu ồ ạt rời khỏi đất nước và hình thành nên một cộng đồng trưởng giả nước ngoài tại Miami. Nhiều người căm giận chính phủ cách mạng của Castro bởi tài sản của họ tại Cuba đã bị tước đoạt trong số lượng những vụ “paredones”, hành quyết những người phản đối chính phủ, ngày càng tăng trong nước. Người Cuba nhanh chóng thành lập một nhóm lobby chính trị hùng mạnh tại Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ dần có thái độ thù địch với Cuba trong năm 1959. Điều này, tới lượt nó lại ảnh hưởng tới động thái của Castro quay lưng lại với các phái tự do trong phong trào cách mạng và ủng hộ các cá nhân theo đường lối Mác xít cứng rắn trong chính phủ, đáng chú ý nhất là Che Guevara, dù giả thuyết này còn bị tranh luận. Tháng 10 năm 1959, Castro công khai tuyên bố tình cảm của mình với Chủ nghĩa cộng sản, dù ông vẫn chưa tuyên bố mình là một người cộng sản, trong lúc những phe phái tự do và chống cộng khác trong chính phủ bị thanh trừng. Nhiều người ban đầu ủng hộ cách mạng đã phải bỏ chạy khỏi đất nước gia nhập cộng đồng tha hương tại Miami. Tháng 3 năm 1960, thỏa thuận viện trợ đầu tiên được ký với Liên bang Xô viết. Trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ coi việc thiết lập căn cứ ảnh hưởng của Liên xô tại Châu Mỹ là một mối đe dọa và lập kế hoạch lật đổ Castro (xem Kế hoạch Cuba). Cuối năm 1960, một lệnh cấm vận thương mại được áp đặt, càng làm tăng cường mối quan hệ của Castro với Liên bang Xô viết. Cùng lúc ấy, chính quyền Mỹ cho phép thực hiện các kế hoạch xâm lược Cuba của những người Cuba tại Floria, lợi dụng hoàn cảnh các cuộc nổi dậy chống Castro vừa bị đàn áp (xem một số chi tiết và tham khảo tại Chiến tranh chống các băng đảngSự kiện Vịnh Con lợn). Kết quả là sự thất bại thảm hại của Sự kiện Vịnh Con lợn tháng 4 năm 1961. Tổng thống John Kennedy rút lại lời hứa hỗ trợ không quân của Hoa Kỳ cho lực lượng xâm lược ở những phút cuối cùng và những người nổi dậy chống Castro đã không có được nguồn tài lực cần thiét. Kennedy từ chối can thiệp quân sự trực tiếp từ Mỹ và các lực lượng xâm lược bị đánh tan tác. Sự kiện này khiến Castro nhanh chóng tuyên bố Cuba là một nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, và ông là một người theo chủ nghĩa Mác xít-Lêninít tháng 5 năm 1961.

Cuba của chủ nghĩa Mác-Lênin

Bức không ảnh chụp từ máy bay trinh sát U-2 tháng 10 năm 1962, kèm theo thuyết minh về các vị trí nghi ngờ đặt lên lửa của Liên Xô, một trong những nguyên cớ dẫn đến chính sách cấm vận của Hoa Kỳ chống Cuba

Một trong những kết quả chiến lược của liên minh Cuba-Xô viết là quyết định đặt các tên lửa đạn đạo tầm trung (MRBMs) Xô viết tại Cuba, gây ra cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, trong đó chính quyền John F. Kennedy đã đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân với Liên bang Xô viết trừ khi họ rút số tên lửa đó. Ý tưởng đặt tên lửa tại Cuba được đưa ra bởi Castro hoặc Khrushchev, nhưng được Liên bang Xô viết đồng ý với lý do rằng Hoa Kỳ có tên lửa đặt tại Thổ Nhĩ Kỳ ở Trung Đông, vì thế đe dọa trực tiếp tới an ninh Liên xô. Chỉ vài phút trước khi chiếc tàu chở tên lửa Liên xô chạm tới vành đai phong tỏa của Hoa Kỳ, người Xô viết đã quyết định lùi bước, và ký một thỏa thuận với Kennedy. Tất cả các tên lửa đều được rút khỏi Cuba, nhưng cùng lúc ấy Hoa Kỳ phải rút tên lửa của mình ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ và những nơi khác tại Trung Đông. Tuy nhiên, Kennedy không chịu mất mặt bằng cách thực hiện thỏa thuận ấy ngay lập tức, mà chỉ chịu đồng ý sẽ rút tên lửa sau vài tháng.
Một kết quả khác là Kennedy đồng ý không xâm lược Cuba trong tương lai. Sau cuộc khủng hoảng đó, liên lạc đã được nối lại giữa Hoa Kỳ và Castro, dẫn tới việc trả tự do cho những chiến binh chống Castro đã bị bắt trong Sự kiện Vịnh Con lợn đổi lấy một gói viện trợ. Tuy nhiên, vào năm 1963 quan hệ một lần nữa xấu đi khi Castro đưa Cuba theo một hệ thống hoàn toàn cộng sản đúng hình thức của Liên bang Xô viết. Hoa Kỳ áp đặt một lệnh cấm vận ngoại giao và thương mại hoàn toàn lên Cuba. Ở thời điểm ấy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Mỹ Latinh đủ mạnh để khiến lệnh cấm vận có ảnh hưởng mạnh và Cuba buộc phải chuyển tất cả quan hệ thương mại của mình sang Liên xô và các nước đồng minh của Liên xô.
Năm 1965, Castro sáp nhập các tổ chức cách mạng của mình với Đảng Cộng sản, và ông trở thành Tổng thư ký đảng này, Blas Roca là Phó tổng thư ký; sau này được kế nhiệm bởi Raúl Castro, người với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng và đồng minh thân tín nhất của Fidel đã trở thành nhân vật số hai trong chính phủ từ thời điểm ấy. Vị trí của Raúl Castro càng được củng cố với sự ra đi của Che Guevara để thực hiện mong ước không thành công khuấy động các phong trào nổi dậy tại Congo, và sau đó là Bolivia, nơi ông bị giết hại năm 1967. Osvaldo Dorticós Torrado, Tổng thống Cuba từ 1959 tới 1976, chỉ mang tính đại diện và có ít quyền lực. Castro đưa ra một hiến pháp mới năm 1976 theo đó ông trở thành Tổng thống, trong khi vẫn giữ chức chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Trong thập kỷ 1970, Castro bước ra vũ đài quốc tế với tư cách người phát ngôn hàng đầu của các chính phủ “chống chủ nghĩa đế quốc” của Thế giới thứ ba. Ở mức độ cụ thể hơn, ông đã cung cấp trợ giúp quân sự quý giá cho những lực lượng ủng hộ Xô viết tại Angola, Ethiopia, Yemen và các điểm xung đột tại Châu Phi và Trung Đông khác. Các lực lượng Cuba đóng vai trò quyết định trong việc giúp đỡ các lực lượng MPLA giành chiến thắng trong Nội chiến Angola năm 1975. Dù khoản tiền duy trì các đội quân viễn chinh đó do Liên Xô chi trả, chúng vẫn là một lực cản lớn với nền kinh tế và nhân lực Cuba. Cuba cũng bị ảnh hưởng bởi sự lệ thuộc của nền kinh tế vào xuất khẩu đường. Người Liên Xô buộc phải cung cấp thêm viện trợ kinh tế bằng cách mua toàn bộ sản lượng đường do nước này sản xuất, dù Liên xô có đủ củ cải đường đáp ứng cho nhu cầu của mình. Đổi lại những người Xô viết cung cấp cho Cuba nhiên liệu, bởi nước này không thể mua được nó từ bất kỳ một nguồn nào khác.
Sự phụ thuộc của kinh tế Cuba vào Liên bang Xô viết càng trở nên sâu sắc khi Castro kiên quyết xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa ở Cuba. Mong ước này gồm một hệ thống chăm sóc y tế và giáo dục miễn phí cho toàn bộ người dân. Trong suốt thập niên 1970 và 1980, người Xô viết chịu cung cấp viện trợ để đổi lấy một đồng minh chiến lược ngay cạnh Hoa Kỳ và một giá trị tuyên truyền vô giá về thanh thế to lớn của Castro tại các nước đang phát triển.

Fidel CastroWojciech Jaruzelski, Tổng tham mưu trưởng quân đội Cộng hòa nhân dân Ba Lan, tháng 5 năm 1972

Tới thập niên 1970, khả năng giữ Cuba bị cô lập của Hoa Kỳ đã sụt giảm. Cuba đã bị trục xuất khỏi Tổ chức các nước Châu Mỹ năm 1962 và tổ chức này đã hợp tác với Hoa Kỳ tẩy chay thương mại với Cuba trong thập kỷ sau đó, nhưng vào năm 1975, Tổ chức các nước Châu Mỹ dỡ bỏ mọi lệnh cấm vận chống Cuba và cả Mexico cùng Canada đều thiết lập quan hệ thân cận với Cuba. Cả hai nước đều tuyên bố họ hy vọng bồi dưỡng sự tự do hóa tại Cuba bằng cách cho phép các liên hệ thương mại, văn hóa và ngoại giao được nối lại — tuy nhiên, về mặt này họ đã phải thất vọng vì không một hành động đàn áp đối lập nào trong nước Cuba được giảm nhẹ đáng kể. Castro quả thực có ngừng công khai ủng hộ các phong trào nổi dậy chống các chính phủ Mỹ Latinh, dù các nhóm ủng hộ Castro tiếp tục chiến đấu chống lại nền độc tài khi ấy đang hiện diện ở hầu hết các nước Mỹ Latinh.
Cộng đồng Cuba hải ngoại tại Hoa Kỳ đã phát triển về số lượng, tài sản và sức mạnh và đã chính trị hóa các yếu tố để ngăn cản sự bình thường hóa quan hệ của Hoa Kỳ với Cuba. Tuy nhiên, những nỗ lực của người Cuba hải ngoại nhằm thành lập một phong trào chống Castro bên trong Cuba, không mang lại nhiều thành công. Chủ nhật, ngày 6 tháng 4 năm 1980, 7.000 người Cuba lao vào đại sứ quán Peru tại La Habana xin tị nạn chính trị. Một trong những người đã vào đại sứ quán kể lại những trải nghiệm của mình trong “Những ngày tại Đại sứ quán” (xuất bản mùng 8 tháng 6 năm 2007). Thứ hai ngày 7 tháng 4, chính phủ Cuba cho phép những người Cuba tị nạn trong Đại sứ quán Peru được di cư.[16] Ngày 16 tháng 4 500 công dân Cuba rời Đại sứ quán Peru tới Costa Rica. Ngày 21 tháng 4 nhiều người trong số đó bắt đầu tới Miami bằng thuyền tư nhân và được Bộ ngoại giao Mỹ cứu trợ ngày 23 tháng 4. Tuy nhiên, cuộc di tản bằng tàu vẫn tiếp tục, bởi Castro cho phép bất kỳ ai muốn rời đất nước được ra đi tại cảng Mariel và cuộc di tản này đã được gọi là Sự kiện Mariel. Tổng cộng, hơn 125.000 người Cuba đã di cư sang Hoa Kỳ trước khi làn sóng tàu di cư chấm dứt ngày 15 tháng 6.[17]

Cuba thời hậu chiến tranh lạnh

Xe buýt “Con lạc đà Cuba” được cải tiến từ xe đầu kéo, phương tiện giao thông công cộng độc đáo của Cuba thời hậu chiến tranh lạnh

Sự sụp đổ của Liên xô năm 1991 khiến nền kinh tế Cuba bị ảnh hưởng nặng nề. Nó dẫn tới một cuộc di tản lớn khác tới Hoa Kỳ năm 1994, nhưng cuối cùng đã giảm xuống mức vài nghìn người một năm theo một thỏa thuận Hoa Kỳ-Cuba. Một lần nữa tăng lên trong giai đoạn 2004-06 dù ở mức thấp hơn nhiều so với trước đó. Danh tiếng của Castro đã được thử thách thật sự với hậu quả của sự tan vỡ Liên bang Xô viết, dẫn tới cắt bỏ các khoản viện trợ, mất thị trường xuất khẩu và mất nguồn cung dầu mỏ với giá rẻ. Nó cũng gây ra, tương tự như tại các quốc gia cộng sản khác, một cuộc khủng hoảng lòng tin với những người tin tưởng rằng Liên bang Xô viết là một hình mẫu “xây dựng chủ nghĩa xã hội” thành công và là một mô hình để các nước khác noi theo. Tuy nhiên, tại Cuba những sự kiện ấy chưa đủ để thuyết phục những người Cộng sản Cuba rằng họ phải tự nguyện rời bỏ quyền lực.
Tới cuối thập kỷ 1990 tình hình trong nước đã được ổn định. Khi ấy Cuba đã ít nhiều có các mối quan hệ kinh tế với hầu hết các quốc gia Mỹ Latinh và đã cải thiện quan hệ với Liên minh Châu Âu, tổ chức này bắt đầu cung cấp viện trợ và các khoản giúp đỡ cho hòn đảo này. Trung Quốc cũng xuất hiện với tư cách một nguồn cung cấp viện trợ mới, thậm chí khi Cuba đã đứng về phía Liên xô trong cuộc Chia rẽ Trung-Xô trong thập kỷ 1960. Cuba cũng tìm thấy các đồng minh mới là Tổng thống Hugo Chávez tại VenezuelaTổng thống Evo Morales của Bolivia, những nước xuất khẩu dầu và khí tự nhiên lớn.

Chuyển giao trách nhiệm

Raúl Castro, người kế nhiệm Fidel Castro

Ngày 31 tháng 7 năm 2006, Fidel Castro chuyển giao các chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, Tổng thư ký Đảng Cộng sản Cuba và chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang cho em trai mình là Phó tổng thống thứ nhất, Raúl Castro. Cuộc chuyển giao quyền lực này đã được miêu tả là tạm thời để Castro hồi phục từ cuộc phẫu thuật sau khi phải chịu một cơn “bệnh đường ruột cấp tính gây chảy máu”. Fidel Castro quá ốm yếu để tham dự buổi lễ toàn quốc lần thứ 50 kỉ niệm thời điểm con tàu Granma cập đất liền ngày 2 tháng 12 năm 2006, khiến có những đồn đoán cho rằng Castro bị ung thư dạ dày,[18] dù Bác sĩ Tây Ban Nha García Sabrido, sau một cuộc khám xét ngày Giáng sinh, đã nói rằng tình trạng ốm yếu của ông là một vấn đề về tiêu hóa và không phải ung thư giai đoạn cuối.[19]
Ngày 31 tháng 7 năm 2007, băng hình cuộc gặp của Castro với Tổng thống Venezuela Hugo Chávez đã được phát sóng, theo các báo cáo của truyền thông quốc tế, Castro “tỏ ra yếu ớt nhưng khỏe hơn vài tháng trước”,[20] và nhà lãnh đạo Cuba đã có một cuộc nói chuyện điện thoại kéo dài đáng ngạc nhiên trên buổi nói chuyện trên đài của Chávez Aló Presidente tháng sau đó.[21] Dù những người trung thành với Castro trong chính phủ Cuba đã nói rằng ông sẽ vẫn ra tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2008 vào Quốc hội Cuba, vẫn có những nghi ngờ về việc ông sẽ tiếp tục hay thậm chí có khả năng quay lại cầm quyền hay không.[22]

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Cuba

Quảng trường Cách mạng: Đài kỷ niệm José Martí do Enrique Luis Varela thiết kế, điêu khắc của Juan José Sicre và hoàn thành năm 1958.[23]

Sau khi Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa được ban hành năm 1976, được thông qua mà không cần tuân thủ các quy tắc do Hiến pháp năm 1940 đề ra, Cộng hòa Cuba đã được xác đinh là một nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp này đã được thay thế bằng Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa năm 1992, hiến pháp hiện nay, tuyên bố nhà nước được dẫn dắt bởi các tư tưởng của José Martí, và các tư tưởng chính trị của Mác, EngelsLênin.[24] Hiến pháp hiện nay cũng quy định trách nhiệm của Đảng Cộng sản Cuba (PCC) là “lực lượng lãnh đạo xã hội và đất nước.”[24] Tổng thư ký Đảng Cộng sản, Fidel Castro, hiện là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (Tổng thống Cuba) và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (thỉnh thoảng còn được gọi là Thủ tướng Cuba).[25] Các thành viên của cả hai hội đồng đều do Quốc hội Quyền lực Nhân dân bầu.[26] Tổng thống Cuba, người cũng do quốc hội bầu, hoạt động với nhiệm kỳ năm năm và không có điều khoản hạn chế số nhiệm kỳ được phục vụ.[26] Fidel Castro đã là Tổng thống từ khi Hiến pháp được thông qua năm 1976 khi ông thay thế Osvaldo Dorticós Torrado. Tòa án tối cao Cuba là nhánh tư pháp cao nhất của chính phủ. Đây cũng là tòa đưa ra phán xét cuối cùng đối với các phiên phúc thẩm từ các tòa án địa phương.
Cơ quan lập pháp Cuba, Quốc hội Quyền lực Nhân dân (Asamblea Nacional de Poder Popular), là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao và có 609 hoạt động theo nhiệm kỳ 5 năm.[26] Quốc hội họp hai phiên mỗi năm, giữa hai phiên họp quyền lập pháp do Hội đồng Bộ trưởng gồm 21 thành viên nắm giữ. Các ứng cử viên quốc hội được phê chuẩn bởi hội nghị nhân dân. Tất cả các công dân Cuba trên mười sáu tuổi và không phạm tội hình sự đều được đi bầu cử. Điều 131 Hiến pháp nói rằng việc bầu cử sẽ được tiến hành “tự do, bình đẳng, và theo hình thức bỏ phiếu kín”. Điều 136 quy định: “Để các đại biểu hay đại diện được coi là trúng cử họ phải có hơn nửa số phiếu bầu hợp lệ tại khu vực bầu cử”. Bầu cử được tiến hành theo hình thức bỏ phiếu kín và phiếu được kiểm công khai. Những con số phiếu bầu cao bất thường dành cho một cá nhân nào đó sẽ được tái kiểm bởi những quan sát viên không đảng phái, độc lập, hay không thuộc các cơ quan nhà nước. Các ứng cử viên được lựa chọn tại địa phương từ nhiều ứng cử viiên trước khi có được sự phê chuẩn chính thức của ủy ban bầu cử. Sau cuộc bầu cử, chỉ có một ứng cử viên cho mỗi ghế, với đa số phiếu, được bầu.

Bản đồ hành chính Cuba 1994

Không một đảng chính trị nào được phép đưa ra ứng cử viên hay vận động tranh cử trên hòn đảo, dù Đảng Cộng sản Cuba đã tổ chức năm cuộc Đại hội đại biểu từ năm 1975. Năm 1997, đảng tuyên bố có 780.000 đảng viên, và đại diện của đảng chiếm ít nhất một nửa các Hội đồng quốc gia và Quốc hội. CÁc vị trí còn lại thuộc các ứng cử viên được gọi là không đảng phái. Các đảng chính trị khác thực hiện chiến dịch tranh cử và vận động tài chính ở nước ngoài, còn các hoạt động của các nhóm đối lập bị hạn chế và coi là bất hợp pháp. Tuy hiến pháp Cuba có quy định cho phép tự do ngôn luận, những quyền này bị hạn chế theo Điều 62, nói rằng “Không một quyền tự do nào được ghi nhận cho các công dân có thể tiến hành hoạt động chống đối…. sự tồn tại và các mục đích của nhà nước xã hội chủ nghĩa, hay trái ngược với quyết định của nhân dân Cuba về việc xây dựng chủ nghĩa xã hộichủ nghĩa cộng sản. Những hành động vi phạm nguyên tắc này có thể bị xét xử theo pháp luật.” Bởi những phương tiện sản xuất nằm trong tay nhà nước và dưới sự kiểm soát của chính phủ, đã có nhiều trường hợp vi phạm nguyên tắc này khiến người vi phạm mất việc làm.
Các thành viên Đảng Cộng sản Cuba tham gia vào Các Ủy ban Bảo vệ Cách mạng toàn dân, đóng vai trò chủ chốt trong cuộc sống hàng ngày. Các nhóm này được hình thành để phối hợp với các định chế công cộng, đảm bảo rằng người dân trung thành với mục tiêu chủ nghĩa xã hội của chính phủ, và hành động như một người giám sát với hàng xóm chống lại các hoạt động “phản cách mạng“.
Từ khi Cuba trở thành một nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa năm 1961, chính phủ Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều biện pháp mang tính chính sách tạo ra các hiệu ứng mạnh cả về chính trị và kinh tế với hòn đảo này; chúng được nghiên cứu kỹ để thực hiện mục đích lật đổ giới lãnh đạo và khuyến khích Cuba tiến hành thay đổi chính trị theo hướng đa đảng. Biện pháp đáng chú nhất trong số đó là lệnh Cấm vận Hoa Kỳ chống CubaĐạo luật Helms-Burton sau đó năm 1996. Nhiều người tin rằng chính phủ Cuba không đảm bảo các yêu cầu tối thiểu về dân chủ, đặc biệt vì thiếu hệ thống bầu cử đa đảng và sự hạn chế quyền tự do ngôn luận khiến ứng cử viên không thể trình bày quan điểm của mình trong chiến dịch tranh cử.[27] Chính phủ Cuba, những người ủng hộ họ và các nhà quan sát khác bên trong Cuba cho rằng Cuba có một hình thức dân chủ riêng, đưa ra lý luận là sự tham gia rộng rãi vào quá trình đề cử ở cả tầm vóc quốc gia và khu vực.

Nhân quyền

Bài chi tiết: Nhân quyền tại Cuba

Chính phủ Cuba đã bị buộc tội về nhiều hành động vi phạm nhân quyền, gồm tra tấn, tùy tiện bỏ tù, xét xử không công bằng và hành quyết không xét xử.[28] Những người hoạt động đối lập than phiền bị sách nhiễu và tra tấn[29] Tuy chính phủ Cuba đã đình hoàn hình phạt tử hình năm 2001, nhưng nó vẫn không được áp dụng với những thủ phạm của một vụ không tặc có vũ trang hai năm sau đó. Các nhóm như Ân xá Quốc tếHuman Rights Watch đã đưa ra những báo cáo về các “tù nhân lương tâm” Cuba.[30] Những người đối lập cáo buộc chính phủ Cuba đàn áp tự do biểu thị quan điểm bằng cách hạn chế truy cập Internet.[31] Chính phủ Cuba từ chối cho Ủy ban Quốc tế của Hội Chữ thập đổ tiếp cận với các tù nhân và các nhóm nhân quyền của họ gồm cả việc cấm Ân xá Quốc tế hoạt động tại Cuba.

Liên đoàn thương mại

Có các liên đoàn tại Cuba, với số thành viên lên tới 98% nhân lực hòn đảo này. Các liên đoàn không đăng ký với bất kỳ một cơ quan nhà nước nào, và tự lấy kinh phí hoạt động từ nguồn đóng góp thành viên hàng tháng. Những người ủng hộ họ cho rằng các viên chức liên đoàn được bầu lên trên cơ sở tự do, và có nhiều quan điểm chính trị bên trong mỗi liên đoàn.[32] Tuy nhiên, tất cả các liên đoàn đều là một phần của một tổ chức được gọi là Confederación de Trabajadores Cubanos (Hiệp hội Công nhân Cuba, CTC), hội này thực sự có những mối quan hệ mật thiết với nhà nước và Đảng Cộng sản. Những người ủng hộ cho rằng CTC cho phép công nhân chuyển ý kiến lên chính phủ; những người đối lập lại cho rằng chính phủ sử dụng nó để kiểm soát các công đoàn thương mại và chỉ định các thành viên lãnh đạo công đoàn. Quyền tự do bày tỏ ý kiến của công nhân cũng là một vấn đề được tranh luận. Những người ủng hộ hệ thống cho rằng những ý kiến của công nhân trên thực tế đã hình thành nên chính sách của chính phủ trong nhiều hoàn cảnh, như đề xuất cải cách thuế năm 1993,[32] trong khi phe đối lập, đưa ra những nghiên cứu của các tổ chức lao động quốc tế cho thấy công nhân bị buộc phải thề nguyền trung thành với các lý tưởng của Đảng Cộng sản, và cho rằng chính phủ chi phối một cách có hệ thống và cản trở các nhà hoạt động công đoàn, trong khi vẫn ngăn cấm việc thành lập các liên đoàn thương mại độc lập (không thuộc CTC), rằng các lãnh đạo các liên đoàn độc lập đã bị bỏ tù, và rằng quyền đình công của công nhân không được ghi nhận trong luật.[33]

Phân chia hành chính

Cuba có ba cấp hành chính là trung ương, tỉnh (provincias) và hạt (municipios). Cấp tỉnh có 14 đơn vị, cấp hạt có 169 đơn vị. Có một hạt đặc biệt, được xếp ngang với cấp tỉnh, đó là Isla de la Juventud. Trước kia Cuba chỉ có sáu tỉnh: Pinar del Río, Habana, Matanzas, Las Villas, Camagüey và Oriente. Cách phân chia hành chính hiện nay rất giống với kiểu tỉnh quân sự Tây Ban Nha trong những cuộc chiến tranh giành độc lập của Cuba, khi hầu hết những vùng có nhiều rắc rối đều được chia nhỏ.

CubaSubdivisions.png
  1. Pinar del Río
  2. Artemisa
  3. La Habana
  4. Mayabeque
  5. Matanzas
  6. Cienfuegos
  7. Villa Clara
  8. Sancti Spíritus
  1. Ciego de Ávila
  2. Camagüey
  3. Las Tunas
  4. Granma
  5. Holguín
  6. Santiago de Cuba
  7. Guantánamo
  8. Isla de la Juventud

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Cuba

Địa hình Cuba và vị trí trong khu vực Trung Mỹ và Caribe

Cuba là một quần đảo nằm tại Biển Caribbean, với tọa độ địa lý 21°3N, 80°00W. Cuba là hòn đảo chính, được bao quanh bởi bốn nhóm đảo lớn. Chúng gồm Colorados, Camagüey, Jardines de la ReinaCanarreos. Hòn đảo chính Cuba chiếm hầu hết diện tích đất nước (105.006 km² hay 40.543 dặm vuông) và là hòn đảo lớn thứ 17 trên thế giới theo diện tích. Hòn đảo lớn thứ hai tại Cuba là Đảo Thanh niên (Isla de la Juventud), tên cũ là Đảo Thông (Isla de la Pinos) ở phía đông nam, với diện tích 3056 km² (1180 dặm vuông). Cuba có tổng diện tích đất liền 110.860 km².
Hòn đảo chính gồm chủ yếu các đồng bằng phẳng tới hơi dốc. Ở cực phía đông nam Sierra Maestra, một rặng núi dốc đứng với điểm cao nhất là Pico Real del Turquino 2.005 mét (6.578 ft). Khí hậu địa phương là nhiệt đới, dù được điều tiết ôn hòa bởi gió mậu dịch. Nói chúng (với biến thiên theo địa phương), có một mùa khô từ tháng 11 tới tháng 4, và một mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 10. Nhiệt độ trung bình 21 °C vào tháng 1 và 27 °C vào tháng 7. Cuba nằm trên đường đi của các cơn bão và chúng thường xảy ra nhất trong khoảng từ tháng 9 tới tháng 10. La Habana là thành phố lớn nhất và thủ đô Cuba; các thành phố lớn khác gồm Santiago de CubaCamagüey. Những thị trấn nổi tiếng khác gồm Baracoa từng là khu định cư đầu tiên của người Tây Ban Nha tại Cuba, Trinidad, và một di sản thế giới của UNESCO, and Bayamo.

Xã hội

Giáo dục

Bài chi tiết: Giáo dục tại Cuba

Trường đại học quốc gia Cu ba tại La Habana

Về lịch sử, Cuba từng có tỷ lệ giáo dục và biết chữ cao nhất Mỹ Latinh, cả trước và sau thời kỳ cách mạng.[34] Giáo dục là miễn phí đối với mọi công dân Cuba gồm cả giáo dục đại học. Các định chế giáo dục tư nhân không được phép hoạt động. Phổ cập giáo dục áp dụng với mọi đứa trẻ từ sáu tuổi tới hết mức giáo dục cấp hai căn bản (thường là 15 tuổi) và tất cả học sinh, không cần biết giới tính và sắc tộc, đều mặc đồng phục của trường với màu sắc thể hiện cấp học. Giáo dục tiểu học kéo dài sáu năm, giáo dục trung học cơ sở được chia thành mức căn bản và tiền đại học. Giáo dục cao học được tiến hành tại các trường đại học, các viện, các viện sư phạm và các viện bách khoa. Đại học La Habana được thành lập năm 1728 và có một số trường cao đẳng cũng như đại học khác. Bộ Giáo dục Cao học Cu ba cũng điều hành chương trình Giáo dục Từ xa mở các lớp buổi chiều và buổi tối tại các vùng nông thôn cho các lao động nông nghiệp. Giáo dục được đề cao cả về mặt chính trị và ý thức hệ, và sinh viên bậc cao học được chờ đợi sẽ là người thực hiện các mục tiêu do chính phủ Cuba đề ra.[35]

Sức khoẻ cộng đồng

Chính phủ Cuba điều hành một mạng lưới y tế quốc gia và đảm trách tất cả các nghĩa vụ thuế và hành chính đối với việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Về lịch sử, Cuba từ lâu đã được xếp hạng một trong những quốc gia có số nhân viên y tế cao và có nhiều đóng góp vào công cuộc chăm sóc sức khỏe cộng đồng thế giới từ thế kỷ 19. Theo những con số thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi thọ và tỷ lệ tử vong trẻ em tại Cuba từng có thể so sánh với các nước công nghiệp phát triển theo các số liệu được thu thập lần đầu năm 1957. Khảo sát chi tiết hơn của WHO về Cuba cho thấy chúng được chuẩn bị bởi mỗi chính phủ[36] và luôn được công bố không thay đổi bởi WHO; vì thế đã có câu hỏi được đặt ra.[37]
Nhánh các bệnh viện dành cho các nhà ngoại giao và khách du lịch riêng biệt với nhánh trên.

Nhân khẩu

Tính đa chủng tộc của người dân Cuba qua một nhóm sinh viên trường Y khoa
Bài chi tiết: Nhân khẩu Cuba

Theo CIA World Factbook, 51% người Cuba là Mulatto (lai da trắng và đen), 37% da trắng, 11% da đen, và 1% Trung Quốc. Các cuộc nghiên cứu DNA trên khắp vùng Antilles đã cho thấy có sự hiện diện của các nhóm neo-Taino trong dân số ở mức độ lớn hơn quan niệm trước kia.[4]
Theo Cuba’s Oficina Nacional de Estadisticas ONE 2002 Census, dân số Cuba là 11.177.743 người,[38] trong đó:

  • 5.597.233 nam và
  • 5.580.510 nữ.

Tính theo chủng tộc 7.271.926 da trắng, 1.126.894 da đen và 2.778.923 mulatto (hay mestizo).[39] Số người Trung Quốc tại Cuba chủ yếu là hậu duệ của các lao động đã tới đây trong thế kỷ 19 để xây dựng các tuyến đường sắt và làm việc tại các khu mỏ. Sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, nhiều người trong số các lao động này đã ở lại Cuba vì họ không đủ tiền quay lại Trung Quốc.

(Điều tra dân số chính thức Cuba năm 2002)
Tổng Nam Nữ  % của Tổng
Da trắng 7.271.926 3.618.349 3.653.577 65,05%
Da đen 1.126.894 593.876 533.018 10,08%
Mulatto/Mestizo 2.778.923 1.385.008 1.393.915 24,86%[40]

Biểu đồ hình tháp về dân số Cuba năm 2005

Chính phủ Cuba kiểm soát sự di dân vào thủ đô La Habana vì đây là vùng thành thị (nơi sinh sống của gần 20% dân số đất nước) đã quá tải về sử dụng đất, nước, điện, vận tải và các yếu tố hạ tầng đô thị khác. Những người dân di cư nội bộ tới La Habana được đặt biệt hiệu là “Palestinos” (người Palestine); họ chủ yếu tới từ vùng phía đông Oriente.[41] Cuba cũng là nơi sinh sống của một số người không phải gốc Cuba. Có khoảng vài nghìn người tị nạn Bắc Phi ở độ tuổi thiếu niên và nhỏ hơn.[42]
Tỷ lệ sinh của Cuba (9,88 sinh trên 1000 người năm 2006)[43] là một trong những tỷ lệ thấp nhất khu vực Tây Bán Cầu. Tổng dân số đã tăng liên tục từ khoảng 7 triệu người năm 1961 tới hơn 11 triệu hiện nay, nhưng tỷ lệ tăng đã ngừng lại trong vài thập kỷ qua, và gần đây đã quay sang xu hướng giảm, lần đầu tiên chính phủ Cuba đã thông báo trong năm 2006 có hiện tượng giảm dân số từ vụ Di cư Mariel. Sự sụt giảm trong tỷ lệ sinh – từ 3.2 trẻ em trên phụ nữ năm 1970 xuống còn 1.38 năm 2006 – là mức lớn thứ ba ở Tây Bán Cầu, chỉ GuadeloupeJamaica có mức giảm lớn hơn.[44] Cuba, vốn cho phép nạo thai, có tỷ lệ nạo thai 58.6 trên 1000 ca mang thai năm 1996 so với tỷ lệ trung bình vùng Caribbean là 35, tỷ lệ trung bình vùng Mỹ Latinh là 27 (tại Mỹ La tinh hầu như là nạo thai bất hợp pháp), và tỷ lệ trung bình tại Châu  48. Ngoài ra, việc sử dụng biện pháp tránh thai được ước tính khoảng 79% (ở một phần ba phía trên các nước tại Tây Bán Cầu).[45] Với tỷ lệ nạo thai cao, tỷ lệ sinh thấp, và dân số đang già đi, sơ đồ nhân khẩu Cuba rất giống với sơ đồ nhân khẩu các quốc gia cộng sản Đông Âu cũ như Ba Lan hay Ukraine chứ không phải các quốc gia Mỹ Latinh hay Caribbean láng giềng.

Học sinh đang chơi nhảy dây giữa các lớp tại một trường cấp hai vùng thôn quê Cuba

Nhập cư và di cư đã mang lại những hiệu ứng đáng kể trên sơ đồ nhân khẩu học Cuba trong thế kỷ 20. Trong khoảng 1900 và 1930, gần mộ triệu người Tây Ban Nha đã tới nước này. Từ năm 1959, hơn một triệu người đã rời bỏ hòn đảo, chủ yếu đi tới Miami, Florida, nơi có một cộng đồng nhập cư có giáo dục cao và thành công về mặt kinh tế đang sinh sống (Vận động hành lang Cuba-Mỹ).[46] Cuộc di cư xảy ra ngay lập tức sau Cách mạng Cuba chủ yếu thuộc các tầng lớp trung và thượng lưu với đa số người da trắng, vì thế đã dẫn tới một sự thay đổi lớn trong tỷ lệ sinh và chủng tộc trong nhiều nhóm sắc tộc. Tìm cách bình thường hóa sự di cư giữa hai nước – đặc biệt sau sự hỗn loạn xảy ra với vụ Di tản Mariel – Cuba và Hoa Kỳ đã đồng thuận (trong cái ngày nay thường được gọi là Thỏa thuận Clinton-Castro năm 1994[47]) hạn chế sự di cư tới Mỹ. Theo đó, Hoa Kỳ trao một số lượng visa cụ thể cho những người muốn di cư (20.000 từ năm 1994) trong khi những người Cuba được cứu vớt ngoài biển khi di cư bất hợp pháp không có visa sẽ bị trả về Cuba. U.S. law[48] trao cho Tổng chưởng lý quyền quyết định trao quyền cư trú thường xuyên cho những người dân hay công dân Cuba đang tìm cách hợp pháp hóa tình trạng của mình nếu họ đã có mặt tại Hoa Kỳ trong ít nhất một năm sau khi được chấp nhận hay có sự cam kết và được chấp nhận là những người nhập cư; [cần dẫn nguồn] những người di cư bất hợp pháp đó chủ yếu là những người liều mạng và nhanh nhẹn.[49][50] Năm 2005 thêm 7.610 người nhập cư Cuba đã tới Hoa Kỳ tớ ngày 30 tháng 9. [cần dẫn nguồn] Các công dân Cuba cần phải có một giấy phép ra đi trước khi có thể rời đất nước. [cần dẫn nguồn] Human Rights Watch đã chỉ trích các biện pháp hạn chế di cư của Cuba và những cái gọi là giữ trẻ em làm “con tin” nhằm ngăn chặn những người Cuba đi du lịch nước ngoài đào thoát.[51]

Tôn giáo

Bài chi tiết: Tôn giáo tại Cuba

Cuba có nhiều đức tin phản ánh sự đa dạng của các yếu tố văn hóa trên hòn đảo này. Thiên Chúa giáo, được đưa tới đây bởi người Tây Ban Nha hồi đầu thế kỷ 16, là tôn giáo lớn nhất. Sau cách mạng, Cuba đã chính thức trở thành một quốc gia vô thần và ngăn cấm hoạt động tôn giáo. Từ Đại hội Đảng Cộng sản Cuba lần thứ 4 năm 1991, các biện pháp hạn chế đã được nới lỏng và, theo National Catholic Observer, những vi phạm trực tiếp của các định chế nhà nước vào quyền tôn giáo đã được bãi bỏ,[52] dù giáo hội vẫn phải đối mặt với các hạn chế trong liên lạc thư từ và điện tử, và chỉ được nhận quà tặng từ các nguồn tài trợ được nhà nước cho phép.[52] Giáo hội Công giáo La Mã hiện diện thông qua Hội đồng Giám mục Công giáo Cuba (COCC), do Hồng y Jaime Lucas Ortega y Alamino, Tổng Giám mục La Habana lãnh đạo[53]. Tổ chức này có 11 giáo khu, 56 cấp tu sĩ và 24 cấp linh mục. Tháng 1 năm 1998, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã có chuyến thăm lịch sử tới hòn đảo này, theo lời mời của Chính phủ Cuba và Giáo hội Công giáo tại Cuba.
Nét đặc trưng lớn nhất trong tôn giáo Cuba là sự hiện diện của rất nhiều đức tin ở mọi thể loại. Sự đa dạng này có nguồn gốc từ người Tây và Trung Phi, những người đã được đưa tới lao động tại Cuba, và trên thực tế đã tái tạo các tôn giáo Châu Phi của họ. Họ tạo ra nó bằng cách kết hợp các tôn giáo cũ với các yếu tố đức tin trong đạo Thiên Chúa, với kết quả là một thứ tôn giáo rất giống với Umbanda của Brasil. Thiên Chúa giáo thường được thực thi cùng Santería, một sự pha trộn của Thiên Chúa giáo cùng tôn giáo khác, chủ yếu là từ Châu Phi, các đức tin gồm một số tôn giáo thờ cúng. Vị thánh bảo hộ của Cuba, La Virgen de la Caridad del Cobre (Đức mẹ Đồng trinh Cobre) là một thứ đa thần giáo với Santería goddess Ochún. Lễ hội tôn giáo lớn “La Virgen de la Caridad del Cobre” được người Cuba tổ chức hàng năm ngày 8 tháng 9. Các tôn giáo khác cũng hoạt động gồm Palo Monte, và Abakuá, phần lớn các nghi thức tế lễ của chúng được thực hiện bằng các ngôn ngữ Châu Phi.
Tin lành, xuất xứ từ Hoa Kỳ trong thế kỷ 18, luôn có bước tăng trưởng vững chắc trong số tín đồ. 300.000 người Cuban thuộc 54 giáo phái Tin Lành trên hòn đảo này. Tôn giáo chính thống (Pentecostalism) cũng đã phát triển mạnh trong những năm gần đây, và chỉ riêng Assemblies of God đã tuyên bố mình có 100.000 tín đồ. Giáo hội Trưởng lão Cuba tuyên bố có 10.000 tín đồ. Cuba có các cộng đồng Do Thái, Hồi giáo và các thành viên thuộc đức tin Bahá’í nhỏ.[54] La Habana chỉ có ba Hội đường Do Thái và không có một thánh đường Hồi giáo nào[55]. Đa số người Do Thái Cuba là hậu duệ của những người Do Thái Ba Lan và Nga bỏ chạy khỏi cuộc tàn sát người Do Thái đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, cũng có một số lượng đáng kể người Do Thái Sephardic tại Cuba, họ có nguồn gốc từ Thổ Nhĩ Kỳ (chủ yếu tại IstanbulThrace). Đa số những người Do Thái Sephardic sống tại các tỉnh, dù họ thực sự có duy trì một hội đường tại La Habana. Trong thập niên 1960, tới 8.000 người Do Thái đã di cư sang Miami. Trong thập niên 1990, xấp xỉ 400 người Do Thái Cuba đã quay trở về Israel trong cuộc di cư được sắp xếp sử dụng visa do các quốc gia thông cảm với nguyện vọng về Israel của họ cung cấp.

Văn hóa

Bài chi tiết: Văn hóa Cuba

Sân một trong những bảo tàng miễn phí tại La Habana, ‘Casa de Simón Bolívar’

Văn hóa Cuba chịu ảnh hưởng nhiều ở thực tế đây là đất nước tiếp thu và hòa nhập nhiều nền văn hóa, chủ yếu từ Tây Ban Nha và Châu Phi. Nước này là nơi sản sinh ra khá nhiều tác phẩm văn học, gồm cả từ những nhà văn không phải người Cuba như Stephen Crane, và Ernest Hemingway.
Thể thao là niềm đam mê quốc gia của Cuba. Vì những mối liên hệ lịch sử với Hoa Kỳ, nhiều người Cuba yêu thích những môn thể thao phổ biến tại Bắc Mỹ, chứ không phải các môn thể thao truyền thống tại các nước Mỹ Latinh khác. Bóng chày là môn thể thao được ưa thích nhất tại đây; các môn thể thao và giải trí khác ở Cuba gồm bóng rổ, bóng chuyềnđiền kinh. Cuba rất mạnh trong môn đấm bốc nghiệp dư, thường đoạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế lớn.
Âm nhạc Cuba rất phong phú và là khía cạnh nổi tiếng nhất của văn hóa. “Hình thức trung tâm” của âm nhạc này là Son, đã trở thành nền tảng của nhiều phong cách âm nhạc khác như salsa, rumbamambo và một biến thể tiết tấu chậm hơn của mambo là cha-cha-cha. Âm nhạc Rumba có nguồn gốc từ văn hóa Châu Phi-Cuba thời kỳ đầu. Tres cũng được sáng tạo tại Cuba, nhưng các nhạc cụ Cuba truyền thống khác có nguồn gốc Châu Phi và/hay Taíno như maraca, güiro, marímba và nhiều loại trống gỗ gồm cả mayohuacan. Âm nhạc dân gian Cuba ở mọi phong cách được thưởng thức và yêu thích trên toàn thế giới. Âm nhạc cổ điển Cuba, với nhiều ảnh hưởng sâu từ Châu Âu và Châu Phi, với các tác phẩm cho giao hưởng cũng như độc tấu, đã được cả thế giới biết tới, với nhà soạn nhạc như Ernesto Lecuona.

Môn Bóng chày rất được người Cuba ưa thích và được coi là môn thể thao dân tộc

Văn học Cuba đã bắt đầu có tiếng vang từ đầu thế kỷ 19. Chủ đề chủ chốt của thời kỳ ấy là độc lập và tự do đã được thể hiện qua các tác phẩm của José Martí, người lãnh đạo phong trào Hiện đại trong văn học Cuba. Các tác gia như Nicolás GuillénJose Z. Tallet coi văn học là phương tiện phản kháng xã hội. Các bài thơ và những cuốn tiểu thuyết của José Lezama Lima cũng để lại nhiều ảnh hưởng. Các tác gia như Reinaldo Arenas, Guillermo Cabrera Infante, Pedro Juan Gutiérrez, Leonardo Padura Fuentes, và Ronaldo Menedez đã nhận được sự công nhận của thế gới trong thời kỳ hậu cách mạng, dù nhiều tác gia buộc phải rời bỏ đất nước vì sự kiểm soát hệ tư tưởng truyền thông của các cơ quan quyền lực Cuba.
Ẩm thực Cuba là hỗn hợp của ẩm thực Tây Ban Nha và các phong cách ẩm thực Caribbean. Công thức chế biến món ăn của Cuba sử dụng cùng loại hương vị và kỹ thuật với Tây Ban Nha, với một số ảnh hưởng vùng Caribbean trong gia vị và mùi vị. Một bữa ăn truyền thống của Cuba sẽ không bao giờ được phục vụ theo kiểu từng món một; mà tất cả thức ăn sẽ được đưa ra cùng lúc. Bữa ăn đặc trưng gồm chuối lá, đậu đen (black bean) và gạo, ropa vieja (thịt bò thái nhỏ), bánh mì Cuba, thịt lợn với hành, và hoa quả nhiệt đới. Đậu đen và gạo, được gọi là moros y cristianos (hay nói gọn là moros), và chuối lá là thực phẩm chủ lực trong bữa ăn của người Cuba. Nhiều món thị được nấu chín từ từ với nước chấm nhạt. Tỏi, thìa là Ai Cập, oreganolá nguyệt quế là các loại gia vị được sử dụng nhiều.

Kinh tế

Tổ hợp khách sạn du lịch trên bờ vịnh La Habana.
Bài chính: Kinh tế Cuba, Du lịch Cuba, Chế độ phân phối tại Cuba, Sociolismo

Chính phủ Cuba tuân theo các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong tổ chức nền kinh tế kế hoạch hóa to lớn do nhà nước kiểm soát của họ. Đa số các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu và sự điều hành của chính phủ và đa số lực lượng lao động làm việc cho các công ty nhà nước. Những năm gần đây, đã có xu hướng chuyển dịch lao động sang lĩnh vực tư nhân. Năm 2006, lĩnh vực công cộng sử dụng 78% lực lượng lao động và tư nhân sử dụng 22% so với tỷ lệ này năm 1981 là 91.8% và 8.2%.[56] Đầu tư vốn bị hạn chế và buộc phải được sự đồng ý của chính phủ. Chính phủ Cuba áp đặt hầu hết các loại giá cả và khẩu phần lương thực cho các công dân. Hơn nữa, bất kỳ một công ty nào muốn thuê nhân công Cuba phải trả tiền cho chính phủ Cuba, và chính phủ sẽ trả tiền trực tiếp cho người đó bằng đồng peso Cuba.
Bắt đầu từ cuối thập niên 1980, các khoản viện trợ của Xô viết cho nền kinh tế quản lý nhà nước của Cuba bắt đầu cạn kiệt. Trước khi Liên bang Xô viết sụp đổ, Cuba phụ thuộc vào Moskva về thị trường xuất khẩu và những khoản viện trợ tối cần thiết. Người Xô viết từng trả giá cao cho sản phẩm đường của Cuba trong khi cung cấp dầu mỏ cho nước này với giá thấp hơn thị trường. Sự biến mất của các khoản trợ cấp đó đã khiến nền kinh tế Cuba rơi vào một giai đoạn suy thoái nhanh chóng, được gọi là Giai đoạn Đặc biệt tại Cuba. Có thời điểm, Cuba nhận được các khoản viện trợ lên tới sáu tỷ dollar Mỹ.
Năm 1992, Hoa Kỳ thắt chặt lệnh cấm vận thương mại. Một số người tin rằng điều này có thể đã tới sự sụt giảm tiêu chuẩn sống tại Cuba và chạm tới điểm khủng hoảng chỉ trong vòng một năm.[57]
Tương tự các quốc gia xã hội chủ nghĩa và có xu hướng xã hội chủ nghĩa sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Cuba đưa ra các biện pháp theo định hướng thị trường tự do giới hạn nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm nghiêm trọng thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, và dịch vụ xảy ra khi các khoản viện trợ của Liên xô chấm dứt. Những biện pháp này gồm cho phép một số công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ và chế tạo, hợp pháp hóa sự sử dụng đồng dollar Mỹ trong thương mại và khuyến khích du lịch. Năm 1996 du lịch đã vượt qua ngành công nghiệp mía đường để trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho Cuba. Cuba đã tăng gấp ba thị phần du lịch của mình tại Caribbean trong thập kỷ qua, với sự đầu tư to lớn vào hạ tầng du lịch, tỷ lệ tăng trưởng này được dự đoán sẽ còn tiếp diễn.[58] 1.9 triệu du khách đã tới Cuba năm 2003 chủ yếu từ Canada và Liên minh Châu Âu mang lại khoản tiền 2.1 tỷ dollar cho nước này.[59] Sự tăng trưởng nhanh chóng của lĩnh vực du lịch trong Giai đoạn Đặc biệt đã tác động mạnh mẽ tới kinh tế xã hội Cuba. Nó đã dẫn tới dự báo về sự xuất hiện của một nền kinh tế hai thành phần[60] và tạo điều kiện thuận lợi cho một kiểu du lịch apartheid nhà nước trên hòn đảo này.
Chính phủ Cuba đã phát triển đáng kể khả năng Du lịch y tế của họ, coi đó là một trong những phương tiện quan trọng mang lại thu nhập cho đất nước. Trong nhiều năm, Cuba đã phát triển các bệnh viện đặc biệt điều trị bệnh riêng cho người ngoại quốc và các nhà ngoại giao nước ngoài. Mỗi năm, hàng ngàn người Châu Âu, người Mỹ Latinh, người Canada và người Mỹ tới đây để sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế có giá cả thấp hơn tới 80% so với tại Hoa Kỳ.

Xì gà La Habana có thương hiệu nổi tiếng thế giới cũng là nguồn thu ngoại tệ đáng kể của Cuba

Từ cuộc Cách mạng Cuba năm 1959, tiêu chuẩn sống người dân Cuba luôn trượt theo một vòng xoáy đi xuống. Năm 1962, chính phủ đưa ra chính sách phân phối lương thực, càng trở nên gắt gao sau sự sụp đổ của Liên Xô. Ngoài ra, Cuba đã trải qua tình trạng thiếu hụt nhà ở vì chính phủ không thể đáp ứng nổi sự gia tăng nhu cầu. Tới cuối năm 2001, nghiên cứu cho thấy mức sống trung bình tại Cuba thấp hơn giai đoạn Xô viết. Những vấn đề chủ chốt là nhà nước không thể trả lương đáp ứng nhu cầu của người lao động và hệ thống phân phối luôn bị ám ảnh thường xuyên với tình trạng thiếu hụt hàng hóa. Khi số lượng hàng hóa phân phối giảm suát, người Cuba dần phải quay sang chợ đen để có được những sản phẩm căn bản: quần áo, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật dụng chăm sóc sức khoẻ. Khu vực không chính thức này được nhiều người dân Cuba gọi là sociolismo. Ngoài ra, tình trạng tham nhũng nhỏ trong các ngành công nghiệp nhà nước, như ăn cắp tài sản nhà nước để bán ra chợ đen, cũng thường xảy ra.[61] Trong những năm gần đây, sự nổi lên của Venezuela với vị Tổng thống Dân chủ Xã hội Hugo Chávez khiến Cuba có được nhiều khoản viện trợ từ nước này giúp cải thiện nền kinh tế. Viện trợ của Venezuela cho Cuba chủ yếu thông qua khoản cung cấp lên tới 80.000 barrel dầu mỏ mỗi ngày đổi lấy lao động chuyên gia và các mặt hàng nông nghiệp. Trong nhiều năm qua, Cuba đã thu hồi lại một số biện pháp định hướng kinh tế thị trường đã được đưa ra trong thập kỷ 1990. Năm 2004, các quan chức Cuba đã công khai ủng hộ đồng Euro trở thành “đối trọng toàn cầu với đồng dollar Mỹ”, và hạn chế đồng dollar trong dự trữ cũng như trong thanh toán thương mại. Những hạn chế ngày càng tăng của chính phủ Hoa Kỳ về đi lại của những người Mỹ gốc Cuba cũng như khoản tiền họ được phép mang về Cuba càng khiến chính phủ Cuba tăng kiểm soát sự lưu chuyển đồng dollar trong nền kinh tế. Trong thập kỷ qua, người Cuba nhận được khoảng 600 triệu tới 1 tỷ dollar hàng năm, chủ yếu từ các thành viên gia đình đang sống tại Mỹ.[59]. Con số này bị ảnh hưởng bởi thực tế chính phủ Mỹ cấm các công dân của mình gửi quá 1.200 về Cuba.

Biểu đồ tăng trưởng GDP của Cuba trong 60 năm (1945-2005) so với một số nước láng giềng nhỏ quanh vịnh Mexico

Năm 2005 Cuba xuất khẩu hàng hóa trị giá 2.4 tỷ dollar, xếp hạng 114 trên 226 quốc gia trên thế giới, và nhập khẩu 6.9 tỷ dollar, xếp hạng 87 trên 226 nước.[62] Các đối tác thương mại chính của nước này là Hà Lan, Canada và Trung Quốc; các đối tác nhập khẩu chính là Venezuela, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ.[63] Các mặt hàng xuất khẩu chính của Cuba là đường, nikel, thuốc lá, cá, sản phẩm y tế, chanh, cà phê và lao động có tay nghề;[64] các mặt hàng nhập khẩu gồm, thực phẩm, nhiên liệu, quần áo và máy móc. Cuba hiện có khoản nợ khoảng 13 tỷ dollar,[65] chiếm xấp xỉ 38% GDP.[66] Theo Heritage Foundation, Cuba phụ thuộc vào các tài khoản tín dụng luân phiên từ nước này sang nước khác.[67] Con số 35% thị phần đường thế giới trước kia của Cuba đã giảm xuống chỉ còn 10% vì nhiều yếu tố, gồm cả sự sụt giảm giá hàng hóa sử dụng đường Cuba kém tính cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới.[68] Ở một thời điểm, Cuba từng là nước sản xuất và xuất khẩu đường lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, vì tình trạng đầu tư kém và các thảm họa thiên nhiên, sản lượng đường của Cuba đã giảm nghiêm trọng. Năm 2002, hơn một nửa các nhà máy đường ở Cuba phải đóng cửa. Mùa thu hoạch gần đây nhất chỉ đạt 1.1 triệu mét tấn, thấp nhất trong gần một trăm năm qua, chỉ tương đương với sản lượng năm 1903 và 1904. Cuba chiếm 6.4% thị trường thế giới về nickel[69] chiếm khoảng 25% tổng xuất khẩu Cuba.[70] Gần đây, một trữ lượng dầu mỏ lớn đã được tìm thấy tại Châu thổ Bắc Cuba[71] dẫn tới việc các thành viên Jeff FlakeLarry Craig thuộc Quốc hội Hoa Kỳ kêu gọi bãi bỏ lệnh cấm vận với Cuba.

Chính sách thuế

Sau Cách mạng Cuba năm 1959, các công dân được bãi bỏ thuế thu nhập cá nhân (lương của họ được coi là lương thực và không phải chịu thuế). Tuy nhiên, từ năm 1996, nhà nước bắt đầu áp dụng các loại thuế thu nhập Cá nhân trên công dân Cuba được hưởng lương bằng ngoại tệ mạnh, chủ yếu là các chủ doanh nghiệp.[72]

Quân đội

Bài chi tiết: Quân đội Cuba

Dưới thời Fidel Castro, Cuba đã trở thành một xã hội quân sự hóa cao độ. Từ năm 1975 cho tới tận cuối thập kỷ 1980, viện trợ quân sự ồ ạt của Xô viết đã cho phép Cuba nâng cấp mạnh khả năng quân sự của mình. Từ khi mất khoản viện trợ từ Liên bang Xô viết Cuba đã phải giảm đáng kể số lượng quân đội từ 235.000 người năm 1994 xuống còn khoảng 60.000 người năm 2003.[73] Chính phủ hiện chi khoảng 1.7% GDP cho quân sự. Bộ trưởng các Lực lượng Vũ trang Cách mạng (FAR) hiện nay là Raúl Castro, em trai của Fidel Castro, người cũng đã đóng vai trò quan trọng với tư cách một lãnh đạo trong Cách mạng Cuba. Tháng 4 và tháng 5 năm 2007 một loạt những báo cáo “La Nueva Cuba” (một nguồn thông tin hải ngoại đáng chú ý về Cuba) cho rằng đã có ít nhất ba kế hoạch đào tẩu của thành viên quân đội Cuba và rằng hiện có sự xung đột giữa Raul và Đảng Cộng sản Cuba.[74]

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Gott, Richard: Cuba A New History. Yale University Press. p13
  2. ^ Clements R. Markham, ed. ((1893)). The Journal of Christopher Columbus (during His First Voyage,). ASIN: B000I1OMXM. Đã bỏ qua tham số không rõ |Publisher= (gợi ý |publisher=) (trợ giúp)
  3. ^ http://museum.archanth.cam.ac.uk/IACA.WWW/amulet.htm
  4. ^ a ă An Interview On the Taino DNA testing in Puerto Rico. Profiles, Vol. 1, no. 2, 15 tháng 8 năm 2000
    ° Cuban Site Casts Light on an Extinct People Anthony DePalma, The New York Times, 5 tháng 7 năm 1998
    ° Gott, Richard Cuba: A new history, Yale University Press: 2004, p.7 “A third element in Cuba’s ethnic mix, the trace of indigenous blood that runs through most of its people except for the most recent immigrants, has usually been ignored or denied. It is vigorously downplayed by most historians in Havana today, although those in Santiago are more freethinking. The official line, doggedly maintained over the years, in spite of increasing evidence to the contrary, is that the Tainos were destroyed during the early years of conquest. This is clearly not so.”
  5. ^ DNA Genealogy, E. Elizondo “The mt-DNA haplogroup results were a complete surprise. The test results indicated that I descended on my maternal line from Siberian Eskimos who migrated across the Aleutian chain and Alaska and down to North and South America*. This contrasted with my genealogy research which showed that my oldest known female ancestor, Maria Obregon Ceballos, was born in the city of Trinidad, one of the oldest towns in Cuba -founded in 1514, presumably of Spanish ancestry.” http://www.cubagenweb.org/dna.htm
  6. ^ {{Chú thích web| url=http://www.cubagenweb.org/mil/e-war-hist.htm
  7. ^ {{Chú thích web| url=http://www.historyofcuba.com/history/funfacts/lilwar.htm
  8. ^ Anne Applebaum. Gulag: A History of the German Concentration Camps. “the first modern concentration camps were set up not in Germany or Russia, but in colonial Cuba, in 1895. In that year, in an effort to put an end to a series of local insurgencies, imperial Spain began to prepare a policy of reconcentratión, intended to remove the Cuban peasants from their land and ‘reconcentrate’ them in camps, thereby depriving the insurgents of food, shelter and support. By 1900, the Spanish term reconcentratión had already been translated into English, and was used to describe a similar British project, initiated for similar reasons, during the Boer War in South Africa.”
  9. ^ The Spanish-American War. “Cuban Reconcentration Policy and its Effects”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007.
  10. ^ a ă Thomas, Hugh (March năm 1971). Cuba; the Pursuit of Freedom. New York: Harper & Row. tr. pp283–287. ISBN 0060142596.
  11. ^ de La Cova, Antonio Rafael 2007 The Moncada Attack: Birth of the Cuban Revolution. University of South Carolina Press ISBN-10 1570036721 ISBN-13 978-1570036729
  12. ^ http://www.isp.msu.edu/clacs/conf-papers03/english.pdf
  13. ^ http://www.fff.org/comment/ed0999c.asp
  14. ^ http://www.princeton.edu/plas/publications/Essays/castro.html
  15. ^ http://www.amigospais-guaracabuya.org/oagsg022.php
  16. ^ “The Daily News — tháng 4 năm 1980”. The Eighties Club – The Politics and Pop Culture of the 1980s. April năm 1980. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  17. ^ “The Daily News — tháng 6 năm 1980”. The Eighties Club – The Politics and Pop Culture of the 1980s. June năm 1980. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  18. ^ Castro not dying, US envoys told. BBC News, 18 tháng 12 năm 2006.
  19. ^ “Castro does not have cancer, says Spanish doctor”. Times Online. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2006.
  20. ^ Cuban TV shows ‘stronger’ BBC News. Castro
  21. ^ Ailing Castro says ‘I feel good’ BBC News.
  22. ^ Castro ‘to be fit to hold power’ BBC News.
  23. ^ “Arquitectura y Urbanismo en la República de Cuba (1902-1958)…Antecedentes, Evolución y Estructuras de Apoyo”. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2006.
  24. ^ a ă Constitution of the Republic of Cuba, 1992. Cubanet.
  25. ^ Country profile: Cuba BBC online
  26. ^ a ă â Inter-American commission on Human Rights
  27. ^ “TITLE 22 > CHAPTER 69A > § 6021 U.S. Code Collection Cornell Law School, Ithaca N.Y,”. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007.
  28. ^ “Information about human rights in Cuba” (bằng español). Comision Inteamericana de Dderechos Humanos. April 7 năm 1967. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  29. ^ “Castro sued over alleged torture”. News from Russia. November 16 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  30. ^ “CUBA”. Amnesty International Online Documentation Library. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  31. ^ “Cuba”. Reporters Without Borders. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2007.
  32. ^ a ă “Is Cuba Democratic?”. Cuba-solidarity.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  33. ^ Cubaverdad.net. “Workers Paradise”. “Trade Unions”. “Violations of Social and Labor”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007.
  34. ^ “Rennaissance and decay: A comparison of socioeconomic indicators”. University of Texas. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  35. ^ http://siteresources.worldbank.org/EDUCATION/Resources/278200-1099079877269/547664-1099080026826/The_Cuban_education_system_lessonsEn00.pdf The Cuban Education System: Lessons and Dilemmas. Human Development Network Education. World Bank.
  36. ^ Pan American Health Organization Phương tiện:2004 Observatory of Human resources in Health. 134th session of the executive committee. Washington, D.C. U.S.A, 21-25 tháng 6 năm 2004 Provisional Agenda Item 4.3 CE134/11 (Eng.) 18 tháng 5 năm 2004. http://www.paho.org/english/gov/ce/ce134-11-e.pdf page 5 item “10. Gaps in data collection and limitations of data sources undermine efforts to address these issues. Data are generally collected from existing sources, such as personnel registries of ministries of health and social security institutions…”
  37. ^ John Dorschner 2007 Nation’s fabled healthcare may not be so healthy Miami Herald, 28 tháng 1 năm 2007 p.1E. and more recently Katherine Hirschfeld (2007). “Re-examining the Cuban Health Care System: Towards a Qualitative Critique”. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |source= (trợ giúp)
  38. ^ Government of Cuba (2002). “Cuban Census”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007.
  39. ^ DePalma, Anthony (July 5 năm 1998). “Cuban Site Casts Light on an Extinct People”. New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  40. ^ http://www.cubagob.cu/otras_info/censo/tablas_html/ii_3.htm
  41. ^ Castro’s Cuba in Perspective
  42. ^ “Sahrawi children inhumanely treated in Cuba, former Cuban official”. MoroccoTimes.com. March 31 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  43. ^ http://www.thepeninsulaqatar.com/Display_news.asp?section=World_News&subsection=Americas&month=May2007&file=World_News2007051741913.xml
  44. ^ “United Nations World Fertility Patterns 1997”. un.org. 1997. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  45. ^ Stanley K. Henshaw, Susheela Singh and Taylor Haas. “The Incidence of Abortion Worldwide”. International Family Planning Perspectives, 1999, 25(Supplement):S30 – S38. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp) This publication notes, however, that: The relatively high rate in Cuba (78 per 1.000 [women, per year]) includes menstrual regulation, an early abortion procedure carried out without pregnancy testing, as well as termination of known pregnancies. In 1996, 60% of the procedures were menstrual regulations.
  46. ^ Quiñones, Rolando García Quiñones. “International Migrations in Cuba: persinting trends and changes”. Technical Corporation. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  47. ^ “Bill Clinton 1993-2001”. history.acusd.edu. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2006. Đã bỏ qua văn bản “ authorlink ” (trợ giúp)
  48. ^ “Cuban Natives or Citizens Seeking Lawful Permanent Resident Status”. U.S. Citizenship and Immigration Services. 1996. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2006.
  49. ^ “Dream Machine: Cub”. Palm Beach Post. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007.
  50. ^ Jane Sutton. “Cubans sneak ashore during U.S. security drill”. International Family Planning Perspectives, 1999, 25(Supplement):S30 – S38. Truy cập Mar 8 năm 2007. While hundreds of U.S. law enforcement agents intercepted imaginary Cuban migrants during a massive training exercise in south Florida, two boatloads of actual Cubans sneaked ashore on Miami Beach on Thursday.
  51. ^ “Human Rights Overview: Cub”. hrw.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  52. ^ a ă Catholic church in Cuba strives to reestablish the faith National Catholic Observer
  53. ^ http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/10news/10news1842.htm
  54. ^ “Government officials visit Baha’i center”. Baha’iWorldNewsService.com. June 13 năm 2005.
  55. ^ http://www.islamawareness.net/LatinAmerica/cuba.html
  56. ^ “Social Policy” (PDF). oxfamamerica.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  57. ^ “Social Policy” (PDF). oxfamamerica.org. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  58. ^ “Cuban tourism in 2007: economic impact”. University of Texas. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  59. ^ a ă “Background Note: Cuba”. U.S. Department of State. December năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  60. ^ http://www.uiowa.edu/ifdebook/conferences/cuba/TLCP/Volume%201/Facio.pdf Tourism in Cuba during the Special Period
  61. ^ Schweimler, Daniel (May 4 năm 2001). “Cuba’s anti-corruption ministry”. BBC News. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  62. ^ “Rank Order Exports”. CIA:The World Fact Book. June 29 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  63. ^ “Cuba”. CIA World Fact Book. June 29 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  64. ^ “Cuba Exports – commodities”. IndexMundi.vom. January 1 năm 2005. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  65. ^ Calzon, Frank (March 13 năm 2005). “Cuba makes poor trade partner for Louisiana”. ShreveportTimes.com. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2005.
  66. ^ “Rank Order – GDP (purchasing power parity)”. CIA Fact Book. June 29 năm 2006. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  67. ^ “Cuba”. heritage.org. 2004. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  68. ^ “Cuba’s Sugar Industry and the Impact of Hurricane Michele”. International Agricultural Trade Report. December 6 năm 2001. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  69. ^ “Global Nickel Mine Production 2002”. 2002. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2006.
  70. ^ Frank, Marc (December 18 năm 2002). “Cuba’s 2002 nickel exports top 70.000 tonnes”. Center for International Policy. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2006.
  71. ^ Smith-Spark, Laura (2006). “Cuba oil prospects cloud US horizon”. BBC. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2006.
  72. ^ New York Times (1995). “Well-to-Do in Cuba to Pay an Income Tax”. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |onth= (trợ giúp)
  73. ^ Cuban army called key in any post-Castro scenario Anthony Boadle Reuters 2006
  74. ^ [1]

Liên kết ngoài

Tìm thêm về Cuba tại một trong những đồng dự án của Wikipedia (bằng tiếng Anh)
Commons-logo.svg Commons Hình ảnh
Wiktsister en.png Wiktionary Từ điển
Wikibooks-logo.svg Wikibooks Sách
Wikiquote-logo.svg Wikiquote Danh ngôn
Wikisource-logo.svg Wikisource Tư liệu
Wikinews-logo.svg Wikinews Tin tức
Chính thức
Chung

ndsnl:Kuba batsmg:Kuba

Trung Hoa Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
中華民國
Zhōnghuá Mínguó
Trung Hoa Dân Quốc
Flag of the Republic of China.svg Republic of China National Emblem.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Trung Hoa Dân Quốc
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Quốc ca Trung Hoa Dân Quốc
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa bán tổng thống
Tổng thống

Thủ tướng

Mã Anh Cửu

Ngô Đôn Nghĩa

Thủ đô Nam Kinh (1911 – 1949)
Đài Bắc (từ 1949)
25°02′B, 121°38′Đ
Thành phố lớn nhất Đài Bắc
Địa lý
Diện tích 35.980 km² (hạng 138)
Diện tích nước 10,34% %
Múi giờ CST (UTC+8)
Lịch sử
10/10/1911 Tuyên bố
7/12/1949 Rời sang Đài Loan
Dân cư
Dân số ước lượng (2009) 23.069.000 người (hạng 50 2)
Mật độ 637,4 người/km² (hạng 15 2)
Kinh tế
GDP (PPP) (2011) Tổng số: $876.035 tỷ đô la Mỹ
HDI (2011) 0.868 cao
Đơn vị tiền tệ Tân Đài tệ (NT$) (TWD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .tw
1. Dưới thời Trung Quốc Quốc Dân Đảng, Nam Kinh được coi là thủ đô chính thức trong các bản đồ và văn bản của chính quyền trong khi Đài Bắc chỉ là thủ đô lâm thời. Đảng Dân Tiến cầm quyền hiện nay đã bỏ quy ước đó.
2. Xếp hạng dựa trên số liệu năm 2005.
3. Do vị thế chính trị của nó, LHQ đã không tính chỉ số phát triển con người cho THDQ. Tuy nhiên, chính quyền THDQ đã tỉnh chỉ số này vào khoảng 0,910 vào năm 2003; nếu được LHQ tính, THDQ sẽ xếp hạng 25 (cao) – sau Hy Lạp và trước Singapore. [1]

Trung Hoa Dân Quốc (Trung văn giản thể: 中华民国; Trung văn phồn thể: 中華民國; Hán ngữ bính âm: Zhōnghuá Mínguó; Bính âm thông dụng: Jhonghuá Mínguó) là một quốc gia thuộc Đông Á. Lãnh thổ của nó đã từng bao trùm toàn cõi Trung Quốc, sau lệnh ngưng bắn tạm thời trong cuộc Nội chiến Trung Quốc, vào năm 1949 phe cộng sản đã nắm quyền kiểm soát Trung Hoa đại lục, hiện Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) chỉ quản lý các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Kim MônMã Tổ. Kể từ cuối thập niên 1990, Trung Hoa Dân Quốc thường được gọi là “Đài Loan” (台灣), và kể từ cuối thập niên 1970 tên “Trung Quốc” đã được sử dụng nhiều hơn để chỉ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại đại lục Trung Quốc. Vì những lý do chính trị, Trung Hoa Dân Quốc đôi khi còn được các tổ chức quốc tế gọi là “Trung Hoa Đài Bắc” (中華台北).
Trung Hoa Dân Quốc được thành lập vào năm 1912, thay thế nhà Thanh, triều đại cuối cùng của Trung Quốc, và kết thúc trên 2000 năm chế độ phong kiến. Do đó nó là nền cộng hòa tồn tại lâu đời nhất tại Đông Á. Trong lúc chế độ này cầm quyền tại Trung Hoa đại lục, Trung Quốc đã bị nhiều thế lực tranh giành quyền lực, bị Nhật Bản xâm chiếm, và cuối cùng lao vào một cuộc nội chiến. Cuộc nội chiến này tạm kết thúc năm 1949, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát gần toàn bộ Trung Hoa đại lục trong khi chính quyền Trung Hoa Dân quốc kiểm soát đảo Đài Loan và một số đảo khác. Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố thành lập một quốc gia mới, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh năm 1949. Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan tiếp tục cho rằng nó là chính phủ chính thống của toàn bộ Trung Quốc. Việc này đã được hầu hết các nước trên thế giới công nhận cho đến cuối thập niên 1970. Đài Bắc được chọn làm thủ đô lâm thời.

Vị thế chính trị

Vị thế chính trị Đài Loan là một vấn đề gây tranh cãi. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng chính phủ Trung Hoa Dân Quốc là bất hợp pháp, và gọi họ là “Chính quyền Đài Loan”. Tuyên bố này bị Trung Hoa Dân Quốc bác bỏ bởi họ tự coi mình là một quốc gia độc lập có chủ quyền[1]. Ban đầu Quốc Dân Đảng nắm quyền ở Trung Hoa Dân Quốc tự tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn Trung Hoa, dù hiện tại đa số người dân Đài Loan đã từ bỏ quan điểm đó. Trung Hoa Dân Quốc thực tế chưa bao giờ tái tuyên bố chủ quyền với toàn bộ Trung Hoa nhưng các biên giới quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc cũng chưa được vẽ lại và những tuyên bố lãnh thổ còn chưa giải quyết xong từ cuối thập niên 1940 cũng chưa được xem xét lại. Vì thế, các biên giới theo tuyên bố của Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục bao gồm cả Lục địa Trung Quốc, nhiều hòn đảo ngoài khơi, Đài Loan, Ngoại Mông, bắc MyanmaTuva (hiện là lãnh thổ Nga). Tuy nhiên, trong tình thế chính trị hiện nay quan điểm này đã bị coi là lỗi thời và hiếm khi được đề cập.
Không khí chính trị khá căng thẳng với khả năng xảy ra xung đột quân sự trong trường hợp Đài Loan có các hoạt động theo hướng độc lập hay hành động thống nhất. Chính sách của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là sử dụng vũ lực để đảm bảo việc thống nhất nếu quá trình thống nhất trong hòa bình không thể diễn ra, như đã được tuyên bố trong Luật chống chia cắt đất nước, và vì lý do này các căn cứ quân sự của Trung Quốc luôn hiện diện trên bờ biển Phúc Kiến[2]. Hoa Kỳ đã huấn luyện quân sự và bán vũ khí cho Trung Hoa Dân Quốc[3]. Tuy nhiên, tình thế giữ nguyên trạng hiện tại, như theo định nghĩa của Hoa Kỳ, được ủng hộ dựa trên cơ sở sự quid pro quo (“để ý lẫn nhau”) giữa hai nước Trung Quốc. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được cho là sẽ “không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan” và Trung Hoa Dân Quốc sẽ “có sự cẩn trọng trong việc điều phối mọi khía cạnh của các quan hệ xuyên eo biển.” Cả hai sẽ kiềm chế tiến hành các hoạt động hay đưa ra những tuyên bố “có thể đơn phương làm thay đổi vị thế Đài Loan[4].
Bên trong Trung Hoa Dân Quốc, các ý kiến khác biệt giữa những người ủng hộ thống nhất, đại diện là các đảng thuộc Liên minh Phiếm Lam, và những người ủng hộ độc lập, đại diện là các đảng thuộc Liên minh Phiếm Lục. Quốc Dân Đảng, Đảng lớn nhất trong Liên minh Phiếm Lam, ủng hộ việc giữ nguyên trạng trong tương lai không xác định với mục tiêu được tuyên bố duy nhất là thống nhất. Tuy nhiên, họ không ủng hộ việc thống nhất với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong tương lai gần, bởi một viễn cảnh như vậy sẽ là không thể chấp nhận được với các thành viên của họ và với những người dân. Mã Anh Cửu, cựu chủ tịch Quốc dân Đảng và là người chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, đã đặt ra tiêu chuẩn về mức độ dân chủ, phát triển kinh tế ở gần mức của Trung Hoa Dân Quốc để lục địa đạt tới trước khi việc thống nhất diễn ra. Đảng Dân chủ Tiến bộ (gọi tắt là Đảng Dân Tiến), đảng lớn nhất trong Phiếm Lục, cũng ủng hộ việc giữ nguyên trạng bởi nguy cơ chọc giận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là không thể chấp nhận đối với các thành viên của họ. Tuy nhiên, Tổng thống Trần Thủy Biển của Đảng Dân Tiến đã nói rằng dù thế nào chăng nữa, bất kỳ quyết định nào phải được đưa ra thông qua trưng cầu dân ý trước nhân dân Trung Hoa Dân Quốc. Chính sách đối ngoại của cả hai liên minh hiện tại đều ủng hộ việc tham gia của Trung Hoa Dân Quốc vào các tổ chức quốc tế, nhưng Quốc Dân Đảng chấp nhận nguyên tắc “Một Trung Quốc” và Đảng Dân Tiến khuyến khích các mối quan hệ kinh tế với các nước khác trừ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vì các lý do an ninh.
Về phần mình, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dường như coi việc giữ lại cái tên “Trung Hoa Dân Quốc” còn dễ chịu hơn nhiều so với việc tuyên bố một nước Cộng hòa Đài Loan độc lập về pháp lý. Tuy nhiên, với sự trỗi dây của phong trào ủng hộ độc lập tại Đài Loan, cái tên “Đài Loan” đã ngày càng được sử dụng nhiều trên chính hòn đảo này. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố rằng bất kỳ một nỗ lực nào tại Đài Loan nhằm chính thức xóa bỏ chế độ Trung Hoa Dân Quốc và thay thế nó bằng một nước Cộng hòa Đài Loan sẽ dẫn tới nguy cơ đáp trả bằng biện pháp quân sự mạnh mẽ. Quan điểm hiện tại của Hoa Kỳ là vấn đề Đài Loan phải được giải quyết một cách hòa bình và hành động đơn phương của bất kỳ bên nào sẽ bị lên án; cả việc vô cớ tấn công của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay một tuyên bố độc lập từ phía Đài Loan đều không thể chấp nhận[4].
chính sách một Trung Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa yêu cầu các nước không chính thức công nhận Trung Hoa Dân Quốc như một điều kiện để duy trì các quan hệ ngoại giao với họ. Chỉ có 24 quốc gia có quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, đa số các nước đều có văn phòng đại diện không chính thức tại Trung Hoa Dân Quốc. Hoa Kỳ vẫn giữ quan hệ không chính thức với Trung Hoa Dân Quốc thông qua Hiệp hội Mỹ tại Đài Loan (美國在台協會)[5]. Trên thực tế Trung Hoa Dân Quốc cũng giữ các đại sứ quánlãnh sự quán ở hầu hết các nước, được gọi là các “Văn phòng Đại diện Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc” (臺北經濟文化代表處 Đài Bắc kinh tế văn hóa đại biểu xứ), gọi tắt là Văn phòng Đại diện Đài Bắc. Các Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc là “các thực thể thương mại không chính thức” của Trung Hoa Dân quốc chịu trách nhiệm duy trì quan hệ ngoại giao, cung cấp các dịch vụ lãnh sự (như cấp thị thực nhập cảnh), và bảo vệ các lợi ích quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc tại các nước khác trên cơ sở căn bản như Đại sứ quán hay Lãnh sự quán[6].
Cũng vì việc áp dụng chính sách Một Trung Quốc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc chỉ có thể tham gia vào các tổ chức quốc tế nơi họ không được công nhận như một quốc gia độc lập có chủ quyền. Năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc có tư cách đại diện cho toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và họ là một trong những quốc gia sáng lập cũng như là thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc; tuy nhiên, năm 1971, với việc thông qua Nghị quyết 2758 Đại hội đồng Liên hiệp quốc, nó bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế. Kể từ năm 1992, Trung Hoa Dân Quốc luôn lặp lại đề nghị được gia nhập Liên Hiệp Quốc nhưng chưa hề thành công. Đa số quốc gia thành viên, gồm cả Hoa Kỳ, không muốn bàn thảo vấn đề vị thế chính trị Trung Hoa Dân Quốc vì sợ gây trở ngại tới những quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, cả Hoa Kỳ và Nhật Bản đều công khai ủng hộ việc Trung Hoa Dân Quốc xin trở thành quan sát viên của Tổ chức Y tế Thế giới[7]. Tuy nhiên, dù Trung Hoa Dân Quốc hàng năm đều đệ trình hồ sơ xin làm thành viên của WHO từ năm 1997 dưới nhiều tên gọi, những nỗ lực của họ luôn bị Trung Quốc cản trở. Tương tự, Trung Hoa Dân Quốc chịu áp lực phải sử dụng cái tên trung lập về chính trị là “Đài Bắc Trung Quốc” trong các sự kiện quốc tế như Thế vận hội, khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tham gia. Trung Hoa Dân Quốc nói chung bị ngăn cản sử dụng quốc ca và quốc kỳ của mình tại các sự kiện quốc tế vì áp lực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và những thành viên đoàn Trung Hoa Dân Quốc tham gia vào các sự kiện đó như Thế vận hội thường bị ngăn cản mang theo quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc vào những địa điểm tổ chức sự kiện Olympic[8]. Trung Hoa Dân Quốc có thể tham gia với tên gọi “Trung Quốc” tại các tổ chức nơi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không tham dự, như Tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới.
Quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và những vấn đề liên quan về độc lập của Đài Loan và sự thống nhất với Trung Quốc vẫn tiếp tục là vấn đề thống trị trong chính trị Trung Hoa Dân Quốc[9]. Về bất kỳ một giải pháp riêng biệt nào ý kiến của công chúng thay đổi rất nhiều khi câu chữ chỉ thay đổi một chút, việc này phản ánh sự phức tạp của ý kiến công chúng với chủ đề này[10].

Lịch sử

1911–1927

Viên Thế Khải (trái) và Tôn Dật Tiên (phải) với hai lá cờ khác nhau đại diện cho buổi đầu nền Cộng hòa

Năm 1911, sau hơn bốn ngàn năm dưới quyền lãnh đạo của các hoàng đế, Trung Quốc lật đổ chế độ quân chủ và chuyển sang một nền cộng hòa. Nhà Thanh đã suy yếu, Trung Quốc vừa trải qua một thế kỷ bất ổn định, cả với những cuộc nổi dậy bên trong cùng với chủ nghĩa đế quốc từ bên ngoài. Các nguyên tắc Tân Khổng giáo, cho tới thời điểm đó, đã duy trì hệ thống triều đại bị nghi ngờ và sự biến mất của lòng tin cá nhân bị cho là nguyên nhân khiến tới 40 triệu người Trung Quốc sử dụng thuốc phiện năm 1900 (khoảng 10% dân số[11]). Tới khi bị các lực lượng viễn chinh của các cường quốc trên thế giới thời ấy đánh bại trong cuộc đàn áp Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, nhà Thanh đã gần như chính thức chấm dứt, vì không có chế độ khác thay thế nên sự tồn tại của nó vẫn được tính kéo dài tới tận năm 1912[12].

Cờ Ngũ Sắc là quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc 1912-1928, tượng trưng cho 5 sắc dân Hán, Mãn, Mông, Hồi và Tạng

Việc thành lập nền Cộng hòa Trung Quốc đã phát triển ngoài dự kiến, cuộc Cách mạng Tân Hợi chống lại nhà Thanh xảy ra vào ngày 10 tháng 10 năm 1911. Trung Hoa Dân Quốc được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1912, với bác sĩ Tôn Dật TiênTổng thống lâm thời. Như một phần trong thỏa thuận để đổi lấy sự thoái vị của hoàng đế cuối cùng Phổ Nghi, Viên Thế Khải chính thức được bầu làm Tổng thống năm 1913. Tuy nhiên, Viên Thế Khải đã giải tán Quốc Dân Đảng cầm quyền, bỏ qua Hiến pháp lâm thời khi gia tăng quyền lực cho Tổng thống, và cuối cùng tự tuyên bố mình là Hoàng đế Trung Quốc vào năm 1915.
Những người ủng hộ Viên Thế Khải đã bỏ rơi ông, và nhiều tỉnh tuyên bố độc lập dưới quyền của các tay quân phiệt. Viên Thế Khải chết năm 1916. Sự kiện này đẩy Trung Quốc vào thời kỳ quân phiệt. Tôn Dật Tiên, đang lưu vong, được các tay quân phiệt miền Nam đưa về Quảng Đông năm 1917 và 1920, để lập nên chính phủ đối lập. Tôn Dật Tiên tái lập Quốc Dân Đảng tháng 10 năm 1919.
Chính quyền trung ương tại Bắc Kinh tìm cách thâu tóm quyền lực. Và một cuộc tranh cãi mở và rộng lớn về cách thức đối xử của Trung Quốc với người phương Tây diễn ra. Sau Hiệp ước Versailles, ngày 4 tháng 5, một cuộc biểu tình của sinh viên đã dẫn tới cuộc khởi nghĩa trên khắp nước khiến nó được đặt tên là Phong trào Ngũ Tứ.
Chủ nghĩa vô chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là chủ nghĩa vô chính phủ cộng sản, từng là một trong những hình thức thường thấy nhất của cách mạng xã hội chủ nghĩa thậm chí cả trước Khởi nghĩa Vũ Xương. Sau Cách mạng Nga năm 1917, ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx lan tràn và trở nên quen thuộc với quần chúng. Lý Đại ChiêuTrần Độc Tú lãnh đạo buổi đầu phong trào MarxLenin. Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập tháng 7 năm 1921.

1928–1948

Sau cái chết của Tôn Dật Tiên tháng 3 năm 1925, Tưởng Giới Thạch trở thành lãnh đạo Quốc Dân Đảng. Tưởng Giới Thạch đã lãnh đạo thành công cuộc Bắc phạt, với sự giúp đỡ của Liên Xô, đánh bại các lãnh chúa phía bắc và về danh nghĩa đã thống nhất Trung Quốc dưới quyền Quốc Dân Đảng. Các cố vấn Xô viết giúp huấn luyện, tuyên truyền, tác động đến tư tưởng quần chúng, và cung cấp vũ khí. Tuy nhiên, Tưởng Giới Thạch nhanh chóng trục xuất các cố vấn Xô viết, thanh trừng những người cộng sảncánh tả trong Quốc Dân Đảng, dẫn tới Nội chiến Trung Quốc. Những người cộng sản bị đẩy vào nội địa khi Tưởng Giới Thạch tìm cách tiêu diệt họ. Tưởng Giới Thạch củng cố quyền lực, thành lập Chính phủ Quốc gia tại Nam Kinh năm 1928. Nhiều nỗ lực đã được tiến hành nhằm xây dựng một xã hội dân sự hiện đại, qua việc thành lập Viện Nghiên cứu Trung ương, Ngân hàng Trung Quốc, và các cơ quan khác.

Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc 1928-nay

Sự ổn định chấm dứt với Cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Mãn Châu năm 1931, tình trạng thù địch tiếp tục kéo dài suốt Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, một phần của Thế chiến thứ hai từ 1937 tới 1945. Năm 1945, Nhật Bản đầu hàng và Trung Hoa Dân Quốc trở thành một trong những thành viên sáng lập của Liên Hiệp Quốc.
Nội chiến Trung Quốc giữa những người cộng sản và chống cộng tiếp tục và rất ác liệt. Dù nắm giữ nhiều ưu thế cộng với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, phe Dân Quốc đã thua cuộc trước phe Cộng sản năm 1949.

Chính phủ dời đến Đài Loan

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được kiến lập, hai bờ eo biển Đài Loan bắt đầu do hai chính thể phân biệt quản lý. Tháng 3 năm 1950, Đại tổng thống Lý Tông Nhân ở lại Hoa Kỳ, Tưởng Giới Thạch tuyên bố tại Đài Loan rằng phục hồi tiến hành thị sự. Lúc này khu vực nằm sát duyên hải đông nam của Trung Quốc đại lục vẫn bất ổn, bị Giải phóng quân công kích mãnh liệt. Sau khi Chiến tranh Triều Tiên bùng phát vào năm 1950, Hoa Kỳ phái Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ giúp phòng thủ và cung cấp viện trợ kinh tế, khiến Trung Hoa Dân Quốc chuyển nguy thành an, cũng ổn định về quân sự và kinh tế. Do Quốc quân ưu tiên phòng thủ bảo vệ Đài Loan nên đảo Hải Nam, quần đảo Vạn Sơn, quần đảo Chu Sơn lần lượt rơi vào tay nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; ngoài ra, Quốc quân cứ thủ tại miền nam Vân Nam dời đến miền bắc Miến Điện, cuối cùng một phận phận dời đến Đài Loan. Tại Kim Môn, lần lượt phát sinh các sự kiện Chiến dịch Cổ Ninh Đầu, Pháo chiến 3 tháng 9 vào năm 1954, và Pháo chiến 23 tháng 8 vào năm 1958, do phòng ngự của Quốc quân và Giải phóng quân thiếu năng lực vượt biển, khiến cục thế quân sự hai bờ dần chuyển từ tác chiến trực tiếp sang xung đột ngẫu nhiên. Sau khi triệt thoái khỏi đảo Đại Trần vào năm 1955, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc quản lý hữu hiệu khu vực giới hạn tại các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, Mã Tổ, và kéo dài cho đến nay.
Sau khi chiến sự hai bờ dần chấm dứt, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc xác định các đảo xa Kim Môn, Mã Tổ là tiền tuyến đối lập với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tại Đài Loan dốc sức phát triển kiến thiết, khiến trình độ phát triển kinh tế và xã hội của Đài Loan dần được nâng cao. Nhằm kháng Cộng, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dựa vào “lệnh giới nghiêm” và “Điều khoản lâm thời thời kỳ động viên dẹp loạn” để đóng băng thể chế hiến pháp dân chủ, ngoài gia tăng tuyên truyền “phản Cộng kháng Nga”, cũng đưa việc thu phục lãnh thổ Trung Quốc đại lục thành quốc sách trọng yếu. Tưởng Giới Thạch còn lấy “Điều khoản lâm thời thời kỳ động viên dẹp loạn” để thi hành liên tuyển liên nhiệm, tổng cộng đảm nhiệm chức tổng thống nhiệm kỳ thứ nhất đến thứ năm, dốc sức thực thi thống trị uy quyền. Mặc dù nội bộ ổn định, song khiến cho nhiều người bị quy là “phỉ điệp”, nhân quyền ít được bảo vệ, sử gọi là Khủng bố trắng. Năm 1951, tỉnh Đài Loan thực thi tự trị địa phương, nghị viên cấp tỉnh và huyện trưởng, thị trưởng thực thi dân tuyển. Năm 1966, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phát động Đại cách mạng văn hóa, khiến văn hóa Trung Hoa chịu tổn hại, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc do đó phát động “vận động phục hưng văn hóa Trung Hoa”. Trên phương diện nội chính, chính phủ tỉnh Đài Loan thi hành cải cách thổ địa, ổn định nông nghiệp; xúc tiến xí nghiệp dân doanh và phát triển công thương nghiệp, phát triển lấy gia công xuất khẩu làm mô hình sản xuất chính.

Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch và Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower vẫy chào quần chúng Đài Bắc vào năm 1960.

Ngày 25 tháng 10 năm 1971, Liên Hiệp Quốc thông qua “nghị quyết số 2758“, Trung Hoa Dân Quốc liền tuyên bố rút khỏi Liên Hiệp Quốc, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế ghế đại biểu cũ của Trung Hoa Dân Quốc. Sau đó, số quốc gia thừa nhận Trung Hoa Dân Quốc giảm mạnh, cộng đồng quốc tế bắt đầu đổi sang gọi “Đài Loan”. Khủng hoảng dầu mỏ 1973 ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế toàn cầu, nhằm ổn định phát triển kinh tế, tháng 11 năm 1973, Viện trưởng Hành chính viện Tưởng Kinh Quốc tuyên bố thi hành Thập đại kiến thiết và Thập nhị hạng kiến thiết, chính sách này xúc tiến phát triển kinh tế, khiến Trung Hoa Dân Quốc sau thập niên 1980 trở thành một trong Bốn con hổ châu Á|bốn con rồng nhỏ châu Á]]. Kết cấu sản xuất dần quá độ sang công nghiệp thâm dụng lao động, đồng thời triều hướng phát triển ngành dịch vụ. Trong bối cảnh dân sinh sung túc, các phong trào xã hội và chính trị Đài Loan tích lũy năng lượng trong thời kỳ này. Tưởng Giới Thạch từ trần vào ngày 5 tháng 4 năm 1975, sau đó Phó Tổng thống Nghiêm Gia Cam kế nhiệm tổng thống cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ vào năm 1978, sau đó Tưởng Kinh Quốc được bầu làm tổng thống nhiệm kỳ sáu.
Năm 1978, Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao. Nhằm đáp ứng diễn biến tình thế quốc tế, đồng thời giải quyết nhu cầu cải cách dân chủ quốc nội, Tưởng Kinh Quốc thận trọng xúc tiến dân chủ hóa quốc gia. Năm 1987, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chọn thái độ khoan dung trước việc thành lập Đảng Dân chủ Tiến bộ; hai năm sau loại bỏ việc cấm chỉ lập đảng, kế tiếp tuyên bố giải trừ lệnh giới nghiêm tại khu vực Đài Loan, mở cửa cho dân chúng đến Trung Quốc đại lục thăm thân, giao lưu hai bờ từ đó dần ấm lên. Năm 1988, Tưởng Kinh Quốc từ trần, Phó tổng thống Lý Đăng Huy kế nhiệm tổng thống, đến năm 1990 được bầu làm tổng thống nhiệm kỳ tám. Năm 1990, sinh viên quốc nội do vấn đề “vạn niên quốc hội” nên phát động “học vận tháng ba” với mục đích yêu cầu hiến pháp trở lại bình thường, Lý Đăng Huy xúc tiến tu hiến, phế trừ “Điều khoản lâm thời thời kỳ động viên dẹp loạn”, chế định các điều khoản bổ sung hiến pháp, đồng thời cải cách toàn diện việc bầu cử quốc hội (bao gồm Lập pháp viện và Quốc dân đại hội), cuối cùng đạt đến bầu trực tiếp tổng thống, khiến thể chế quốc gia của Trung Hoa Dân Quốc dần tiến gần hơn đến xã hội Đài Loan.
Năm 1996, trong bối cảnh khủng hoảng eo biển Đài Loan, Lý Đăng Huy đắc cử tổng thống trong cuộc bầu cử trực tiếp đầu tiên. Lý Đăng huy đề xuất khái niệm “người Đài Loan mới”, đồng thời đề xuất Đài Loan trở thành trung tâm kinh doanh vận chuyển khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Sau khi chủ quyền Hồng Kông được chuyển giao vào năm 1997, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bắt đầu tăng cường chủ trương chủ quyền đối với Đài Loan. Chính phủ hai bờ trong thập niên 1990 sử dụng cơ cấu dân gian để kiến lập cơ chế hiệp thương và đối thoại phi chính trị, cũng từng cử hành hai lần Hội đàm Cô Chấn PhủUông Đạo Hàm; song sau khi Lý Đăng Huy phát biểu “Lưỡng quốc luận” vào năm 1999, cơ chế đối thoại hai bờ đình trệ kéo dài.
Trần Thủy Biển của Đảng Dân Tiến đắc cử trong bầu cử năm 2000, là lần thay thế chính đảng cầm quyền đầu tiên sau khi thi hành hiến pháp, song trong cuộc bầu cử lập pháp vào năm sau đảng này lại không giành được quá bán số ghế, do vậy thường xảy ra xung đột với Quốc Dân đảng trong việc hành pháp. Thời gian này, do chính đảng Lam và Lục đấu tranh ác liệt, Trung Quốc nổi lên, sản xuất chuyển ra ngoại quốc và truyền thông hỗn loạn, các phương diện chính trị, xã hội và kinh tế quốc nội đều thể hiện sự bất ổn.[13] Do chính phủ đề xướng phát triển khoa học kỹ thuật cao, tỷ lệ của ngành dịch vụ và sản xuất khoa học kỹ thuật cao dần chiếm quá bán, đồng thời chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2002. Tháng 8 năm 2002, Trần Thủy Biển phát biểu “Nhất biên nhất quốc luận“, khiến cho phía Đại lục bất mãn. Năm 2004, Trần Thủy Biển tái đắc cử tổng thống, Đảng Dân Tiến không giành được đa số quá bán trong bầu cử Lập pháp viện vào cuối năm. Năm 2005, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cùng năm thông qua “pháp luật chống phân liệt quốc gia“, lần đầu tiên sử dụng hình thức pháp luật nhằm biểu thị chủ trương “một Trung Quốc“, khiến bộ phận dư luận Đài Loan bất mãn. Từ năm 2006, các thân tín của Trần Thủy Biển bị phát hiện liên quan đến các bê bối tham ô, danh tiếng của chính phủ Trần Thủy Biển và Đảng Dân Tiến chịu đả kích nghiêm trọng.
Quốc Dân đảng giành được hơn hai phần ba số ghế trong bầu cử Lập pháp viện vào tháng 1 năm 2008; đến tháng 3 cùng năm, Mã Anh Cửu đắc cử tổng thống. Sau khi nhậm chức, Mã Anh Cửu ký kết Hiệp định khung Hợp tác Kinh tế, tích cực cải thiện quan hệ hai bờ. Tháng 1 năm 2012, Mã Anh Cửu tái đắc cử tổng thống[14], Quốc Dân đảng giành được số ghế quá bán trong Lập pháp viện.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Đài Loan

Xét theo lãnh thổ thống trị thực tế, từ sau năm 1950, lãnh thổ Trung Hoa Dân Quốc bao gồm đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Kim Môn, quần đảo Mã Tổ, quần đảo Đông Sa và bộ phận quần đảo Trường Sa, tổng diện tích là 36.192,8 km²[15], đường bờ biển dài hơn 1.813 km, đất có khả năng canh tác chiếm 24%.
Đảo Đài Loan hiện là lãnh thổ chủ yếu nằm dưới quyền quản lý của Trung Hoa Dân Quốc, dài 394 km theo chiều bắc-nam và chiều rộng đông-tây lớn nhất là 144 km, chiều dài đường bờ biển của đảo là 1.139 km. Đảo Đài Loan có vị trí nằm trên đường tiếp xúc giữa đại lục Á-Âu và bồn Thái Bình Dương. Bờ tây đảo Đài Loan cách Trung Quốc đại lục qua eo biển Đài Loan, cự ly khoảng 150 km. Phía bắc đảo Đài Loan là biển Hoa Đông, ở phía đông bắc cách đảo Ishigaki của quần đảo Ryukyu khoảng 600 km, trong khi cách đảo cực tây của Nhật Bản là Yonaguni khoảng 111 km; phía đông giáp Thái Bình Dương; phía nam giáp eo biển Bashi, bán đảo Hằng Xuân cách quần đảo Batanes của Philippines khoảng 250 km; ở phía tây nam là biển Đông. Do đảo Đài Loan nằm tại vị trí trung tâm của cung đảo Đông Á, cộng thêm việc eo biển Đài Loan là tuyến hàng hải quốc tế trọng yếu, do vậy có giá trị chiến lược trọng yếu.
Trừ đảo Đài Loan, lãnh thổ thống trị thực tế của Trung Hoa Dân Quốc còn bao gồm quần đảo Bành Hồ, quần đảo Kim Môn, quần đảo Mã Tổ, các đảo phụ thuộc của Đài Loan như Lan Tự hay Lục Đảo. Ngoài ra, Trung Hoa Dân Quốc tham dự tranh chấp quần đảo Điếu Ngư Đài và các quần đảo trên biển Đông với Trung Quốc đại lục và các quốc gia khác.
Địa hình chủ yếu là sơn địa, gò đồi, bồn địa, đài địa, bình nguyên[16] Đảo Đài Loan hình thành do mảng Á-Âumảng Philippines va chạm vào đại Tân sinh. Do vị trí nằm giữa hai mảng lục địa nên Đài Loan thường xảy ra động đất, có địa hình núi lửa. Dãy núi Trung Ương chi phối địa hình của đảo, đỉnh núi cao liên tục và lệnh về phía đông, hình thành cảnh quan khác biệt giữa phía đông và phía tây; dốc về phía tây có bình nguyên rộng lớn, sông suối dọc ngang, về phía đông có nhiều vách đá, dãy núi dốc đứng ở sát biển.
Địa hình đảo Đài Loan rộng lớn nhất là sơn địa[16], nhiều núi cao vượt quá 3000 m, trong đó 100 đỉnh được chọn làm “Đài Loan bách nhạc”. Các dãy núi chủ yếu gồm dãy núi Trung Ương, dãy núi Tuyết Sơn, dãy núi Ngọc Sơn, dãy núi A Lý Sơn, dãy núi Hải Ngạn; đỉnh cao nhất là Ngọc Sơn với cao độ 3.952 mét trên mực nước biển. Sơn địa cao trên 500 mét chiếm hai phần ba tổng diện tích toàn đảo. Do vị trí đảo Đài Loan nằm tại vành đai động đất núi lửa ven Thái Bình Dương, có một số địa hình núi lửa, chủ yếu có quần thể núi lửa Đại Đồn tại Cơ Long, quần thể núi lửa dãy Hải Ngạn tại đông bộ (bao gồm Lan Tự, Lục Đảo) và quần thể núi lửa Bành Hồ, song hiện không có hoạt động núi lửa rõ ràng trên đảo.
Bình nguyên tây bộ chủ yếu do bình nguyên Chương Hóa, bình nguyên Gia Nambình nguyên Bình Đông tổ thành, hoạt động kinh tế chính là nông nghiệp; ở đông bộ có bình nguyên thung lũng Hoa Đôngbình nguyên Lan Dương[16]; khu vực Đào Trúc Miêu do đài địa tổ thành. Bồn địa Đài Bắc, đài địa Đào Viên, bồn địa Đài Trung và bình nguyên Gia Nam hiện là các khu vực tập trung nhân khẩu chủ yếu.

Sông Tú Cô Loan tại phía đông Đài Loan.

Do hướng núi và phân bố bình nguyên, sông suối phía đông khá dốc và ngắn so với phía tây, tạo nên địa hình bờ cát phía tây và bờ đá phía đông. Sông suối chủ yếu từ bắc đến nam gồm có sông Đạm Thủy ở bắc bộ; sông Đại Giáp, sông Ôsông Trạc Thủy tại trung bộ; sông Tăng Vănsông Cao Bình tại nam bộ; sông Lan Dương, sông Tú Cô Loansông Ti Nam tại đông bộ. Sông Trạc Thủy hiện là sông dài nhất tại lãnh thổ thống trị thực tế của Trung Hoa Dân Quốc (khoảng 186,6 km)[17], sông Cao Bình là sông có diện tích lưu vực lớn nhất. Mặc dù lượng mưa hàng năm tại Đài Loan cao hơn bình quân thế giới, song do đại bộ phận sông ngắn nhỏ và lưu lượng không ổn định, do vậy cần phải xây dựng cơ sở thủy lợi nhằm điều tiết cung cấp nước, tạo nên cảnh tượng hồ và ao chứa nước tại các địa phương trên toàn quốc. Hồ chứa Tăng Vân là hồ lớn nhất Trung Hoa Dân Quốc, chủ yếu được sử dụng nhằm cung ứng nước tưới cho nông nghiệp tại khu vực bình nguyên Gia Nam và phát điện, trên đảo không có nhiều hồ tự nhiên, trong đó lớn nhất là đầm Nhật Nguyệt.
Đa số sông vào mùa hạ thì nước lũ cuồn cuộn, đến mùa đông thì lòng sông trơ đá[18] không có nhiều khả năng cho tàu thuyền qua lại. Chỉ có các sông ở khu vực Đài Bắc là sông Đạm Thủy, sông Đại Hán, sông Tân Điếmsông Cơ Long mới có lượng nước khá ổn định quanh năm, vào thời Thanh từng phát huy công năng vận chuyển trọng yếu.

Khí hậu

Khí hậu Đài Loan lấy chí tuyến Bắc đi qua Gia Nghĩa làm ranh giới, chia đảo thành hai vùng khí hậu bắc và nam. Phía bắc chí tuyến là khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, phía nam chí tuyến là khí hậu nhiệt đới gió mùa.[19] Bắc bộ có nhiệt độ bình quân tháng 7 đạt 29°C, tháng 1 đạt 16°C; nam bộ có nhiệt độ bình quân tháng 7 đạt 29°C, tháng 1 đạt 20°C, khí hậu quanh năm ấm áp ẩm thấp. Tại bình địa không có tuyết rơi, song tại những vùng sơn địa có cao độ lớn như Hợp Hoan Sơn, Ngọc Sơn, Tuyết Sơn từng có tuyết rơi. Do thuộc khí hậu gió mùa, mùa đông có cao áp lạnh đại lục từ Siberi, gió mùa đông bắc là chủ yếu; mùa hạ có khí áp cao mang tính chất hải dương từ Thái Bình Dương, gió mùa tây nam là chủ yếu. Mặc dù mùa đông kéo dài ngắn, nhiệt độ chênh lệch giữa mùa đông và mùa hạ nhỏ, song có khi bất chợt có khí lạnh đại lục tràn đến, khiến nhiệt độ giảm sâu xuống dưới 10°C, gây tổn thất cho sản xuất nông ngư nghiệp.
Đài Loan có lượng mưa lớn, bình quân 2.515 mm mỗi năm[20], khu vực sơn địa có lượng mưa nhiều hơn tại bình địa, đông bộ nhiều hơn tây bộ, bắc bộ nhiều hơn nam bộ. Bắc bộ và đông bộ có mưa quanh năm, trong đó thành phố Cơ Long được gọi là “vũ cảng” (cảng mưa). Mùa mưa tại trung bộ và nam bộ chủ yếu là vào mùa hạ. Từ tháng 6 đến tháng 9 là mùa bão, mỗi năm vào hai quý hạ và thu đều có bình quân 3-4 cơn bão tấn công. Tuy nhiên, do sông suối ngắn và nông, nước không được lưu trữ, nên vào mùa xuân thường phát sinh hiện tượng thiếu nước.

Chính phủ

Trung Hoa Dân Quốc

Chính phủ quốc gia đầu tiên của Trung Hoa Dân theo chế độ cộng hòa được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1912, tại Nam Kinh với Tôn Dật Tiên là tổng thống lâm thời. Đại biểu các tỉnh được gửi tới để xác nhận quyền lực của chính phủ quốc gia, và sau này họ cũng tham gia thành lập nên nghị viện đầu tiên. Chính phủ quốc gia này vừa ít quyền lực vừa tồn tại ngắn ngủi bởi các vị tướng lĩnh kiểm soát cả các các tỉnh trung tâm và miền bắc Trung Quốc. Số lượng hạn chế các đạo luật do chính phủ này thông qua gồm nghi thức chấp nhận thoái vị của nhà Thanh và một số sáng kiến kinh tế.
Một thời gian ngắn sau khi Viên Thế Khải nổi lên, quyền lực của nghị viện chỉ còn là hình thức; nhiều hành động vi phạm hiến pháp của Viên Thể Khải chỉ gặp phải những phản đối mang tính hình thức, và các thành viên Quốc Dân Đảng trong nghị viện sẽ nhận được 1.000 bảng Anh nếu họ từ bỏ đảng tịch. Viên Thế Khải vẫn giữ quyền lực tại địa phương bằng cách gửi các vị tướng tới giữ chức thống đốc các tỉnh hay giữ liên minh với những người đang nắm giữ các chức đó. Các cường quốc nước ngoài cũng bắt đầu công nhận quyền lực của Viên Thế Khải: khi Nhật Bản tới Trung Quốc với 21 yêu cầu, chính Viên Thế Khải là người xem xét chúng ngày 25 tháng 5 năm 1915.
Khi Viên Thế Khải chết, nghị viện năm 1913 được triệu tập lại để công nhận tính pháp lý cho một chính phủ mới. Tuy nhiên, quyền lực thật sự khi ấy được chuyển vào tay các lãnh đạo quân sự, tạo thành giai đoạn của các lãnh chúa. Chính phủ không quyền lực vẫn hữu dụng; khi Thế chiến thứ nhất bắt đầu, nhiều cường quốc phương Tây và Nhật Bản đã muốn Trung Quốc tuyên chiến với Đức, để chia nhau những tài sản của Đức.

Hiện tại

Phủ Tổng thống tại Đài Bắc nơi đóng Văn phòng Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc

Nguyên thủ quốc giatổng tư lệnhTổng thống Trung Hoa Dân Quốc, người được bầu phổ thông dân chủ với nhiệm kỳ bốn năm cùng Phó tổng thống. Tổng thống có quyền đối với năm nhánh hành chính (hay Viện): Giám sát viện, Khảo thí viện, Hành chính viện, Tư pháp việnLập pháp viện. Tổng thống chỉ định các thành viên của Hành chính viện vào chính phủ của mình, gồm cả một Thủ tướng, người chính thức là Chủ tịch Hành chính viện; các thành viên chịu trách nhiệm về mặt chính sách và hành chính.
Cơ quan lập pháp chính là Lập pháp viện theo chế độ đơn viện với 225 ghế. 168 ghế được bầu theo hình thức phổ thống đầu phiếu; 41 ghế được chọn dựa trên tỷ lệ phiếu toàn quốc của các đảng chính trị. 8 ghế cho các khu vực bầu cử ngoài nước và 8 ghế dành cho người bản xứ dựa trên cùng tiêu chí. Các thành viên Lập pháp viện làm việc với nhiệm kỳ 3 năm. Tiền thân của Quốc hội đơn viện là Quốc dân Đại hộiđoàn bầu cử thường trực, giữ một số chức năng nghị viện, nhưng Quốc dân Đại hội đã bị xóa bỏ năm 2005 và quyền lập hiến được trao cho Lập pháp viện cùng tất cả các cử tri của nhà nước Cộng hòa thông qua trưng cầu dân ý.
Tư pháp viện là cơ quan tư pháp cấp cao nhất của Đài Loan. Cơ quan này có trách nhiệm giải thích hiện pháp, các luật và các nghị định, phán quyết các vụ việc hành chính và các hoạt động công cộng. Chủ tịch và Phó chủ tịch Lập pháp viện cùng mười lăm Thẩm phán hình thành nên Hội đồng Đại Thẩm phán. Họ được giới thiệu và chỉ định bởi Tổng thống nhà nước Cộng hòa, với sự ưng thuật của Lập pháp viện. Tòa án cấp cao nhất, Tòa án Tối cao, gồm một số nhóm dân sự và hình sự, mỗi nhóm gồm một Thẩm phán chủ tịch và bốn Thẩm phán cấp dưới, tất cả đều được chỉ định để làm việc suốt đời. Năm 1993, một tòa án hiến pháp độc lập được thành lập để giải quyết các tranh cãi hiến pháp, giám sát các hoạt động của các đảng chính trị và tăng tốc quá trình dân chủ hóa. Trong hệ thống tòa án Trung Hoa Dân Quốc không có bồi thẩm đoàn nhưng quyền được xét xử đúng luật được pháp luật bảo hộ và được tôn trọng trên thực tế; nhiều vụ việc đã được nhiều thẩm phán cùng tham gia xét xử.

Hệ thống chính trị Trung Hoa Dân Quốc không đi theo các mô hình truyền thống. Thủ tướng được Chính phủ lựa chọn mà không cần có sự đồng thuật từ nhánh Lập pháp, nhưng nhánh Lập pháp có thể thông qua luật mà cả Tổng thống và Thủ tướng đều không có quyền phủ quyết. Vì thế, Tổng thống và nhánh Lập pháp ít khi muốn đàm phán với nhau về việc làm luật nếu họ thuộc hai phe chính trị đối lập. Trên thực tế, kể từ khi vị Tổng thống thuộc Liên minh Phiếm Lục Trần Thủy Biển lên nắm quyền năm 2000 và việc Phiếm Lục tiếp tục nắm đa số tại Lập pháp viện, tiến trình lập pháp liên tục bị đình trệ, bởi hai bên đều không nhượng bộ. Một điểm đáng chú ý khác trong hệ thống chính trị Trung Hoa Dân Quốc; vì trước kia nước này nằm dưới sự lãnh đạo của một đảng chính trị ưu thế, quyền lực thực sự của hệ thống chuyển từ chức vụ này tới chức vụ khác, phụ thuộc vào việc vị lãnh đạo quốc gia khi ấy nắm chức gì. Di sản này khiến quyền hành pháp hiện tại tập trung chủ yếu trong văn phòng Tổng thống chứ không phải Thủ tướng.
Thuật ngữ “đảng cầm quyền” trước kia được gán cho Quốc Dân Đảng, bởi đây là đảng độc tài từng kiểm soát mọi cơ quan chính phủ (đảng cầm quyền cũng có thể được áp dụng gọi đảng chiếm đa số trong hệ thống nghị viện). Người Xô viết, những người từng huấn luyện cho Tưởng Giới Thạch, Quốc Dân Đảng và những người Cộng sản, đã để lại một dấu ấn trong hoạt động của Quốc Dân Đảng, và một phong cách nhà nước độc đảng theo chủ nghĩa Lenin, có ít khác biệt giữa chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, Quốc Dân Đảng và quân đội. Tuy nhiên, ngày nay thuật ngữ “đảng cầm quyền” đã được sử dụng rõ ràng, riêng biệt tại Đài Loan và được dùng để gọi đảng đang nắm quyền Tổng thống. Điều này không hoàn toàn chính xác bởi Đài Loan không có một hệ thống nghị viện, theo đó nhánh hành pháp do cùng đảng hay liên minh nắm đa số trong nhánh lập pháp nắm giữ. Thuật ngữ này hiện được sử dụng bởi Thủ tướng do Tổng thống chỉ định, vì thế quyền hành pháp thường do đảng của Tổng thống chi phối.

Cương vực và hành chính

Trung Hoa Dân Quốc hiện có 2 tỉnh là Đài Loan và Phúc Kiến, 5 trực hạt thị là Đài Bắc, Tân Bắc, Đài Trung, Đài Nam, Cao Hùng; tỉnh được phân thành 14 huyện và ba thành phố; trong đó tỉnh Phúc Kiến gồm các quần đảo Mã Tổ, Kim Môn, Ô Khâu. Cuối thập niên 1990, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thực thi danh nghĩa hóa cấp tỉnh[21], đưa đại bộ phận cơ quan chính phủ cấp tỉnh nhập với chính phủ trung ương nhằm tinh giản hoạt động hành chính, do vậy cấp tỉnh thực chất không tồn tại, chỉ còn mang tính tượng trưng.
Vào thời kỳ đầu kiến quốc, Trung Hoa Dân Quốc kế thừa cương vực cuối thời Thanh, đương thời Chính phủ Bắc Dương quản lý 22 tỉnh là Trực Lệ, Phụng Thien, Cát Lâm, Hắc Long Giang, Sơn Đông, Hà Nam, Sơn Tây, Giang Tô, An Huy, Giang Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Hồ Bắc, Hồ Nam, Thiểm Tây, Cam Túc, Tân Cương, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Ngoài ra, còn thiết lập địa phương Kinh Triệu (đặc khu thủ đô), ba địa phương Tây Tạng, Mông Cổ, Thanh Hải, bảo lưu ba địa khu A Nhĩ Thái, Tháp Nhĩ Ba Cáp Đài và Y Lê (sau đều nhập tỉnh Tân Cương). Về sau, Chính phủ Bắc Dương thiết lập thêm các khu đặc biệt Tuy Viễn, Sát Cáp Nhĩ, Nhiệt Hà, Xuyên Biên.[22]
Sau khi Chính phủ Quốc dân hoàn thành Bắc phạt, đưa Tuy Viễn, Sát Cáp Nhĩ, Nhiệt Hà, Xuyên Biên cùng Ninh Hạ và Thanh Hải thành các tỉnh, trong đó Xuyên Biên đổi tên thành Tây Khang, Trung Hoa Dân Quốc tổng cộng có 28 tỉnh, ngoài ra còn có hai địa phương Tây Tạng và Mông Cổ. Sau khi kháng chiến thắng lợi vào năm 1945, khu vực Đông Bắc căn cứ theo phân chia hành chính thời Mãn Châu Quốc mà phân thành chín tỉnh, như vậy có thêm 6 tỉnh là Liêu Bắc, An Đông, Hiệp Giang, Tùng Giang, Nộn Giang, Hưng An; Đài Loan gia nhập trở thành tỉnh thứ 35, ngoài ra còn thiết lập khu hành chính đặc biệt Hải Nam, chuẩn bị lập tỉnh. Chính phủ Quốc dân vào tháng 1 năm 1946 thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập[23], song sau khi dời đến Đài Loan thì triệt tiêu thừa nhận.

Loại Số Khu hành chính cấp một trước khi dời đến Đài Loan năm 1949
Tỉnh 35 Giang Tô | Chiết Giang | An Huy | Giang Tây | Hồ Bắc | Hồ Nam | Tứ Xuyên | Tây Khang | Phúc Kiến | Đài Loan | Quảng Đông | Quảng Tây |
Vân Nam | Quý Châu | Hà Bắc | Sơn Đông | Hà Nam | Sơn Tây | Thiểm Tây | Cam Túc | Ninh Hạ | Thanh Hải | Tuy Viễn | Sát Cáp Nhĩ |
Nhiệt Hà | Liêu Ninh | An Đông | Liêu Bắc | Cát Lâm | Tùng Giang | Hiệp Giang | Hắc Long Giang | Nộn Giang | Hưng An | Tân Cương
Viện hạt thị 12 Nam Kinh | Thượng Hải | Bắc Bình | Thanh Đảo | Thiên Tân | Trùng Khánh | Đại Liên | Cáp Nhĩ Tân | Hán Khẩu | Quảng Châu | Tây An | Thẩm Dương
Khu hành chính đặc biệt 1 Hải Nam
Địa phương 1 Tây Tạng

Sau Quốc-Cộng nội chiến, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc lưu vong đến Đài Loan, để mất lãnh địa đại lục. Nhằm biểu thị bản thân vẫn là thế lực thống trị hợp pháp đối với toàn Trung Quốc, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục phát hành các bản đồ quốc gia và bản đồ phân chia hành chính bao gồm khu vực Đại lục. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Chính phủ đã dần loại bỏ quy phạm và số hiệu liên quan đến phân chia hành chính khu vực Đại lục. Hiện nay, công bố phân chia hành chính quốc gia chỉ liệt kê phân chia khu vực thống trị thực tế. Năm 2002, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thừa nhận Ngoại Mông Cổ độc lập, kiến lập quan hệ ngoại giao phi chính thức.[24]

Hiện tại

Khu vực mà Trung Hoa Dân Quốc thống trị thực tế về mặt pháp luật gọi là “địa khu tự do”, Sau khi Chính phủ Quốc dân dời đến Đài Loan, lần lượt thăng Đài Bắc và Cao Hùng làm trực hạt thị vào năm 1967 và 1979; đến cuối năm 2010, huyện Đài Bắc, huyện thị Đài Trung, huyện thị Đài Nam, huyện thị Cao Hùng trở thành trực hạt thị, trong đó huyện Đài Bắc đổi thành thành phố Tân Bắc, các trực hạt thị còn lại theo phương pháp kết hợp huyện thị.[25][26] Năm đô thị là Đài Bắc, Tân Bắc, Đài Trung, Đài Nam, Cao Hùng được gọi chung là “Ngũ đô”.[27], hiện là năm đô thị tối trọng yếu của Trung Hoa Dân Quốc. Thủ đô Đài Bắc là trung tâm chính trị và thương nghiệp của toàn quốc, là trung tâm của khu vực đô thị Đài Bắc. Trung Hoa Dân Quốc cũng kiểm soát Quần đảo Đông SaĐảo Thái Bình (Việt Nam gọi là đảo Ba Bình), là một phần của Quần đảo Trường Sa đang ở tình trạng tranh chấp. Chúng được đặt dưới quyền quản lý của Thành phố Cao Hùng sau khi Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan[28].

Khu vực khống chế thực tế của Trung Hoa Dân Quốcc1
Trực hạt thị Đài Bắc (Bắc) · Tân Bắc (Tân Bắc) · Đài Trung (Trung) · Đài Nam (Nam) · Cao Hùng (Cao)c2
Tỉnh c3 Đài Loan (Đài) Thị Cơ Long (Cơ) · Tân Trúc (Trúc thị) · Gia Nghĩa (Gia thị)
Huyện Đào Viên (Đào) · Tân Trúc (Trúc huyện) · Miêu Lật (Miêu) · Chương Hóa (Chương) · Nam Đầu (Đầu) · Vân Lâm (Vân) ·
Gia Nghĩa (Gia huyện) · Bình Đông (Bình) · Nghi Lan (Nghi) c4 · Hoa Liên (Hoa) · Đài Đông (Đông) · Bành Hồ (Bành)
Phúc Kiến (Mân) Kim Môn (Kim) · Liên Giang (Mã)c5
c1. “Khu vực tự do” chỉ phạm vi thống trị hữu hiệu của Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc sau triệt thoái đảo Đại Trần năm 1955.
c2. Quần đảo Đông Sa, đảo Ba Bình cùng bãi Bàn Than thuộc Quần đảo Trường Sa thuộc quyền quản lý hành chính của khu Kỳ Tân, Cao Hùng.
c3. Trên thực tế cấp tỉnh trở thành cơ quan mang tính danh nghĩa, chủ tịch tỉnh những năm gần đây đều do quan viên Hành chính viện kiêm nhiệm.
c4. Quần đảo Điếu Ngư Đài được quy thuộc trấn Đầu Thành của huyện Nghi Lan, song tồn tại tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản và Trung Quốc đại lục, không nắm quyền quản lý thực tế.
c5.Phạm vi quản lý của huyện Liên Giang chỉ gồm quần đảo Mã Tổ, do vậ thường gọi là Mã Tổ.

Chính trị

1911–49

Ban đầu nhà nước Cộng hòa được thành lập dựa trên chủ nghĩa Tam dân: Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc. “Dân tộc độc lập” có nghĩa đứng lên chống lại sự can thiệp của Nhật Bản và các quốc gia Châu Âu; “Dân quyền tự do” đại diện cho mô hình quản lý qua bầu cử theo hình thức nghị viện của Nhật Bản; “Dân sinh hạnh phúc” có nghĩa chính phủ quản lý các phương tiện sản xuất. Một nguyên tắc phụ trợ khác là “Ngũ tộc cộng hòa”, nhấn mạnh sự hài hòa của năm nhóm sắc tộc chính Trung Quốc (Hán, Mãn, Mông, TạngHồi), đại diện bởi các dải màu trên cờ ngũ sắc. “Ngũ tộc cộng hòa” và “cờ ngũ sắc” đã bị hủy bỏ năm 1927.
Chủ nghĩa Tam dân không được thực hiện. Trung Hoa Dân Quốc rơi vào vòng xoáy của các lãnh chúa, các cuộc xâm lược nước ngoài và nội chiến. Các cơ quan lập pháp đã được bầu ra, nhưng Trung Hoa Dân Quốc hầu như vẫn là một nhà nước độc tài một đảng[29], với một số đảng nhỏ như Đảng Thanh niên Trung Quốc[30], Đảng Xã hội Quốc gia và Đảng Tái thiết Nông thôn[31]. Bên trong Quốc Dân Đảng, có những sức ép đòi từ bỏ quan điểm của đảng từ những người Cộng sản. Chính phủ trung ương yếu ớt và không thể tiến hành cuộc cải cách ruộng đất hay tái phân phối tài sản. Chính trị thời kỳ này chủ yếu là những cuộc tranh giành chính trị và quân sự giữa Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc giữa những giai đoạn kháng chiến quân sự chống cuộc xâm lược Nhật Bản.

1949–2005

Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc đã được phác thảo trước khi Trung Hoa lục địa rơi vào tay những người cộng sản. Nó được tạo ra với mục đích thành lập một chính phủ liên minh giữa những người Quốc gia và Cộng sản để quản lý toàn bộ Trung Hoa, bao gồm cả Đài Loan. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Trung Hoa đã tẩy chay Quốc hội, và những đại diện Đài Loan đã không được trúng cử. Hiến pháp bắt đầu có hiệu lực ngày 25 tháng 12 năm 1947.
Đài Loan tiếp tục trải qua giai đoạn thiết quân luật từ 1948 tới tận năm 1987 và đa phần hiến pháp không có hiệu lực. Các cải cách chính trị bắt đầu từ cuối thập niên 1970 và tiếp tục trong suốt thập niên 1990 đã tự do hóa Trung Hoa Dân Quốc từ một nhà nước độc tài độc đảng trở thành một chế độ dân chủ đa đảng. Từ khi thiết quân luật được bãi bỏ, Trung Hoa Dân Quốc đã dân chủ hóa và cải cách, xóa bỏ những cơ quan trước kia đồng nghĩa với việc quản lý toàn bộ lục địa Trung Hoa. Nhiều thành cơ quan vẫn còn tồn tại nhưng không hoạt động. Quá trình sửa đổi này vẫn đang tiếp diễn. Năm 2000, thế độc quyền chính trị của Quốc Dân Đảng chấm dứt sau khi Đảng Dân Tiến chiến thắng chức Tổng thống. Tháng 5 năm 2005, một quốc hội mới được bầu ra để giảm số lượng ghế nghị viện và áp dụng nhiều cải cách hiến pháp. Những cải cách này đã được thông qua; Quốc hội đã bỏ phiếu tự giải tán và chuyển quyền cải cách hiến pháp cho nhân dân thông qua trưng cầu dân ý[32].

Hiện tại

Các phe phái chính

Vũ đài chính trị Trung Hoa Dân Quốc được chia thành hai phe, với đảng trung tả ủng hộ thống nhất Quốc Dân Đảng, Đảng Thân dânTân Đảng là Liên minh Phiếm Lam (泛藍), và đảng trung tả ủng hộ độc lập Đảng Dân chủ Tiến bộ, gọi tắt là Đảng Dân Tiến cùng đảng trung dung Liên đoàn Đoàn kết Đài Loan, gọi tắt là Đài Liên hoặc Đài Liên Đảng là Liên minh Phiếm Lục (泛綠).
Phiếm Lục thường muốn nhấn mạnh Trung Hoa Dân Quốc là một quốc gia riêng biệt khỏi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhiều người ủng hộ Phiếm Lục tìm cách chính thức tuyên bố nền độc lập của Đài Loan và bỏ tên hiệu Trung Hoa Dân Quốc. Nhiều thành viên của liên minh đã trung lập hóa quan điểm của mình và cho rằng không cần thiết phải tuyên bố độc lập vì Đài Loan đã là “một quốc gia độc lập, có chủ quyền” và Trung Hoa Dân quốc cũng là Đài Loan. Một thiểu số nhỏ cho rằng Trung Hoa Dân quốc không tồn tại và kêu gọi thành lập một nhà nước Cộng hòa Đài Loan độc lập. Những người ủng hộ ý tưởng này đã đưa ra những “hộ chiếu” tự làm cho nước Cộng hòa Đài Loan của họ. Tuy nhiên, những nỗ lực để đưa loại hộ chiếu này vào sử dụng hiện tại đã bị ngừng lại bởi các quan chức tại Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan.
Một số thành viên Phiếm Lam, đặc biệt là các vị lãnh đạo thuộc thế hệ trước, ủng hộ ý tưởng Trung Hoa Dân quốc, vốn vẫn là một biểu tượng quan trọng về sự kết nối của họ với Trung Quốc. Trong chuyến thăm lục địa Trung Quốc tháng 4 năm 2005, Cựu Chủ tịch Quốc Dân Đảng Liên Chiến lặp lại lòng tin của đảng ông vào chính sách một nước Trung Quốc, nói rằng chỉ có một nhà nước Trung Hoa nằm dưới quyền quản lý của hai chính phủ và rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Chủ tịch Đảng Thân dân Tống Sở Du cũng đã phát biểu tương tự trong chuyến thăm của ông vào tháng 5. Lập trường chính thống hơn của liên minh Phiếm Lam là bãi bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư và theo đuổi các cuộc thảo luận với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để ngay lập tức thiết lập những đường vận tải trực tiếp giữa hai bên. Về vấn đề độc lập, tư tưởng chủ yếu của Phiếm Lam là giữ nguyên trạng, trong khi vẫn để ngỏ khả năng đàm phán thống nhất đất nước.

Các vấn đề chính trị hiện tại

Vấn đề chính trị lớn nhất tại Trung Hoa Dân Quốc hiện là mối quan hệ của nước này với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Một số người dân Trung Hoa Dân Quốc hy vọng việc mở các tuyến đường vận tải trực tiếp với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, gồm cả những đường bay trực tiếp sẽ diễn ra. Việc này giúp nhiều thương nhân Trung Hoa Dân Quốc đã mở công ty hay chi nhánh tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính quyền của Đảng Dân chủ Tiến bộ hiện nay sợ rằng những tuyến đường như vậy sẽ dẫn tới sự tích hợp sâu hơn nữa về kinh tế và chính trị với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và trong bài phát biểu nhân dịp năm mới âm lịch 2006, Tổng thống Trần Thủy Biển đã kêu gọi xem xét việc mở những con đường như vậy.
Những vấn đề chính trị quan trọng khác gồm việc thông qua một dự án mua vũ khí đã được Hoa Kỳ cho phép từ năm 2001, và việc thành lập Ủy ban Viễn thông Quốc gia để tiếp quản Văn phòng Thông tin Chính phủ, là cơ quan nắm ảnh hưởng lớn tới truyền thông Trung Hoa Dân Quốc.
Cải cách ngân hàng, gồm hạn chế chi tiêu cá nhân (giới hạn các tỷ lệ trên thẻ tín dụng) và hợp nhất các ngân hàng, là một vấn đề lớn khác. Khu vực tài chính Trung Hoa Dân Quốc rất đa dạng, với hơn bốn mươi tám ngân hàng, và không một ngân hàng nào có thị phần vượt quá 10%[cần dẫn nguồn]. Chính phủ kiểm soát 50% tới 60% tài sản ngân hàng Đài Loan[cần dẫn nguồn]. Mục tiêu cơ bản là để tạo ra các định chế tài chính lớn có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Chính trị gia và các đảng phái của họ cũng là một vấn đề chính trị. Tình trạng tham nhũng trong một số quan chức Đảng Tiến bộ Dân chủ đã bị phát hiện. Quốc Dân Đảng từng một thời là đảng chính trị giàu nhất thế giới[cần dẫn nguồn] và tài sản của Quốc Dân Đảng tiếp tục là một vấn đề. Đầu năm 2006, Tổng thống Trần Thủy Biển đã bị cáo buộc liên quan tới một vụ việc nghi ngờ tham nhũng. Ảnh hưởng chính trị của vụ việc với Tổng thống Trần Thủy Biển rất lớn, gây ra sự chia rẽ trong giới lãnh đạo và những người ủng hộ Đảng Dân chủ Tiến bộ. Cuối cùng vụ việc đã dẫn tới việc thành lập Liên minh Phiếm Hồng do cựu lãnh đạo Đảng Dân chủ Tiến bộ Thi Minh Đức cầm đầu, cho rằng Tổng thống nên từ chức thay vì cố bấu víu chức vị; hình thành lên thế liên minh ba bên. Gần cuối năm 2006, chủ tịch Quốc Dân Đảng (sau này là Tổng thống) Mã Anh Cửu cũng gặp phải một vụ scandal liên quan tới tham nhũng.
Việc sáp nhập Quốc Dân Đảng và Đảng Thân dân từng được cho là sẽ chắc chắn xảy ra, nhưng một loạt các vụ rời bỏ đảng từ Đảng Thân dân sang Quốc Dân Đảng đã làm gia tăng căng thẳng trong liên minh Phiếm Lam. Đã có những cuộc thảo luận từ cả hai phe nhằm sửa đổi hiến pháp để giải quyết vấn đề liệu Trung Hoa Dân Quốc nên là một nhà nước theo hệ thống tổng thống hay hệ thống nghị viện.

Tỷ lệ phần trăm người dân Đài Loan tự nhận mình là người Đài Loan, người Trung Quốc hay người Đài Loan lẫn Trung Quốc theo nhiều cuộc điều tra khác nhau.
Cuộc điều tra Người Đài Loan Người Trung Quốc Người Đài Loan và Trung Quốc
Uỷ ban Nghiên cứu, Phát triển và Đánh giá, Executive Yuan (Tháng 4 năm 2008)[33] 67.1% 13.6% 15.2%
Common Wealth Magazine (Tháng 12 năm 2009)[34] 62% 8% 22%
National Chengchi University (Tháng 6 năm 2012)[35] 53.6% 3.1% 39.6%
TVBS Poll Center (Tháng 10 năm 2012)[36][37] 75% 15% (không phải sự lựa chọn cho câu hỏi này)
TVBS Poll Center (Tháng 10 năm 2012)[36][38] 55% 3% 37%

Quan hệ đối ngoại

1911–1948

Quan hệ nước ngoài của Cộng hòa Trung Hoa phức tạp vì thiếu một sự thống nhất bên trong. Các trung tâm quyền lực trong nước ganh đua lẫn nhau và đều tuyên bố mình là đại diện hợp pháp. Ngoài ra còn có sự can thiệp và xâm lược từ bên ngoài. Nhật Bản, Anh Quốc, Pháp, Italia, Đức, Nga, và các cường quốc khác đều tuyên bố chủ quyền với nhiều vùng lãnh thổ Trung Quốc trong thời gian này. Trong những năm đầu tiên của nền Cộng hòa, hầu như tất cả các cường quốc nước ngoài đều công nhận chính phủ “lãnh chúa” do Viên Thế Khải kiểm soát tại Bắc Kinh là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc. Để đổi lấy sự công nhận, nhà nước Cộng hòa phải nhượng quyền kiểm soát Ngoại Mông và Tây Tạng. Trung Quốc vẫn là một nước bá chủ, nhưng Nga được phép thực hiện ảnh hưởng tại Mông Cổ trong khi Anh tự do hoạt động ở Tây Tạng. Cũng chính chính phủ này đã gửi các đại diện tới ký kết Hiệp ước Versailles về những hành động phản kháng của sinh viên trong Phong trào Ngũ Tứ.
Sau khi Quốc Dân Đảng (những người theo phái Quốc gia) đánh bại chính phủ Bắc Dương tại Bắc Kinh và thanh trừng những người Cộng sản khỏi đảng, Chính phủ Quốc Gia Nam Kinh 1928 được công nhận rộng rãi về ngoại giao. Sự công nhận này kéo dài trong suốt cuộc Nội chiến Trung Quốc và Chiến tranh thế giới thứ hai (dù Nhật Bản đã dựng lên một chính phủ bù nhìn đối lập trong cuộc xâm lược của họ và chính phủ này đã được một số quốc gia Phe Trục công nhận.) Từng chiến đấu trong phe Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Hoa Dân Quốc đã trở thành một trong những quốc gia sáng lập Liên hiệp quốc và giữ một trong năm ghế thường trực trong Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc.
Dù Tưởng Giới Thạch không thể trở thành một nhà cầm quyền hay một nhà chiến lược quân sự thành công, hiện nay ông vẫn được công nhận là một nhà ngoại giao có tài. Trong thập niên 1930, ông đã kìm chế được những hành động thù địch từ phía Nhật Bản bằng cách đàm phán hỗ trợ từ phía Đức Phát Xít. Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã điều đình được viện trợ từ phía những người bảo trợ cũ của mình, người Xô viết. Trong chiến tranh và ngay sau khi chiến tranh kết thúc, ông đã có được nhiều khoản viện trợ to lớn của Hoa Kỳ, gồm cả những khoản viện trợ lend-lease. Những khoản viện trợ quân sự, trang thiết bị, cố vấn và tiền mặt to lớn vẫn tiếp tục đổ sang Trung Hoa Dân Quốc ngay cả khi ông đã phải đưa Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan.[39][40]

1949–hiện tại

Bản đồ thế giới thể hiện các quốc gia có quan hệ với Trung Hoa Dân Quốc. Chỉ một vài nước nhỏ công nhận Trung Hoa Dân Quốc, chủ yếu ở Trung Mỹ, Nam Mỹ và châu Phi.

Các quốc gia duy trì quan hệ với Trung Hoa Dân Quốc

   quan hệ ngoại giao và Đại sứ quánĐài Bắc
   quan hệ không chính thức (xem văn bản)

Sau khi Quốc Dân Đảng rút về Đài Loan, đa số các nước, đáng chú ý nhất là những nước thuộc khối Phương Tây, vẫn tiếp tục duy trì quan hệ với Trung Hoa Dân Quốc. Vì áp lực ngoại giao, sự công nhận này ngày một giảm sút và nhiều nước đã quay sang công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong thập niên 1970. Hiện chỉ có hai mươi bốn nước[41] vẫn duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Hoa Dân Quốc.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ chối thiết lập quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước nào công nhận Trung Hoa Dân Quốc, và yêu cầu mọi quốc gia có quan hệ ngoại giao với mình đưa ra tuyên bố công nhận tuyên bố chủ quyền của họ với Đài Loan. Trên thực tế, hầu hết các nước lớn đều duy trì quan hệ không chính thức với Trung Hoa Dân Quốc và những lời tuyên bố công nhận quan điểm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chỉ là hình thức. Trung Hoa Dân Quốc duy trì quan hệ ngoại giao không chính thức thông qua các Văn phòng Đại diện Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc, gọi tắt là “Văn phòng Đại diện Đài Bắc” với hầu hết các chức năng của một đại sứ quán chính thức, như cấp thị thực nhập cảnh. Tương tự, hầu hết các nước vẫn duy trì các “văn phòng thương mại và kinh tế” tương tự tại Trung Hoa Dân Quốc, như Hiệp hội Mỹ tại Đài Loan, trên thực tế là Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Trung Hoa Dân Quốc.
Trung Hoa Dân Quốc là một thành viên sáng lập của Liên hiệp quốc và giữ ghế của Trung Quốc tại Hội đồng Bảo an cho tới tận năm 1971, khi họ bị trục xuất theo Nghị quyết số 2758 Đại hội đồng Liên hiệp quốc và được thay thế trong mọi cơ quan của Liên hiệp quốc bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhiều nỗ lực của Trung Hoa Dân Quốc nhằm tái gia nhập Liên hiệp quốc chưa mang lại thành công. (Xem Trung Quốc và Liên hiệp quốc)
Bên cạnh những tranh cãi với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về lục địa, Trung Hoa Dân Quốc còn có quan hệ gây nhiều tranh cãi với Mông Cổ. Cho tới năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc vẫn tuyên bố quyền tài phán với Đại Mông Cổ, nhưng dưới sức ép của Xô viết, họ đã công nhận nền độc lập của Mông Cổ. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Trung Hoa Dân Quốc đã từ bỏ sự công nhận này và tiếp tục tuyên bố quyền tài phán với Mông Cổ cho tới tận gần đây. Từ cuối thập niên 1990, quan hệ với Mông Cổ đã trở thành một chủ đề gây nhiều tranh cãi. Bất cứ động thái nào liên quan tới việc từ bỏ chủ quyền với Mông Cổ đều là vấn đề gây tranh cãi bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố đó sẽ là sự mở đầu của nền độc lập Đài Loan.
Trung Hoa Dân Quốc bị buộc phải sử dụng cái tên “trung lập” “Trung Hoa Đài Bắc” trong nhiều bối cảnh, vì các áp lực ngoại giao từ phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong nỗ lực của họ nhằm thi hành Chính sách một Trung Quốc. Trong số các tổ chức yêu cầu Trung Hoa Dân Quốc sử dụng cái tên này có các tổ chức thể thao quốc tế, gồm cả Ủy ban Olympic Quốc tế.

Quân đội

1911–1949

Nhiều đội quân gắn liền với thời kỳ này, gồm cả những đội quân của nhiều vị lãnh chúa, Quốc Dân Đảng, và Đảng cộng sản Trung Quốc. Có hai đội quân lớn được coi là “quân đội quốc gia”: quân của chính phủ quân phiệt Bắc Dương và sau này là Quân đội Cách mạng Quốc dân của chính phủ quốc dân.
Nhà nước Cộng hòa ra đời một phần nhờ cuộc nổi dậy bên trong Tân quân của nhà Thanh. Khi Viên Thế Khải lên nắm quyền tổng thống, ông đã chỉ huy Bắc Dương Quân, đội quân kiểm soát miền Bắc Trung Quốc. Tuy nhiên, khi Viên Thế Khải chết năm 1916, nhiều phe phái bên trong Bắc Dương Quân chia rẽ, và các tướng lĩnh trong Bắc Dương quân trở thành các vị lãnh chúa, kiểm soát những vùng đất to lớn trong thập kỷ tiếp sau đó. Quân nhân trong những đội quân đó thường không mặc đồng phục và sự khác biệt giữa những quân nhân và kẻ cướp thường không rõ rệt lắm.
Với sự trợ giúp của Quốc tế Cộng sản III, Tôn Trung Sơn đã thành lập Quân đội Cách mạng Quốc dân năm 1925 tại Quảng Đông với mục tiêu thống nhất Trung Quốc dưới quyền quản lý của Quốc Dân Đảng. Để thực hiện mục tiêu, ban đầu đội quân này chiến đấu với những vị lãnh chúa từng làm chia rẽ Trung Quốc, thống nhất đất nước, và sau này sẽ chống lại Hồng quân công nông của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một cuộc xung đột Xô-Trung nhỏ xảy ra năm 1929 liên quan tới việc kiểm soát tuyến Đường sắt Đông Mãn Châu Trung Quốc. Quân đội Cách mạng Quốc dân cũng đã chiến đấu chống cuộc xâm lược Nhật Bản trong Chiến tranh Trung-Nhật lần hai (1931 và 1937–45), đã trở thành một phần của Thế chiến II rộng lớn hơn. Quyền lãnh đạo quân đội trong thời kỳ này đã lấn át quyền chính trị. Theo những nguyên tắc của Chủ nghĩa Lênin sự phân biệt giữa đảng, nhà nước, và quân đội bị xóa bỏ.
Khi Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc giành thắng lợi trong cuộc Nội chiến Trung Quốc, đa phần Quân đội Cách mạng Quốc dân rút lui về Đài Loan cùng với chính phủ. Sau này đội quân đó được cải tổ trở thành Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc (中華民國國軍). Các đơn vị đầu hàng và ở lại Trung Quốc hoặc được giải giáp hoặc được sáp nhập vào Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Hiện tại

Diễn tập chống khủng bố: Đội Đặc cần đổ bộ từ máy bay trực thăng UH-1H. Hành động này là một phần của “Cuộc diễn tập Vạn An số 28” với sự tham gia của Đội Đặc cần Hiến binh và Lữ đoàn Không kỵ 602.

Ngày nay, Trung Hoa Dân quốc duy trì một đội quân lớn và hiện đại, chủ yếu để phòng vệ chống lại nguy cơ một cuộc xâm lược từ phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo Luật chống ly khai của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[42] Từ năm 1949 tới thập niên 1970 nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là “tái chiếm lục địa.” Khi nhiệm vụ này được rút gọn chỉ còn phòng thủ, quân đội Trung Hoa Dân quốc đã bắt đầu chuyển những ưu tiên của bộ binh truyền thống sang cho không quânhải quân. Quyền kiểm soát các lực lượng vũ trang cũng đã được chuyển vào tay các quan chức dân sự trong chính phủ. Bởi quân đội Trung Hoa Dân quốc có cùng nguồn gốc với Quốc Dân Đảng, thế hệ các sĩ quan cấp cao cũ trong quân đội thường có cảm tình với liên minh Phiếm Lam.[43] Tuy nhiên, nhiều người đã nghỉ hưu và hiện có nhiều sĩ quan không phải người lục địa đang nắm quyền trong các lực lượng vũ trang, vì thế xu hướng chính trị trong quân đội đã chuyển sang gần với xu hướng chung của nhân dân.
Các lực lượng vũ trang Trung Hoa Dân Quốc xấp xỉ 300.000 người, với số quân dự bị danh nghĩa lên tới 3.870.000 người. Trung Hoa Dân Quốc đã bắt đầu tiến hành một chương trình giảm quy mô nhằm giảm số quân từ mức 430.000 người trong thập niên 1990 xuống mức thấp hơn vào năm 2005. Chế độ nghĩa vụ quân sự vẫn đang được áp dụng cho nam giới ở độ tuổi 18, nhưng như một phần trong chương trình giảm quy mô quân đội, nhiều người được cho phép thực hiện nghĩa vụ bằng các dịch vụ tương đương và được định hướng làm việc tại các cơ quan chính phủ hay các ngành công nghiệp liên quan tới quốc phòng. Các kế hoạch hiện tại có mục tiêu chuyển quân đội sang tiêu chuẩn hầu như chuyên nghiệp trong thập niên tới. Thời kỳ nghĩa vụ quân sự cũng sẽ được giảm bớt hai tháng cho mỗi năm, và kết quả cuối cùng là ba tháng.
Lo ngại hàng đầu của các lực lượng vũ trang hiện nay là khả năng một cuộc tấn công của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, gồm việc phong tỏa đường biển, tấn công và ném bom bằng hàng không/tên lửa. Bốn tàu khu trục lớp Kidd cải tiến hiện đang được mua từ Hoa Kỳ, làm gia tăng đáng kể khả năng phòng vệ và săn tàu ngầm của Đài Loan.[44] Bộ quốc phòng đã có kế hoạch mua các tàu ngầm chạy diesel và các đơn vị chống tên lửa Patriot từ Hoa Kỳ, nhưng ngân sách cho kế hoạch này đã nhiều lần bị đình hoãn vì Liên minh Phiếm Lam hiện nắm quyền chi phối trong cơ quan lập pháp. Gói quốc phòng đã bị đình hoãn từ năm 2001 và hiện có tranh cãi về sự thích hợp của những chiếc tàu ngầm cùng những trang thiết bị khác nhau sẽ được mua. Một lượng khí tài quân sự đáng kể đã được mua về từ Hoa Kỳ, và tiếp tục được Hoa Kỳ đảm bảo về pháp lý theo Đạo luật Quan hệ Đài Loan.[3] Trong quá khứ, Trung Hoa Dân Quốc cũng đã mua các khí tài quân sự từ PhápHà Lan.
Giới tuyến phòng vệ đầu tiên chống lại cuộc xâm lược của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính là các lực lượng vũ trang Trung Hoa Dân Quốc. Học thuyết quân sự hiện tại của Trung Hoa Dân Quốc là kiên trì chống lại một cuộc xâm lược hay phong tỏa cho tới khi quân đội Hoa Kỳ kịp phản ứng, dù học thuyết này đang thay đổi bởi những quan điểm của chính quyền hiện tại về việc phát triển loại hỏa tiễn Hùng Phong III mới có tầm bắn đạt tới lục địa Trung Hoa. Một hiệp ước quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản ký năm 2005 ngụ ý rằng Nhật Bản sẽ tham dự vào bất kỳ phản ứng nào.[43] Một số đồng minh khác của Hoa Kỳ như Australia trên lý thuyết cũng có thể tham dự, nhưng điều này khó lòng mà xảy ra trên thực tế.[45] Cũng cần lưu ý rằng không hề có sự đảm bảo trong Đạo luật Quan hệ Đài Loan hay bất kỳ hiệp ước nào rằng Hoa Kỳ sẽ tấn công Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thậm chí trong trường hợp xảy ra một cuộc xâm lược.[46]

Kinh tế

1912–1949

Phiếu nợ Tôn Dật Tiên đã sử dụng để gây quỹ cho sự nghiệp cách mạng. (Dòng chữ Hán, in ngược có nghĩa “Kim tệ Trung Hoa Dân Quốc”)

Trong nửa đầu thế kỷ hai mươi kinh tế Trung Hoa Dân Quốc chủ yếu là tư bản, với rất nhiều sự can thiệp. Những nỗ lực cải cách luôn bị ngắt quãng bởi các cuộc chiến tranh liên miên và những tranh giành nội bộ cũng như từ bên ngoài.
Chính phủ quốc gia yếu đuối đã đưa ra một số nỗ lực nhằm khuyến khích các hoạt động kinh tế, như thành lập Ngân hàng Công nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, chính phủ ít kiểm soát nền kinh tế, mà chỉ quan tâm tới việc in tiền chi phí cho các cuộc chiến tranh với Nhật Bản và những người Cộng sản gây ra tình trạng lạm phát phi mã. Những khoản nợ nước ngoài cũng khiến chính phủ quốc gia phải chịu nhiều sức ép từ bên ngoài. Những người theo chủ nghĩa Quốc gia, như Viên Thế Khải, tìm cách duy trì chính phủ bằng những khoản vay nợ kinh tế lớn từ Hoa Kỳ.
Khi ấy Trung Quốc chủ yếu vẫn ở tình trạng nền kinh tế trồng trọt, và vì thế sự giàu có tập trung trên một cấu trúc kim tự tháp to lớn. Đa phần ruộng đất thuộc sở hữu của một số rất ít chủ đất giàu có; đại đa số dân chúng là những nông dân làm thuê vì không có ruộng đất. Những người thành lập cả nhà nước Trung Hoa Dân Quốc và Đảng Cộng sản đều có mục tiêu giải quyết sự bất bình đẳng này. Nạn đói Hà Nam (1943–1944) đã làm chính phủ cộng hòa sụp đổ. Các liên minh công nhân từng bị tiêu diệt trong cuộc thanh trừng những người Cộng sản của Quốc Dân Đảng, càng làm sự bất bình đẳng trầm trọng hơn. Nhiều chủ đất và các nhà buôn giàu có cũng là các bộ trưởng và quan chức chính phủ và thường là tham nhũng, khiến các biện pháp có hiệu quả không thể được áp dụng.

Điều kỳ diệu Đài Loan

Bài chi tiết: Kỳ tích Đài Loan

Photo of a high tower against a blue sky.

Đài Bắc 101 từng là toà nhà cao nhất thế giới từ khi mở cửa vào năm 2004 cho đến 2010.

Quá trình công nghiệp hóa và phát triển nhanh chóng của Đài Loan để trở thành một nước phát triển công nghệ cao trong nửa sau thế kỷ hai mươi, đã được gọi là “Kỳ tích Đài Loan” (台灣奇蹟) hay “Kỳ tích kinh tế Đài Loan”. Bởi nước này đã phát triển cùng Singapore, Hàn QuốcHồng Kông để trở thành bốn nước công nghiệp hóa phát triển được gọi là “Bốn con hổ châu Á“.
Thời kỳ cai trị Nhật Bản trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã mang lại nhiều thay đổi trong các lĩnh vực công cộng và tư nhân của nền kinh tế, đáng chú ý nhất là hạ tầng công cộng, cho phép các hoạt động viễn thông và giao thông vận tải diễn ra dễ dàng trên khắp hòn đảo. Người Nhật cũng đã cải tiến hệ thống giáo dục công và giáo dục đã trở thành bắt buộc đối với mọi công dân Trung Hoa Dân Quốc trong thời gian đó.
Khi chính phủ Quốc Dân Đảng bỏ chạy tới Đài Loan, họ mang theo toàn bộ kho dự trữ vàng và ngoại tệ của Trung Hoa Lục địa tới đây, giúp làm ổn định giá cả và giảm mức siêu lạm phát. Quan trọng hơn, như một phần trong cuộc rút lui về Đài Loan, Quốc Dân Đảng đã mang theo cùng họ giới thương nhân và trí thức hàng đầu từ Hoa lục.[cần dẫn nguồn] Dòng tiền tệ và nhân lực bất ngờ này đã trở thành nền tảng cho sự phát triển kinh tế thần kỳ của Đài Loan sau đó. Chính phủ Quốc Dân Đảng đã đưa ra nhiều bộ luật và cải cách ruộng đất mà họ chưa từng thực thi một cách có hiệu quả tại lục địa. Chính phủ cũng áp dụng chính sách thay thế nhập khẩu, tìm cách chế tạo các hàng hóa phải nhập khẩu ngay trong nước. Đa số các chương trình này đã được thực hiện với sự trợ giúp kinh tế từ Hoa Kỳ, sự bao cấp với những mặt hàng sản xuất trong nước với giá đắt. Những người Đài Loan bản xứ đã bị trục xuất khỏi chính phủ đa số của người lục địa, vì thế nhiều người đã chuyển sang lĩnh vực kinh doanh.[cần dẫn nguồn]
Năm 1962, Tổng sản phẩm quốc nội (GNP) trên đầu người của Đài Loan là 170$, và nền kinh tế của hòn đảo này chỉ ở trong khoảng giữa Zaire và Congo. Tới năm 2005 GNP trên đầu người của Đài Loan, tính theo sức mua tương đương (PPP), đã lên tới 29.000$ (ước tính 2006), khiến nước này có Chỉ số Phát triển Con người tương đương với các quốc gia Châu Âu như Hy Lạp.
Theo nhà kinh tế Paul Krugman, sự phát triển nhanh chóng đã có thể diễn ra nhờ nguồn vốn và nhân lực, chứ không phải sự gia tăng hiệu năng. Nói cách khác, tỷ lệ tiết kiệm gia tăng, và giờ làm việc kéo dài và thêm nhiều người, như phụ nữ, phải gia nhập nguồn nhân lực.[47]
Dwight Perkins và những người khác đã chỉ ra một số sai lầm trong phương pháp nghiên cứu của Krugman (và Alwyn Young), và cho rằng đa phần tăng trưởng của Đài Loan có thể quy cho sự gia tăng trong khả năng sản xuất. Khả năng sản xuất gia tăng nhờ việc cải cách ruộng đất, thay đổi cơ cấu (đô thị hóa và công nghiệp hóa), cùng một chính sách khuyến khích xuất khẩu chứ không phải việc thay thế nhập khẩu.

Hiện tại

Bài chi tiết: Kinh tế Đài Loan

Two THSR 700T trains

Đường sắt cao tốc Đài Loan, tàu chạy trên 300 km/h, kết nối Đài Bắc và thành phố cảng miền nam Cao Hùng chỉ trong 90 phút.

Hiện nay Trung Hoa Dân Quốc có một nền kinh tế tư bản năng động, hướng tới xuất khẩu với sự can thiệp ngày càng ít từ phía chính phủ trong đầu tư và thương mại với nước ngoài. Để giữ vững khuynh hướng này, một số ngân hàng lớn thuộc sở hữu nhà nước và các công ty công nghiệp đang được tư nhân hóa. Tăng trưởng thực của Tổng sản phẩm quốc nội đạt mức trung bình khoảng 8% trong ba thập kỷ qua. Xuất khẩu là nguồn sống chính của quá trình công nghiệp hóa. Thặng dư thương mại rất lớn, và dự trữ ngoại tệ hiện đứng hàng thứ ba thế giới.[48] GDP của Trung Hoa Dân Quốc (theo sức mua tương đương) ngang bằng với mức trung bình các nước EU.
Trung Hoa Dân Quốc có đồng tiền tệ quốc gia của riêng mình: đồng Tân Đài tệ.

Ruộng lúa ở huyện Nghi Lan

Nông nghiệp chỉ chiếm 2% GDP, giảm từ mức 35% năm 1952. Các ngành công nghiệp cần nhiều nhân lực truyền thống dần được chuyển ra nước ngoài, thay thế bằng những ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều vốn và công nghệ. Trung Hoa Dân Quốc đã trở thành một nhà đầu tư nước ngoài lớn tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Malaysia, và Việt Nam. Ước tính khoảng 50.000 công ty Đài Loan và 1.000.000 doanh nhân Đài Loan cũng gia đình họ đang hoạt động tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[cần dẫn nguồn]
Nhờ cách tiếp cận tài chính mang tính bảo thủ và sức mạnh giới doanh nhân của mình, Trung Hoa Dân Quốc đã bị ảnh hưởng ít so với nhiều quốc gia láng giềng khác trong cuộc Khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1998–1999. Không như những nước láng giềng là Hàn Quốc và Nhật Bản, kinh tế Đài Loan chủ yếu gồm các doanh nghiệp nhỏ và trung bình, chứ không phải các tập đoàn lớn. Tuy nhiên, sự giảm sút kinh tế toàn cầu, cộng với chính sách điều phối kém của chính phủ mới cùng các khoản nợ xấu ngày càng gia tăng trong hệ thống ngân hàng, đã đẩy Đài Loan vào một thời kỳ giảm phát năm 2001, năm tăng trưởng âm đầu tiên kể từ năm 1947. Vì quá trình di chuyển đặt nhiều ngành sản xuất đòi hòi nhiều nhân công tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tình trạng thất nghiệp cũng đã tăng tới mức kỷ lục từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập niên 1970. Đây đã trở thành vấn đề chủ chốt của cuộc bầu cử tổng thống năm 2004. Tăng trưởng bình quân ở mức hơn 4% giai đoạn 2002-2006 và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống dưới 4%.
Trung Hoa Dân Quốc thường gây áp lực để gia nhập các tổ chức quốc tế dưới một tên gọi “trung lập” về chính trị. Trung Hoa Dân Quốc là một thành viên của các tổ chức thương mại cấp chính phủ như Tổ chức Thương mại Thế giới với tên gọi “Lãnh thổ thuế quan riêng biệt Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn và Mã Tổ.”

Giáo dục

Trung Hoa Dân Quốc có một hệ thống giáo dục toàn diện hai mươi hai năm với ảnh hưởng từ kiểu hệ thống giáo dục Nhật Bản. Hệ thống này đã chứng tỏ thành công với việc các học sinh Trung Hoa Dân Quốc đã đạt một số điểm cao nhất trong những bài thi thế giới, đặc biệt trong toán họckhoa học[cần dẫn nguồn]; tuy nhiên, hệ thống này cũng bị chỉ trích do đặt quá nhiều sức ép lên các học sinh và ít tính sáng tạo do đề cao cách học ghi chép. Những cải cách giáo dục gần đây với mục tiêu sửa đổi những yếu kém đó hiện là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận.[cần dẫn nguồn]
Tỷ lệ biết chữ năm 2003 là 96.1%.[49]

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Đài Loan

Ở thời điểm tháng 7 năm 2006, dân số tại các vùng dưới quyền kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc được ước tính khoảng 23.036.087 người[50] sống trên tổng diện tích đất liền khoảng 35.980 km² khiến nước này trở thành nước có mật độ dân số lớn thứ 12 trên thế giới với mật độ 640 người trên km². 98% dân số Đài Loanngười Hán trong khi chỉ 2% là người bản xứ. Đại đa số, 94% dân số theo một sự pha tạp Phật giáo, Đạo giáo, và Khổng giáo trong khi chưa tới 4.5% dân số theo Thiên chúa giáoHồi giáo. Đài Loan đang trải qua giai đoạn giảm sinh với tăng trưởng dân số chỉ 0.61% trong năm 2006. Ngôn ngữ chính thức của Đài Loan là tiếng Phổ thông dù đa số dân cũng sử dụng tiếng Đài Loan (xuất xứ từ phương ngữ Mân Nam của tỉnh Phúc Kiến) và Khách Gia. Những người nói tiếng Nhật Bản ngày càng hiếm bởi thế hệ người già từng sống dưới thời Nhật trị đang chết đi. Các ngôn ngữ bản xứ đang trên đà biến mất bởi người bản xứ đã bị Hán hóa và chính phủ Trung Hoa Dân Quốc không gìn giữ các ngôn ngữ bản địa Đài Loan.

Sức khoẻ cộng đồng

Chăm sóc y tế tại Trung Hoa Dân Quốc do Phòng Bảo hiểm Sức khỏe Quốc gia (BNHI) quản lý.[51]
Chương trình hiện nay được áp dụng năm 1995 và được coi là một chính sách bảo hiểm xã hội. Chương trình bảo hiểm y tế của chính phủ duy trì trợ cấp bảo hiểm cho người lao động, người nghèo, người thất nghiệp và những người gặp thảm họa tự nhiên với mức phí tương đương với mức thu nhập cá nhân và/hay gia đình; chính phủ cũng duy trì bảo vệ y tế cho những người không có quốc tịch nhưng lao động tại Đài Loan. Phí bảo hiểm năm 2001 cho dân số quận là US$18.88 trên người trên tháng.[52] Một phương pháp tính toán tiêu chuẩn hóa áp dụng cho tất cả mọi người và có thể được lựa chọn chi trả bởi các mức đóng góp của một người lao động hay một cá nhân.
Chi trả bảo hiểm của BNHI yêu cầu đồng chi trả cùng thời điểm phát sinh dịch vụ cho hầu hết các dịch vụ ngoại trừ trường hợp dịch vụ phòng bệnh, các gia đình có thu nhập thấp, trẻ em dưới ba tuổi, hay trong trường hợp các thảm họa dịch bệnh. Các hộ gia đình có thu nhập thấp được BNHI trả 100% phí bảo hiểm và các khoản phải đồng chi trả cũng được chiết giảm cho người tàn tật hay một số người cao tuổi.
BNHI tự đánh giá chất lượng hoạt động chăm sóc sức khỏe của mình hay qua ý kiến cộng đồng. Dữ liệu này có trên website của BNHI. Ban đầu chỉ 39% người dân ‘Hài lòng’ với chương trình, và 47% cho rằng họ ‘Không hài lòng’. Tới tháng 12 năm 2004, kết quả đã đảo ngược, chỉ 13.3% người dân không hài lòng với hệ thống chăm sóc sức khỏe và 76.6% ‘Hài lòng’.[53]
Trung Hoa Dân Quốc có Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh quốc gia của riêng mình, và trong vụ bùng phát dịch SARS tháng 3 năm 2003 347 trường hợp đã được xác nhận. Trong vụ bùng phát dịch Trung tâm kiểm soát này và các chính quyền địa phương đã thiết lập các trạm giám sát tại tất cả các địa điểm giao thông, giải trí và các điểm công cộng khác. Từ khi dịch bệnh được ngăn chặn tháng 7 năm 2003, không trường hợp mắc bệnh SARS được thông báo.[54]
Tổng cộng BNHI có 17.259 cơ sở, gồm:[55]

Số lượng Đối tượng
16.174 các cơ sở dành riêng cho bệnh nhân ngoại trú
5.701 nha khoa
2.422 Bệnh viện Đông y
1.085 Bệnh viện nội/ngoại trú
437 bệnh viện địa phương
35 Bệnh viện Đông y Trung Quốc
23 Trung tâm y tế trường đại học

Các lĩnh vực bảo hiểm gồm:

  • Chăm sóc nội trú
  • Chăm sóc lưu động
  • Phòng thí nghiệm
  • Thuốc theo đơn và không đơn
  • Các dịch vụ nha khoa
  • Tâm thần
  • Đông y truyền thống Trung Quốc
  • Chăm sóc tại gia
  • Các dịch vụ ngăn ngừa*

* kiểm tra sức khỏe trẻ em, chăm sóc trước khi sinh, xét nghiệm, kiểm tra sức khỏe người lớn
Năm 2004 tỷ lệ tử vong trẻ em ở mức 5.3 với 15 bác sĩ và 63 giường bệnh viện cho 10.000 dân. Tuổi thọ bình quân nam giới là 73.5 và 79.7 cho nữ theo Báo cáo Sức khỏe Thế giới. Từ khi BNHI bắt đầu hoạt động năm 1995 tuổi thọ bình quân đã tăng 1.6 với nam và 2 năm với nữ, có lẽ yếu tố chủ chốt cho thành công là chương trình đã có được mức tuổi thọ bình quân khá ổn định trước khi bắt đầu hoạt động.[56]
Các chương trình liên quan tới chăm sóc sức khoẻ khác tại Đài Loan là Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnhSở sức khoẻ.

Lịch

Bài chi tiết: Lịch Dân Quốc

Theo truyền thống phong kiến sử dụng niên hiệu trị vì, các tài liệu chính thức của Trung Hoa Dân Quốc sử dụng hệ thống đánh số năm Dân Quốc (chữ Hán: 民國; bính âm: míngúo; nghĩa đen “Đất nước của người dân”) theo đó năm đầu tiên (民國元年, “Dân Quốc nguyên niên”) là 1912, năm thành lập Trung Hoa Dân Quốc. Ví dụ, năm 2007 là “Năm Dân Quốc 96” (民國九十六年, 民國96年, hay đơn giản là 96). Bởi niên hiệu Trung Quốc theo truyền thống thường gồm hai chữ, 民國 (Dân Quốc) được dùng làm dạng viết tắt cho 中華民國 (Trung Hoa Dân Quốc).
Tháng và ngày được đánh số theo Lịch Gregory. Dựa trên Tiêu chuẩn Quốc gia Trung Hoa Dân Quốc CNS 7648: Các thành phần dữ liệu và các định dạng trao đổi dữ liệu—Trao đổi thông tin—Biểu diễn ngày giờ, (tương tự như ISO 8601), cách đánh số năm có thể sử dụng hệ thống A.D. cũng như niên hiệu Trung Hoa Dân Quốc. Ví dụ, ngày 3 tháng 5 năm 2004 có thể được viết là 2004-05-03 hay R.O.C.93-05-03.
Việc đánh số thời đại Trung Hoa Dân Quốc cũng tương tự như số được dùng tại Bắc Triều Tiên bởi người thành lập nhà nước này, Kim Nhật Thành, sinh năm 1912. Những năm thuộc thời Taishō Nhật Bản (30 tháng 7 năm 1912 tới 25 tháng 12 năm 1926) cũng trùng với thời đại Trung Hoa Dân Quốc.
Việc sử dụng niên hiệu Trung Hoa Dân Quốc còn vượt qua khuôn khổ các tài liệu chính thức. Khi được dùng để ghi ngày hết hạn trên sản phẩm xuất khẩu, chúng có thể gây hiểu nhầm rằng ngày hết hạn đã tới từ 11 năm trước đó. Sự hiểu lầm càng dễ xảy ra khi tiền tố (R.O.C. hay 民國 Dân Quốc) bị bỏ qua.
Những ngày lễ truyền thống Trung Quốc như Năm mới Trung Quốc, Tết Trung Thu, và Tết Đoan Ngọ được tổ chức thường xuyên.

Xếp hạng quốc tế

Phạm vi Tổ chức Hạng Năm Nguồn
Tổng sản phẩm quốc nội (tính theo sức mua tương đương) Quỹ Tiền tệ Quốc tế / Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ 16/181 (IMF)
16/227 (CIA)
2006 IMF
CIA
GDP bình quân đầu người(sức mua tương đương) Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ / CIA 23/181 (IMF)
35/227 (CIA)
2006 IMF
CIA
Chỉ số tự do báo chí Nhà báo không biên giới 43/168 2006 [2]
Chỉ số tự do kinh tế The Wall Street JournalHeritage Foundation 26/162 2007 [3]
Chỉ số tự do kinh tế thế giới Viện Fraser 24/130 2004 [4]
Chỉ số mức độ thuận lợi trong kinh doanh Ngân hàng Thế giới 47/175 2006 [5]
Báo cáo Cạnh tranh Quốc tế Diễn đàn Kinh tế Thế giới 13/125 2006 – 2007 [6]
Chỉ số Cạnh tranh Kinh doanh Diễn đàn Kinh tế Thế giới 21/121 2006 [7]
Worldwide quality-of-life index The Economist 21/111 2005 [8]
Global e-Government Study Brown University 2/198 2006 [9]
Richard Lynn and Tatu
Vanhanen IQ and Global Inequality
Dr. Richard Lynn, Giáo sư Tâm lý học danh dự Đại học Ulster 5/185 2006 [10]
World Competitiveness Yearbook Học viện Quản lý Phát triển Quốc tế 18/55 2007 [11]
Network Readiness Index Diễn đàn Kinh tế Thế giới 13/122 2006 – 2007 [12]
Chỉ số Nhận thức Tham nhũng Tổ chức Minh bạch Quốc tế 34/163 2006 [13]
Chỉ số cạnh tranh du lịch và lữ hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới 30/124 2007 [14]
Tự do báo chí Freedom House 20/194 2007 [15]

Xem thêm

Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Trung Hoa. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Trung Quốc.

Đọc thêm

  • Bush, R. & O’Hanlon, M. (2007). A War Like No Other: The Truth About China’s Challenge to America. Wiley. ISBN 0-471-98677-1
  • Bush, R. (2006). Untying the Knot: Making Peace in the Taiwan Strait. Brookings Institution Press. ISBN 0815712901
  • Carpenter, T. (2006). America’s Coming War with China: A Collision Course over Taiwan. Palgrave Macmillan. ISBN 1-4039-6841-1
  • Cole, B. (2006). Taiwan’s Security: History and Prospects. Routledge. ISBN 0-415-36581-3
  • Copper, J. (2006). Playing with Fire: The Looming War with China over Taiwan. Praeger Security International General Interest. ISBN 0-275-98888-0
  • Federation of American Scientists et al. (2006). Chinese Nuclear Forces and U.S. Nuclear War Planning
  • Gill, B. (2007). Rising Star: China’s New Security Diplomacy. Brookings Institution Press. ISBN 0-8157-3146-9
  • Shirk, S. (2007). China: Fragile Superpower: How China’s Internal Politics Could Derail Its Peaceful Rise. Oxford University Press. ISBN 0-19-530609-0
  • Tsang, S. (2006). If China Attacks Taiwan: Military Strategy, Politics and Economics. Routledge. ISBN 0-415-40785-0
  • Tucker, N.B. (2005). Dangerous Strait: the U.S.-Taiwan-China Crisis. Columbia University Press. ISBN 0-231-13564-5

Tham khảo

  1. ^ “The One-China Principle and the Taiwan Issue”. PRC Taiwan Affairs Office and the Information Office of the State Council. 2005. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2006. Section 1: “Since the KMT ruling clique retreated to Taiwan, although its regime has continued to use the designations “Republic of China” and “government of the Republic of China,” it has long since completely forfeited its right to exercise state sovereignty on behalf of mainland China and, in reality, has always remained only a separate country on the island of Taiwan.”
  2. ^ “2004 National Defense Report” (PDF). ROC Ministry of National Defense. 2004. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. pages 89-90: “The PRC refusal to renounce using military power against Taiwan, its current emphasis on ‘enhancing preparation for military struggle,’ its obvious intention of preparing a war against Taiwan reflected in operational deployment, readiness efforts, and annual military exercises in the Southeast China coastal region, and its progress in aerospace operations, information warfare, paralyzation warfare, and non-conventional warfare, all of these factors work together so that the ROC Armed Forces face an increasingly complicated and difficult situation in terms of self-defense and counterattack. These multiple daunting challenges are testing our defense security.”
  3. ^ a ă “Executive Summary of Report to Congress on implementation of the Taiwan Relations Act”. Report to Congress Pursuant to Public Law 106-113. U.S. Department of Defense. 2000. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2005.
  4. ^ a ă “Overview of U.S. Policy Towards Taiwan” (Thông cáo báo chí). U.S. Department of State. 2004-04-21. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2004.
  5. ^ “The World Factbook”. CIA. 2006-05-03.
  6. ^ “TECRO Profile & Mission”. TECRO in the United States. 2006-05-03.
  7. ^ “WHO application: a question of health or politics?”. The Taipei Times. 2004-05-19.
  8. ^ “Taiwan flags in S.L. ruffle a few feelings”. The Deseret News. 2002-02-10.
  9. ^ “The Official Position of the Republic of China on the People’s Republic of China’s Passing of the Anti-secession (Anti-Separation) Law” (Thông cáo báo chí). Mainland Affairs Council, ROC Executive Yuan. 2005-03-29. Section II-2: “‘The Republic of China is an independent and sovereign state. Taiwan’s sovereignty belongs to the 23 million people of Taiwan. Only the 23 million citizens of Taiwan may decide on the future of Taiwan.’ This statement represents the greatest consensus within Taiwan’s society today concerning the issues of national sovereignty and the future of Taiwan. It is also a common position shared by both the ruling and opposition parties in Taiwan. A recent opinion poll shows that more than 90% of the people of Taiwan agree with this position.”
  10. ^ Swaine, Michael; James C. Mulvenon. “3” (PDF). Taiwan’s Foreign and Defense Policies: Features and Determinants (bằng tiếng Anh). RAND Corporation. tr. 30. ISBN 0-8330-3094-9. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. “Efforts to accurately measure and assess public and group views and interests on these and other issues are fraught with problems, however, such as political bias and the use of unscientific methodologies. A significant number of opinion polls are conducted each year by Taiwan’s political parties, newspapers, and various politically-oriented private groups or foundations on a wide range of subjects. Many such polls arguably produce inaccurate results, either as a result of sampling errors, biased questions, or a subject’s awareness of the highly partisan nature of the polling agency.”
  11. ^ Encyclopedia Britainica
  12. ^ P. 235. Fairbank and Goldman. China.
  13. ^ 邱曉嘉 (2000年9月31日). “產業外移的危機與轉機” (HTML). 財團法人國家政策研究基金會. Bản gốc lưu trữ 2000年9月31日. Truy cập 2007年10月1日.
  14. ^ 馬英九連任是兩岸政策公投的勝利 – 明報 2012.01.15
  15. ^ 內政部戶政司 02縣市人口性比例及人口密度 101年資料
  16. ^ a ă â 臺灣五大地形
  17. ^ 濁水溪之最
  18. ^ 國中地理科主題統整 水文
  19. ^ 靜浦北迴歸線界標
  20. ^ 臺灣地區水資源特性
  21. ^ 參見 《臺灣省政府功能業務與組織調整暫行條例》
  22. ^ 《中國通史》第十一卷 近代前編(上冊)•第四節 北洋政府的政權機構
  23. ^ 歷史上的今天 1946年1月3日 国民政府承认外蒙独立
  24. ^ Rossabi, Morris (2005). “Sino-Mongolian Relations”. Modern Mongolia: From Khans to Commissars to Capitalists. University of California Press. tr. 226-228, 232, 242.
  25. ^ 北縣臺中高雄 升格過關[[]][liên kết hỏng]
  26. ^ 文化古都/臺南縣市 火速升格[[]][liên kết hỏng]
  27. ^ 蔡佩芳 (25 tháng 12 năm 2010). “未來臺灣:三大生活圈、七大區域”. 聯合晚報.[[]][liên kết hỏng]
  28. ^ “World: Asia-Pacific Analysis: Flashpoint Spratly”. BBC. 1999-02-14.
  29. ^ “Greet the New High Tide of the Chinese Revolution”. Selected Works of Mao Tse-tung. Marxists.org. 2005. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2006.
  30. ^ Chang, Y.F. Bradford. “The Flood of Political Ideas in China During the 1920s“. City University of Hong Kong.
  31. ^ “The Formal Establishment of an Anti-Japanese National United Front”. PLA Daily. 2005-08-01.
  32. ^ “Taiwan assembly passes changes”. BBC. 7 tháng 6 năm 2005.
  33. ^ “附表十二:民眾對自我認同的看法” (bằng Traditional Chinese). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010.
  34. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên commonwealthsurvey1
  35. ^ “資料庫─台灣民眾 台灣人/中國人認同趨勢分布” (bằng Traditional Chinese). National Chengchi University. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  36. ^ a ă “資料Frank Hsieh’s Mainland Visit and Nationality Identification” (bằng Traditional Chinese). TVBS Poll Center. 2012. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  37. ^ Quote: “Table 12: In Taiwan, some people identify themselves as Chinese, some identify themselves as Taiwan (sic). Do you identify yourself as Taiwanese or Chinese? (Do not prompt both Taiwanese and Chinese)”
  38. ^ Quote: “Table 13: In Taiwan, some people identify themselves as Chinese, some identify themselves as Taiwan (sic). Do you identify yourself as Taiwanese, Chinese or both Taiwanese and Chinese?”
  39. ^ U.S. Department of Defense (1950). “Classified Teletype Conference, dated June 27, 1950, between the Pentagon and General Douglas MacArthur regarding authorization to use naval and air forces in support of South Korea. Papers of Harry S. Truman: Naval Aide Files“. Truman Presidential Library and Museum. Page 1: “In addition 7th Fleet will take station so as to prevent invasion of Formosa and to insure that Formosa not be used as base of operations against Chinese mainland.” Page 4: “Seventh Fleet is hereby assigned to operational control CINCFE for employment in following task hereby assigned CINCFE: By naval and air action prevent any attack on Formosa, or any air or sea offensive from Formosa against mainland of China.”
  40. ^ Fairbank and Goldman, 330–37.
  41. ^ BBC (6 tháng 6 năm 2007). “Costa Rica forges new China ties”. British Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2007.
  42. ^ “2004 National Defense Report” (PDF). ROC Ministry of National Defense. 2004. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. Pages 89-90: “The PRC refusal to renounce using military power against Taiwan, its current emphasis on “enhancing preparation for military struggle,” its obvious intention of preparing a war against Taiwan reflected in operational deployment, readiness efforts, and annual military exercises in the Southeast China coastal region, and its progress in aerospace operations, information warfare, paralyzation warfare, and non-conventional warfare, all of these factors work together so that the ROC Armed Forces face an increasingly complicated and difficult situation in terms of self-defense and counterattack. These multiple daunting challenges are testing our defense security.”
  43. ^ a ă Swaine, Michael; James C. Mulvenon. Tawian’s Foreign and Defense Policies: Features and Determinants (PDF) (bằng tiếng Anh). RAND Corporation. ISBN 0-8330-3094-9. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006.
  44. ^ “Kidd-class warships set sail for Taiwan”. The Taipei Times. 2005-10-31.
  45. ^ Tow, William (2005). “ANZUS: Regional versus Global Security in Asia?”. International Relations in the Asia-Pacific 5 (2): 197.
  46. ^ “China Threat to Attack Taiwan Alarms Asia”. Associated Press. 2005-03-14.
  47. ^ “Paul Krugman”. The Myth of Asia’s Miracle: A Cautionary Fable. 2006. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2006.
  48. ^ CIA The world factbook
  49. ^ “Taiwan”. CIA – The World Factbook. 10 tháng 12 năm 2006.
  50. ^ “Taiwan”. CIA – The World Factbook. 14 tháng 11 năm 2006.
  51. ^ “Bureau of National Health Insurance”. Taiwan BNHI. 2006-07-18.
  52. ^ “Bureau of National Health Insurance faq”. Taiwan BNHI. 2006-07-18.
  53. ^ “Bureau of National Health Insurance Evaluation”. Taiwan BNHI. 2006-07-18.
  54. ^ “Center for Disease Control”. Taiwan CDC. 2006-07-18.
  55. ^ “Bureau of National Health Insurance Full Summary”. Taiwan BNHI. July 18 2006.
  56. ^ “Taiwan Department of Health Full Summary”. Taiwan Department of Health. 2006-07-18.
  1. Feuerwerker, Albert. 1968. The Chinese Economy, 1912-1949. Ann Arbor: University of Michigan Press.

Liên kết ngoài

Chính phủ
Tổng quan
Khác


Siêu bão năm 1780

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Siêu bão năm 1780
Hurricane San Calixto[1]
Siêu bão Antilles[1]
hurricane
Great Hurricane (1780) areas affected.png
Các khu vực chịu ảnh hưởng của siêu bão (không kể Bermuda)
Hình thành Không nhận diện được ngày tháng. Năm phải gồm 4 chữ số (để 0 ở đầu nếu năm < 1000).
Tan 20 tháng 10 năm 1780
Sức gió mạnh nhất Thổi giật đến:
200 mph (320 km/h)
Số người chết 22.000+
Vùng ảnh hưởng Tiểu Antilles, Puerto Rico, Hispaniola, Bermuda, có thể là Đông Florida và một số bang của Hoa Kỳ
Một phần của Mùa bão Đại Tây Dương 1780

Siêu bão năm 1780, còn gọi là bão San Calixto, siêu bão Antilles, và tai họa năm 1780,[1][2] có lẽ là bão Đại Tây Dương gây thiệt hại nhân mạng cao nhất từng ghi nhận được. Từ 20.000 đến 22.000 người thiệt mạng khi bão qua quần đảo Tiểu Antilles tại Caribe trong giai đoạn 10–16 tháng 10.[3] Không rõ về chi tiết đường đi và sức mạnh của bão do cơ sở dữ liệu bão Thái Bình Dương chính thức chỉ có đến năm 1851.[4]
Bão tấn công Barbados với sức gió có thể vượt quá 320 km/h (200 mph), trước khi chuyển qua Martinique, Saint Lucia, và Sint Eustatius. Cơn bão đến vào giữa Cách mạng Mỹ, gây thiệt hại nặng nề cho các hạm đội Anh và Pháp đang tranh đoạt quyền kiểm soát khu vực. Bão sau đó qua gần Puerto Rico và phần phía đông của Hispaniola, gây thiệt hại nặng cho các khu vực gần bờ biển. Cuối cùng, bão chuyển hướng đông bắc trước khi được quan sát lần cuối cùng vào ngày 20 tháng 10 tại đông nam của mũi Race, Newfoundland.

Lịch sử khí tượng học

Các kho hàng trên bờ biển của St. Eustatius bị thiệt hại do bão.

Không rõ về nguồn gốc chính xác của bão song có lẽ giống như nhiều cơn bão khác, nó phát triển tại phía đông Đại Tây Dương ở ngoài khơi quần đảo Cabo Verde vào đầu tháng 10. Hệ thống mạnh lên và mở rộng khi nó đi chậm về phía tây và bắt đầu ảnh hưởng đến Barbados từ cuối ngày 9 tháng 10. Sang ngày 10 tháng 10, phần tệ nhất của bão đi qua đảo. Đầu ngày 11 tháng 10, bão chuyển hướng bắc-tây bắc ở điểm cách khoảng 90 kilômét (56 mi) về phía đông của Saint Lucia, và đêm hôm đó tới gần đảo Martinique. Xoáy thuận bắt đầu suy yếu khi nó đi qua phía tây nam của Dominica vào đầu ngày 12 tháng 10 và sau đó tấn công đảo Guadeloupe.[2]
Sau khi tấn công Guadeloupe, bão chuyển hướng tây-tây bắc, đi qua khoảng 145 kilômét (90 mi) về phía tây nam của Saint Kitts. Bão dần tiến đến gần Puerto Rico, đi song song với đường bờ biển phía nam của đảo, và đến ngày 14 tháng 10 thì tiến đến điểm gần đảo nhất nằm ở phần tây nam của đảo. Sau đó, bão chuyển hướng tây bắc, tấn công đảo Mona trên hành lang Mona trước khi đổ bộ gần tỉnh Samaná của Cộng hòa Dominica hiện nay. Sang ngày 15 tháng 10, bão tiến đến Đại Tây Dương và sau khi qua khu vực cách 260 kilômét (160 mi) về phía đông của đảo Grand Turk, người ta ước đoán bão đổi hướng đông bắc. Bão qua khu vực cách 240 kilômét (150 mi) về phía đông nam của Bermuda vào ngày 18 tháng 10,[2] và quan sát được lần cuối vào hai ngày sau đó tại khu vực cách khoảng 475 kilômét (295 mi) về phía đông nam của mũi Race, Newfoundland.[5]
Ngày 19 tháng 10, gió mạnh và triều cao ghi nhận được tại tỉnh Đông Florida của Anh. Một sử gia hiện đại đưa ra giả thuyết rằng bão đi gần tỉnh hơn so với nhận định trước đó. Khả năng khác được cân nhắc là một phần mở rộng của một cơn bão tại phía tây biển Caribe. Do thiếu dữ liệu, không rõ về đường đi chính xác của siêu bão.[6]

Tác động

Siêu bão bắt đầu ảnh hưởng đến Barbados với mưa vào cuối ngày 9 tháng 10. Gió tây bắc mạnh lên suốt ngày 10 tháng 10. Các tàu trong vịnh bị đứt neo gần 4 giờ chiều, và “tác động đầy đủ” đến vào 6 giờ tối. Gió dần đổi hướng tây trong suốt đêm và đạt đỉnh vào nửa đêm. Tốc độ trở lại lại bình thường vào 8 giờ sáng ngày 11 tháng 10.[2] Những trận gió này gợi ý rằng tâm bão đi qua phía bắc của Barbados. Bão sinh ra gió dữ dội đến nỗi mọi người không thể nghe thấy lời nói của họ. Bão lột vỏ cây cối và không còn cây nào còn đứng được trên đảo.[2] Thậm chí các cơn bão mạnh nhất cũng không thể lột được vỏ cây, và nhà khí tượng học người Cuba José Carlos Millás ước tính rằng hiện tượng này cần đến mưa và gió trên 200 dặm Anh một giờ (320 km/h).[7] Những cơn gió cũng phá hủy mọi ngôi nhà tại Barbados. Bão cũng phá hủy toàn bộ các pháo đài trên đảo.[2] Theo đô đốc người Anh George Brydges Rodney, gió mang các trọng pháo của họ lên cao 100 foot (30 m). Khoảng 4.500 người thiệt mạng tại Barbados.[7]
Tại Saint Vincent, bão phá hủy 584 trong số 600 căn nhà tại Kingstown. Tại Grenada, 19 tàu của Hà Lan bị đắm. Tại Saint Lucia, những cơn sóng dữ và một cơn triều bão mạnh tấn công hạm đội của Đô đốc người Anh Rodney tại Port Castries, một chiếc thuyền tàn phá bệnh viện của đô thị do nó bị nâng lên đỉnh của bệnh viện. Chỉ hai căn nhà tại Port Castries là không bị tàn phá do bão, trên đảo có khoảng 6.000 người thiệt mạng.[2] Hạm đội của Rodney bị mất các tàu như tuần phòng hạm HMS Phoenix đắm trên bờ biển Cuba, và HMS Blanche biến mất không dấu vết, các tuần phòng hạm hạng sáu HMS Andromeda và HMS Laurel bị đắm tại Martinique với thiệt hại nặng nề về nhân mạng và năm thuyền nhỏ khác bị đắm hoặc chìm. Tuy nhiên, thiệt hại nặng nề nhất của hạm đội Anh là đội của Chuẩn đô đốc Joshua Rowley, đội này bị bão tấn công ở ngoài khơi bờ biển San Domingo. Hai tàu chiến tuyến là HMS Thunderer chìm cùng toàn bộ thủy thủ, và HMS Stirling Castle vỡ tan trên bờ biển với ít hơn 50 người sống sót, sáu tàu còn lại đều bị hư hỏng nghiêm trọng.[8]
Một hạm đội gồm 40 tàu Pháp tham dự Chiến tranh Cách mạng Mỹ bị lật úp do bão ở ngoài khơi Martinique; khoảng 4.000 binh sĩ chết đuối. Trong số thiệt hại của Pháp, có các tàu chiến thuyến Palmier, IntrépideMagnifique và tàu tuần phòng Junon.[9] Bão gây ra sóng dâng 25 foot (7,6 m) tại Martinique, tàn phá toàn bộ nhà cửa tại Saint-Pierre; 9.000 người thiệt mạng trên đảo. Gió dữ dội, mưa, và sóng dâng, gây thiệt hại nghiêm trọng tại Roseau, Dominica. Một trận sóng dâng cũng đập vào bờ biển phía nam của Guadeloupe và gây thiệt hại đáng kể. Gió mạnh có tác động đến AntiguaSaint Kitts, nhiều tàu bị dạt vào bờ tại Saint Kitts. Một sĩ quan hải quân Hà Lan trên tàu bị bão thổi từ St. Eustatius đến Martinique báo cáo thiệt hại tại Saint-Pierre (Martinique), St. Vincent và St. Lucia. Khi trở về St. Eustatius ông báo cáo rằng tại đây “cũng có vài nhà cửa bị tàn phá” và nước biển làm hỏng hàng hóa để trên bờ biển. Tuy nhiên, ông nói rằng tình hình không tệ như các đảo của Pháp và Anh.[10].
Thiệt hại nặng nề được báo cáo tại miền nam Puerto Rico, chủ yếu là tại Cabo RojoLajas. Thiệt hại nghiêm trọng cũng xảy ra tại khu vực miền đông của Santo Domingo. Bão sau đó làm mắc cạn 50 tàu gần Bermuda. Trên đường đi của mình, bão khiến cho trên 20.000 thiệt mạng, có thể lên đến 24.000, trở thành bão gây thiệt hại nhân mạng cao nhất trong lịch sử bão Đại Tây Dương.[2][3][11]

Chú thích

  1. ^ a ă â Mújica-Baker, Frank. Huracanes y Tormentas que han afectado a Puerto Rico. Estado Libre Asociado de Puerto Rico, Agencia Estatal para el manejo de Emergencias y Administracion de Desastres. tr. 11. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010.
  2. ^ a ă â b c d đ e Orlando Pérez (1970). “Notes on the Tropical Cyclones of Puerto Rico”. San Juan, Puerto Rico National Weather Service. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007.
  3. ^ a ă Edward N. Rappaport, Jose Fernandez-Partagas, and Jack Beven (1997). “The Deadliest Atlantic Tropical Cyclones, 1492-1996”. NOAA. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2007.
  4. ^ Hurricane Research Division (2006). “Re-Analysis Project”. NOAA. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2007.
  5. ^ Michael Chenoweth (2006). “A Re-assessment of Historical Atlantic Basin Tropical Cyclone Activity, 1700-1855”. NOAA. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007.
  6. ^ Al Sandrik and Chris Landsea (2003). “Chronological Listing of Tropical Cyclones affecting North Florida and Coastal Georgia 1565-1899”. Hurricane Research Division. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007.
  7. ^ a ă Caribbean Disaster Emergency Response Agency (2005). “NEMO remembers the great hurricane of 1780”. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007.
  8. ^ Clowes, p. 58
  9. ^ Clowes, p. 114
  10. ^ Jong, C. de. Reize naar de Caribische Eilanden, 1807. p. 140
  11. ^ Kerry Emanuel (2007). Divine Wind : The History and Science of Hurricanes. Oxford University Press. tr. 63.

Đọc thêm

  • Blodgett, L., Climatology of United States, p. 397, “The Great Hurricane of 1780.”
  • Clowes, William Laird (1997 [1900]). The Royal Navy, A History from the Earliest Times to 1900, Volume IV. Chatham Publishing. ISBN 1-86176-013-2.
  • Depradine, C. A., 1989: Pre-1900 severe hurricanes in the Caribbean. Notes compiled for the Caribbean Meteorological Institute, Saint James, Barbados.
  • Dunbar, 1804: Transactions of the American [Philosophical] Society, Philadelphia, vol. 6, second series. Philadelphia.
  • Fitzpatrick, Patrick J., 1999: Natural Disasters: Hurricanes. ABC-CLIO Inc., ISBN 1-57607-071-9
  • Ludlum, D. M., 1963: Early American hurricanes, 1492-1870. Amer. Meteor. Soc., Boston, 198 pp.
  • Millas, Dr. José Carlos, 1968: Hurricanes of the Caribbean and adjacent regions, 1492-1800. Academy of the Arts and Sciences of the Americas, Miami, Florida, 328 pp.
  • Rappaport, Edward N., and Jose Fernandez-Partagas, 1996: The Deadliest Atlantic Tropical Cyclones, 1492–1996.
  • Salivia, Dr. Luis A., 1950: Historia de los Temporales de Puerto Rico, 1508-1949.
  • Winds and weather of the West Indian region, U.S. Weather Bureau, 1940, 190 pp.

Khởi nghĩa Vũ Xương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Khởi nghĩa Vũ Xương
Một phần của Cách mạng Tân Hợi
Xh1.jpgTrung Hoa Dân Quốc được thành lập
.
Thời gian 10 tháng 10, 1911
Địa điểm Vũ Xương, Hồ Bắc, Trung Quốc
Kết quả Đồng Minh hội thắng lợi quyết định
Tham chiến
Nhà Thanh Nhà Thanh Chinese-army Wuhan flag (1911-1928) 18 dots.svg Đồng Minh hội
Chỉ huy
Nhà Thanh Viên Thế Khải
những người khác
Chinese-army Wuhan flag (1911-1928) 18 dots.svg Hoàng Hưng
Hùng Bỉnh Khôn (熊秉坤)
Lê Nguyên Hồng
Lực lượng
10.000 quân 2.000 quân
Tổn thất
~4.000 chết ~1.000 chết
.
Khởi nghĩa Vũ Xương
Phồn thể: 武昌起義
Bính âm: Wǔchāng Qǐyì

Khởi nghĩa Vũ Xương là một cuộc khởi nghĩa của Trung Quốc có tác dụng như chất xúc tác cho cách mạng Tân Hợi, chấm dứt triều đại nhà Thanh và hàng nghìn năm phong kiến, khai sinh ra Trung Hoa Dân Quốc. Bất mãn với cách xử lý một vụ khủng hoảng đường sắt, những người biểu tình biến nó thành một cuộc cách mạng chống lại quan chức chính quyền nhà Thanh. Cuộc cách mạng sau đó nhận được sự hỗ trợ từ tân quân trong một cuộc đảo chính chống lại chính cấp trên của họ ở thành phố Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc ngày 10/10/1911.[1] Trận Dương Hạ do Hoàng Hưng lãnh đạo là cuộc giao tranh lớn nhất của khởi nghĩa này.

Khủng hoảng đường sắt Quảng Đông Tứ Xuyên

Sau phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, nhiều quốc gia phương Tây xem Trung Quốc là mảnh đất tốt để đầu tư và xây dựng đường sắt[2]. Đã tạo được ảnh hưởng tại Trung Quốc, các quốc gia như AnhPháp xây dựng rất nhiều tuyến đường sắt cho dù bị nhà Thanh phản đối.[2] Đức bắt đầu xây đường sắt ở Sơn Đông, Anh ở thung lũng sông Trường Giang, Pháp ở Côn Minh, NgaHắc Long Giangngười Nhật thành lập công ty đường sắt Nam Mãn Châu.[2]
Tuy nhiên, đến năm 1905, tuyến đường sắt Quảng Đông-Hán Khẩu và Tứ Xuyên-Hán Khẩu đoạn chạy qua Quảng Đông, Hồ Nam, Hồ BắcTứ Xuyên do địa phương quản lý.[3][4] Các tuyến này dùng để kết nối với phần còn lại của Trung Quốc.
Tháng 5 năm 1911, nhà Thanh yêu cầu quốc hữu hóa các tuyến đường sắt nhằm bồi thường chiến phí theo điều ước Tân Sửu[2]. Thông báo về việc quốc hữu hóa đường sắt và trả nợ chiến phí cho các nước thắng trận trong phong trào Nghĩa Hòa Đoàn (chủ yếu là Anh, Pháp, Đức và Mỹ) đã vấp phải nhiều phản đối.[1][3][5] Các vụ phản kháng đã diễn ra ở thành phố Trường Sa và nhân dân Quảng Đông đã tẩy chay tiền giấy chính phủ[3].
Đến 11 tháng 8 đã có nhiều cuộc biểu tình và đình công lớn tại Thành Đô[3]. Tổng đốc Tứ Xuyên Triệu Nhĩ Phong trong con hoảng loạn đã ra lệnh bắt giữ nhiều quý tộc.[3] Các đơn vị Tân Quân ở Vũ Hán khi đó đang đóng tại Vũ Xương, Hán Khẩu, Hán Dương.[6]

Khởi nghĩa

Cờ 9 sao với Thái cực đồ ở giữa được dùng trong khởi nghĩa Vũ Xương.[1]

Các nhóm cách mạng và vụ đánh bom

Cuộc khởi nghĩa thực chất bắt nguồn từ một sự cố. Tại thời điểm đó có hai nhóm cách mạng là Văn Học Xã (文學社) và Cộng Tiến Hội (共進會).[6]. Hai nhóm này cộng tác với nhau, do Tưởng Dực Vũ (蔣翊武) và Tôn Vũ(孫武) lãnh đạo.[5] Tháng 9 năm 1911, họ bắt đầu cộng tác với Đồng Minh hội (同盟會).[5] Ngày khởi nghĩa dự kiến ban đầu là 6 tháng 10 nhằm vào Tết Trung thu.[5] Tuy nhiên vài người chưa sẵn sàng cho ngày đó nên nó bị hoãn.[5] Ngày 9 tháng 10 khi Tôn Vũ đang ở nơi chế tạo bom tại tô giới Nga tại Hán Khẩu thì một quả bom ngẫu nhiên phát nổ khiến ông bị thương nặng.[5] Khi Tôn Vũ được đưa đến bệnh viên, các nhân viên y tế phát hiện ra đây là nhóm hoạt động cách mạng nên đã báo cho nhà Thanh.[5]

Binh biến Tân quân

Tổng đốc Hồ Quảng là Thụy Trừng (瑞澂) cố gắng lùng bắt những người cách mạng.[1] Phải đối mặt với việc bị phát hiện và bắt bớ, những người cách mạng buộc phải hành động. Tưởng Dực Vũ và Văn Học Xã quyết định ra tay đêm hôm đó nhưng mưu đồ bị bại lộ.[1] Một số thành viên bị bắt và hành quyết.[1]
Hùng Bỉnh Khôn (熊秉坤) sau đó quyết định nổi dậy vào 7 giờ tối ngày 10 tháng 10[1]. Tân quân ở Vũ Xương tiến hành binh biến[1]. Trong khi Tân binh là của nhà Thanh, họ đã bị ảnh hưởng bởi tư tưởng chống Thanh của Tôn Trung Sơn (khi đó đang bị trục xuất).[2] Những người cách mạng đã chiếm lấy phủ của Thụy Trừng buộc ông ta phải chạy thoát thân qua đường hầm[1]. Sau khi giao chiến ác liệt, Tân quân đã chiếm giữ những vị trí chiến lược trong thành phố. Càng lúc càng có nhiều người nổi dậy và quân đội chính phủ đã bị đánh bại.[6]

Tế lễ

Chỉ một tuần sau khi khởi nghĩa Vũ Xương nổ ra, Lê Nguyên Hồng (黎元洪) đã làm lễ tế trời, đất và Hoàng Đế.[7] Một đài rộng bằng đất được dựng lên, trên đó có bệ thờ đặt bát hương, rượu và một con bò, theo nghi thức truyền thống.[7] Lê Nguyên Hồng và các sĩ quan khấu đầu bốn lần trong khi một bài tế được xướng lên, nói về việc người Hán bị người Mãn áp bức và kêu gọi Hoàng Đế giúp sức cho việc thành lập nước Cộng hòa.[7] Sau cùng, các binh sĩ giơ cao súng của họ và hô “vạn tuế” ba lần.[7] Buổi lễ kết thúc.

Cờ 18 sao Thiết Huyết trong khởi nghĩa Vũ Xương

Thành lập chính quyền quân sự Hồ Bắc

Ngày 11 tháng 10, Tân quân thành lập chính quyền quân sự tại Hồ BắcLê Nguyên Hồng bị ép làm Đốc quân mới.[1][6] Người ta đã phải thuyết phục ông “đồng ý” nhận chức vụ này, có báo cáo nói rằng ông đã trốn dưới giường để thoái thác cương vị này.[4]
Khi quân đội đã làm chủ thành phố, binh lính đã giương “cờ 18 sao Thiết Huyết” trên Hoàng Hạc lâu.[5] Chính quyền quân sự mới thành lập kêu gọi các tỉnh khác ủng hộ cuộc cách mạng và tuyên bố thành lập Trung Hoa Dân Quốc.[6] Chính phủ lâm thời này thường được gọi là “Hồ Bắc quân chính phủ”(湖北軍政府).[1][5] Đến ngày 12 tháng 10, Hán KhẩuHán Dương cũng rơi vào tay của những người cách mạng.[6]

Sau khởi nghĩa

Tượng Tôn Dật Tiên đứng tại quảng trường Đệ Nhất Khởi Nghĩa tại Vũ Hán phía trước trụ sở của chính phủ quân sự Hồ Bắc.

Bản thân Tôn Trung Sơn không đóng vai trò trực tiếp trong cuộc khởi nghĩa. Khi đấy ông đang ở Hoa Kỳ kêu gọi Hoa kiều ủng hộ vật chất.[8] Cụ thể, ông đang ở Denver, ở chân dãy núi Rocky[8]. Ông nhận được 1 bức điện từ Hoàng Hưng được gửi từ cách đấy 1 tuần nhưng ông không giải mã được nó vì thiếu công cụ.[8] Sáng hôm sau ông đọc được trên báo rằng những người cách mạng đã chiếm được thành phố Vũ Xương[8]. Sau khởi nghĩa, những người cách mạng gửi điện đến các tỉnh khác kêu gọi họ tuyên bố độc lập và đã có 15 tỉnh ở Nam Trung HoaTrung Trung Hoa hưởng ứng.[9]
Các đại diện đến từ các tỉnh ly khai đã họp mặt và tuyên bố thành lập Trung Hoa Dân Quốc ngày 1 tháng 1 năm 1912.[10] Tôn Trung Sơn về nước tháng 12 năm 1911 và được bầu làm tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc. Ông cuối cùng đã nhượng bộ chức vụ tổng thống lâm thời của mình cho Viên Thế Khải, đổi lại Viên sẽ giúp sức gây áp lực ép vị hoàng đế cuối cùng thoái vị. Ngày 12 tháng 2 năm 1912, Phổ Nghi, vị Hoàng đế Trung Hoa cuối cùng, đã rời khỏi ngai vị. Nhà Thanh không còn quyền lực chi phối đất nước nữa vì nó gần như đã bị tước đi thiên mệnh.[4] Sự kiện này đặt dấu chấm hết thời kỳ quân chủ.

Văn hóa

Ngày diễn ra cuộc khởi nghĩa, 10 tháng 10, Ngày Song Thập (Trung văn phồn thể: 雙十節), được lấy làm ngày Quốc khánh (Trung văn phồn thể: 國慶日) của Trung Hoa Dân Quốc[11]. Đây là một trong những ngày lễ quốc gia quan trọng nhất ở Đài Loan.
Ngày 10 tháng 10 không phải là quốc khánh tại Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc nhưng vẫn có những hoạt động kỷ niệm diễn ra tại Trung Quốc đại lục và ngày này thường được gọi là Ngày kỉ niệm khởi nghĩa Vũ Xương (Trung văn giản thể: 武昌起义纪念日).[11] Lễ kỷ niệm tương tự thường được thực hiện vào ngày 1 tháng 10, Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa[11].

Tham khảo

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h 戴逸, 龔書鐸. [2002] (2003) 中國通史. 清. Intelligence press. ISBN 962-8792-89-X. p 86-89.
  2. ^ a ă â b c Spence, Jonathan D. [1990] (1990). The Search for Modern China. W. W. Norton & Company. ISBN 0-393-30780-8, ISBN 978-0-393-30780-1. pg 250-256.
  3. ^ a ă â b c Reilly, Thomas. [1997] (1997). Science and Football III, Volume 3. Taylor & Francis publishing. ISBN 0-419-22160-3, ISBN 978-0-419-22160-9. pg 277-278.
  4. ^ a ă â Fenby, Jonathan. [2008] (2008). The History of Modern China: The Fall and Rise of a Great Power. ISBN 978-0-7139-9832-0. pg 107, pg 116, pg 119.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê 王恆偉. (2005) (2006) 中國歷史講堂 #6 民國. 中華書局. ISBN 962-8885-29-4. pg 3-7.
  6. ^ a ă â b c d Wang, Ke-wen. [1998] (1998). Modern China: An Encyclopedia of History, Culture and Nationalism. Taylor & Francis Publishing. ISBN 0-8153-0720-9, ISBN 978-0-8153-0720-4. pg 390-391.
  7. ^ a ă â b Harrison Henrietta. [2000] (2000). The Making of the Republican Citizen: Political Ceremonies and Symbols in China, 1911-1929. Oxford University Press. ISBN 0-19-829519-7, ISBN 978-0-19-829519-8. pg 16-17.
  8. ^ a ă â b Bergere, Marie-Claire. Lloyd Janet. [2000] (2000). Sun Yat-sen. Stanford University Press. ISBN 0-8047-4011-9, ISBN 978-0-8047-4011-1. p 207.
  9. ^ Liu, Haiming. [2005] (2005). The Transnational History of a Chinese Family: Immigrant Letters, Family Business and Reverse Migration. New Brunswick, NJ: Rutgers University Press. ISBN 0-8135-3597-2, ISBN 978-0-8135-3597-5.
  10. ^ Welland, Sasah Su-ling. [2007] (2007). A Thousand Miles of Dreams: The Journeys of Two Chinese Sisters. Rowman Littlefield Publishing. ISBN 0-7425-5314-0, ISBN 978-0-7425-5314-9. pg 87.
  11. ^ a ă â 雙十節是? 陸民眾:「國民黨」國慶. Tvbs.com.tw. Retrieved on 2011-10-08.

 

Bài viết mới
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s