Chào ngày mới 28 tháng 9

Alexander Fleming

CNM365. Chào ngày mới 28 tháng 9. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày lập quốc tại Séc; ngày Nhà giáo tại Đài Loan. Năm 189Đổng Trác phế truất hoàng đế Lưu Biện, lập em của Lưu Biện là Lưu Hiệp lên ngôi, tức Hán Hiến Đế– hoàng đế cuối cùng của triều Đông Hán. Năm 1928Alexander Fleming (hình) nhận thấy một loại mốc diệt vi khuẩn phát triển trong phòng thí nghiệm của ông, thứ mà về sau được gọi là penicillin. Năm 1986Đảng Dân chủ Tiến bộ Đài Loan tuyên bố thành lập tại Đài Bắc, là đảng đối lập đích thực đầu tiên tại Đài Loan. Năm 2006Sân bay quốc tế Suvarnabhumi tại tỉnh Samut Prakan, Thái Lan bắt đầu chính thức hoạt động, thay thế cho Sân bay quốc tế Don Mueang.

Tiệp Khắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Séc-Slovakia)
Československo
Tiệp Khắc
1918–1992

Quốc kỳ Quốc huy
Cờ từ năm 1920 Quốc huy 1990–1992
Khẩu hiệu
tiếng Séc: Pravda vítězí
(“Sự thực trên hết”; 1918–1990)
tiếng Latinh: Veritas Vincit
(“Sự thực trên hết”; 1990–1992)
Quốc ca
Kde domov můjNad Tatrou sa blýska
Vị trí của Tiệp Khắc
Thủ đô Praha
Ngôn ngữ tiếng Séctiếng Slovak
Chính thể Chủ nghĩa Cộng sản
Chủ tịch nước
 – 1918–1935 Tomáš G. Masaryk (đầu tiên)
 – 1989–1992 Václav Havel (cuối cùng)
Thủ tướng
 – 1918–1919 Karel Kramář
 – 1992 Jan Stráský
Lịch sử
 – Độc lập khỏi Áo–Hung 28 tháng 10, 1918
 – Đức chiếm đóng 1939
 – Giải phóng 1945
 – Giải tán Tiệp Khắc 31 tháng 12, 1992
Diện tích
 – 1921 140.446 km²; (54.227 mi²)
 – 1993 127.900 km²; (49.382 mi²)
Dân số
 – 1921 ước tính 13.607.385
     Mật độ 96,9 /km²  (250,9 /mi²)
 – 1993 ước tính 15.600.000
     Mật độ 122 /km²  (315,9 /mi²)
Tiền tệ Czechoslovak koruna
Current ISO 3166-3 code:        CSHH

Tiệp Khắc (tiếng Séc: Československo, tiếng Slovak: Česko-Slovensko/trước 1990 Československo, tiếng Đức: Tschechoslowakei), còn gọi tắt là Tiệp (nhất là trong khẩu ngữ), là một nhà nước có chủ quyền tại Trung Âu tồn tại từ tháng 10 năm 1918, khi nó tuyên bố độc lập khỏi Đế quốc Áo-Hung, cho tới năm 1992. Từ 1939 tới 1945 quốc gia này trên thực tế không tồn tại, vì bị bắt buộc giải tán và sáp nhập một phần vào nước Đức Phát xít, nhưng Chính phủ Séc lưu vong quả thực có tồn tại trong giai đoạn này trong khi Slovakia độc lập khỏi Séc. Ngày 1 tháng 1 năm 1993 Tiệp Khắc phân chia trong hòa bình thành Cộng hòa SécSlovakia. Cộng hòa Séc hiện nay kế thừa Tiệp Khắc về mặt pháp lý.

Tên gọi

Danh xưng “Tiệp Khắc” trong tiếng Việt là giản xưng của Tiệp Khắc Tư Lạc Phạt Khắc (Trung văn: 捷克斯洛伐克, bính âm: Jiékè Sīluòfákè)), dịch danh Trung văn của quốc hiệu Tiệp Khắc. Trong đó, “Tiệp Khắc” (Jiékè) là chỉ Séc, “Tư Lạc Phạt Khắc” (Sīluòfákè) là chỉ Slovakia. Hiện nay cũng có một số người Việt Nam gọi Séc là “Tiệp Khắc” hoặc “Tiệp”.

Các tính chất căn bản

Hình thức nhà nước:

Nước láng giềng: Đức (1945–1990: Cộng hòa Liên bang ĐứcCộng hòa Dân chủ Đức), Ba Lan, từ 1945 Liên bang Xô viết (1992: Ukraina), România (cho tới năm 1939), Hungary, Áo
Địa hình: Nói chung bằng phẳng. Vùng phía tây là một phần của dải đất cao bắc trung Âu. Vùng phía đông gồm phần phía bắc của lòng chảo Núi CarpathianSông Danube.
Khí hậu: Chủ yếu lục địa nhưng thay đổi từ nhiệt độ ôn hòa của Trung Âu ở phía tây tới các hệ thống thời tiết khắc nghiệt hơn có ảnh hưởng Đông Âu và vùng phía tây Liên xô tại phía đông.

Tên chính thức

Lịch sử

Thành lập

Tiệp Khắc năm 1928

Tiệp Khắc được thành lập tháng 10 năm 1918 như một trong những quốc gia kế tục của Áo-Hung ở cuối Thế chiến I. Nó gồm các lãnh thổ hiện nay của Cộng hòa Séc, SlovakiaCarpathian Ruthenia. Lãnh thổ của nó gồm một số vùng rất công nghiệp hoá của Áo-Hung cũ. Đây là một quốc gia đa sắc tộc. Thành phần sắc tộc nguyên thủy của nhà nước mới gồm 51% người Séc, 16% người Slovak, 22% người Đức, 5% người Hung và 4% người Rusyn hay Ruthenia.[2] Nhiều người Đức, Hungary, Ruthenia và người Ba Lan[3] và một số người Slovak, cảm thấy bất lợi tại Tiệp Khắc, bởi giới lãnh đạo chính trị đất nước đưa ra một nhà nước trung ương tập quyền và đa số thời gian không cho phép tự trị chính trị cho các nhóm sắc tộc. Chính sách này, cộng với sự tuyên truyền Phát xít ngày càng tăng đặc biệt ở vùng công nghiệp hoá nói tiếng Đức Sudetenland, đã dẫn tới tình trạng căng thẳng leo thang trong sắc dân không phải Séc.
Tư tưởng chính thống về nhà nước lập hiến của quốc gia mới thời điểm đó là không có người Séc và người Slovak, chỉ một dân tộc: Tiệp Khắc (xem Chủ nghĩa Tiệp Khắc). Nhưng không phải mọi sắc tộc đều đồng ý với tư tưởng này (đặc biệt là người Slovak) và một khi một nhà nước Tiệp Khắc thống nhất được tái lập sau Thế chiến II (sau sự giải tán của quốc gia trong Thế chiến II) ý tưởng này bị bỏ lại và Tiệp Khắc là một đất nước hai dân tộc – người Séc và người Slovak.

Tiệp Khắc năm 1930: ngôn ngữ

Sắc tộc Tiệp Khắc năm 1921[4]


Tổng dân số 13,607.385
Tiệp Khắc 8,759.701 64.37%
Đức 3,123.305 22.95%
Người Hungary 744.621 5.47%
Người Ruthenia 461.449 3.39%
Do Thái 180.534 1.33%
Ba Lan 75.852 0.56%
Khác 23.139 0.17%
Người nước ngoài 238.784 1.75%

Thế chiến II

Theo Thoả thuận Munich năm 1938, Anh QuốcPháp buộc Tiệp Khắc nhượng các vùng biên giới nói tiếng Đức cho Phát xít Đức dù đã tồn tại những hiệp ước, trong cái thường được gọi là một phần của Sự phản bội phương Tây. Năm 1939 phần còn lại (“rump”) của Tiệp Khắc bị Phát xít Đức xâm lược và phân chia thành vùng Bảo hộ Bohemia và MoraviaNhà nước Slovak con rối. Đa phần Slovakia và toàn bộ Subcarpathian Ruthenia bị Hungary sáp nhập.

Tiệp Khắc Cộng sản

Sau Thế chiến II, nước Tiệp Khắc trước chiến tranh được tái lập, ngoại trừ Subcarpathian Ruthenia, bị Liên xô sáp nhập và đưa vào Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraine. Nghị định Beneš được công bố liên quan tới sắc tộc Đức (xem Thoả thuận Potsdam) và sắc tộc Hungary. Theo các nghị định này, quyền công dân bị bãi bỏ với người có nguồn gốc sắc tộc Đức và Hungary, những người từng nhận quyền công dân Đức hoặc Hungary trong thời chiếm đóng. (Năm 1948 điều khoản này bị xoá bỏ cho người Hungary, nhưng chỉ một phần cho người Đức). Sau đó thường tịch thu tài sản của họ và trục xuất khoảng 90% dân số sắc tộc Đức tại Tiệp Khắc, hơn 2 triệu người. Những người còn lại bị buộc tội chung là đã ủng hộ Phát xít (sau Thoả thuận Munich, và 97.32% người Đức Sudeten thành niên bỏ phiếu cho NSDAP trong cuộc bầu cử tháng 12 năm 1938). Hầu như mọi nghị định đều nói dứt khoát rằng sự trừng phạt không áp dụng cho những người chống phát xít, dù thuật ngữ chống phát xít không được định nghĩa rõ ràng. Khoảng 250,000 người Đức, nhiều người lấy người Séc, một số người chống phát xít, và cả những người yêu cầu tái lập đất nước thời hậu chiến, vẫn ở lại Tiệp Khắc. Nghị định Beneš vẫn gây ra tranh cãi lớn giữa các nhóm quốc gia tại Cộng hòa Séc, Đức, Áo và Hungary.[5]
Carpathian Ruthenia bị chiếm đóng bởi (và vào tháng 6 năm 1945 chính thức nhượng lại) Liên Xô. Năm 1946 trong cuộc bầu cử nghị viện Đảng Cộng sản Tiệp Khắc chiến thắng tại vùng đất Séc (Đảng dân chủ chiến thắng tại Slovakia). Tháng 2 năm 1948 những người Cộng sản lên nắm quyền lực. Dù họ tiếp tục duy trì sự đa nguyên chính trị bịa đặt với sự tồn tại của Mặt trận Quốc gia, ngoại trừ một thời gian ngắn cuối thập niên 1960 (Mùa xuân Prague) đất nước này có đặc trưng ở sự thiếu vắng dân chủ tự do. Tuy nền kinh tế của nó vẫn tiên tiến hơn nền kinh tế các nước láng giềng ở Đông Âu, Tiệp Khắc dần trở nên yếu ớt về kinh tế so với Tây Âu.
Năm 1968, sau một giai đoạn tự do hoá ngắn, năm nước Khối Đông Âu xâm lược Tiệp Khắc. Nga Xô viết cho xe tăng tiến vào Prague ngày 21 tháng 8 năm 1968.[6] Người đứng đầu chính phủ Xô viết Leonid Brezhnev coi sự can thiệp này là tối cần thiết cho sự tồn tại của Xô viết, hệ thống xã hội chủ nghĩa và cam kết tiến hành can thiệp vào bất kỳ nước nào tìm cách thay thế Chủ nghĩa Mác-Lenin bằng chủ nghĩa tư bản.[7] Năm 1969, Tiệp Khắc chuyển thành một liên bang gồm Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa SécCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Slovak. Theo hình thức liên bang, những sự không công bằng giữa Séc và Slovak gây ảnh hưởng tới nhà nước bị hạn chế. Một số bộ, như bộ giáo dục, chính thức được chuyển cho hai nước cộng hòa. Tuy nhiên, sự quản lý chính trị tập trung bởi Đảng Cộng sản hạn chế khá nhiều hiệu quả của sự liên bang hoá.
Thập niên 1970 chứng kiến sự trỗi dậy của phong trào phản đối tại Tiệp Khắc, đại diện bởi (trong số những người khác) Václav Havel. Phong trào tìm cách tham gia mạnh hơn vào chính trị và thể hiện dưới hình thức phản đối chính thức, diễn ra trong những giới hạn của các hoạt động công việc (đi xa tới mức một lệnh cấm nghiệp đoàn chuyên nghiệp và từ chối giáo dục cao cho con em những người bất đồng được ban ra), cảnh sát đe doạ và thậm chí là cả nhà tù.

Sau 1989

Năm 1989 đất nước này lại quay trở lại dân chủ sau Cách mạng Nhung. Điều này xảy ra cùng khoảng thời gian với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản tại România, Bulgaria, HungaryBa Lan. Trong vòng ba năm những người cộng sản đã bị gạt bỏ khỏi Châu Âu.
Không giống Nam TưLiên bang Xô viết, sự chấm dứt của Chủ nghĩa cộng sản ở nước này không tự động có nghĩa sự chấm dứt của cái tên “cộng sản”: từ “xã hội chủ nghĩa” bị bỏ đi ngày 29 tháng 3 năm 1990, và được thay bằng “liên bang”.
Năm 1992, vì những căng thẳng leo thang của chủ nghĩa quốc gia, Tiệp Khắc giải tán trong hòa bình theo các quá trình trong nghị viện. Lãnh thổ của nó trở thành Cộng hòa SécSlovakia, được chính thức lập ra ngày 1 tháng 1 năm 1993.

Lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ

Chính sách đối ngoại

Thoả thuận và thành viên tổ chức quốc tế

Sau Thế chiến II, thành viên tích cực trong Hội đồng Tương trợ Kinh tế (Comecon), Khối hiệp ước Warszawa, Liên hiệp quốc và các cơ quan khác của tổ chức này, tham gia ký kết Hội nghị An ninh và Hợp tác Châu Âu

Phân chia hành chính

Czechoslovakia.png

  • 1918–1923: các hệ thống khác nhau trong lãnh thổ Áo cũ (Bohemia, Moravia, một phần nhỏ của Silesia) so với lãnh thổ cũ của Hungary (SlovakiaRuthenia): ba vùng đất (země) (cũng được gọi là các đơn vị quận (obvody)): Bohemia, Moravia, Silesia, cộng thêm 21 hạt (župy) tại Slovakia ngày nay và hai(?) hạt tại Ruthenia hiện nay; cả vùng đất và hạt đều được chia thành các quận (okresy).
  • 1923–1927: như trên, ngoại trừ các hạt của Slovakia và Ruthenia bị thay thế bởi sáu (grand) hạt ((veľ)župy) tại Slovakia và một (grand) hạt tại Ruthenia, và các con số và các biên giới của okresy bị thay đổi trong hai lãnh thổ đó.
  • 1928–1938: bốn vùng đất (Séc: země, Slovak: krajiny): Bohemia, Moravia-Silesia, Slovakia và Subcarpathian Ruthenia, được chia thành các quận (okresy).
  • Late 1938–tháng 3 năm 1939: như trên, nhưng Slovakia và Ruthenia giành được quy chế “vùng đất tự trị”.
  • 1945–1948: như năm 1928–1938, trừ Ruthenia trở thành một phần của Liên bang Xô viết.
  • 1949–1960: 19 vùng (kraje) được chia thành 270 okresy.
  • 1960–1992: 10 kraje, Praha, và (từ 1970) Bratislava (thủ đô Slovakia); chúng được chia thành 109–114 okresy; kraje bị xoá bỏ thạm thời ở Slovakia năm 1969–1970 và cho nhiều mục đích từ năm 1991 tại Tiệp Khắc; ngoài ra, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Séc và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Slovak được thành lập năm 1969 (không có từ Xã hội chủ nghĩa từ 1990).

Nhóm dân và sắc tộc

Tại thời điểm trước khi phân chia, năm 1991, Tiệp Khắc có 15,6 triệu dân, trong đó người Séc chiếm 62,8%, người Slovakia chiếm 31%, người gốc Hungary chiếm 3,8%, người gốc Romania 0,7%, người gốc Silesi 0,3%. Ngoài ra, tại Tiệp Khắc còn một số ít người gốc Ruthe, Ukraina, Đức, Ba LanDo Thái. Người Séc, Slovakia, Silesi và Ba Lan cùng là các dân tộc Tây Slav. Người Ruthe và Ukraina cùng là các dân tộc Đông Slav.

Chính trị

Sau Thế chiến II, một sự độc quyền chính trị do Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (KSC) nắm giữ xuất hiện. Gustáv Husák được bầu làm thư ký thứ nhất của KSC năm 1969 (chuyển thành tổng thư ký năm 1971) và chủ tịch Tiệp Khắc năm 1975. Các đảng và tổ chức khác có tồn tại nhưng chỉ đóng vai trò phụ thuộc cho KSC. Tất cả các đảng chính trị cũng như nhiều tổ chức quần chúng bị gộp lại dưới bóng của Mặt trận Quốc gia. Những nhà hoạt động về quyền con người và tôn giáo bị đàn áp mạnh mẽ.

Phát triển hiến pháp

Tiệp Khắc có các hiến pháp sau trong lịch sử của mình (1918–1992):

Kinh tế

Sau Thế chiến II, kinh tế là tập trung kế hoạch hoá, với các liên kết chỉ huy từ đảng cộng sản, tương tự như Liên bang Xô viết. Ngành công nghiệp luyện kim lớn phụ thuộc vào nhập khẩu quặng sắt và phi sắt.

  • Công nghiệp: Công nghiệp khai khoáng và chế tạo chiếm chủ yếu. Các ngành chính gồm chế tạo máy, hoá chất, chế biến thực phẩm, luyện kim và dệt may. Công nghiệp lãng phí năng lượng, vật tư và nhân công, kỹ thuật chậm cải tiến, nhưng nước này là nguồn cung cấp máy móc chất lượng cao, máy bay, động cơ hàng không và công cụ, đồ điện tử và vũ khí chính cho các quốc gia cộng sản khác.
  • Nông nghiệp: Lĩnh vực nhỏ nhưng cung cấp phần chủ yếu nhu cầu thực phẩm quốc gia, vì các nông trang đã được tập thể hoá với diện tích lớn và có cách thức hoạt động khá hiệu quả. Phụ thuộc vào nhập khẩu ngũ cốc (chủ yếu làm thức ăn gia súc) trong những năm thời tiết không thuận lợi. Sản xuất thịt bị ảnh hưởng bởi thiếu thức ăn, nhưng lượng thịt tiêu thụ trên đầu người cao.
  • Thương mại nước ngoài: Xuất khẩu ước tính US$17.8 tỷ năm 1985, trong số đó 55% máy móc, 14% nhiên liệu và vật liệu, 16% hàng hoá chế tạo. Nhập khẩu ước tính US$17.9 tỷ năm 1985, trong sóo đó 41% nhiên liệu và vật liệu, 33% máy móc, 12% sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp. Năm 1986, khoảng 80% thương mại nước ngoài là với các quốc gia cộng sản.
  • Tỷ giá hối đoái: Chính thức, hay thương mại, tỷ giá Crowns (Kcs) 5.4 trên US$1 năm 1987; du lịch, hay phi thương mại, tỷ giá Kcs 10.5 trên US$1. Không tỷ giá nào phản ánh đúng sức mua. Tỷ giá trên chợ đen khoảng Kcs 30 trên US$1, và tỷ giá này trở thành chính thức khi đồng tiền trở thành chuyển đổi được đầu thập niên 1990.
  • Năm tài chính: Năm dương lịch.
  • Chính sách thuế: Nhà nước sở hữu hầu như toàn bộ phương tiện sản xuất. Nguồn thu từ các doanh nghiệp nhà nước là nguồn thu chủ yếu tiếp theo là thuế doanh thu. Các khoản chi ngân sách lớn cho các chương trình xã hội, trợ cấp, và đầu tư. Ngân sách thường cân bằng hay hơi thặng dư.

Nguồn tài nguyên

Sau Thế chiến II, nước này thiếu năng lượng, phụ thuộc vào nhập khẩu dầu thô và khí tự nhiên từ Liên xô, than xám trong nước, và năng lượng hạt nhân hay thuỷ điện. Năng lượng là một vấn đề lớn trong thập niên 1980.

Vận tải và Viễn thông

Bài chi tiết: Vận tải Tiệp Khắc

Xã hội và nhóm Xã hội

Giáo dục

Giáo dục là miễn phí ở mọi cấp độ và phổ cập từ tuổi lên sáu tới mười lăm. Đại đa số người dân biết chữ. Hệ thống dạy nghề phát triển cao và các trường nghề hỗ trợ các trường trung học và các viện giáo dục cao học.

Tôn giáo

Năm 1991: Cơ đốc giáo La Mã 46.4%, Phúc âm Lutheran 5.3%, Vô thần 29.5%, không rõ 16.7%, nhưng có những sự khác biệt lớn giữa hai nước cộng hoà lập hiến – xem Cộng hoà SécSlovakia

Sức khỏe, an sinh xã hội và nhà ở

Sau Thế chiến II, chăm sóc sức khoẻ miễn phí được áp dụng cho mọi công dân. Kế hoạch chăm sóc sức khoẻ quốc gia nhấn mạnh tới phòng ngừa; các trung tâm y tế tại các nhà máy và các địa phương hỗ trợ cho các bệnh viện và các cơ sở y tế. Đã có những cải thiện lớn trong chăm sóc sức khoẻ tại nông thôn trong thập niên 1960 và 1970.

Truyền thông

Truyền thông tại Tiệp Khắc bị kiểm soát bởi Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (KSČ). Việc sở hữu cá nhân với mọi cơ quan xuất bản hay truyền thông bị cấm, dù các nhà thờ và các tổ chức khác có xuất bản các tạp chí định kỳ và các tờ báo. Thậm chí với sự độc quyền báo chí trong tay các tổ chức dưới sự kiểm soát của KSČ, mọi sách báo xuất bản đều bị Văn phòng Báo chí và Thông tin của chính phủ kiểm duyệt.

Thể thao

Đội bóng đá quốc gia Tiệp Khắc khá nổi tiếng trên thế giới, với 8 lần góp mặt tại các vòng chung kết FIFA World Cup, đứng hạng 2 tại World Cup năm 19341962. Đội bóng cũng giành chức Vô địch Châu Âu năm 1976 và đứng hạng 3 năm 1980.
Đội tuyển hockey trên băng Tiệp Khắc đã giành nhiều huy chương tại các giải đấu thế giới và Olympics.
Emil Zátopek, người giành bốn huy chương vàng điền kinh Olympic được coi là một trong những vận động viên điền kinh hàng đầu trong lịch sử.
Vera Časlavska là vận động viên thể dục đoạt nhiều huy chương, với tám huy chương vàng và bốn huy chương bạc, và đã đại diện cho Tiệp Khắc ở ba kỳ Olympics liên tiếp.
Các tay vợt tennis nổi tiếng Ivan Lendl, Miloslav Mečíř, Daniela HantuchováMartina Navrátilová đều sinh ở Tiệp Khắc.

Văn hoá

Tem thư

Xem thêm

Tham khảo

Nguồn

Ghi chú

  1. ^ Votruba, Martin. “Czecho-Slovakia or Czechoslovakia”. Slovak Studies Program. University of Pittsburgh. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2009.
  2. ^ “The War of the World”, Niall Ferguson Allen Lane 2006.
  3. ^ Playing the blame game, Prague Post, July 6th, 2005
  4. ^ Škorpila F. B.; Zeměpisný atlas pro měšťanské školy; Státní Nakladatelství; second edition; 1930; Czechoslovakia
  5. ^ East European Constitutional Review
  6. ^ http://www.upi.com/Audio/Year_in_Review/Events-of-1968/N.-Korea-Seize-U.S.-Ship/12303153093431-9/#title “Russia Invades Czechoslovakia: 1968 Year in Review, UPI.com”
  7. ^ John Lewis Gaddis, The Cold War: A New History (New York: The Penguin Press),150.

Liên kết ngoài

Alexander Fleming

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sir Alexander Fleming
FRSE, FRS, FRCS(Eng)
Sinh 06 tháng 8, 1881
Lochfield, Ayrshire, Scotland
Mất 11 tháng 3, 1955 (73 tuổi)
London, Anh
Quốc tịch Vương quốc Anh
Quốc tịch Scotland
Ngành Vi khuẩn học, Miễn dịch học
Alma mater Royal Polytechnic Institution
St Mary’s Hospital Medical School
Imperial College London
Nổi tiếng vì Khám phá ra penicilin
Giải thưởng
Chữ ký

Alexander Fleming (6 tháng 8 năm 1881 – 11 tháng 3 năm 1955) là một bác sĩ, nhà sinh học và đồng thời là một nhà dược lý học người Scotland. Ông được coi là người mở ra kỉ nguyên sử dụng kháng sinh trong y học. Ông đã được trao Giải thưởng Nobel về y học năm 1945 cùng với Ernst Boris ChainHoward Walter Florey về việc tìm ra và phân tách được penicilin – được coi là loại kháng sinh đầu tiên trong việc điều trị những bệnh nhiễm trùng.

Thời niên thiếu

Alexander Fleming sinh năm 1881Lochfield, xứ Scotland, phía Bắc nước Anh. Đây là một vùng công nghiệp phát triển nhưng vì sự kiểm soát không tốt, kèm theo khí hậu ẩm ướt nên môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Trong điều kiện như thế, nhiều loại bệnh đã xảy ra ở đây, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng như viêm phổi, bạch hầu, viêm màng não mủ, nhiễm trùng huyết… Từ nhỏ, Fleming đã chứng kiến một số người thân của mình bị những căn bệnh ấy cướp đi mạng sống. Cũng chính vì thế, từ khi còn bé Fleming đã quyết tâm sẽ trở thành một bác sĩ để cứu giúp những người bệnh.
Từ những năm học trung học, Fleming đã có xu hướng học lệch về các môn sinh vật, hóa học. Khi nộp hồ sơ vào đại học, ông đã ghi danh vào khoa Y, Học viện Y học Saint Mary ở Luân Đôn.

Những thành công ban đầu

Fleming đã thi đậu vào nơi ông muốn học. Ông luôn dẫn đầu lớp trong các môn học, nhất là các môn về miễn dịch học. Khi vừa tốt nghiệp năm 1906, ông được nhận làm phụ tá cho Almroth Wright, một người đi tiên phong trong lãnh vực vắc-xin.
Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Alexander Fleming buộc phải dừng công việc nghiên cứu, bị gọi nhập ngũ và phục vụ ở quân y viện ngoài chiến trường.
Trong vòng 4 năm phục vụ trong quân đội, Fleming đã chứng kiến nhiều binh sĩ không chết trên chiến trường mà lại chết trên giường điều trị của quân y viện, mà phần lớn những cái chết ấy là do vết thương bị nhiễm trùng. Điều ấy khiến ông rất buồn, và nhận ra cần phải tìm ra một chất kháng khuẩn đủ hiệu lực, để khống chế sự nhiễm trùng của các vết thương.
Sau khi chiến tranh kết thúc, Fleming được giải ngũ, ông trở lại phòng thí nghiệm ngày xưa ở Học viện Saint Mary và tiếp tục công việc nghiên cứu bỏ dở của mình.
Năm 1922, sau nhiều năm nghiên cứu không thu được kết quả đáng kể nào, thì một lần tình cờ Fleming phát hiện một đĩa petri nuôi cấy vi khuẩn mà ông vô tình hắt hơi vào, sau 3 ngày được ủ trong tủ ấm, ở đĩa cấy đó khuẩn lạc không mọc được ở chỗ có dịch từ mũi ông rơi vào. Cho rằng trong các dịch của cơ thể người tiết ra có một chất có khả năng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn, Fleming cùng người trợ lý của mình đã lấy mẫu tiến hành thí nghiệm với nước mắt, nước mũi, nước bọt, dịch vị… của người. Kết quả đều giống nhau, chúng đều có tác dụng ức chế tương tự nhau.
Và sau đó không lâu, Alexander Fleming đã cho công bố về việc phát hiện ra một chất mà ông gọi là lysozyme, một chất do chính cơ thể con người tạo ra, có thể tiêu diệt một số vi khuẩn, nhưng theo ông thì nó không thể diệt một số vi khuẩn có hại đặc biệt với loài người.
Lysozyme là phát hiện độc đáo, nhưng vai trò kháng khuẩn không rộng, không có tác dụng trên nhiều loại vi khuẩn gây hại. Nhưng cũng nhờ phát minh này, Fleming trở nên nổi tiếng, được giới y học Anh biết đến.

Tìm ra penicilin

Mặc dù được tạo điều kiện làm việc tốt ở Đại học Luân Đôn, nhưng Fleming và trợ lý của mình vẫn thực hiện những nghiên cứu của mình tại phòng thí nghiệm cũ của Học viện Saint Mary. Trong một thời gian dài, ông đã thực hiện các thí nghiệm nuôi cấy liên cầu khuẩn. Nhưng vì điều kiện dụng cụ, thiết bị lúc đó còn thô sơ nên việc tránh sự tạp nhiễm của các loại vi khuẩn, nấm mốc khác vào các hộp petri nuôi cấy là rất khó khăn.
Vào ngày 28 tháng 9 năm 1928, khi người phụ tá của Fleming mở một đĩa petri đã cấy vi khuẩn để lấy vi khuẩn đi nghiên cứu thì anh phát hiện thấy trong đĩa petri ấy xuất hiện một loại nấm màu xanh nhạt. Báo cáo với Fleming về điều này, sau đó anh đem đổ đĩa petri ấy vào một cái đĩa khác, lúc ấy trên đĩa petri cũ còn lưu lại những đường vân xanh của loại nấm màu xanh lam ấy. Fleming thấy vậy, ông nghĩ rằng đó là dấu vết lưu lại của những vi khuẩn đã chết, ông bèn lấy một giọt dịch của đĩa petri bỏ đi ấy đem quan sát dưới kính hiển vi, thật ngạc nhiên khi ông phát hiện rằng không hề có dấu vết của liên cầu khuẩn trong đó.
Điều này đã khiến Fleming cho rằng loại nấm xanh đó đã tiết ra một chất có khả năng ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn, vì thế ông đã chuyển sang nuôi cấy loại nấm đó. Sau đó ông cho sợi nấm vào các dung dịch chứa vi khuẩn thương hàn, vi khuẩn lị, phế cầu khuẩn, não mô cầu… Kết quả cho thấy các loại vi khuẩn thương hàn, lị… vẫn phát triển mạnh bình thường, còn các loại cầu khuẩn kia lại chết hết toàn bộ. Lúc này, Alexander Fleming tin rằng phán đoán của mình là chính xác.
Giáo sư Fleming đã đem phát hiện của mình ra công bố vào năm 1929, đồng thời ông cũng nói rằng vào lúc đó ông chưa thể chiết tách được penicilin từ nấm Penicilin. Trong 10 năm sau đó, ông âm thầm làm các công việc khác trong khi vẫn tìm cách chiết tách penicilin, còn báo cáo của ông về penicilin dần rơi vào quên lãng khi giới y học lúc đó cho rằng nấm chỉ đem lại bệnh tật, chứ không thể chữa bệnh được.

Penicilin thuần khiết ra đời

Năm 1938, Fleming nhận được thư của hai nhà khoa học từ trường Đại học OxfordErnst Boris ChainHoward Walter Florey, với lời đề nghị được hợp tác với ông để tiếp tục thực hiện công trình nghiên cứu về penicilin. Và sự hợp tác đã mang lại thành công, tháng 8 năm 1940, báo cáo kết quả nghiên cứu đã được công bố trên tập san khoa học Lancet.
Năm 1941, nhóm đã chọn được loại nấm penicilin ưu việt nhất là chủng Penicilin Chrysogenium, chế ra loại penicilin có hoạt tính cao hơn cả triệu lần penicilin do Fleming tìm thấy lần đầu năm 1928.

Vinh quang

Trong Thế chiến thứ hai, thương binh cần nhiều kháng sinh, lúc này penicilin trở nên cần thiết, và từ năm 1943 AnhMỹ đã sản xuất penicilin với quy mô công nghiệp, để chữa trị các bệnh nhiễm trùng trên phạm vi rộng.
Lúc này, phát minh của Fleming đã được cả thế giới công nhận. Vì vậy, năm 1945, giáo sư Alexander Fleming được tặng giải thưởng Nobel về y học, cùng với Ernst Boris ChainHoward Walter Florey.
Alexander Fleming còn là hội viên Hội Khoa học Hoàng gia Luân Đôn, là viện sĩ Viện Hàn lâm Hhoa học Paris (Pháp), và từng làm Chủ tịch Hội Vi sinh vật Anh, làm hiệu trưởng trường Đại học Edinburgh từ năm 1951 đến năm 1954, là viện sĩ danh dự của nhiều viện hàn lâm khoa học trên thế giới, và ông được Hoàng gia Anh phong tước hiệp sĩ năm 1944.
Alexander Fleming qua đời năm 1955, khi ông 74 tuổi. Một lễ tang đơn giản đã được tiến hành tại nghĩa trang của nhà thờ Thánh Paul, Luân Đôn.

Tham khảo

  1. ^ Colebrook, L. (1956). “Alexander Fleming 1881-1955”. Biographical Memoirs of Fellows of the Royal Society 2: 117–126. doi:10.1098/rsbm.1956.0008. JSTOR 769479.
  1. Danh nhân Khoa học Kỹ thuật Thế giới – Vũ Bội Tuyền chủ biên – NXB Thanh Niên 1999
  2. Tiểu sử Alexander Fleming tại website của giải thưởng Nobel

Cảnh báo: Từ khóa xếp mặc định “Flemig, Alexader” ghi đè từ khóa trước, “Fleming, Alexander”.

 

Penicillin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cấu trúc nhân của Penicillin, với “R” là nhóm bất kỳ.

Penicillin là một trong một nhóm kháng sinh thu được từ nấm Penicillium hay được điều chế. Alexander Fleming đã tình cờ phát hiện ra penicillin vào năm 1928 nhưng phải 10 năm sau thì penicillin mới được nhà hoá sinh người Anh gốc Đức Ernest Chain và nhà nghiên cứu bệnh học Úc Howard Florey và một số nhà khoa học khác nghiên cứu kỹ. Penicillin sát trùng bằng cách giết vi khuẩn và hạn chế sự sinh trưởng của chúng.

Dùng trong y học

“Penicillin” thường được dùng để chỉ benzylpenicillin (penicillin G), procaine benzylpenicillin (procaine penicillin), benzathine benzylpenicillin (benzathine penicillin), và phenoxymethylpenicillin (penicillin V).
Procaine penicillin và benzathine penicillin có cùng đặc tính kháng khuẩn như benzylpenicillin nhưng nó có tác dụng trong thời gian dài hơn. Phenoxymethylpenicillin thì có ít tác dụng chống vi khuẩn gam âm hơn so với benzylpenicillin.[1][2] Benzylpenicillin, procaine penicillin và benzathine penicillin dùng theo cách tiêm, còn phenoxymethylpenicillin theo đường uống.

Cấu trúc

Cấu trúc của Penicillin G. Lưu huỳnh và nitơ gắn với vòng thiazolidine lần lượt có màu vàng và xanh. Hình thể hiện vòng thiazolidine và kết hợp với β-lactam có 4 nhóm không cùng mặt phẳng.

Thuật ngữ “penam” được dùng để miêu tả khung chính thông thường của một loại penicillin. Lõi này có công thức phân tử R-C9H11N2O4S, với R là một chuỗi có sự khác biệt giữa các penicillin. Lõi penam có khối lượng phân tử 243 g/mol, với các penicillin lớn hơn thì khối lượng phân tử gần 450 như cloxacillin có khối lượng phân tử 436 g/mol. Đặc điểm cấu trúc chính của các penicillin là vòng β-lactam có 4 nhóm; cấu trúc moiety này cần thiết cho tính kháng khuẩn của penicillin. Vòng β-lactam tự gắn kết với vòng thiazolidine có 5 nhóm khác. Sự kết hợp của 2 vòng này làm cho vòng β-lactam hoạt động hơn so với từng vòng β-lactam riêng biệt vì các vòng được kết hợp bóp méo liên kết amide củ aβ-lactam và do đó loại bỏ sự bền vững cộng hưởng của liên kết hóa học thường được tìm thấy trong các liên kết này.[3]

Sinh tổng hợp

Sinh tổng hợp Penicillin

Nhìn cung, có 3 bước chính và quan trọng trong việc sinh tổng hợp ra penicillin G (benzylpenicillin).

  • Bức thứ nhất là trùng ngưng 3 amino axit—L-α-aminoadipic axit, L-cysteine, L-valine thành tripeptit.[4][5][6] Trước khi trùng ngưng thành tripeptit, amino axit L-valine phải trải qua epimer (đồng phân không gian) hóa để tạo thành D-valine.[7][8] tripeptit được trùng ngưng được đặt tên là δ-(L-α-aminoadipyl)-L-cysteine-D-valine (ACV). Phản ứng trùng ngưng và epimer hóa được xúc tác bởi enzym δ-(L-α-aminoadipyl)-L-cysteine-D-valine synthetase (ACVS).
  • Bước thứ 2 trong sinh tổng hợp penicillin G là chuyển đổi ôxy hóa ACV mạch thẳng thành isopenicillin N trung gian có 2 vòng bởi enzym isopenicillin N synthase (IPNS), được mã hóa bởi gen pcbC.[4][5] Isopenicillin N là một chất trung gian rất yếu, do nó không thể hiện hoạt động kháng khuẩn mạnh.[7]
  • Bước cuối cùng là sự chuyển hóa amin bởi enzym isopenicillin N N-acyltransferase, trong đó gốc α-aminoadipyl bênh cạnh chuỗi của isopenicillin N bị loại bỏ và thay cho chuỗi phenylacetyl. Phản ứng này được điều khiển bởi gen penDE, là duy nhất trong quá trình tạo penicillin.[4]

Quá trình ngẫu nhiên tìm ra penicillin

Nhà sinh học người Scotland, Alexander Fleming là một nhà khoa học đam mê nghiên cứu và kỹ lưỡng trong việc xem xét lại các phần thí nghiệm của mình. Ông thường rất do dự khi ném đi những mẻ cấy vi khuẩn cũ cho đến khi hoàn toàn chắc rằng không nghiên cứu được gì hơn từ chúng.
Trước khi chuẩn bị nghỉ hè (1928), thông thường phòng thí nghiệm sẽ được vệ sinh thật sạch vì kỳ nghỉ thường kéo dài từ 1 đến 3 tháng, nhưng Alexander Fleming đã quên không dọn dẹp. Trở về sau kỳ nghỉ, ông thấy một vài đĩa dùng để nuôi cấy vi khuẩn đã mốc. Trước khi vứt bỏ chúng, ông phát hiện thấy mốc ở trên một chiếc đĩa đã tiêu diệt mẻ vi khuẩn mà ông nuôi cấy tại đó. Mốc đó là một loại nấm, Penicillium, phát triển trên bánh mì. Fleming viết báo cáo khoa học về phát hiện của ông, nhưng chưa thực sự bám sát vào tính thực tiễn của nó.[9] Tuy Alexander Fleming là người đầu tiên tìm ra tính năng của penicillin nhưng việc ứng dụng mới được các nhà khoa học Anh, Úc… trong Chiến tranh thế giới II nghiên cứu kỹ hơn và cho sản xuất hàng loạt. Fleming đã được đồng nhận giải Nobel vì phát hiện tình cờ này, ông thản nhiên bình luận rằng: “Đôi khi người ta lại tìm ra những thứ mà mình đang không tìm kiếm”.[10]

Đưa penicillin ra thực tiễn và sản xuất hàng loạt

Trong Chiến tranh thế giới II, một nhóm các nhà khoa học tìm kiếm cách chữa trị cho những vết thương bị nhiễm trùng, tình cờ phát hiện ra khám phá của Fleming và thử nghiệm với một dạng của nấm mốc đó. Chúng như có sức mạnh thần kỳ. Ngay sau đó, nó được sản xuất với số lượng không thể tin nổi và được đưa ra mặt trận.[11]
Hơn 50 năm sau, penicillin vẫn là chất kháng sinh được sử dụng nhiều nhất thế giới. Đó là nhờ vào khoa học không thích dọn dẹp. Hơn 21 công ty hoá chất tham gia vào chương trình sản xuất cấp tốc penicillin trong suốt Chiến tranh thế giới II. Cho đến khi kết thúc cuộc chiến họ đã sản xuất 650 tỉ đơn vị mỗi tháng.[9]

Tính năng của penicillin

Penicillin sát trùng bằng cách giết vi khuẩn và hạn chế sự sinh trưởng của chúng. Chất này không giết các phần tử trong trạng thái nghỉ mà chỉ tiêu diệt các phần tử đang sinh trưởng và sinh sản. Penicillin tiêu diệt nhiều loài vi khuẩn gây bệnh khác nhau như pneumococci, streptococci, gonococci, meningococci, clostridiumsyphilis spirochete. Penicillin được sử dụng làm dược phẩm trị các căn bệnh chết người như viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu, gas gangrene, mủ lậu, và sốt vàng da, giang mai, viêm loét lưỡi cấp

Tác dụng phụ

Penicillin có thể làm dị ứng như: phát ban, tiêu chảy. Một người đã dị ứng với một loại Penicillin thường sẽ không được dùng bất cứ loại Penicillin nào. Lượng penicillin làm thay đổi hàm lượng histamine trong cơ thể, gây ra chứng Aquagenic Urticaria(dị ứng với nước).[12]

Chú thích

  1. ^ Garrod, L. P. (1960). “Relative Antibacterial Activity of Three Penicillins”. British Medical Journal 1 (5172): 527–29. doi:10.1136/bmj.1.5172.527.
  2. ^ Garrod, L. P. (1960). “The Relative Antibacterial Activity of Four Penicillins”. British Medical Journal 2 (5214): 1695–6. doi:10.1136/bmj.2.5214.1695. PMC 2098302. PMID 13703756.
  3. ^ Nicolaou (1996), pg. 43.
  4. ^ a ă â Al-Abdallah, Q., Brakhage, A. A., Gehrke, A., Plattner, H., Sprote, P., Tuncher, A. (2004). “Regulation of Penicillin Biosynthesis in Filamentous Fungi”. Trong Brakhage AA. Molecular Biotechnolgy of Fungal beta-Lactam Antibiotics and Related Peptide Synthetases (88). tr. 45–90. doi:10.1007/b99257. ISBN 3-540-22032-1.
  5. ^ a ă Brakhage, A. A. (1998). “Molecular Regulation of β-Lactam Biosynthesis in Filamentous Fungi”. Microbiol Mol Biol Rev. 62 (3): 547–85. PMC 98925. PMID 9729600.
  6. ^ Baldwin, J. E., Byford, M. F., Clifton, I., Hajdu, J., Hensgens, C., Roach, P, Schofield, C. J. (1997). “Proteins of the Penicillin Biosynthesis Pathway”. Current Opinion in Structural Biology (7): 857–64.
  7. ^ a ă Fernandez, F. J., Fierro, F., Gutierrez, S, Kosalkova, K. Marcos, A. T., Martin, J. F., Velasco, J. (September năm 1994). “Expression of Genes and Processing of Enzymes for the Biosynthesis of Penicillins and Cephalosporms”. Anton Van Lee 65 (3): 227–43. doi:10.1007/BF00871951. PMID 7847890.
  8. ^ Baker, W. L., Lonergan, G. T. “Chemistry of Some Fluorescamine-Amine Derivatives with Relevance to the Biosynthesis of Benzylpenicillin by Fermentation”. J Chem Technol Biot. 2002, 77, pp1283-1288.
  9. ^ a ă In search of penicillin – David Wilson
  10. ^ Alexander Fleming, the Man and Myth – Gwyn MacFarlane
  11. ^ The greatest stories never told – Rick Beyer
  12. ^ Rossi S, editor biên tập (2006). Australian Medicines Handbook. Adelaide: Australian Medicines Handbook. ISBN 0-9757919-2-3.

Tài liệu

  • Nicolaou, K.C.; Sorensen, E.J.; with a foreword by E.J. Corey (1996). Classics in Total Synthesis: Targets, Strategies, Methods . Weinheim: VCH. ISBN 3-527-29284-5.
  • Dürckheimer, Walter; Blumbach, Jürgen; Lattrell, Rudolf; Scheunemann, Karl Heinz (1 tháng 3 năm 1985). “Recent Developments in the Field of β-Lactam Antibiotics”. Angewandte Chemie International Edition in English 24 (3): 180–202. doi:10.1002/anie.198501801.
  • Hamed, Refaat B.; Gomez-Castellanos, J. Ruben; Henry, Luc; Ducho, Christian; McDonough, Michael A.; Schofield, Christopher J. (1 tháng 1 năm 2013). “The enzymes of β-lactam biosynthesis”. Natural Product Reports 30 (1): 21–107. doi:10.1039/c2np20065a. PMID 23135477.

Liên kết ngoài


Chào ngày mới 27 tháng 9

 

CNM365 Chào ngày mới 27 tháng 9. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Du lịch thế giớiNăm 1540Giáo hoàng Phaolô III phát hành sắc lệnh Regimini militantis, cho phép Inhaxiô thành lập Dòng Tên. Năm 1905 – Tạp chí vật lý học Annalen der Physik xuất bản bài luận “Quán tính của một Vật có Tùy theo Nội dung Năng lượng?”, trong bài này Albert Einstein (hình) định rõ phương trình E=mc². Năm 1940Khởi nghĩa Bắc Sơn tại Liên bang Đông Dương bắt đầu khi 600 lính tiến về huyện lị và chiếm đồn binh Mõ Nhai. Năm 1988Aung San Suu Kyi và các cộng sự thành lập Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ nhằm chống lại chính quyền quân sự tại Miến Điện.

Ngày Du lịch thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

6 khu vực của Tổ chức Du lịch Thế giới

Ngày Du lịch thế giới được cử hành vào ngày 27 tháng 9, là ngày do Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hiêp Quốc đặt ra nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch trong cộng đồng quốc tế.

Lịch sử

Từ năm 1980, Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 27 tháng 9 hàng năm làm “Ngày Du lịch thế giới”. Ngày 27 tháng 9 được chọn vì vào ngày này năm 1970, điều lệ của “Tổ chức Du lịch Thế giới” đã được chấp thuận. Việc chấp thuận điều lệ của Tổ chức được coi như mốc lịch sử quan trọng cho ngành du lịch toàn cầu. Mục tiêu của ngày này là để tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của du lịch trong cộng đồng quốc tế và để chứng tỏ cách mà du lịch ảnh hưởng tới các giá trị văn hóa, xã hội, chính trịkinh tế trên khắp thế giới.
Tại khóa họp lần thứ 12 của “Tổ chức Du lịch Thế giới” ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 10 năm 1997, Đại Hội đồng đã quyết định mỗi năm chỉ định một nước chủ nhà như một đối tác để cử hành Ngày Du lịch thế giới.
Tại khóa họp lần thứ 15 ở Bắc Kinh, Trung quốc vào tháng 10 năm 2003, Đại hội đồng đã quyết định cử hành Ngày Du lịch quốc tế theo thứ tự địa lý:

  • 2006: châu Âu
  • 2007: Nam Á
  • 2008: châu Mỹ
  • 2009: châu Phi
  • 2010: châu Á
  • 2011: Trung Đông.

Các chủ đề

  • 1980: Sự đóng góp của Du lịch vào việc bảo tồn di sản văn hóa, vào hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau
  • 1981: Du lịch và phẩm chất cuộc sống
  • 1982: Sự hãnh diện trong du lịch: Các khách tốt và các chủ nhà tốt
  • 1983: Đi du lịch và các ngày nghỉ là quyền lợi nhưng cũng là nghĩa vụ đối với mọi người
  • 1984: Du lịch cho hiểu biết quốc tế, hòa bình và hợp tác
  • 1985: Du lịch giới trẻ: di sản văn hóa và lịch sử cho hòa bình và hữu nghị
  • 1986: Du lịch: lực lượng cốt yếu cho hòa bình thế giới
  • 1987: Du lịch cho Phát triển
  • 1988: Du lịch: Sự giáo dục cho mọi người
  • 1989: Sự di chuyển tự do của khách du lịch tạo ra một thế giới
  • 1990: Du lịch: một ngành công nghiệp không được công nhận, một dịch vụ được đưa ra (Tuyên bố Den Haag về ngành Du lịch)
  • 1991: Truyền thông, thông tin và giáo dục: những mặt mạnh của phát triển du lịch
  • 1992: Du lịch: một yếu tố của sự liên đới xã hội và kinh tế tăng dần và của sự gặp gỡ giữa mọi người
  • 1993: Phát triển du lịch và bảo vệ môi trường: hướng tới một sự hòa hợp lâu dài
  • 1994: Chất lượng các nhân viên, chất lượng du lịch
  • 1995: Tổ chức Thương mại Thế giới: phục vụ du lịch thế giới trong 20 năm
  • 1996: Du lịch: một yếu tố của lòng khoan dung và hòa bình
  • 1997: Du lịch: một hoạt động hàng đầu của thế kỷ 21 để tạo việc làm và bảo vệ môi trường
  • 1998: Sự cộng tác khu vực công-tư: chìa khóa để phát triển và xúc tiến du lịch (nước chủ nhà: Mexico)
  • 1999: Du lịch: việc bảo tồn di sản thế giới trong thiên niên kỷ mới (nước chủ nhà: Chile)
  • 2000: Công nghệ và thiên nhiên: hai thách thức đối với du lịch vào buổi bình minh của thế kỷ 21 (nước chủ nhà: Đức)
  • 2001: Du lịch: một phí tổn vì hòa bình và đối thoại giữa các nền văn minh (nước chủ nhà: Iran)
  • 2002: Du lịch sinh thái, chìa khóa để phát triển bền vững (nước chủ nhà: Costa Rica)
  • 2003: Du lịch: một động lực để giảm nghèo, tạo việc làm và hòa hợp xã hội (nước chủ nhà: Algérie)
  • 2004: Thể thao và Du lịch: hai sức sống cho văn hóa, sự hiểu biết lẫn nhau và sự phát triển xã hội (nước chủ nhà: Malaysia)
  • 2005: Du lịch và vận chuyển từ sức tưởng tượng của Jules Verne tới thực tế của thế kỷ 21 (nước chủ nhà: Qatar)
  • 2006: Du lịch làm thêm phong phú (nước chủ nhà: Bồ Đào Nha)
  • 2007: Du lịch mở cửa cho các phụ nữ (nước chủ nhà: Sri Lanka)
  • 2008: Du lịch đáp ứng sự thách thức của biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu (nước chủ nhà: Ấn Độ)
  • 2009: Du lịch – Sự tán dương tính đa dạng (nước chủ nhà: châu Phi.)
  • 2010: Du lịch & Đa dạng sinh học[1] (nước chủ nhà: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[2])
  • 2011: Du lịch liên kết các nền văn hóa [3] (nước chủ nhà: (Aswan), Ai Cập.[4])

Tham khảo

  1. ^ “Tourism & Biodiversity”. World Tourism Day. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2010.
  2. ^ “World Tourism Day 2010 to Celebrate ‘Tourism and Biodiversity’”. World Tourism Day. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2010.
  3. ^ “Tourism – Linking Cultures”. World Tourism Day. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011.
  4. ^ “=Tourism – Linking Cultures,Egypt to host official World Tourism Day celebrations”. World Tourism Day. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011.

Liên kết ngoài

Albert Einstein

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Albert Einstein

Albert Einstein năm 1921
Sinh 14 tháng 3, 1879
Ulm, Vương quốc Württemberg, Đế chế Đức
Mất 18 tháng 4, 1955 (76 tuổi)
Princeton, New Jersey, Hoa Kỳ
Nơi cư trú Đức, Ý, Thụy Sĩ, Áo, Bỉ, Anh, Hoa Kỳ
Quốc tịch
Ngành Vật lý
Alma mater
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ Alfred Kleiner
Cố vấn nghiên cứu khác Heinrich Friedrich Weber
Sinh viên đáng chú ý
Nổi tiếng vì
Giải thưởng
Chữ ký

Albert Einstein (Tiếng Đức: [ˈalbɐt ˈaɪnʃtaɪn]  (Speaker Icon.svg nghe); 14 tháng 3 năm 1879–18 tháng 4 năm 1955) là nhà vật lý lý thuyết người Đức, người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột kia là cơ học lượng tử).[2][3] Mặc dù được biết đến nhiều nhất qua phương trình về sự tương đương khối lượng-năng lượng E = mc2 (được xem là “phương trình nổi tiếng nhất thế giới”),[4] ông lại được trao Giải Nobel Vật lý năm 1921 “cho những cống hiến của ông đối với vật lý lý thuyết, và đặc biệt cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện“.[5] Công trình về hiệu ứng quang điện của ông có tính chất bước ngoặt khai sinh ra lý thuyết lượng tử.
Khi bước vào sự nghiệp của mình, Einstein đã nhận ra cơ học Newton không còn có thể thống nhất các định luật của cơ học cổ điển với các định luật của trường điện từ. Từ đó ông phát triển thuyết tương đối đặc biệt, với các bài báo đăng trong năm 1905. Tuy nhiên, ông nhận thấy nguyên lý tương đối có thể mở rộng cho cả trường hấp dẫn, và điều này dẫn đến sự ra đời của lý thuyết về hấp dẫn trong năm 1916, năm ông xuất bản một bài báo về thuyết tương đối tổng quát. Ông tiếp tục nghiên cứu các bài toán của cơ học thống kê và lý thuyết lượng tử, trong đó đưa ra những giải thích về lý thuyết hạt và sự chuyển động của các phân tử. Ông cũng nghiên cứu các tính chất nhiệt học của ánh sáng và đặt cơ sở cho lý thuyết lượng tử ánh sáng. Năm 1917, Einstein sử dụng thuyết tương đối tổng quát để miêu tả mô hình cấu trúc của toàn thể vũ trụ.[6] Cùng với Satyendra Nath Bose, năm 1924-1925 ông tiên đoán một trạng thái vật chất mới đó là ngưng tụ Bose-Einstein của những hệ lượng tử ở trạng thái gần độ không tuyệt đối.[7] Tuy cũng là cha đẻ của thuyết lượng tử, nhưng ông lại tỏ ra khắt khe với lý thuyết này. Điều này thể hiện qua những tranh luận của ông với Niels Bohrnghịch lý EPR về lý thuyết lượng tử.[8]
Khi ông đang thăm Hoa Kỳ thì Adolf Hitler lên nắm quyền vào năm 1933, do vậy ông đã không trở lại nước Đức, nơi ông đang là giáo sư ở Viện Hàn lâm Khoa học Berlin. Ông định cư tại Hoa Kỳ và chính thức trở thành công dân Mỹ vào năm 1940.[9] Vào lúc sắp diễn ra Chiến tranh thế giới lần hai, ông đã ký vào một lá thư cảnh báo Tổng thống Franklin D. Roosevelt rằng Đức Quốc xã có thể đang nghiên cứu phát triển “một loại bom mới cực kỳ nguy hiểm” và khuyến cáo nước Mỹ nên có những nghiên cứu tương tự. Thực sự, nó đã dẫn đến sự ra đời của Dự án Manhattan sau này. Einstein ủng hộ bảo vệ các lực lượng Đồng minh, nhưng nói chung chống lại việc sử dụng phát kiến mới về phân hạch hạt nhân làm vũ khí. Sau này, cùng với nhà triết học người Anh Bertrand Russell, ông đã ký Tuyên ngôn Russell–Einstein, nêu bật sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân. Einstein làm việc tại Viện Nghiên cứu Cao cấpPrinceton, New Jersey cho đến khi ông qua đời vào năm 1955.
Einstein đã công bố hơn 300 bài báo khoa học và hơn 150 bài viết khác về những chủ đề khác nhau, ông cũng nhận được nhiều bằng tiến sĩ danh dự trong khoa học, y học và triết học từ nhiều cơ sở giáo dục đại học ở châu Âu và Bắc Mỹ.[6][10] Ông được tạp chí Times gọi là “Con người của thế kỷ”. Những thành tựu tri thức lớn lao của ông đã khiến tên gọi “Einstein” đã trở nên đồng nghĩa với từ thiên tài

Mục lục

Tiểu sử

Thời niên thiếu và trường học

A young boy with short hair and a round face, wearing a white collar and large bow, with vest, coat, skirt and high boots. He is leaning against an ornate chair.

Einstein năm 3 tuổi.
Studio photo of a boy seated in a relaxed posture and wearing a suit, posed in front of a backdrop of scenery.

Albert Einstein năm 1893 (14 tuổi).Từ Euclid, Einstein bắt đầu hiểu về lý luận logic, đến 12 tuổi, cậu đã học hình học Euclid. Ngay sau đó cậu bắt đầu khảo cứu giải tích các đại lượng vô cùng bé. 16 tuổi, cậu thực hiện thí nghiệm tưởng tượng đầu tiên nổi tiếng của mình trong đấy cậu hình dung ra sẽ như thế nào khi mình chạy cùng với tia sáng.[11]
Einstein's matriculation certificate at the age of 17. The heading reads "The Education Committee of the Canton of Aargau." His scores were German 5, French 3, Italian 5, History 6, Geography 4, Algebra 6, Geometry 6, Descriptive Geometry 6, Physics 6, Chemistry 5, Natural History 5, Art Drawing 4, Technical Drawing 4. The scores are 6 = excellent, 5 = good, 4 = sufficient, 3 = poor, 2 = very poor, 1 = unusable.

Bảng điểm của Einstein lúc 17 tuổi, cho thấy kết quả thi ở trường Aargau Kantonsschule (thang điểm 1-6).

Albert Einstein sinh ra trong một gia đình gốc Do Thái tại thành phố Ulm, bên dòng sông Đa Nuýp, tiểu bang Baden-Württemberg, nước Đức ngày 14 tháng Ba năm 1879.[12] Bố là ông Hermann Einstein, một kĩ sư đồng thời là nhân viên bán hàng, còn mẹ là Pauline Einstein (nhũ danh Koch). Năm 1880, gia đình chuyển đến München, tại đây bố và bác ông mở công ty Elektrotechnische Fabrik J. Einstein & Cie, chuyên sản xuất các thiết bị điện một chiều.[12]
Dù là dân Do Thái, gia đình Einstein không theo Do Thái giáo. Albert học trường tiểu học Công giáo lúc 5 tuổi trong vòng 3 năm. Sau đó, lên 8 tuổi, Einstein được chuyển đến trường Luitpold Gymnasium nơi cậu học tiểu học và trung học trong vòng 7 năm trước khi rời nước Đức.[13] Mặc dù lúc còn bé Einstein nói rất khó khăn, nhưng cậu vẫn học giỏi ở trường công giáo trong các môn khoa học tự nhiên.[14] Ông là người viết tay phải;[14][15] và không có hình ảnh cụ thể nào để tin một cách rộng rãi rằng[16] ông viết tay trái.
Bố Einstein có lần chỉ cho cậu cái la bàn bỏ túi, và Einstein nhận thấy phải có cái gì đó làm cho kim chuyển động, mặc dù chỉ có “không gian trống rỗng” quanh cái kim.[17] Khi lớn lên, Einstein tự làm các mô hình và thiết bị cơ học để nghịch và bắt đầu biểu lộ năng khiếu toán học của mình.[12] Năm 1889, Max Talmud (sau đổi tên thành Max Talmey) chỉ cho cậu bé 10 tuổi Einstein những quyển sách cơ bản của khoa học, toán học và triết học, bao gồm Phê bình lý luận thuần túy của Immanuel Kant và cuốn Cơ bản của Euclid (sau này Einstein gọi là “sách hình học nhỏ thần thánh”).[18] Talmud là một sinh viên y khoa Do thái nghèo đến từ Ba Lan. Cộng đồng người Do thái sắp xếp cho Talmud ăn cùng với Einstein vào các ngày thứ Năm trong tuần trong vòng sáu năm. Trong thời gian này Talmud đã tận tâm hướng dẫn Einstein đến với nhiều chủ đề thú vị.[fn 1]
Năm 1894, công ty của bố cậu bị phá sản do ngành công nghiệp điện thay thế dòng điện một chiều (DC) bằng dòng xoay chiều (AC). Để tìm lĩnh vực kinh doanh mới, gia đình Einstein chuyển đến Ý, ban đầu đến Milan và vài tháng sau đó là Pavia. Khi gia đình chuyển đến Pavia, Einstein ở lại München để hoàn thành việc học tại Luitpold Gymnasium. Bố Einstein dự định muốn anh theo học kĩ thuật điện, nhưng Einstein tranh cãi với hội đồng giáo dục với việc học và dạy giáo điều tại đây. Sau này ông viết rằng tinh thần học và tính sáng tạo bị mất đi trong sự giới hạn của phương pháp dạy và học thuộc lòng. Cuối tháng 12 năm 1894, anh tìm cách quay trở lại với gia đình ở Pavia, với thuyết phục nhà trường cho anh nghỉ bằng cách dùng nhận xét của bác sĩ về sức khỏe của anh.[20] Trong thời gian ở Ý, Einstein đã viết một tiểu luận khoa học ngắn với nhan đề, “Khảo cứu trạng thái Ether trong từ trường”.[21][22]
Cuối hè 1895, ở tuổi 16, Einstein tham gia thi tuyển vào trường Bách khoa liên bang Thụy Sĩ ở Zurich (tên Thụy Sĩ sau này Eidgenössische Polytechnische Schule). Ông không trúng tuyển do không đạt điểm chuẩn ở một số môn, mặc dù có điểm cao ở môn Vật lý và Toán học.[23] Theo lời khuyên của hiệu trưởng trường ETH, anh tiếp tục học trường thành bang Aargau ở Aarau, Thụy Sĩ, năm 1895-96 để hoàn thiện bậc học phổ thông. Trong khi ở trọ với gia đình giáo sư Jost Winteler, anh đã yêu cô con gái của gia đình tên là Marie. (Em gái Maja Einstein sau này lấy người con trai của Wintelet, Paul)[24] Tháng 1 năm 1896, với sự đồng ý của bố anh, Einstein đã từ bỏ quyền công dân của vương quốc Württemberg để tránh nghĩa vụ quân sự.[25] (Ông trở thành công dân Thụy Sĩ 5 năm sau, tháng 2 năm 1901.)[26] Tháng 9 năm 1896, ông tốt nghiệp bậc học phổ thông của Thụy Sĩ với điểm số cao (bao gồm điểm 6 trong hai môn Vật lý và Toán học, theo thang điểm 1-6),[27] và ở tuổi 17, anh đỗ vào chương trình cử nhân sư phạm Vật lý và Toán học của trường ETH Zürich. Marie Winteler chuyển đến làm giáo viên ở Olsberg, Thụy Sĩ.
Trong cùng năm, Mileva Marić, người vợ tương lai của Einstein, cũng vào trường ETH để học làm giáo viên Toán và Vật lý, và là thiếu nữ duy nhất trong 6 sinh viên của lớp học. Tình bạn của hai người phát triển thành tình yêu trong các năm sau đó và họ đã cùng nhau đọc các sách Vật lý mà Einstein đang quan tâm đến. Năm 1900, Einstein tốt nghiệp cử nhân sư phạm ETH Zurich, nhưng Marić lại trượt bài thi do có điểm kém trong chuyên đề Lý thuyết hàm.[28] Đã có những ý kiến cho rằng Mileva Marić hỗ trợ cùng Einstein trong các bài báo đột phá năm 1905,[29][30] nhưng các nhà lịch sử Vật lý học không tìm thấy một chứng cứ nào cho những đóng góp của bà.[31][32][33][34]

Gia đình

Cuối tháng 1 năm 1902, khi Einstein đang ở Berne, Marić đã sinh con gái đầu lòng tên là Lieserl theo như thư từ trao đổi giữa hai người; lúc đó Mileva đang ở nhà bố mẹ đẻ mình sống ở Novi Sad.[35] Tên đầy đủ của con họ không được biết, và Lieserl sống đến khoảng sau năm 1903 do có thể bị sốt ban đỏ.[36]
Einstein và Marić cưới tháng 1 năm 1903. Tháng 5 năm 1904, đứa con trai đầu tiên của hai người, Hans Albert Einstein, sinh ra tại Bern, Thụy Sĩ. Con trai thứ hai của họ, Eduard Einstein sinh tại Zurich vào tháng 6 năm 1910. Năm 1914, Einstein dời đến Berlin, trong khi vợ ông ở lại Zurich cùng với các con. Marić và Einstein ly dị ngày 14 tháng 2 năm 1919, sau khi sống ly thân trong 5 năm.
Einstein lấy người em họ hàng người Đức Elsa Löwenthal (née Einstein) vào ngày 2 tháng 6 năm 1919, sau khi có mối quan hệ với cô từ 1912. Hai người không có con chung và hai cô con gái riêng của Elsa được Albert đối xử như con đẻ, lấy họ của ông: Ilse Einstein và Margot Einstein.[37] Năm 1935, Elsa Einstein được chuẩn đoán các bệnh liên quan đến tim và thận; bà qua đời tháng 12 năm 1936.[38]

Cục bằng sáng chế

Từ trái sang phải: Conrad Habicht, Maurice Solovine và Einstein, những người lập nên viện hàn lâm Olympia

Sau khi tốt nghiệp đại học, Einstein đã mất gần hai năm khó khăn trong việc tìm một vị trí giảng dạy, cuối cùng bố của Marcel Grossmann nhờ quen biết với giám đốc cục sáng chế đã giúp ông làm việc tại Bern, ở Cục liên bang về sở hữu trí tuệ, cục bằng sáng chế, với vị trí là người kiểm tra các bằng sáng chế.[39] Ông đánh giá các sáng chế cho các thiết bị điện từ. Năm 1903, ông vào biên chế lâu năm của Cục sáng chế Thụy sĩ, mặc dù ông đã vượt qua sự đề bạt cho đến khi ông “nắm bắt được công nghệ máy móc”.[40]
Nhiều công việc của ông tại Cục liên quan đến câu hỏi về sự truyền tín hiệu điện và sự đồng bộ hóa cơ-điện của đồng hồ, hai vấn đề kĩ thuật xuất hiện rõ ràng trong các thí nghiệm tưởng tượng mà đã dẫn Einstein tới kết luận quan trọng về bản chất của ánh sáng và sự liên hệ mật thiết giữa không gian và thời gian.[41]
Cùng với những người bạn ông gặp ở Bern, Einstein đã thành lập một câu lạc bộ thảo luận hàng tuần về khoa học và triết học, mà ông nói đùa là “Viện hàn lâm Olympia”. Họ thảo luận về các nghiên cứu của Henri Poincaré, Ernst Mach, and David Hume, mà sau này ảnh hưởng đến sự nghiệp khoa học và quan điểm triết học của Einstein.

Sự nghiệp hàn lâm

Ảnh chính thức năm 1921 sau khi Einstein nhận giải Nobel Vật lý.

Năm 1901, ông công bố bài báo “Folgerungen aus den Kapillarität Erscheinungen” (“Các kết luận về hiện tượng mao dẫn”) trên tạp chí nổi tiếng thời đó Annalen der Physik.[42] Ngày 30 tháng 4 năm 1905, Einstein hoàn thành luận án tiến sỹ của mình dưới sự hướng dẫn của giáo sư vật lý thực nghiệm Alfred Kleiner. Einstein được trao bằng tiến sỹ tại Đại học Zurich. Luận án của ông có tiêu đề “Một cách mới xác định kích thước phân tử”.[43][44] Trong cùng năm, mà ngày nay các nhà khoa học gọi là Năm kỳ diệu của Einstein, ông công bố bốn bài báo đột phá, về hiệu ứng quang điện, về chuyển động Brown, thuyết tương đối hẹp, và sự tương đương khối lượng và năng lượng (E=mc2), khiến ông được chú ý tới trong giới hàn lâm trên toàn thế giới.
Năm 1908, giới khoa học coi ông là nhà khoa học hàng đầu, và Đại học Bern mời ông về làm giảng viên của trường. Các năm sau, ông viết đơn thôi việc tại cục bằng sáng chế và cũng thôi vị trí giảng viên để đảm nhiệm chức danh Privatdozent về vật lý [45] tại Đại học Zurich. Ông trở thành giáo sư thực thụ tại Đại học Karl-Ferdinand (nay là Đại học Charles) ở Praha năm 1911. Năm 1914, ông trở lại Đức sau khi được bổ nhiệm làm giám đốc của Viện Kaiser Wilhelm về vật lý (1914–1932)[46] và giáo sư tại Đại học Humboldt, Berlin, với một điều khoản đặc biệt trong bản hợp đồng cho phép ông được tự do trước những nghĩa vụ giảng dạy. Ông trở thành thành viên của Viện hàn lâm khoa học Phổ. Năm 1916, Einstein được bổ nhiệm làm chủ tịch của Hội Vật lý Đức (1916–1918).[47][48]
Trong năm 1911, dựa trên những suy luận có từ năm 1907 về nhu cầu mở rộng thuyết tương đối đặc biệt, ông đã tìm ra hiện tượng dịch chuyển đỏ do hấp dẫn và tính toán độ lệch của tia sáng phát ra từ ngôi sao ở xa sẽ bị lệch bởi trường hấp dẫn của Mặt Trời. Tuy vậy giá trị tiên đoán chỉ bằng một nửa so với giá trị chính xác sau khi ông tìm ra được phương trình trung tâm cho thuyết tương đối tổng quát (1915). Tiên đoán này được xác nhận bởi đoàn thám hiểm người Anh dẫn đầu bởi Sir Arthur Eddington trong quá trình theo dõi nhật thực vào ngày 29 tháng 5, 1919. Các tờ báo quốc tế nhanh chóng đăng tải sự kiện này và Einstein trở nên nổi tiếng toàn thế giới. Ngày 7 tháng 11 năm 1919, tờ báo tin tức hàng đầu của Anh The Times in một dòng chữ tựa đề trên trang nhất viết là: “Cách mạng trong Khoa học – Lý thuyết mới về Vũ trụ – Các tư tưởng của Newton đã bị lật nhào”.[49] Sau đó, rất nhiều câu hỏi xuất hiện liệu các đo đạc có đủ chính xác để công nhận tiên đoán. Cuối cùng thì những dữ liệu đo đạc của Eddington là đủ tin cậy và đoàn thám hiểm của ông thực sự đã xác nhận tiên đoán của Einstein.[50]
Năm 1921, Einstein nhận giải Nobel Vật lý. Do thuyết tương đối hẹp vẫn còn đang tranh cãi, nên hội đồng giải Nobel đã trao giải cho ông vì những giải thích về hiện tượng quang điện và các đóng góp cho vật lý. Ông nhận huy chương Copley từ Hội Hoàng gia năm 1925.

Thăm nước ngoài

Einstein đến thành phố New York lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 4 năm 1921, ở đây ông nhận được sự chào đón trọng thể từ thị trưởng thành phố, sau đó là ba tuần thuyết giảng và gặp gỡ nhiều người. Ông trình bày một số bài giảng ở Đại học ColumbiaĐại học Princeton, và ở Washington ông đi cùng các đại diện của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia đến thăm Nhà Trắng. Trên đường trở lại châu Âu, nhà triết học và chính khách người Anh Viscount Haldane đã mời ông tới London, nơi ông gặp một vài nhà khoa học nổi tiếng, các chính trị gia và thực hiện một bài giảng ở trường King’s College.[51]
Năm 1922, ông đi du lịch và có các buổi phát biểu trong chuyến hành trình 6 tháng đến các nước châu Á và Palestine. Các nước ông đến bao gồm Singapore, Ceylon, và Nhật Bản, ở đây ông có một loạt các bài giảng trước hàng nghìn người dân Nhật Bản. Ông cũng đến diện kiến Nhật hoàng và hoàng hậu tại Hoàng cung. Einstein sau đó thể hiện sự cảm mến cho người Nhật trong bức thư ông gửi cho con trai mình:[52] “Trong những người mà bố đã gặp, bố thích người Nhật Bản nhất, vì họ là những người khiêm tốn, thông minh, chu đáo, và quan tâm tới nghệ thuật.”[52] Trên hành trình đến Nhật Bản, ông cũng ghé thăm Hồng KôngThượng Hải, đồng thời nghe tin mình được trao giải Nobel Vật lý.[8]
Khi trở về, ông cũng ghé qua Palestine, lúc đó là thưộc địa của Anh, trong 12 ngày và cũng là lần viếng thăm vùng Trung Đông duy nhất của ông. Nhà tiểu sử Walter Isaacson viết “Ông được chào đón bởi sự long trọng của người Anh, như là một chính khách cao cấp hơn là một nhà vật lý lý thuyết”, bao gồm một loạt pháo hiệu chào mừng khi đến dinh thự của toàn quyền Anh, Sir Herbert Samuel. Trong buổi tiếp, một đám đông đã vây quanh dinh thự để muốn trông thấy và nghe Einstein nói chuyện. Khi nói chuyện với thính giả, ông thể hiện niềm hạnh phúc của mình:

“Đây là một trong những ngày ý nghĩa lớn nhất của cuộc đời tôi. Trước đây, tôi luôn cảm thấy tiếc nuối một cái gì đó trong bản sắc người Do Thái, và đó là sự lãng quên trong chính mỗi người. Ngày nay, tôi thật hạnh phúc khi chứng kiến người Do Thái đã nhận ra chính họ và hành động để cho thế giới công nhận như là một dân tộc”.[53]

Ông cũng thăm Tây Ban Nha trước khi trở lại Đức. Năm 1925, ông viếng thăm Nam Mỹ bao gồm các thành phố Buenos Aires, Rio de JaneiroMontevideo. Năm 1929, ông thăm Bỉ và hoàng gia Bỉ.[8]

Định cư tại Mỹ

Nhà của Einstein ở Princeton

Tháng 2 năm 1933 khi đang thăm Hoa Kỳ, Einstein đã quyết định không trở lại nước Đức do Đảng Quốc xã lên nắm chính quyền.[54][55] Trước đó ông đến thăm các trường đại Hoa Kỳ vào đầu năm 1933 và chuyến thăm lần thứ ba kéo dài hai tháng ở Viện Công nghệ California ở Pasadena. Ông và bà Elsa trở lại Bỉ bằng tàu biển vào cuối tháng 3. Trong chuyến hành trình, ông nghe được tin ngôi nhà và chiếc thuyền buồm của ông ở Berlin đã bị đảng viên Quốc xã tịch thu. Khi đến Antwerp vào ngày 28 tháng 3, ông đã đến lãnh sự quán Đức và chính thức từ bỏ quyền công dân Đức.[53]
Đầu tháng 4, ông biết rằng chính phủ Đức đã thông qua các đạo luật ngăn cấm người Do Thái giữ bất kỳ một vị trí công việc nào, kể cả giảng viên tại các trường đại học.[53] Một tháng sau, các công trình nghiên cứu của Einstein nằm trong mục tiêu đốt phát của đảng Quốc xã, và bộ trưởng tuyên truyền Joseph Goebbels công bố, “Tri thức Do Thái đã bị tiêu diệt.”[53]
Ông tạm trú tại Bỉ trong một vài tháng, trước khi chuyển sang Anh.[56][57] Trong một bức thư gửi cho người bạn, nhà vật lý Max Born, người cũng đã rời nước Đức và sống tại Anh, Einstein viết, “… Tôi phải thừa nhận rằng mức độ tàn bạo và hèn nhát đến một cách thật bất ngờ.”[53]
Tháng 10 năm 1933 ông cùng bà Elsa quay trở lại Hoa Kỳ và đảm nhiệm chức vụ giáo sư tại Viện nghiên cứu cao cấp Princeton tại Princeton, New Jersey. Trường này ban đầu đề nghị ông làm việc trong thời gian một năm rưỡi.[58][59] Ông vẫn chưa quyết định về tương lai của mình (có nhiều trường đại học ở châu Âu mời ông về nghiên cứu, bao gồm Oxford), nhưng đến năm 1935 ông quyết định ở lại Hoa Kỳ.[60][61] Ông làm việc tại viện Princeton cho tới khi qua đời năm 1955.[62] Tại viện cũng có các nhà khoa học lớn khác như John von NeumannKurt Gödel), ông cũng sớm hình thành tình bạn thân thiết với Gödel. Họ hay đi dạo những quãng đường dài để cùng nhau thảo luận về công việc của nhau. Trợ lý cuối cùng của ông là nhà vật lý Bruria Kaufman. Ở viện nghiên cứu, ông tiếp tục tập trung phát triển thuyết trường thống nhất nhưng đã không thành công. Einstein cũng luôn luôn giữ vững quan điểm của mình khi cho rằng lý thuyết cơ học lượng tử là không đầy đủ và không chứa yếu tố bất định. “Chúa không chơi xúc xắc”.[8]

Chiến tranh thế giới lần II và dự án Manhattan

Albert Einstein (1947)

Năm 1939, một nhóm các nhà khoa học Hungari bao gồm nhà vật lý Leó Szilárd cố gắng cảnh báo Washington rằng phe Quốc xã đang thực hiện các nghiên cứu bom nguyên tử. Tuy vậy cảnh báo của nhóm đã không gây sự chú ý đến giới chính trị.[63] Einstein và Szilárd, cùng những nhà khoa học tị nạn khác gồm Edward TellerEugene Wigner, “coi họ có trách nhiệm để cảnh báo người Mỹ khả năng của các nhà khoa học Đức có thể chế tạo thành công bom nguyên tử, và rằng Hitler rất quyết tâm có được vũ khí như vậy.”[52][64] Hè 1939, vài tháng trước khi nổ ra chiến tranh ở châu Âu, Szilárd khuyên mời Einstein ký vào một bức thư gửi đến tổng thống Franklin D. Roosevelt để cảnh báo ông về khả năng này. Bức thư cũng đề cập đến chính phủ Hoa Kỳ nên chú ý tới và tham gia trực tiếp vào nghiên cứu uranium cũng như chuỗi phản ứng dây chuyền.
Bức thư được cho là có khả năng “thúc đẩy chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho phép nghiên cứu vũ khí hạt nhân”.[65] Tổng thống Roosevelt không thể gánh rủi ro khi Hitler sở hữu bom nguyên tử đầu tiên. Cùng với lá thư và buổi gặp của Einstein với Roosevelt, Hoa Kỳ tham gia vào cuộc “chạy đua” phát triển bom, tập trung vào đây rất nhiều nguồn lực tài chính, vật liệu, cơ sở cũng như các nhà khoa học lớn trong dự án Manhattan. Cuối cùng Hoa Kỳ trở thành nước duy nhất sở hữu bom nguyên tử trong thời gian chiến tranh thế giới lần II.
Đối với Einstein, “chiến tranh là căn bệnh… [và] ông kêu gọi chống lại chiến tranh.” Nhưng năm 1933, sau khi Hitler trở thành lãnh đạo tối cao ở Đức, “ông đã khẩn thiết kêu gọi các nước phương Tây chuẩn bị chống lại sự tấn công của nước Đức.”[66]:110 Năm 1954, một năm trước khi qua đời, Einstein kể cho người bạn già của mình, Linus Pauling, “Tôi đã gây ra một trong những lỗi lầm lớn nhất trong cuộc đời — đó là khi tôi ký vào bức thư gửi tổng thống Roosevelt khuyến nghị nên chế tạo bom nguyên tử; với một số biện hộ — sẽ nguy hiểm hiểm nếu người Đức có được nó…”[67]

Công dân Mỹ

Einstein trở thành công dân Mỹ năm 1940.

Einstein trở thành công dân Mỹ năm 1940 sau khi quyết định nghiên cứu ở Princeton, ông thể hiện sự đánh giá cao của mình về “chế độ nhân tài” trong văn hóa Mỹ so với châu Âu. Theo Isaacson, ông nhận ra “quyền cá nhân về suy nghĩ và phát ngôn thứ mà họ thích”, mà không bị rào cản xã hội, và hệ quả là, từng cá nhân được “khuyến khích” trở lên sáng tạo hơn, một đặc điểm mà họ thừa hưởng từ nền giáo dục cơ sở. Einstein viết:

Sự mới mẻ đến với đất nước này là đặc điểm dân chủ trong nhân dân. Không ai hạ mình trước người khác hay tầng lớp khác… Thanh niên Mỹ có may mắn không phải đối mặt với các rắc rối từ những truyền thống lỗi thời.[53]

Là thành viên của “Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu” (NAACP) tại Princeton đấu tranh cho quyền công dân của người Mỹ gốc Phi, Einstein có trao đổi thư từ với nhà hoạt động dân chủ W. E. B. Du Bois, và năm 1946 Einstein gọi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ là “thứ bệnh tồi tệ nhất”.[68] Ông nói, “Định kiến phân biệt chủng tộc không may đã trở thành truyền thống ở Mỹ lan truyền qua từng thế hệ mà không bị phê phán. Chỉ có thể khắc phục định kiến này bằng giáo dục và giác ngộ”.[69]
Những năm cuối đời Einstein chuyển sang lối sống chay tịnh,[70] với lý giải “người ăn chay sống bằng hiệu ứng vật lý thuần túy trên khí chất cơ thể sẽ ảnh hưởng có lợi nhất đến đa số nhân loại”.[71]
Sau khi Chaim Weizmann, vị tổng thống đầu tiên của Israel, qua đời tháng 11 năm 1952, thủ tướng David Ben-Gurion đã đề xuất Einstein làm tổng thống kế nhiệm, chủ yếu với vai trò danh dự.[72] Đại sứ Israel ở Washington, Abba Eban, giải thích lời đề nghị “thể hiện sự tôn trọng sâu sắc nhất của người dân Do Thái đối với ông”.[52] Tuy thế Einstein đã từ chối lời đề nghị trong sự “xúc động sâu sắc”:[73]

Kính gửi ngài đại sứ. Tôi rất cảm động về lời đề nghị trở thành tổng thống Israel nhân danh Thủ tướng Ben Gourion, nhưng cũng rất buồn vì phải từ chối lời đề nghị này. Do cả cuộc đời của tôi chỉ biết cống hiến cho khoa học nên tôi cho rằng mình không đủ tố chất và kinh nghiệm để điều hành công việc của một quốc gia. Hơn nữa, tuổi tác và sức khỏe là rào cản vô hình khó có thể giúp tôi hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng như vậy. Thế nhưng cho dù có ở bất cứ nơi đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tôi vẫn cố gắng làm tốt nhiệm vụ của một người Do Thái. Ước nguyện của tôi là muốn thấy một Nhà nước Do Thái chung sống hòa bình với các dân tộc Arập khác. Tôi hy vọng đất nước Israel sẽ tìm được một người kế thừa xứng đáng cho cố Tổng thống Weizmann. [52][72][74]

Qua đời

Vào ngày 17 tháng 4 năm 1955, Albert Einstein bị chảy máu trong do vỡ động mạch chủ, mà trước đó đã được phẫu thuật bởi tiến sĩ Rudolph Nissen năm 1948.[75] Ông đã viết nháp chuẩn bị cho bài phát biểu trên truyền hình kỷ niệm ngày độc lập thứ bảy của nhà nước Israel khi trên đường đến bệnh viện, nhưng ông đã không kịp hoàn thành nó.[76] Einstein đã từ chối phẫu thuật, ông nói: “Tôi muốn đi khi tôi muốn. Thật vô vị để duy trì cuộc sống giả tạo. Tôi đã hoàn thành chia sẻ của mình, đã đến lúc phải đi. Tôi sẽ ra đi trong thanh thản.”[77] Ông mất trong bệnh viện Princeton vào sáng sớm hôm sau ở tuổi 76, nơi ông vẫn tiếp tục làm việc đến hơi thở cuối cùng. Thi thể Einstein được hỏa táng và tro được rải khắp nơi quanh vùng của Viện nghiên cứu cao cấp, Princeton, New Jersey.[78][79]
Trong quá trình khám nghiệm tử thi, nhà nghiên cứu bệnh học thuộc bệnh viện Princeton, Thomas Stoltz Harvey đã mổ lấy não của Einstein để bảo quản, mà không được sự cho phép của gia đình ông, với hy vọng rằng khoa học thần kinh trong tương lai có thể khám phá ra điều làm Einstein trở nên thông minh.[80]

Nhận xét về Einstein

Trong bài điếu văn, nhà vật lý hạt nhân Robert Oppenheimer tổng kết lại về Einstein: “Ông hầu như không có bản chất phức tạp và sự trần tục… Luôn luôn ở trong ông là sự thuần khiết tuyệt vời lúc như đứa trẻ lúc thì uyên thâm bướng bỉnh.”[66]
Tại phần nói đầu của cuốn sách “Subtle is the Lord…” nhà vật lý và lịch sử khoa học Abraham Pais viết: Nếu được nói một câu ngắn gọn về tiểu sử Einstein, tôi có thể nói rằng “ông là con người tự do nhất mà tôi đã từng biết”, và một câu về sự nghiệp khoa học của ông, tôi có thể viết “giỏi hơn bất kỳ ai trước hơặc sau ông, ông biết cách phát minh ra các nguyên lý bất biến và biết cách sử dụng các định luật thống kê”.[81]

Sự nghiệp khoa học

Trong suốt cuộc đời ông, Einstein xuất bản rất nhiều sách và hàng trăm bài báo. Phần lớn về vật lý, nhưng một số ít bày tỏ quan điểm chính trị cánh tả về chủ nghĩa hòa bình, chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa phục quốc Do thái.[10][12] Ngoài các nghiên cứu của cá nhân ông, ông còn hợp tác với nhiều nhà khoa học khác về các lĩnh vực khoa học như: Thống kê Bose–Einstein, máy làm lạnh Einstein và nhiều nghiên cứu khác.[82]

Vật lý những năm 1900

Các bài báo ban đầu của Einstein bắt nguồn từ sự cố gắng chứng minh rằng nguyên tử tồn tại và có kích thước hữu hạn khác không.[83] Tại thời điểm ông viết bài báo đầu tiên năm 1902, các nhà vật lý vẫn chưa chấp nhận hoàn toàn rằng nguyên tử tồn tại thực sự, mặc dù các nhà hóa học đã có những chứng cứ cụ thể từ các công trình của Antoine Lavoisier trước một thế kỷ. Lý do các nhà vật lý vẫn nghi ngờ vì không có một lý thuyết nào ở thế kỷ 19 có thể giải thích đầy đủ tính chất của vật chất từ các tính chất của nguyên tử.
Ludwig Boltzmann là nhà vật lý thống kê hàng đầu của thế kỷ 19, người đã đấu tranh nhiều năm để thuyết phục cộng đồng khoa học chấp nhận nguyên tử tồn tại. Boltzmann đã đưa ra cách giải thích các định luật nhiệt động học, gợi ý rằng định luật tăng entropy có tính thống kê. Theo cách suy nghĩ của Boltzmann, entropy là logarit của số các trạng thái một hệ có được cấu hình bên trong. Lý do entropy tăng chỉ bởi vì xác suất để một hệ từ trạng thái đặc biệt với chỉ vài cấu hình bên trong chuyển sang hệ có nhiều trạng thái hơn là lớn. Trong khi cách giải thích thống kê của Boltzmann về entropy được công nhận rộng rãi ngày nay, và Einstein đã tin vào điều này, tại thời điểm đầu thế kỷ 20 nó ít được mọi người để ý đến.
Ý tưởng thống kê được áp dụng thành công nhất khi giải thích tính chất của chất khí. James Clerk Maxwell, một nhà vật lý học hàng đầu khác, đã tìm ra định luật phân bố vận tốc của các nguyên tử trong chất khí, và ông đi đến một kết luận ngạc nhiên là tính nhớt của chất khí có thể độc lập với mật độ của nó. Về mặt trực giác, ma sát trong chất khí dường như bằng không khi mật độ đi về không, nhưng điều này không phải vậy, bởi vì đường di chuyển tự do trung bình của các nguyên tử trở lên rộng hơn tại mật độ thấp. Những thí nghiệm tiếp sau của Maxwell và vợ ông xác nhận tiên đoán kì lạ này. Các thí nghiệm khác trên chất khí và chân không, sử dụng một trống quay tách, cho thấy các nguyên tử trong chất khí có các vận tốc phân bố tuân theo định luật phân bố của Maxwell.
Bên cạnh những thành công này, cũng có những mâu thuẫn. Maxwell chú ý rằng tại nhiệt độ thấp, lý thuyết nguyên tử tiên đoán nhiệt dung riêng quá lớn. Trong cơ học thống kê cổ điển, mọi dao động điều hòa đơn giản (chuyển động kiểu lò xo) có nhiệt năng kBT ở nhiệt độ trung bình T, do vậy nhiệt dung riêng của mọi lò xo là hằng số BoltzmannkB. Một chất rắn đơn nguyên tử với Nnguyên tử có thể được xem là N quả cầu nhỏ tương ứng với N nguyên tử gắn vào mỗi vị trí nút mạng với 3N lò xo, do vậy nhiệt dung riêng của chất rắn là 3NkB, một kết quả của định luật Dulong–Petit. Định luật đúng cho nhiệt độ phòng, nhưng không đúng đối với nhiệt độ lạnh hơn. Tại gần 0K, nhiệt dung riêng bằng không.
Tương tự, một chất khí cấu thành từ phân tử hai nguyên tử có thể được xem là hai quả cầu gắn với nhau bởi một lò xo. Lò xo này có năng lượng kBT tại nhiệt độ cao, và cộng thêm vào một lượng nhiệt kB cho nhiệt dung riêng ở nhiệt độ khoảng 1000 độ, nhưng tại nhiệt độ thấp lượng nhiệt thêm này sẽ biến mất. Tại 0 độ, mọi nhiệt dung riêng do sự quay và rung động đều biến mất. Kết quả này mâu thuẫn với vật lý cổ điển.
Những mâu thuẫn rõ ràng nhất là trong lý thuyết về sóng ánh sáng. Các sóng liên tục trong một hộp được coi như vô số lò xo chuyển động, mỗi cái tương ứng với sóng đứng. Mỗi sóng đứng có một nhiệt dung riêng xác định kB, do đó tổng nhiệt dung riêng của sóng liên tục giống ánh sáng trở thành vô hạn trong cơ học cổ điển. Điều này rõ ràng là vi phạm đối với định luật bảo toàn năng lượng.
Những mâu thuẫn này dẫn đến nhiều người nói rằng nguyên tử không có tính vật lý, mà là toán học. Đáng chú ý trong số những người hoài nghi là Ernst Mach, người theo triết học thực chứng mà đã dẫn ông đến nhu cầu là nếu nguyên tử tồn tại, thì nó có thể nhìn thấy được.[84] Mach tin rằng những nguyên tử này là một giả tưởng hữu dụng, mà trong thực tế chúng được giả sử là nhỏ vô hạn, do vậy số Avogadro là vô hạn, hoặc rất lớn để coi như vô hạn, và kB là vô cùng nhỏ. Có những thí nghiệm có thể giải thích được bằng lý thuyết nguyên tử, nhưng lại có những thí nghiệm thì không thể giải thích được, và nó vẫn luôn là thế.
Einstein đã phản đối quan điểm này. Suốt sự nghiệp của mình, ông là một nhà duy thực. Ông tin rằng một lý thuyết phù hợp duy nhất có thể giải thích được mọi quan sát, lý thuyết này sẽ là một mô tả về cái thực sự đã diễn ra, và những điều ẩn sau nó. Từ đó ông cho rằng quan điểm về nguyên tử là đúng. Điều này dẫn ông đầu tiên đến với nhiệt động học, rồi đến vật lý thống kê, và lý thuyết nhiệt dung riêng của chất rắn.
Năm 1905, trong khi làm việc ở phòng cấp phát bằng sáng chế, tạp chí tiếng Đức hàng đầu Annalen der Physik đã xuất bản bốn bài báo của Einstein. Bốn bài báo sau này được coi là một cuộc cách mạng trong vật lý, và năm 1905 trở thành “năm kỳ diệu của Einstein”.

Albert Einstein, 1905, Năm kỳ diệu

Ngày 30 tháng Tư năm 1905, Einstein hoàn thành luận án của mình dưới sự hướng dẫn của Alfred Kleiner, giáo sư vật lý thực nghiệm. Einstein được trao bằng tiến sĩ ở Đại học Zurich. Luận án của ông với tên “Một cách mới xác định kích thước phân tử”.[43]

Thăng giáng nhiệt động và vật lý thống kê

Bài chi tiết: Vật lý thống kê

Các bài báo sớm nhất của Einstein đề cập đến nhiệt động học. Trong đó ông cố gắng giải thích các hiện tượng từ quan điểm thống kê của nguyên tử.[83]
Nghiên cứu của ông trong năm 1903 và 1904 tập trung vào hiệu ứng kích thước nguyên tử hữu hạn tác động đến hiện tượng tán xạ. Giống như nghiên cứu của Maxwell, sự hữu hạn của kích thước nguyên tử dẫn đến các hiệu ứng có thể quan sát được. Nghiên cứu này nằm trong vấn đề chính của vật lý ở thời đại ông đó là tìm cách quan sát và chứng minh nguyên tử tồn tại. Chúng cũng là nội dung chính trong luận án tiến sĩ của ông.[85]
Kết quả chính đầu tiên của ông trong lĩnh vực này là lý thuyết thăng giáng nhiệt động. Khi ở trạng thái cân bằng, một hệ có entropy cực đại, và theo cách hiểu của thống kê, nó chỉ có thăng giáng nhỏ. Einstein chỉ ra rằng thăng giáng thống kê của vật thể vĩ mô, có thể được hoàn toàn xác định bởi đạo hàm bậc hai của entropy.
Nghiên cứu cách kiểm tra quan hệ này, ông đã có đột phá lớn năm 1905. Ông nhận ra rằng lý thuyết này tiên đoán một hiệu ứng quan sát được cho một vật có thể di chuyển xung quanh tự do khi nằm trong môi trường nguyên tử hoạt động. Vì vật có vận tốc ngẫu nhiên do vậy nó có thể di chuyển ngẫu nhiên, giống như một nguyên tử đơn lẻ. Động năng trung bình của vật này là k_BT, và thời gian giảm thăng giáng có thể được xác định hoàn toàn bởi định luật ma sát.
Định luật ma sát cho quả cầu nhỏ trong chất lỏng nhớt giống nước được khám phá bởi George Stokes. Ông chỉ ra đối với vận tốc nhỏ, lực ma sát tỉ lệ với vận tốc, và bán kính của hạt. Quan hệ này được sử dụng để tính toán hạt chuyển động được một quãng đường bao nhiêu trong nước do chuyển động nhiệt ngẫu nhiên của nó, và Einstein chú ý là với những quả cầu kích thước khoảng một micron, chúng có thể di chuyển với vận tốc vài micron trong một giây. Chuyển động này đã được quan sát bởi nhà thực vật học Robert Brown dưới kính hiển vi, hay chuyển động Brown. Einstein đã đồng nhất chuyển động này với tiên đoán của lý thuyết ông đưa ra. Từ thăng giáng gây ra chuyển động Brown cũng chính là thăng giáng vận tốc của các nguyên tử, nên việc đo chính xác chuyển động Brown sử dụng lý thuyết của Einstein đã cho thấy hằng số Boltzmann là khác không và cho phép đo được số Avogadro.
Các thí nghiệm này được thực hiện vài năm sau đó, cho một ước lượng thô về số Avogadro phù hợp với ước lượng chính xác hơn của lý thuyết vật đen của Max Planck, và thí nghiệm đo điện tích của Robert Millikan.[86] Không như các phương pháp khác, đòi hỏi của Einstein cần rất ít các điều giả sử lý thuyết hay vật lý mới, vì đã trực tiếp đo chuyển động của nguyên tử qua các hạt nhìn thấy được.
Lý thuyết của Einstein về chuyển động Brown là bài báo đầu tiên về lĩnh vực vật lý thống kê. Nó thiết lập mối liên hệ giữa thăng giáng nhiệt động và sự tiêu tán năng lượng. Điều này được Einstein chỉ ra là đúng đối với thăng giáng độc lập thời gian, nhưng trong bài báo về chuyển động Brown ông chỉ ra rằng tỉ số nghỉ động học (dynamical relaxation rates) được tính toán từ cơ học cổ điển có thể được dùng là tỉ số nghỉ thống kê (statistical relaxation rates) để dẫn ra định luật khuếch tán động học. Những quan hệ này gọi là phương trình Einstein trong lý thuyết động học phân tử.
Lý thuyết về chuyển động Brown đã mở đầu năm kỳ diệu của Einstein, nhưng nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục các nhà vật lý chấp nhận thuyết nguyên tử.[83]

Thí nghiệm tưởng tượng và nguyên lý vật lý tiên nghiệm

Suy nghĩ của Einstein phải trải qua một sự thay đổi vào năm 1905. Ông đã hiểu rằng các tính chất lượng tử của ánh sáng có nghĩa là các phương trình Maxwell chỉ là lý thuyết xấp xỉ. Ông biết rằng các định luật mới có thể thay thế chúng, nhưng ông chưa biết làm thế nào để tìm ra các định luật này. Ông cảm thấy rằng ước đoán các mối quan hệ hình thức sẽ không đi đến đâu.
Thay vào đó ông quyết định tập trung vào các nguyên lý tiên nghiệm, chúng nói rằng các định luật vật lý có thể được hiểu là thỏa mãn trong những trường hợp rất rộng thậm chí trong những phạm vi mà chúng chưa từng được áp dụng hay kiểm nghiệm. Một ví dụ được các nhà vật lý chấp nhận rộng rãi của nguyên lý tiên nghiệm đó là tính bất biến quay (hay tính đối xứng quay, nói rằng các định luật vật lý là bất biến nếu chúng ta quay toàn bộ không gian chứa hệ theo một hướng khác). Nếu một lực mới được khám phá trong vật lý, lực này có thể lập tức được hiểu nó có tính bất biến quay mà không cần phải suy xét. Einstein đã hướng tìm các nguyên lý mới theo phương pháp bất biến này, để tìm ra các ý tưởng vật lý mới. Khi các nguyên lý cần tìm đã đủ, thì vật lý mới sẽ là lý thuyết phù hợp đơn giản nhất với các nguyên lý và các định luật đã được biết trước đó.
Nguyên lý tiên nghiệm tổng quát đầu tiên do Einstein tìm ra là nguyên lý tương đối,[87] theo đó chuyển động tịnh tiến đều không phân biệt được với trạng thái đứng im. Nguyên lý này được Hermann Minkowski mở rộng cho cả tính bất biến quay từ không gian vào không-thời gian. Những nguyên lý khác giả thiết bởi Einstein và sau đó mới được chứng minh là nguyên lý tương đương và nguyên lý bất biến đoạn nhiệt của số lượng tử. Một nguyên lý tổng quát khác của Einstein, còn gọi là nguyên lý Mach, vẫn còn là vấn đề đang được tranh luận giữa các nhà khoa học.
Việc sử dụng các nguyên lý tiên nghiệm là một phương pháp đặc biệt độc đáo trong các nghiên cứu đầu tiên của Einstein, và nó trở thành một công cụ tiêu chuẩn trong vật lý hiện đại.

Lý thuyết tương đối hẹp

Bài báo năm 1905 của ông về điện động lực học các vật thể chuyển động giới thiệu ra lý thuyết tương đối hẹp, cho thấy tốc độ ánh sáng độc lập với trạng thái chuyển động của quan sát viên đã đòi hỏi những sự thay đổi cơ bản về khái niệm của sự đồng thời. Những hề quả của kết luận này bao gồm sự giãn thời gianco độ dài (theo hướng chuyển động) của vật thể chuyển động tương đối đối với hệ quy chiếu của quan sát viên. Bài báo này cũng bác bỏ sự tồn tại của ête (vật lý) – một trong những vấn đề lớn của thời đó.[88]
Trong bài báo về sự tương đương khối lượng-năng lượng, vấn đề này cũng đã được quan tâm tới trước đó bởi các khái niệm khác, Einstein đã rút ra từ các phương trình của thuyết tương đối hẹp hệ thức nổi tiếng trong thế kỷ 20: E = mc2.[89][90] Hệ thức này cho thấy một khối lượng nhỏ tương đương với một năng lượng khổng lồ và nó là cơ sở cho lý thuyết năng lượng hạt nhân.[91]
Nhiều năm sau đó, công trình của Einstein về thuyết tương đối đặc biệt năm 1905 vẫn còn là đề tài tranh cãi, nhưng ngay từ ban đầu nó đã được các nhà vật lý lớn ủng hộ, khởi đầu là Max Planck.[92][93]

Photon

Bài chi tiết: Photon

Trong một bài báo năm 1905,[94] Einstein đã đặt ra một tiên đề đó là ánh sáng bao gồm các hạt rời rạc gọi là lượng tử. Lượng tử ánh sáng của Einstein hầu như bị các nhà vật lý bác bỏ khi ông mới giới thiệu ý tưởng này, trong đó có Max PlanckNiels Bohr. Ý tưởng này chỉ được chấp nhận rộng rãi vào năm 1919, nhờ những thí nghiệm chi tiết của Robert Millikan về hiệu ứng quang điện, và phép đo sự tán xạ Compton của Arthur Compton.[95]
Bài báo của Einstein về các hạt ánh sáng hầu hết xuất phát từ các nghiên cứu về nhiệt động lực học. Ông không bị thúc đẩy bởi các thí nghiệm về hiệu ứng quang điện, mà không phù hợp với lý thuyết của ông trong vòng 50 năm sau. Einstein quan tâm đến entropy của ánh sáng tại nhiệt độ T, và phân nó thành hai phần bao gồm phần tần số thấp và phần tần số cao. Phần ánh sáng tần số cao được miêu tả bởi định luật Wien, có entropy giống hệt với entropy của các phân tử khí cổ điển.[95]
Từ entropy là số logarit của các trạng thái khả dĩ, Einstein kết luận là số các trạng thái của ánh sáng bước sóng ngắn trong một hộp với thể tích V bằng với số các trạng thái của một nhóm các hạt lượng tử trong cùng hộp. Do ông (không giống với những người khác) cảm thấy dễ chịu với cách giải thích thống kê, ông tin rằng tiên đề về ánh sáng được lượng tử hóa là một công cụ giải thích tính hợp lý cho entropy.
Điều này dẫn ông đến kết luận là mỗi sóng với tần số f sẽ đồng hành với một tập hợp các photon, mỗi hạt ứng với năng lượng hf, trong đó h là hằng số Planck. Ông không thể bàn luận thêm, bởi vì Einstein không dám chắc các hạt liên hệ như thế nào với sóng. Nhưng ông đề nghị là ý tưởng này có thể giải thích các kết quả thí nghiệm khác, như hiệu ứng quang điện.[96]

Lượng tử hóa dao động nguyên tử

Eiinstein tiếp tục nghiên cứu về cơ học lượng tử vào năm 1906, tìm cách giải thích sự dị thường của nhiệt dung riêng trong các chất rắn. Đây là ứng dụng đầu tiên của lý thuyết lượng tử vào một hệ cơ học. Từ định luật Planck về phân bố bức xạ điện từ không cho kết quả về giá trị nhiệt dung riêng vô hạn, cùng ý tưởng này có thể được áp dụng cho chất rắn để khắc phục vấn đề nhiệt dung riêng vô hạn trong các chất này. Einstein đã chỉ ra một mô hình đơn giản với giả thuyết là chuyển động của các nguyên tử trong chất rắn bị lượng tử hóa để giải thích tại sao nhiệt dung riêng của chất rắn lại trở về không khi tiến gần đến độ không tuyệt đối.[95]
Mô hình của Einstein coi mỗi nguyên tử được kết nối với một lò xo tưởng tượng. Thay vì liên kết tất cả các nguyên tử với nhau, mà sẽ dẫn đến các sóng đứng với các loại tần số khác nhau, Einstein tưởng tượng ra mỗi nguyên tử được gắn tại một điểm trong không gian bởi chỉ một lò xo. Điều này không đúng về mặt vật lý, nhưng lý thuyết vẫn tiên đoán giá trị hữu hạn nhiệt dung riêng là 3NkB, do số các dao động độc lập đều giống nhau.
Einstein từ đó giả sử là chuyển động trong mô hình này bị lượng tử hóa, tuân theo định luật Planck, do vậy mỗi chuyển động độc lập của lò xo có năng lượng bằng một số nguyên lần hf, trong đó f là tần số dao động. Với giả sử này, ông áp dụng phương pháp thống kê của Boltzmann để tính ra năng lượng trung bình của mỗi lò xo trong một khoảng thời gian. Kết quả thu được giống với kết quả của Planck cho ánh sáng: tại nhiệt độ mà kBT nhỏ hơn hf, chuyển động bị ngưng lại (đóng băng), và nhiệt dung riêng tiến về 0.
Và Einstein kết luận là cơ học lượng tử có thể giải quyết được các vấn đề lớn trong vật lý cổ điển, như tính dị thường của nhiệt dung riêng. Các hạt hàm ý trong công thức trên bây giờ được gọi là photon. Vì mọi lò xo trong lý thuyết của Einstein đều có độ cứng như nhau, nên chúng dao động như nhau tại cùng một nhiệt độ, và điều này dẫn đến tiên đoán là nhiệt dung riêng tiến về 0 theo hàm lũy thừa khi nhiệt độ giảm đi về 0K.
Nghiên cứu này là nền tảng của vật lý vật chất ngưng tụ sau này.

Nguyên lý đoạn nhiệt và các biến tác động góc

Trong thập niên 1910, lý thuyết lượng tử đã mở rộng phạm vi áp dụng cho nhiều hệ thống khác nhau. Sau khi Ernest Rutherford khám phá ra sự tồn tại các hạt nhân và đề xuất các electron có quỹ đạo quanh hạt nhân giống như quỹ đạo của các hành tinh, Niels Bohr đã áp dụng các tiên đề của cơ học lượng tử được Planck và Einstein đưa ra và phát triển để giải thích chuyển động của electron trong nguyên tử, và của bảng tuần hoàn các nguyên tố.
Einstein đã đóng góp vào những phát triển này bằng liên hệ chúng với các tư tưởng của Wilhelm Wien năm 1898. Wien đã đưa ra giả thuyết về “bất biến đoạn nhiệt” của trạng thái cân bằng nhiệt cho phép mọi bức xạ của vật đen tại các nhiệt độ khác nhau được dẫn ra từ ‘định luật dịch chuyển Wien. Einstein năm 1911 đã chú ý đến là cùng nguyên lý đoạn nhiệt này cũng chỉ ra các đại lượng bị lượng tử hóa trong chuyển động cơ học bất kì phải là bất biến đoạn nhiệt. Arnold Sommerfeld đã đồng nhất bất biến đoạn nhiệt này là biến tác dụng của cơ học cổ điển. Định luật tác dụng thay đổi được bị lượng tử hóa là nguyên lý cơ sở của thuyết lượng tử khi nó được biết từ 1900 đến 1925. (hay lý thuyết lượng tử cổ điển)

Lưỡng tính sóng – hạt

Mặc dù cục cấp bằng sáng chế đã bổ nhiệm Einstein làm nhân viên kĩ thuật kiểm tra hạng hai năm 1906, nhưng ông không hề từ bỏ sự nghiệp khoa học của mình. Năm 1908, ông trở thành giảng viên thỉnh giảng (privatdozent) tại trường Đại học Bern.[97] Trong “über die Entwicklung unserer Anschauungen über das Wesen und die Konstitution der Strahlung” (“The Development of Our Views on the Composition and Essence of Radiation“), về sự lượng tử hóa của ánh sáng, và trong một bài báo đầu năm 1909, Einstein chỉ ra rằng lượng tử năng lượng của Planck phải có động lượng và có thể cư xử như các hạt điểm độc lập. Bài báo này đưa ra khái niệm photon (mặc dù Gilbert N. Lewis đặt tên gọi photon mãi tới năm 1926) và mở ra khái niệm lưỡng tính sóng-hạt trong cơ học lượng tử. Dựa trên ý tưởng của Planck và của Einstein về sóng có bản chất hạt, nhà vật lý Louis de Broglie đặt ra vấn đề ngược là hạt vật chất có bản chất sóng và khai sinh ra nguyên lý lưỡng tính sóng hạt của vật chất.[98]

Lý thuyết giới hạn trắng đục

Einstein đã quay trở lại vấn đề nhiễu loạn nhiệt động học, với suy nghĩ tìm cách giải quyết những sự thay đổi mật độ trong chất lỏng tại điểm giới hạn của nó. Thông thường, nhiễu loạn mật độ được khử bởi đạo hàm bậc hai của năng lượng tự do theo mật độ. Tại điểm giới hạn này, đạo hàm bằng không, dẫn đến những nhiễu loạn lớn. Hiệu ứng nhiễu loạn mật độ mà theo đó mọi bước sóng của ánh sáng bị tán xạ khi đi vào môi trường khác, làm cho chất lỏng nhìn trắng như sữa. Einstein liên hệ hiện tượng này với hiện tượng tán xạ Raleigh, mà xảy ra khi độ lớn nhiễu loạn nhỏ hơn bước sóng, và hiện tượng này đã giải thích hiện tượng tại sao bầu trời có màu xanh.[99]

Upper body shot of man in suit, high white collar and bow tie.

Einstein tại hội nghị Solvay năm 1911. Năm này ông trở thành phó giáo sư tại Đại học Zurich, và ngay sau đó ông trở thành giáo sư tại đại học Charles-Ferdinand ở Praha.

Năng lượng điểm không

Trực giác vật lý của Einstein đã dẫn ông chú ý đến các năng lượng dao động Planck không thể có điểm không. Ông sửa lại giả thuyết Planck bằng cách cho trạng thái năng lượng thấp nhất của một đối tượng dao động bằng với 12hf, bằng một nửa khoảng năng lượng giữa hai mức. Sự thay đổi này được nghiên cứu cùng với Otto Stern, trên cơ sở của nhiệt động học phân tử hai nguyên tử mà có thể tách ra thành hai nguyên tử tự do.

Nguyên lý tương đương

Năm 1907, khi còn đang làm việc tại cuc bằng sáng chế, Einstein đã có cái mà ông gọi là “ý tưởng hạnh phúc nhất” trong đời ông. Ông nhận ra là nguyên lý tương đối có thể mở rộng sang trường hấp dẫn. Ông suy nghĩ về trường hợp thang máy chuyển động với gia tốc đều nhưng không phải đặt trong trường hấp dẫn, và ông nhận ra là nó không thể khác biệt so với trường hợp thang máy im trong trường hấp dẫn không thay đổi.[100] Ông áp dụng thuyết tương đối hẹp để thấy tốc độ của các đồng hồ tại đỉnh thang máy gia tốc lên trên sẽ nhanh hơn tốc độ của đồng hồ ở sàn thang máy. Ông kết luận là tốc độ của đồng hồ phụ thuộc vào vị trí của chúng trong trường hấp dẫn, và hiệu giữa hai tốc độ đồng hồ tỉ lệ với thế năng hấp dẫn theo xấp xỉ bậc nhất.
Mặc du sự xấp xỉ này là thô, nó cho phép ông tính được độ lệch của tia sáng do hấp dẫn. Điều này làm cho ông tin tưởng rằng lý thuyết vô hướng về hấp dẫn được đề xuất bởi Gunnar Nordström là không đúng. Nhưng giá trị thực cho độ lệch mà ông tính ra nhỏ đi 2 lần so với giá trị thực, do xấp xỉ ông sử dụng không còn thỏa mãn đối với các vật thể di chuyển gần vận tốc của ánh sáng. Khi Einstein hoàn thiện thuyết tương đối tổng quát, ông đã sửa lại thiếu sót này và tiên đoán được giá trị đúng của độ lệch tia sáng đi gần Mặt Trời.
Từ Praha, Einstein đăng một bài báo về các hiệu ứng của hấp dẫn tác động lên ánh sáng, đặc biệt là dịch chuyển đỏ do hấp dẫn và độ lệch ánh sáng do hấp dẫn. Bài báo đã thúc đẩy các nhà thiên văn học xác định độ lệch tia sáng trong quá trình quan sát nhật thực. [101] Nhà thiên văn người Đức Erwin Finlay-Freundlich đã công bố tiên đoán của Einstein ra toàn thế giới để cộng đồng các nhà khoa học được biết đến.[102]
Einstein đã suy nghĩ về bản chất trường hấp dẫn trong các năm 1909-1912, nghiên cứu các tính chất của chúng bằng các thí nghiệm tưởng tượng đơn giản. Trong đó có thí nghiệm về một cái đĩa quay. Einstein tưởng tượng ra một quan sát viên thực hiện các thí nghiệm trên 1 cái bàn quay. Ông chú ý rằng quan sát viên có thể đo được một giá trị khác cho hằng số toán học pi so với trong hình học Euclid. Lý do là vì bán kính của một đường tròn là không đổi do được đo với một cái thước không bị co độ dài, nhưng theo thuyết tương đối hẹp chu vi của đường tròn dường như lớn hơn do cái thước dùng để đo chu vi bị co ngắn lại.
Mặt khác Einstein tin tưởng rằng các định luật vật lý là cục bộ, được miêu tả bởi các hệ tọa độ cục bộ, ông kết luận rằng không thời gian có thể bị cong. Điều này dẫn ông đến nghiên cứu hình học Riemann, và hình thành lên ngôn ngữ của thuyết tương đối tổng quát.

Thuyết tương đối rộng

Năm 1912, Einstein trở lại Thụy Sĩ để nhận chức danh giáo sư tại nơi ông từng học, trường ETH. Khi ông trở lại Zurich, ngay lập tức ông đến thăm người bạn cùng lớp đại học ETH là Marcel Grossmann, bây giờ trở thành giáo sư toán học. Einstein đã hỏi Grossmann có thứ hình học miêu tả không gian cong không và ông ta đã giới thiệu cho ông hình học Riemann và tổng quát hơn là hình học vi phân. Theo đề nghị của nhà toán học người Ý Tullio Levi-Civita, Einstein bắt đầu khám phá ra sự hữu ích của nguyên lý hiệp biến tổng quát (cơ bản là sử dụng tenxơ) cho lý thuyết hấp dẫn mới của ông. Có lúc Einstein nghĩ rằng có một số sai lầm với cách tiếp cận này, nhưng sau đó ông đã quay trở lại với nó, và cuối năm 1915, ông đã công bố thuyết tương đối rộng theo dạng ngày nay của lý thuyết.[103] Lý thuyết này giải thích hấp dẫn là do sự cong của không thời gian do vật chất, ảnh hưởng tới chuyển động quán tính của các vật chất khác. Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Liên minh trung tâm chỉ có thể được thực hiện tại các viện Hàn lâm của liên minh này, vì lí do an ninh quốc gia. Một vài nghiên cứu của Einstein đã đến được Vương quốc AnhHoa Kỳ thông qua nỗ lỗ lực của nhà vật lý người Áo Paul Ehrenfest và của các nhà vật lý người Hà Lan, đặc biệt là Nobel gia Hendrik LorentzWillem de Sitter của Đại học Leiden. Sau khi chiến tranh kết thúc, Einstein vẫn duy trì mối liên hệ của ông với trường Đại học Leiden, và nhận làm giáo sư đặc biệt cho trường này trong mười năm, từ 1920 đến 1930, Einstein thường xuyên đến Hà Lan để giảng dạy.[104]
Năm 1917, một vài nhà thiên văn học chấp nhận lời đề xuất năm 1911 của Einstein khi ông ở Praha. Đài quan sát núi WilsonCalifornia, Hoa kì, công bố kết quả phân tích phổ của Mặt Trời cho thấy không có sự dịch chuyển đỏ do hấp dẫn.[105] Năm 1918, Đài quan sát Lick, cũng ở California, thông báo rằng rất khó có thể bác bỏ được tiên đoán của Einstein, mặc dù kết quả của họ không được công bố.[106]

Black circle covering the sun, rays visible around it, in a dark sky.

Bức ảnh chụp nhật thực của Eddington, xác nhận tiên đoán của lý thuyết Einstein rằng ánh sáng bị “bẻ cong.” Vào ngày 7/11/1919, tạp chí hàng đầu của vương quốc Anh The Times được phát hành với tiêu đề: “Cách mạng trong khoa học – Lý thuyết mới của vũ trụ – Tư tưởng của Newton đã bị lật đổ.”[107]

Tuy nhiên vào tháng 5 năm 1919, một đội các nhà thiên văn học do Arthur Stanley Eddington dẫn đầu đã xác nhận rằng tiên đoán của Einstein về sự bẻ cong của tia sáng do hấp dẫn của Mặt Trời trong khi chụp các bức ảnh trong quá trình nhật thực tại Príncipe, một hòn đảo nằm phía tây châu Phi đồng thời với một đoàn thám hiểm ở Sobral, phía bắc Brasil.[102] Nobel gia Max Born tán dương thuyết tương đối tổng quát như là “một kỳ công lớn nhất của tư duy con người về tự nhiên”;[108] và Nobel gia người Anh Paul Dirac nói “nó có thể là khám phá khoa học lớn nhất đã từng được phát hiện”.[109] Các phương tiện thông tin quốc tế lan truyền khám phá này khiến Einstein trở nên nổi tiếng khắp thế giới.
Đã có những ý kiến cho rằng việc kiểm tra lại các bức ảnh của đoàn thám hiểm Eddington cho thấy độ lớn sai số của thí nghiệm bằng với kết quả thu được từ hiệu ứng mà Eddington đã đo để chứng minh, và đoàn thám hiểm người Anh năm 1962 đã kết luận là phương pháp đã đo là không đủ tin cậy.[49] Sự bẻ cong của tia sáng trong quá trình nhật thực đã được xác nhận bởi các quan sát chính xác hơn sau đó.[110] Về sau, nhiều thí nghiệm sau này đã xác nhận các tiên đoán của thuyết tương đối rộng.[103] Cùng với sự mới nổi tiếng của Einstein, nhiều nhà khoa học Đức thời đó đã có nhứng động thái để chống lại Einstein cũng như các công trình của ông.[111][112]

Vũ trụ học

Bài chi tiết: Vũ trụ học

Năm 1917, Einstein đã áp dụng thuyết tương đối rộng cho mô hình cấu trúc của vũ trụ trên toàn bộ. Theo dòng suy nghĩ đương thời, ông muốn vũ trụ là vĩnh hằng và bất biến, nhưng trong thuyết mới của ông, sau một thời gian dài lực hấp dẫn có thể hút vật chất về nhau dẫn tới vũ trụ co lại. Để sửa điều này, Einstein đã thay đổi nhỏ thuyết tương đối tổng quát bằng cách đưa ra một khái niệm mới, hằng số vũ trụ học. Với một hằng số vũ trụ dương, cân bằng chống lại lực hấp dẫn, vũ trụ có thể là quả cầu tĩnh vĩnh hằng[113]
Einstein tin tưởng rằng một vũ trụ tĩnh có tính đối xứng cầu sẽ phù hợp về mặt triết học, bởi vì nó tuân theo nguyên lý Mach. Ông đã chỉ ra rằng thuyết tương đối tổng quát gắn chặt với nguyên lý Mach trong trường hợp mở rộng hiệu ứng kéo hệ quy chiếu bằng trường hấp dẫn từ, nhưng ông biết rằng ý tưởng của Mach sẽ không đúng nếu vũ trụ cứ mở rộng ra vô hạn. Trong một vũ trụ đóng, ông tin rằng nguyên lý Mach sẽ được thỏa mãn.
Nguyên lý Mach cũng đã gây ra rất nhiều tranh cãi trong nhiều năm.

Einstein, sitting at a table, looks up from the papers he is reading and into the camera.

Sau nhiều lần di chuyển của chồng, Mileva đã quyết định định cư hẳn cùng với các con ở Zurich năm 1914. Einstein đến Berlin một mình, tại đây ông trở thành thành viên của Viện hàn lâm Khoa học Phổ và là giáo sư tại Đại học HumboldtBerlin, mặc dù với một điều khoản đặc biệt trong bản hợp đồng là ông sẽ được tự do trong việc phải giảng dạy. Einstein trở thành chủ tịch của Hội Vật lý Đức (1916-1918))[48] và là giám đốc Viện Kaiser Wilhelm về Vật lý (1914–1932).[114]

Thuyết lượng tử hiện đại

Năm 1917, tại đỉnh cao của công việc nghiên cứu thuyết tương đối, Einstein xuất bản một bài báo trong ”Physikalische Zeitschrift đề xuất khả năng tồn tại phát xạ kích thích, một quá trình vật lý giúp hiện thực được maserlaser.[115] Bài báo này chỉ ra rằng tính thống kê của sự hấp thụ và bức xạ ánh sáng chỉ có thể phù hợp với định luật phân bố Planck khi sự bức xạ của ánh sáng trong một chế độ với n photon sẽ gần với tính thống kê hơn so với sự bức xạ của ánh sáng trong chế độ không có photon. Bài báo này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sau này của cơ học lượng tử, bởi vì nó là bài báo đầu tiên chỉ ra tính thống kê của sự chuyển dịch trạng thái nguyên tử tuân theo những định luật đơn giản. Einstein đã phát hiện ra nghiên cứu của Louis de Broglie, và đã ủng hộ những ý tưởng của ông, khi Einstein lần đầu tiên nhận được những ý tưởng phác thảo này. Một bài báo lớn khác trong thời kì này, Einstein đã viết ra phương trình sóng cho các sóng de Broglie, trong đó Einstein đã đề xuất từ phương trình Hamilton–Jacobi của cơ học. Bài báo này đã khích lệ các nghiên cứu của Schrödinger năm 1926.

Thống kê Bose–Einstein

Năm 1924, Einstein nhận được một miêu tả về mô hình thống kê từ nhà vật lý người Ấn Độ Satyendra Nath Bose, trên cơ sở một phương pháp đếm với giả sử ánh sáng có thể được hiểu là khí của các hạt không thể phân biệt được. Einstein chú ý tới rằng thống kê của Bose có thể áp dụng cho một số nguyên tử có tính chất tương tự các hạt ánh sáng được đề xuất, và ông gửi bản dịch bài báo của Bose tới tạp chí Zeitschrift für Physik. Einstein cũng tự viết các bài báo miêu tả mô hình thống kê này và những hệ quả của nó, bao gồm hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein mà trong một số trường hợp đặc biệt có thể xuất hiện tại nhiệt độ rất thấp..[7] Cho đến tận năm 1995, vật chất ngưng tụ lần đầu tiên đã được tạo ra bằng thực nghiệm bởi Eric Allin CornellCarl Wieman nhờ sử dụng các thiết bị siêu lạnh được lắp đặt tại NIST–phòng thí nghiệm JILA tại Đại học Colorado ở Boulder.[116] Thống kê Bose-Einstein bây giờ được sử dụng để miêu tả hành xử của những hạt có spin nguyên, các boson. Những phác thảo của Einstein cho nghiên cứu này có thể xem tại “Einstein Archive” trong thư viện của đại học Leiden.[82]

Giả tenxơ năng lượng động lượng

Thuyết tương đối rộng bao gồm một không thời gian động lực, do vậy nó rất khó để tìm cách thống nhất các đại lượng bảo toàn năng lượng và động lượng. Định lý Noether cho phép những đại lượng được xác định từ hàm Lagrangian với bất biến tịnh tiến, nhưng hiệp biến tổng quát làm cho bất biến tịnh tiến trở thành một phần của đối xứng gauge. Tenxơ ứng suất – năng lượng trong phương trình trường Einstein không chứa năng lượng trường hấp dẫn, bởi vì theo nguyên lý tương đương bằng việc lựa chọn hệ quy chiếu cục bộ thích hợp, trường hấp dẫn sẽ biết mất. Năng lượng và động lượng bao hàm cả năng lượng hấp dẫn được dẫn ra từ thuyết tương đối rộng theo định lý Noether không phải là một tenxơ thực vì lý do như vậy.
Einstein lập luận rằng điều này là đúng với những lý do cơ bản, bởi vì trường hấp dẫn có thể xuất hiện hoặc biến mất bằng cách chọn các tọa độ. Ông ủng hộ rằng giả tenxơ không hiệp biến năng lượng động lượng thực chất là cách miêu tả tốt nhất sự phân bố năng lượng và động lượng trong một trường hấp dẫn.[117][118] Cách tiếp cận này đã được phát triển bởi Lev LandauEvgeny Lifshitz,[119] và những người khác, và đã trở thành một tiêu chuẩn.
Việc sử dụng các đối tượng không-hiệp biến như các giả tenxơ đã bị phê phán nhiều bởi Erwin Schrödinger và những người khác năm 1917.

Thuyết trường thống nhất

Tiếp theo nghiên cứu của ông về thuyết tương đối tổng quát, Einstein bắt tay vào chuỗi những cố gắng để tổng quát hóa lý thuyết hình học của ông về hấp dẫn, cho phép kết hợp được với tương tác điện từ. Năm 1950, ông miêu tả “thuyết trường thống nhất” của ông trong tạp chí Scientific American với tiêu đề “Về lý thuyết tổng quát của hấp dẫn”.[120] Mặc dù ông tiếp tục được ca ngợi cho các công trình của ông, Einstein đã dần dần bị đơn độc trong con đường nghiên cứu thuyết thống nhất này, và những nỗ lực của ông đã hoàn toàn bị thất bại.
Trong việc theo đuổi một lý thuyết thống nhất các lực cơ bản của tự nhiên, Einstein đã bỏ qua một số hướng phát triển chính của vật lý thời đó, điển hình nhất là việc nghiên cứu các lực hạt nhân mạnhlực hạt nhân yếu, chúng chưa được hiểu triệt để cho đến tận nhiều năm sau khi ông mất. Mặt khác, các xu hướng vật lý lại chủ yếu bỏ qua các phương pháp tiếp cận của ông đối với lý thuyết thống nhất; với cơ học lượng tử là khuôn khổ chính, lý thuyết mà ông không chấp nhận hoàn toàn về tính mô tả thực tại của nó. Giấc mơ của Einstein để thống nhất mọi định luật vật lý khác với hấp dẫn đã thôi thúc một cuộc tìm kiếm hiện đại cho một lý thuyết của mọi vật và đặc biệt là thuyết dây, trong đấy các trường hình học được kết hợp với lý thuyết trường lượng tử hay hấp dẫn lượng tử.

Lỗ sâu

Bài chi tiết: Lỗ sâu

Trong nghiên cứu thuyết trường thống nhất, Einstein đã hợp tác với các nhà khoa học khác để đưa ra mô hình về một lỗ sâu.[121] Mục đích của ông là thiết lập mô hình các hạt cơ bản với các tích (điện tích) của chúng như là một nghiệm của phương trình trường hấp dẫn, được đăng trong một bài báo với tiêu đề “Liệu trường hấp dẫn đóng một vai trò quan trọng trong cấu tạo của các hạt cơ bản?”. Những nghiệm này cắt và dán các lỗ đen Schwarzschild để tạo ra một cầu nối giữa hai miền không gian.
Nếu cuối một lỗ sâu mang điện tích dương, thì đầu kia của lỗ sâu phải mang điện tích âm. Những tính chất này dẫn Einstein đến sự tin tưởng rằng cặp các hạt và phản hạt có thể được miêu tả theo cách này.

Lý thuyết Einstein–Cartan

Để có thể kết hợp spin của các hạt điểm vào trong thuyết tương đối tổng quát, liên thông aphin cần được tổng quát hóa để bao gồm được phần phản xứng, gọi là tenxơ xoắn. Năm 1922 nhà toán học Élie Cartan lần đầu tiên tiếp cận với đề xuất này[122] và tiếp tục mở rộng lý thuyết trong các năm sau.[123] Einstein cũng tham gia vào phát triển lý thuyết này vào năm 1928 với những nỗ lực không thành công khi sử dụng tenxơ xoắn để miêu tả trường điện từ trong thuyết trường thống nhất của ông.[124]

Nghịch lý Einstein–Podolsky–Rosen

Bài chi tiết: Nghịch lý EPR

Năm 1935, Einstein trở lại với cơ học lượng tử. Ông đã xét sự ảnh hưởng như thế nào của một hạt trong hệ hai hạt vướng víu với nhau đối với hạt kia. Ông đưa ra cùng với các cộng sự của ông rằng, bằng cách thực hiện các phép đo khác nhau trên một hạt ở rất xa, hoặc là về vị trí hoặc về động lượng, và các tính chất của hạt đối tác trong cặp vướng víu này có thể được khám phá mà không làm ảnh hưởng đến trạng thái của chính nó.
Einstein do vậy đã sử dụng tính thực tại cục bộ để kết luận là những hạt khác có những tính chất này đã được định sẵn. Nguyên lý ông đề xuất là nếu có thể xác định được câu trả lời về vị trí hay động lượng qua phép đo một hạt đối tác, mà không ảnh hưởng đến hạt kia, thì các hạt thực sự có giá trị chính xác về vị trí hoặc động lượng, điều này mâu thuẫn với nguyên lý bất định Heisenberg.
Nguyên lý này được rút ra từ quá trình phản bác của Einstein về cơ học lượng tử. Là một nguyên lý vật lý, nó đã được chứng minh là không tương thích với các kết quả thí nghiệm.

Các phương trình chuyển động

Thuyết tương đối rộng có hai định luật cơ bản; – phương trình trường Einstein miêu tả sự cong của không gian, và phương trình trắc địa miêu tả sự di chuyển của các hạt trong trường hấp dẫn.
Do các phương trình trong thuyết tương đôi tổng quát là phi tuyến, một lượng năng lượng xác định một trường hấp dẫn thuần túy, giống như hố đen, sẽ di chuyển trên một quỹ đạo được xác định bởi chính phương trình trường Einstein, không cần tới các định luật mới. Vì thế EInstein đề xuất rằng quỹ đạo của một nghiệm kì dị, giống như hố đen, có thể được xác định là một đường trắc địa từ chính thuyết tương đối rộng.
Phương trình này được Einstein, Infeld và Hoffmann viết ra cho các vật thể hạt điểm không có mô men động lượng, và bởi Roy Kerr cho các vật thể quay.

Cộng tác với những nhà khoa học khác

Ngoài sự cộng tác trong một thời gian dài với các nhà khoa học Leopold Infeld, Nathan Rosen, Peter Bergmann và những người khác, Einstein cũng từng cộng tác trong một thời gian ngắn với nhiều nhà khoa học.

Tranh luận Bohr-Einstein

Hai nhà khoa học đang ngồi thư giãn. Bohr với mái tóc đen đang nói chuyện với Einstein.

Einstein và Niels Bohr, 1925

Tranh luận Bohr-Einstein là chuỗi các sự kiện phê bình giữa hai trong số những người sáng lập ra cơ học lượng tử là Albert Einstein và Niels Bohr về bản chất thực tại của lý thuyết này. Tranh luận của hai người không chỉ có ý nghĩa trong triết học của khoa học mà còn là động lực để các nhà lý thuyết và thực nghiệm lượng tử khám phá ra những tính chất mới đồng thời bổ sung cho nền tảng lý thuyết.[125][126][127]

Thí nghiệm Einstein-de Haas

Einstein và De Haas đã chứng tỏ rằng sự từ hóa là do chuyển động của các electron mà ngày nay được biết là spin. Để chỉ ra điều này, họ đảo ngược sự từ hóa trong một thanh thép treo trên một con lắc xoắn. Hai người quan sát thấy rằng thanh thép bị quay đi một góc, bởi vì mô men động lượng của electron bị thay đổi khi thay đổi sự từ hóa. Thí nghiệm này cần sự tinh tế, bởi vì mô men động lượng gắn với electron là nhỏ, nhưng nó cũng đủ để chứng minh chuyển động của electron vì một lý do nào đó ảnh hưởng đến sự từ hóa.[128][129]

Mô hình khí Schrödinger

Einstein gợi ý cho Erwin Schrödinger rằng ông có thể suy lại được sự thống kê của khí Bose–Einstein bằng xét đến một hộp. Sau đó mỗi chuyển động lượng tưr khả dĩ của một hạt trong một hộp được gắn với một dao động tử điều hòa độc lập. Lượng tử hóa những dao động tử này, mỗi mức có một số nguyên tương ứng, sẽ là số các hạt trong hộp.
Phương pháp này là một phần của lượng tử hóa chính tắc, nhưng nó đi ngược lại cơ học lượng tử hiện đại. Erwin Schrödinger áp dụng điều này để dẫn ra các tính chất nhiệt động của khí lý tưởng bán cổ điển. Schrödinger đã đề nghị Einstein để đưa thêm ông vào đồng tác giả, nhưng Einstein đã từ chối lời mời này.[130]

Tình yêu âm nhạc

Einstein bắt đầu cảm thụ âm nhạc từ khi còn nhỏ tuổi. Mẹ ông chơi dương cầm khá giỏi và muốn ông học đàn vĩ cầm, không chỉ để truyền dẫn cho ông niềm yêu thích âm nhạc mà còn giúp ông hòa nhập với nền văn hóa Đức. Theo nhạc trưởng Leon Botstein, Einstein có thể đã bắt đầu chơi nhạc từ lúc 5 tuổi nhưng chưa thể hiện niềm thích thú với âm nhạc khi đó.[131]
Tuy nhiên, bước sang tuổi 13, ông được học bản sonata vĩ cầm của Mozart. “Einstein trở lên yêu thích” âm nhạc Mozart, Botstein viết, và học chơi vĩ cầm một cách tự nguyện hơn. Theo Einstein, ông tự học chơi đàn bằng cách “thực hành có hệ thống”, và nói rằng “say mê là một người thầy tốt hơn ý thức trách nhiệm.”[131] Khi 17 tuổi, ông trình bày bản sonata vĩ cầm của Beethoven trong một kỳ kiểm tra âm nhạc ở Aarau, và giáo viên chấm điểm đã nhận xét khi ông kết thúc là “xuất sắc và thể hiện nội dung tuyệt vời.” Điều gây ấn tượng cho người giáo viên là, theo Botstein, Einstein “thể hiện sâu sắc tình yêu âm nhạc, một phẩm chất vẫn còn đang được hình thành. Âm nhạc có một ý nghĩa kỳ lạ đối với sinh viên này.”[131]
Botstein lưu ý rằng âm nhạc đảm nhận một vai trò quan trọng và lâu dài trong cuộc sống kể từ thời gian đó của Einstein. Mặc dù chưa lúc nào ông nghĩ rằng sẽ theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, nhưng ông thường tham gia chơi nhạc thính phòng với một vài nghệ sĩ, thường trình diễn cho nhóm vài người bạn. Âm nhạc thính phòng là một phần trong cuộc sống của ông khi còn ở Bern, Zurich, và Berlin, nơi ông chơi nhạc cùng Max Planck và những người khác. Năm 1931, trong thời gian đến Viện Công nghệ California, ông đến thăm gia đình Zoellner ở Los Angeles và chơi một số bản nhạc của Beethoven và Mozart cùng với các thành viên của nhóm tứ tấu Zoellner. Einstein sau đó trao cho người đại diện gia đình một bức ảnh lưu niệm chụp ông cùng với chữ ký.[132][133] Âm nhạc không chỉ là niềm vui thích mà còn giúp ông trong công việc. Bà Elsa nói “âm nhạc giúp ông khi đang suy nghĩ về các lý thuyết. Ông mải mê nghiên cứu, quay trở ra giải trí bằng đánh vài đoạn hợp âm piano, rồi tiếp tục trở lại công việc”.[134]

Quan điểm chính trị

Albert Einstein, cùng với bà Elsa Einstein và những nhà lãnh đạo phong trào phục quốc Do Thái, gồm tổng thống tương lai của Israel Chaim Weizmann, vợ ông Dr. Vera Weizmann, Menahem Ussishkin, và Ben-Zion Mossinson trên đường đến thành phố New York năm 1921.

Einstein là người ủng hộ chủ nghĩa xã hộiphê phán chủ nghĩa tư bản.[135][136] Ông phản đối phong trào Quốc Xã đang tăng lúc bấy giờ và sau đó cố gắng lên tiếng giảm bớt sự náo động của việc hình thành nước Israel. Fred Jerome trong quyển Quan điểm của Einstein về nhà nước Israel và chủ nghĩa phục quốc Do Thái cho rằng Einstein là một nhà văn hóa phục quốc Do Thái, người ủng hộ ý tưởng về một tổ quốc Do Thái nhưng phản đối việc hình thành một nhà nước Do Thái ở Palestine “với đường biên giới, quân đội, và một hệ thống pháp quyền riêng.” Thay vào đó, ông ủng hộ một nhà nước liên bang gồm 2 quốc gia với “cơ cấu chức năng liên tục, hỗn hợp, quản trị, kinh tế, và xã hội.”[137][138]
Trong cuộc Cách mạng tháng 11 ở Đức, Einstein đã ký vào một kháng nghị làm tiền đề cho đại hội tự do và dân chủ toàn quốc,[139][140] được công bố ở tờ tin tức Berliner Tageblatt vào ngày 16 tháng 11, 1918[141] và ông trở thành đảng viên của Đảng Dân chủ Đức. Sau Thế chiến thứ II, khi sự thù hằn giữa các nước đồng minh cũ trở nên căng thẳng, Einstein viết, “Tôi không biết Chiến tranh Thế giới lần thứ III người ta sẽ dùng vũ khí gì, nhưng tôi có thể nói với bạn con người có thể sử dụng vũ khí gì ở Chiến tranh Thế giới thứ IV – đá![142] Einstein 1949 Cùng với With Albert Schweitzer và Bertrand Russell, Einstein đã vận động để dừng việc thử nghiệm hạt nhân và bom trong tương lai. Trước lúc mất, Einstein đã ký vào bản tuyên ngôn Russell–Einstein, mà sau đó đã dẫn tới hội nghị Pugwash về Khoa học và Hòa bình Thế giới.[143]
Einstein là thành viên của nhiều nhóm quyền công dân, bao gồm đại hội Princeton của Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu (NAACP). khi W. E. B. Du Bois bị cáo buộc làm gián điệp Cộng sản, Einstein đã tình nguyện làm nhân chứng, và cáo buộc đã được bác bỏ ngay sau đó. Tình bạn của Einstein với nhà hoạt động Paul Robeson, người cùng với ông giữ chức đồng chủ tịch của Cuộc vận động người Mỹ chấm dứt kiểu hành hình Lynch phân biệt đối xử với người da đen, kéo dài đến 20 năm.[144]
Einstein từng nói “Chính trị là nhất thời, còn phương trình là vĩnh cửu.”[145] Ông đã từ chối lời đề nghị làm tổng thống Israel vào năm 1952.[146]

Quan điểm tôn giáo

Trên nghi vấn của quan điểm khoa học (quyết định luận) dẫn tới câu hỏi về lập trường của Einstein về quyết định luận thần học, liệu ông có tin vào Chúa, hay vào một vị thần nào đó hay không. Năm 1929, Einstein đã nói với giáo sĩ Do Thái Herbert S. Goldstein rằng “Tôi tin vào Chúa của Spinoza, người mà biểu lộ chính mình trong nguyên lý hài hòa của thế giới, không phải là một vị Chúa có số mệnh và hành động của một con người. “[147] Trong một bức thư năm 1954, ông viết, “Tôi không tin vào một Chúa nhân cách hóa và tôi không bao giờ phủ định điều này và tôi đã biểu thị điều đó một cách rõ ràng.”[148] Trong một bức thư gửi triết gia Erik Gutkind, Einstein nói rõ, “Danh từ Chúa đối với tôi không gì khác ngoài sự thể hiện và là sản phẩm của sự yếu đuối của loài người, Kinh thánh là tập hợp những điều đáng kính, nhưng vẫn còn nguyên sơ, huyền ảo tuy nhiên khá là ngây ngô.”[149]
Báo chí đã cho đăng tải lặp đi lặp lại để thể hiện Albert Einstein là một người “khiêu khích” tôn giáo với phát biểu như sau của ông:

Đúng là, dĩ nhiên, một hiểu lầm về những gì bạn được đọc về nhận thức tôn giáo của tôi, một hiểu lầm được lặp lại một cách có hệ thống. Tôi không tin vào một vị Chúa nhân cách hóa và tôi không bao giờ phủ định điều này và tôi đã biểu thị điều đó một cách rõ ràng. Nếu có thứ gì đối với tôi được gọi là tôn giáo thì đó là sự thán phục vô tận dành cho cấu trúc thế giới mà khoa học của chúng ta có thể khám phá ra.

Tuy nhiên, đối với một tôn giáo Phương Đông như Đạo Phật, Einstein đã nhìn thấy đó như là một triết lý cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau:[151]

Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó.
(The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.)

Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng:[151]

Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học
(If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, because it embrances science as well as goes beyond science.)

Giải thưởng

Trong cuộc đời cống hiến nghiên cứu khoa học, Albert Einstein đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế. Tên của ông cũng được lấy để đặt cho nhiều giải thưởng.

Giải thưởng đoạt được
  1. Giải Nobel Vật lý 1921[152]
  2. Huy chương Matteucci 1921[153]
  3. Huy chương Copley 1925[154]
  4. Huy chương Max Planck đầu tiên 1929[155]
  5. The Franklin Institute Awards 1935[156]
Giải thưởng mang tên ông
  1. Giải thưởng Albert Einstein do Lewis and Rosa Strauss Memorial Fund thành lập năm 1951 nhằm trao cho các công trình vật lý lý thuyết nổi bật trong khoa học tự nhiên.
  2. Huy chương Albert Einstein do Hội Albert Einstein lập 1979 trao hàng năm cho những người có cống hiến xuất sắc liên quan tới công trình của Albert Einstein
  3. Giải Einstein của Hội Vật lý Hoa Kỳ thành lập năm 2003 trao 2 năm một lần cho những người có thành tựu nổi bật trong lãnh vực tương tác hấp dẫn.
  4. Giải Khoa học thế giới Albert Einstein do Hội đồng Văn hóa Thế giới lập năm 1984 trao hàng năm cho các công trình nhìn nhận và khuyến khích các người có công nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật đem lại lợi ích thiết thực cho nhân loại.
  5. Albert Einstein Peace Prize được khởi động từ năm 1979 nhân dịp 100 năm ngày sinh Albert Einstein, trao cho những người đã đóng góp cho hòa bình thế giới.[157] Giải thưởng đầu tiên được trao cho Alva Reimer Myrdal[158]

Vinh danh

Để ghi nhớ công lao của Einstein, ngoài những công thức, phương trình và hiện tượng trong vật lý mang tên ông (như phương trình trường Einstein, vành Einstein…) còn có rất nhiều thứ khác được gán cho tên của ông như:

  • Một núi lửa được phát hiện năm 1952 trên bán cầu bắc, phần không nhìn thấy của Mặt Trăng được đặt tên theo tên ông: Hố va chạm Einstein.[159]
  • Một tiểu hành tinh vòng trong vành đai chính phát hiện năm 1973 được đặt tên theo tên ông: 2001 Einstein
  • Các nhà hóa học đặt tên của ông cho nguyên tố thứ 99 trong bảng tuần hoàn Einsteini.

Những dấu mốc trong cuộc đời của Einstein

Các bài viết

Các bài báo của Albert Einstein được dùng tham khảo trong bài này. Danh sách đầy đủ các bài viết của ông có ở Danh sách các bài báo khoa học của Albert Einstein.
  • Einstein, Albert (1901), “Folgerungen aus den Capillaritätserscheinungen (Conclusions Drawn from the Phenomena of Capillarity)”, Annalen der Physik 4 (3): 513, Bibcode:1901AnP…309..513E, doi:10.1002/andp.19013090306
  • Einstein, Albert (26 tháng 9 năm 2014), “Über einen die Erzeugung und Verwandlung des Lichtes betreffenden heuristischen Gesichtspunkt (On a Heuristic Viewpoint Concerning the Production and Transformation of Light)”, Annalen der Physik 17 (6): 132–148, Bibcode:1905AnP…322..132E, doi:10.1002/andp.19053220607 Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về hiệu ứng quang điện mà tạp chí Annalen der Physik nhận được 18 thảng 3.
  • Einstein, Albert (26 tháng 9 năm 2014), A new determination of molecular dimensions. Luận án tiến sĩ hoàn thành 30 tháng 4 và nộp 20 tháng 7.
  • Einstein, Albert (26 tháng 9 năm 2014), “On the Motion – Required by the Molecular Kinetic Theory of Heat – of Small Particles Suspended in a Stationary Liquid”, Annalen der Physik 17 (8): 549–560, Bibcode:1905AnP…322..549E, doi:10.1002/andp.19053220806. Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về chuyển động Brown gửi tới tạp chí ngày 11 tháng 5.
  • Einstein, Albert (26 tháng 9 năm 2014), “On the Electrodynamics of Moving Bodies”, Annalen der Physik 17 (10): 891–921, Bibcode:1905AnP…322..891E, doi:10.1002/andp.19053221004. Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về thuyết tương đối hẹp gửi tới tạp chí 30 tháng 6.
  • Einstein, Albert (26 tháng 9 năm 2014), “Does the Inertia of a Body Depend Upon Its Energy Content?”, Annalen der Physik 18 (13): 639–641, Bibcode:1905AnP…323..639E, doi:10.1002/andp.19053231314. Đây là bài báo của Năm kỳ diệu về công thức E = mc2 tạp chí nhận được vào ngày 27 tháng 9.
  • Einstein, Albert (1915), “Die Feldgleichungen der Gravitation (The Field Equations of Gravitation)”, Königlich Preussische Akademie der Wissenschaften: 844–847
  • Einstein, Albert (26 tháng 9 năm 2014), “Kosmologische Betrachtungen zur allgemeinen Relativitätstheorie (Cosmological Considerations in the General Theory of Relativity)”, Königlich Preussische Akademie der Wissenschaften
  • Einstein, Albert (26 tháng 9 năm 2014), “Zur Quantentheorie der Strahlung (On the Quantum Mechanics of Radiation)”, Physikalische Zeitschrift 18: 121–128, Bibcode:1917PhyZ…18..121E
  • Einstein, Albert (11 tháng 7 năm 1923), “Fundamental Ideas and Problems of the Theory of Relativity”, Nobel Lectures, Physics 1901–1921, Amsterdam: Elsevier Publishing Company, Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007, truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007
  • Einstein, Albert (1924), “Quantentheorie des einatomigen idealen Gases (Quantum theory of monatomic ideal gases)”, Sitzungsberichte der Preussichen Akademie der Wissenschaften Physikalisch-Mathematische Klasse: 261–267. Bài viết đầu tiên trong loạt bài về lĩnh vực này.
  • Einstein, Albert (1926), “Die Ursache der Mäanderbildung der Flussläufe und des sogenannten Baerschen Gesetzes”, Die Naturwissenschaften 14 (11): 223–224, Bibcode:1926NW…..14..223E, doi:10.1007/BF01510300. On Baer’s law and meanders in the courses of rivers.
  • Einstein, Albert; Podolsky, Boris; Rosen, Nathan (15 tháng 5 năm 1935), “Can Quantum-Mechanical Description of Physical Reality Be Considered Complete?”, Physical Review 47 (10): 777–780, Bibcode:1935PhRv…47..777E, doi:10.1103/PhysRev.47.777
  • Einstein, Albert (1940), “On Science and Religion”, Nature (Edinburgh: Scottish Academic) 146 (3706): 605, Bibcode:1940Natur.146..605E, doi:10.1038/146605a0, ISBN 0-7073-0453-9
  • Einstein, Albert et al. (4 tháng 12 năm 1948), “To the editors of The New York Times”, New York Times (Melville, NY: AIP, American Inst. of Physics), ISBN 0-7354-0359-7
  • Einstein, Albert (tháng 5 năm 1949), “Why Socialism?”, Monthly Review, Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2006, truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2006
  • Einstein, Albert (1950), “On the Generalized Theory of Gravitation”, Scientific American, CLXXXII (4): 13–17
  • Einstein, Albert (1954), Ideas and Opinions, New York: Random House, ISBN 0-517-00393-7
  • Einstein, Albert (1969), Albert Einstein, Hedwig und Max Born: Briefwechsel 1916–1955 (bằng tiếng Đức), Munich: Nymphenburger Verlagshandlung, ISBN 3-88682-005-X
  • Einstein, Albert (1979), Autobiographical Notes, Paul Arthur Schilpp , Chicago: Open Court, ISBN 0-87548-352-6. Thí nghiệm tưởng tượng đuổi theo tia sáng miêu tả trong trang 48–51.
  • Collected Papers: Stachel, John, Martin J. Klein, a. J. Kox, Michel Janssen, R. Schulmann, Diana Komos Buchwald and others (Eds.) (1987–2006), The Collected Papers of Albert Einstein, Vol. 1–10, Princeton University Press Further information about the volumes published so far can be found on the webpages of the Einstein Papers Project and on the Princeton University Press Einstein Page

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Sự phát triển trí thông minh của Albert được nuôi dạy chu đáo tại nhà. Mẹ cậu, một người tài năng về piano, dạy cho bọn trẻ niềm say mê âm nhạc. Bố cậu thường đọc to các tác phẩm của Schiller và Heine cho gia đình nghe. Bác Jakob đố Albert các câu đố toán học, mà cậu giải được với “niềm thích thú sâu đậm”. Đáng chú ý nhất là Max Talmud, một sinh viên y khoa Do thái nghèo từ Ba lan, “một người trong cộng đồng Do thái mà nhận được bữa ăn miễn phí từ gia đình Einstein.” Talmud đến vào các tối thứ Năm trong khoảng sáu năm, và ” giành các kiến thức của mình để kiểm tra những điều lôi cuốn Albert.” Talmud đã đọc cho Albert và thảo luận nhiều cuốn sách cùng với cậu. Bao gồm khoảng hai mươi cuốn sách phổ biến khoa học mà đã thuyết phục Albert rằng “rất nhiều câu chuyện trong Kinh thánh là không đúng”, và một quyển về hình học phẳng khiến Albert tự tìm tòi về toán học trong các năm đi học tiểu học. Talmud thậm chí còn đọc cho Albert các tác phẩm của Kant; và kết quả là Einstein đã kể cho các bạn cùng lớp về Kant một cách “đầy sinh động và thuyết phục”[19]

Chú thích

  1. ^ “Mohammad Raziuddin Siddiqui”. Ias.ac.in. 2 tháng 1 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  2. ^ Zahar, Élie (2001), Poincaré’s Philosophy. From Conventionalism to Phenomenology, Carus Publishing Company, Chapter 2, p.41, ISBN 0-8126-9435-X.
  3. ^ Whittaker, E. (1955). “Albert Einstein. 1879-1955”. Biographical Memoirs of Fellows of the Royal Society 1: 37–67. doi:10.1098/rsbm.1955.0005. JSTOR 769242. sửa
  4. ^ David Bodanis, E = mc2: A Biography of the World’s Most Famous Equation (New York: Walker, 2000).
  5. ^ “The Nobel Prize in Physics 1921”. Nobel Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2007.
  6. ^ a ă “Scientific Background on the Nobel Prize in Physics 2011. The accelerating universe.” (page 2) Nobelprize.org.
  7. ^ a ă Einstein 1924
  8. ^ a ă â b Pais, Abraham (1982): Subtle is the Lord: The science and the life of Albert Einstein. Oxford University Press, trang 440
  9. ^ Hans-Josef, Küpper (2000). “Various things about Albert Einstein”. einstein-website.de. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009.
  10. ^ a ă Paul Arthur Schilpp, editor (1951), Albert Einstein: Philosopher-Scientist, Volume II, New York: Harper and Brothers Publishers (Harper Torchbook edition), tr. 730–746His non-scientific works include: About Zionism: Speeches and Lectures by Professor Albert Einstein (1930), “Why War?” (1933, co-authored by Sigmund Freud), The World As I See It (1934), Out of My Later Years (1950), and a book on science for the general reader, The Evolution of Physics (1938, co-authored by Leopold Infeld).
  11. ^ Einstein 1979
  12. ^ a ă â b Albert Einstein – Biography, Quỹ Nobel, truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2007
  13. ^ John J. Stachel (2002), Einstein from “B” to “Z”, Springer, tr. 59–61, ISBN 978-0-8176-4143-6, truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011
  14. ^ a ă “The Legend of the Dull-Witted Child Who Grew Up to Be a Genius”. Albert Einstein archives. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012.
  15. ^ “Frequently asked questions”. einstein-website.de. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012.
  16. ^ “Left Handed Einstein”. Being Left Handed.com. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2012.
  17. ^ Schilpp (Ed.), P. A. (1979), Albert Einstein – Autobiographical Notes, Open Court Publishing Company, tr. 8–9
  18. ^ Dudley Herschbach, “Einstein hồi sinh viên,” Department of Chemistry and Chemical Biology, Harvard University, Cambridge, MA, USA, page 3, web: HarvardChem-Einstein-PDF: Max Talmud thăm vào các ngày thứ Năm trong vòng sáu năm.
  19. ^ Einstein & Faith. Walter Isaacson Thursday, Apr. 05, 2007. Những điều khơi dậy trí thông minh của Einstein đến từ một sinh viên nghèo người cùng ăn tối với gia đình Albert một lần trong tuần. Đó là một phong tục cũ của người Do thái cần phải mời một học giả tôn giáo (religious scholar) đến dự bữa ăn Sabbath; thay vào đó gia đình Einstein đã mời một sinh viên y đến vào thứ Năm hàng tuần. Tên của anh ta là Max Talmud, ông đến gia đình Einstein khi ông 21 tuổi và Albert mới 10 tuổi [https://www.chem.purdue.edu/courses/chm374/Articles%20etc/Herschbach_Einstein_2005.pdf Einstein as a Student, pp. 3–5.
  20. ^ A. Fölsing, Albert Einstein, 1997, pp. 30-31.
  21. ^ Albert Einstein Collected Papers, vol. 1 (1987), doc. 5.
  22. ^ Mehra, Jagdish (2001), “Albert Einstein’s first paper”, The Golden Age of Physics, World Scientific, ISBN 981-02-4985-3
  23. ^ A. Fölsing, Albert Einstein, 1997, pp. 36-37.
  24. ^ Highfield & Carter (1993, tr. 21,31,56–57)
  25. ^ A. Fölsing, Albert Einstein, 1997, p. 40.
  26. ^ Fölsing 1997, p. 82.
  27. ^ Collected Papers, vol. 1, docs. 21-27.
  28. ^ Albert Einstein Collected Papers, vol. 1, 1987, doc. 67.
  29. ^ Troemel-Ploetz, D., “Mileva Einstein-Marić: The Woman Who Did Einstein’s Mathematics”, Women’s Studies Int. Forum, vol. 13, no. 5, pp. 415–432, 1990.
  30. ^ Walker, Evan Harris (tháng 2 năm 1989), Did Einstein Espouse his Spouse’s Ideas? (PDF), Physics Today, doi:10.1063/1.2810898, truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2012.
  31. ^ Pais, A., Einstein Lived Here, Oxford University Press, 1994, pp. 1–29.
  32. ^ Holton, G., Einstein, History, and Other Passions, Harvard University Press, 1996, pp. 177–193.
  33. ^ Stachel, J., Einstein from B to Z, Birkhäuser, 2002, pp. 26–38; 39–55. philoscience.unibe.ch
  34. ^ Martinez, A. A., “Handling evidence in history: the case of Einstein’s Wife.” School Science Review, 86 (316), March 2005, pp. 49–56. PDF
  35. ^ This conclusion is from Einstein’s correspondence with Marić. Lieserl is first mentioned in a letter from Einstein to Marić (who was staying with her family in or near Novi Sad at the time of Lieserl’s birth) dated 4 February 1902 (Collected papers Vol. 1, document 134).
  36. ^ Short life history: Lieserl Einstein-Maric
  37. ^ Highfield & Carter 1993, tr. 193
  38. ^ Highfield & Carter 1993, tr. 216
  39. ^ Bây giờ là Viện sở hữu trí tuệ liên bang Thụy Sĩ – The Swiss Federal Institute of Intellectual Property, truy cập 16 tháng 10 năm 2006. Xem thêm FAQ about Einstein and the Institute
  40. ^ Peter Galison, “Einstein’s Clocks: The Question of Time” Critical Inquiry 26, no. 2 (Winter 2000): 355–389.
  41. ^ Gallison, Question of Time.
  42. ^ Galison, Peter (2003), Einstein’s Clocks, Poincaré’s Maps: Empires of Time, New York: W.W. Norton, ISBN 0-393-02001-0
  43. ^ a ă Einstein 1905b
  44. ^ “Eine Neue Bestimmung der Moleküldimensionen”. ETH Zürich. 1905. Truy cập 26/9/2011. doi:10.1002/andp.19063240204
  45. ^ “Universität Zürich: Geschichte”. Uzh.ch. 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011.
  46. ^ Kant, Horst. “Albert Einstein and the Kaiser Wilhelm Institute for Physics in Berlin”. in Renn, Jürgen. “Albert Einstein – Chief Engineer of the Universe: One Hundred Authors for Einstein.” Ed. Renn, Jürgen. Wiley-VCH. 2005. pp. 166–169. ISBN 3-527-40574-7
  47. ^ Calaprice, Alice; Lipscombe, Trevor (2005), Albert Einstein: a biography, Greenwood Publishing Group, tr. xix, ISBN 0-313-33080-8, Timeline, p. xix
  48. ^ a ă Heilbron, 2000, p. 84.
  49. ^ a ă Andrzej, Stasiak (2003), “Myths in science”, EMBO Reports 4 (3): 236, doi:10.1038/sj.embor.embor779, truy cập 22 tháng 1, 2013
  50. ^ Kennefick, Daniel (tháng 3 năm 2009). “Testing relativity from the 1919 eclipse— a question of bias”. Physics Today (College Park, MD: American Institute of Physics): 37–42. ISSN 0031-9228.
  51. ^ Hoffman and Dukas (1972), pp. 145–148; Fölsing (1997), pp. 499–508.
  52. ^ a ă â b c Isaacson, Walter. Einstein: His Life and Universe, Simon & Schuster (2007)
  53. ^ a ă â b c d Isaacson, Walter. Einstein: His Life and Universe, Simon & Schuster (2007) pp. 407–410
  54. ^ Fölsing (1997), p. 659.
  55. ^ Isaacson (2007), p. 404.
  56. ^ Hoffman, B. (1972), pp. 165–171
  57. ^ Fölsing, A. (1997), pp. 666–677.
  58. ^ Clark (1971), p. 619.
  59. ^ Fölsing (1997), pp. 649, 678.
  60. ^ Clark (1971), p.642.
  61. ^ Fölsing (1997), pp. 686-687.
  62. ^ “In Brief”. Institute for Advanced Study. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010.
  63. ^ Evans-Pritchard, Ambrose (29 tháng 8 năm 2010). “Obama could kill fossil fuels overnight with a nuclear dash for thorium”. The Daily Telegraph (London).
  64. ^ Gosling, F.G. The Manhattan Project: Making the Atomic Bomb, U.S. Department of Energy, History Division (January 1999) p. vii
  65. ^ Diehl, Sarah J.; Moltz, James Clay. Nuclear Weapons and Nonproliferation: a Reference Handbook, ABC-CLIO (2008) p. 218
  66. ^ a ă Stern, Fritz. Essay, “Einstein’s Germany”, E = Einstein: His Life, His Thought, and His Influence on Our Culture, Sterling Publishing (2006) pp. 97–118
  67. ^ Einstein: The Life and Times by Ronald Clark. page 752
  68. ^ Fred Jerome, Rodger Taylor (2006) Einstein on Race and Racism Rutgers University Press, 2006.
  69. ^ Calaprice, Alice (2005) The new quotable Einstein. pp.148–149 Princeton University Press, 2005. See also Odyssey in Climate Modeling, Global Warming, and Advising Five Presidents
  70. ^ “North America: early 20th Century Albert Einstein (1879-1955)”. International Vegetarian
  71. ^ Jon Wynne-Tyson (1985), The Extended Circle
  72. ^ a ă “ISRAEL: Einstein Declines”. Time magazine. 1 tháng 12 năm 1952. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010.
  73. ^ Vì sao bác học Einstein không muốn trở thành Tổng thống Israel? Văn Hòa, An ninh thế giới, 7:10, 27/08/2005 (theo Historia)
  74. ^ “Einstein in Princeton / Scientist, Humanitarian, Cultural Icon”. Historical Society of Princeton. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010.
  75. ^ The Case of the Scientist with a Pulsating Mass, 14 tháng 6 năm 2002, truy cập 11 tháng 6 năm 2007
  76. ^ Albert Einstein Archives (tháng 4 năm 1955), Draft of projected Telecast Israel Independence Day, tháng 4 năm 1955 (last statement ever written), Einstein Archives Online: Albert_Einstein, truy cập 21/3/2012 Bản lưu 7/6/2003
  77. ^ Cohen, J.R.; Graver, L.M. (November năm 1995). “The ruptured abdominal aortic aneurysm of Albert Einstein”. Surgery, Gynecology & Obstetrics 170 (5): 455–8. ISSN 0039-6087. PMID 2183375.
  78. ^ O’Connor, J.J.; Robertson, E.F. (1997), “Albert Einstein”, The MacTutor History of Mathematics archive, School of Mathematics and Statistics, University of St. Andrews, truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2007
  79. ^ Dr. Albert Einstein Dies in Sleep at 76. World Mourns Loss of Great Scientist., New York Times, 19 tháng 4 năm 1955, “Princeton, New Jersey, 18 tháng 4 năm 1955. Dr. Albert Einstein, one of the great thinkers of the ages, died in his sleep here early today.”
  80. ^ The Long, Strange Journey of Einstein’s Brain, truy cập 3 tháng 10 năm 2007
  81. ^ Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. xi, ISBN 019853907X
  82. ^ a ă Einstein archive at the Instituut-Lorentz.” Instituut-Lorentz. 2005. Truy cập 21 tháng 11 năm 2005.
  83. ^ a ă â Hans-Josef Kuepper. “List of Scientific Publications of Albert Einstein”. Einstein-website.de. Truy cập 3 April 2013 tiếng Đức.
  84. ^ Điều này trở thành có thể đến khi phát triển các thiết bị dò hạt anpha ở đầu thế kỷ 20. Rutherford mời Mach xem màn hình nhấp nháy trong phòng tối, nơi mà bản thân các hạt anpha va đập vào và được nhìn trực tiếp trên man tối.
  85. ^ có thể xem tại đây
  86. ^ Điện tích của 1 mol electron đã được đo theo hằng số Faraday. Chia cho điện tích của 1 electron ta được số Avogadro.
  87. ^ Major, Fouad G. (2007). The quantum beat: principles and applications of atomic clocks (ấn bản 2). Springer. tr. 142. ISBN 0-387-69533-8.
  88. ^ Einstein 1905d
  89. ^ Hawking, S. W. (2001), Vũ trụ trong vỏ hạt dẻ, Bantam Books, ISBN 0-55-380202-X
  90. ^ Schwartz, J.; McGuinness, M. (1979), Einstein cho người mới bắt đầu, Pantheon Books, ISBN 0-39-450588-3
  91. ^ Einstein 1905e
  92. ^ Thảo luận về sự chấp nhận thuyết tương đối trên toàn thế giới, cũng như những phản đối, xem bài viết của Thomas F.Glick, ed., The Comparative Reception of Relativity (Kluwer Academic Publishers, 1987), ISBN 90-277-2498-9.
  93. ^ Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. 382–386, ISBN 019853907X
  94. ^ Einstein, Albert (1905), “Über einen die Erzeugung und Verwandlung des Lichtes betreffenden heuristischen Gesichtspunkt”, Annalen der Physik 17: 132–148, truy cập 27 tháng 6 năm 2009
  95. ^ a ă â Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. Ch 6, ISBN 019853907X
  96. ^ Einstein 1905a.
  97. ^ Pais, Abraham (1982), Subtle is the Lord. The Science and the Life of Albert Einstein, Oxford University Press, tr. 522, ISBN 019853907X
  98. ^ O’Connor, John J.; Robertson, Edmund F., “Albert Einstein”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor
  99. ^ Levenson, Thomas. “Einstein: Genius Among Geniuses.” Public Broadcasting Service. 2005. Truy cập 25 tháng 2 năm 2006. bản lưu 02/02/1999
  100. ^ Einstein, A., “Relativitätsprinzip und die aus demselben gezogenen Folgerungen (On the Relativity Principle and the Conclusions Drawn from It)”, Jahrbuch der Radioaktivität (Yearbook of Radioactivity) 4: 411–462 page 454 (Wir betrachen zwei Bewegung systeme…)
  101. ^ Einstein, Albert (1911), “On the Influence of Gravity on the Propagation of Light”, Annalen der Physik 35: 898–908, doi:10.1002/andp.19113401005 (also in Collected Papers Vol. 3, document 23)
  102. ^ a ă Crelinsten, Jeffrey. “Einstein’s Jury: The Race to Test Relativity.” Princeton University Press. 2006. Truy cập 13 tháng 3 năm 2007. ISBN 978-0-691-12310-3
  103. ^ a ă Einstein 1915
  104. ^ Two friends in Leiden, truy cập 11 tháng 6 năm 2007
  105. ^ Crelinsten, Jeffrey (2006), Einstein’s Jury: The Race to Test Relativity, Princeton University Press, tr. 103–108, ISBN 978-0-691-12310-3, truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007
  106. ^ Crelinsten, Jeffrey (2006), Einstein’s Jury: The Race to Test Relativity, Princeton University Press, tr. 114–119, ISBN 978-0-691-12310-3, truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007
  107. ^ Andrzej, Stasiak (2003), “Myths in science”, EMBO reports 4 (3): 236, doi:10.1038/sj.embor.embor779, truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2007
  108. ^ The genius of space and time, The Guardian, 17 tháng 9 năm 2005, truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2007
  109. ^ Jürgen Schmidhuber. “Albert Einstein (1879–1955) and the ’Greatest Scientific Discovery Ever’.” 2006. Truy cập 4 tháng 10 năm 2006.
  110. ^ See the table in MathPages Bending Light
  111. ^ Hentschel, Klaus and Ann M. (1996), Physics and National Socialism: An Anthology of Primary Sources, Birkhaeuser Verlag, xxi, ISBN 3-76-435312-0
  112. ^ For a discussion of nhà thiên văn họcs’ attitudes and debates about relativity, see Crelinsten, Jeffrey (2006), Einstein’s Jury: The Race to Test Relativity, Princeton University Press, ISBN 0691123101, especially chapters 6, 9, 10 and 11.
  113. ^ Einstein 1917a
  114. ^ Kant, Horst. “Albert Einstein and the Kaiser Wilhelm Institute for Physics in Berlin.” in Renn, Jürgen. “Albert Einstein – Chief Engineer of the Universe: One Hundred Authors for Einstein.” Ed. Renn, Jürgen. Wiley-VCH. 2005. pp. 166–169. ISBN = 3527405747
  115. ^ Einstein 1917b
  116. ^ Cornell and Wieman Share 2001 Nobel Prize in Physics, 9 tháng 10 năm 2001, truy cập 11 tháng 6 năm 2007 bản lưu 24/11/2001
  117. ^ Albert Einstein, Das hamiltonisches Prinzip und allgemeine Relativitätstheorie (The Hamiltonian principle and general relativity). Sitzungsber. preuss. Acad. Wiss. 1916, 2, 1111–1116.
  118. ^ Albert Einstein, Der Energiesatz in der allgemeinen Relativitätstheorie. (An energy conservation law in general relativity). Sitzungsber. preuss. Acad. Wiss. 1918, 1, 448–459
  119. ^ Lev Davidovich Landau & Evgeny Mikhailovich Lifshitz, The Classical Theory of Fields, (1951), Pergamon Press, ISBN 7-5062-4256-7 ch 11, ph #96
  120. ^ Einstein 1950
  121. ^ Einstein, Albert and Rosen, Nathan (1935). “The Particle Problem in the General Theory of Relativity”. Physical Review 48: 73. Bibcode:1935PhRv…48…73E. doi:10.1103/PhysRev.48.73.
  122. ^ Élie Cartan. “Sur une généralisation de la notion de courbure de Riemann et les espaces à torsion.” C. R. Acad. Sci. (Paris), 174:593–595, 1922.
  123. ^ Élie Cartan. “Sur les variétés à connexion affine et la théorie de la relativité généralisée.” Part I: Ann. Éc. Norm. 40: 325–412 and ibid. 41: 1–25; Part II: ibid. 42: 17–88
  124. ^ Hubert F. M. Goenner. “On the History of Unified Field Theories.” Living Rev. Relativity, 7, (2004), 2.
  125. ^ Bohr N. “Discussions with Einstein on Epistemological Problems in Atomic Physics“. The Value of Knowledge: A Miniature Library of Philosophy. Marxists Internet Archive. Lấy từ bản gốc ngày 13 tháng 9, 2010. Truy cập 30 tháng 8, 2010. Lấy từ Albert Einstein: Philosopher-Scientist (1949), xuất bản bởi Ấn hành Đại học Cambridge University, 1949. Ghi chép lại của Niels Bohr về cuộc hội thoại với Einstein.
  126. ^ Einstein 1969. A reprint of this book was published by Edition Erbrich in 1982, ISBN 3-88682-005-X
  127. ^ Einstein 1935
  128. ^ A. Einstein, W. J. de Haas, Experimenteller Nachweis der Ampereschen Molekularströme, Deutsche Physikalische Gesellschaft, Verhandlungen 17, pp. 152–170 (1915).
  129. ^ A Pais. Subtle is the Lord: The science and the life of Albert Einstein. Oxford University Press, trang 245
  130. ^ Moore, Walter (1989), Schrödinger: Life and Thought, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0-521-43767-9
  131. ^ a ă â Botstein, Leon; Galison, Peter; Holton, Gerald James; Schweber, Silvan S. Einstein for the 21st century: His Legacy in Science, Art, and Modern Culture, Princeton Univ. Press (2008) pp. 161-164
  132. ^ Cariaga, Daniel, “Not Taking It with You: A Tale of Two Estates,” Los Angeles Times, 22 December 1985. Retrieved April 2012.
  133. ^ Auction listing by RR Auction, auction closed 13 October 2010.
  134. ^ Einstein and his love of music Physics world – January 2005
  135. ^ I am convinced there is only one way to eliminate (the) grave evils (of capitalism), namely through the establishment of a socialist economy, accompanied by an educational system which would be oriented toward social goals. In such an economy, the means of production are owned by society itself and are utilized in a planned fashion. A planned economy, which adjusts production to the needs of the community, would distribute the work to be done among all those able to work and would guarantee a livelihood to every man, woman, and child. The education of the individual, in addition to promoting his own innate abilities, would attempt to develop in him a sense of responsibility for his fellow-men in place of the glorification of power and success in our present society.” trong Why Socialism? bởi Albert Einstein, Monthly Review, tháng 5 1949
  136. ^ David E. Rowe and Robert Schulmann (08). “What Were Einstein’s Politics?”. Trong David A., Walsh. George Mason University’s History News Network (George Mason University). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  137. ^ “Einstein and Complex Analyses of Zionism” Jewish Daily Forward, 24 tháng 7 năm 2009
  138. ^ “Albert Einstein on Zionism”, Edward Corrigan
  139. ^ Pulzer, Peter G.J. (2003), Jews and the German state: the political history of a minority, 1848–1933, Blackwell Publishers, ISBN 9780814331309, truy cập 21 tháng 10 năm 2009
  140. ^ Leonhard, Elke (1993), Von postrevolutionärer Scheinblüte zum politischen Bankrott; Weimars liberale Parteien DDP und DVP (bằng tiếng Đức), Sozialdemokratischer Pressedienst, truy cập 21 tháng 10 năm 2009
  141. ^ Holborn, Hajo (1971), Deutsche Geschichte in der Neuzeit, III (bằng tiếng Đức), R. oldenbourg, ISBN 9783486432510, truy cập 21 tháng 10 năm 2009
  142. ^ Calaprice, Alice (2005), The new quotable Einstein, Princeton University Press, tr. 173, ISBN 0-691-12075-7 Other versions of the quote exist.
  143. ^ Butcher, Sandra Ionno (May năm 2005), The Origins of the Russell–Einstein Manifesto (PDF), Council of the Pugwash Conferences on Science and World Affairs, truy cập 2 tháng 5, 2007
  144. ^ Ken Gewertz (12 tháng 4, 2007), Albert Einstein, Civil Rights activist, Harvard University Gazette, truy cập 11 tháng 6, 2007
  145. ^ Hawking, Stephen W. (2001), The universe in short, Bantam Books, tr. 26, ISBN 9780553802023
  146. ^ Feldman, Burton (2001), The Nobel prize: a history of genius, controversy, and prestige, Arcade Publishing, tr. 141, ISBN 1-559-70592-2, Trang 141
  147. ^ Brian, Dennis (1996), Einstein: A Life, New York: John Wiley & Sons, tr. 127, ISBN 0471114596
  148. ^ “Belief in God a ‘product of human weaknesses’: Einstein letter”, CBC News. Truy cập 16 tháng 12 năm 2009.
  149. ^ “Letters of Note: The word God is a product of human weakness”, Letters of Note. Truy cập 16 tháng 12 năm 2009.
  150. ^ From Wikiquote; letter to an atheist (1954) as quoted in Albert Einstein: The Human Side (1981) edited by Helen Dukas and Banesh Hoffman ISBN 0-691-02368-9
  151. ^ a ă Einstein, Albert (1930). “Religion and Science” New York Times Magazine (9 tháng 11): 1-4.
  152. ^ The Nobel Prize in Physics 1921: Albert Einstein
  153. ^ “Matteucci” Medal
  154. ^ Copley Medal 1925
  155. ^ Preisträger Max Planck nach Jahren: Max-Planck-Medaille
  156. ^ Albert Einstein – The Franklin Institute Awards – Laureate Database
  157. ^ Letter from the Albert Einstein Peace Prize Foundation to Joshua Lederberg, Norman Cousins, 14/12/1979
  158. ^ NAMES & FACES” in Boston Globe March 14, 1980. Retrieved June 6, 2006.
  159. ^ Planetary Names: Crater, craters: Einstein on Moon IAU

Tham khảo

  • Brian, Denis (1996). Einstein: A Life. New York: John Wiley.
  • Clark, Ronald (1971). Einstein: The Life and Times. New York: Avon Books.
  • Fölsing, Albrecht (1997): Albert Einstein: A Biography. New York: Penguin Viking. (Translated and abridged from the German by Ewald Osers.) ISBN 978-0670855452
  • Highfield, Roger; Carter, Paul (1993). The Private Lives of Albert Einstein. London: Faber and Faber. ISBN 978-0-571-16744-9.
  • Hoffmann, Banesh, with the collaboration of Helen Dukas (1972): Albert Einstein: Creator and Rebel. London: Hart-Davis, MacGibbon Ltd. ISBN 978-0670111817
  • Isaacson, Walter (2007): Einstein: His Life and Universe. Simon & Schuster Paperbacks, New York. ISBN 978-0-7432-6473-0
  • Moring, Gary (2004): The complete idiot’s guide to understanding Einstein (1st ed. 2000). Indianapolis IN: Alpha books (Macmillan USA). ISBN 0-02-863180-3
  • Pais, Abraham (1982): Subtle is the Lord: The science and the life of Albert Einstein. Oxford University Press. ISBN 978-0198539070. The definitive biography to date.
  • Pais, Abraham (1994): Einstein Lived Here. Oxford University Press. ISBN 0-192-80672-6
  • Parker, Barry (2000): Einstein’s Brainchild: Relativity Made Relatively Easy!. Prometheus Books. Illustrated by Lori Scoffield-Beer. A review of Einstein’s career and accomplishments, written for the lay public. ISBN 978-1591025221
  • Schweber, Sylvan S. (2008): Einstein and Oppenheimer: The Meaning of Genius. Harvard University Press. ISBN 978-0-674-02828-9.
  • Oppenheimer, J.R. (1971): “On Albert Einstein,” p. 8–12 in Science and synthesis: an international colloquium organized by Unesco on the tenth anniversary of the death of Albert Einstein and Teilhard de Chardin, Springer-Verlag, 1971, 208 pp. (Lecture delivered at the UNESCO House in Paris on 13 December 1965.) Also published in The New York Review of Books, 17 March 1966, On Albert Einstein by Robert Oppenheimer

Liên kết ngoài

(tiếng Anh)


Sự tương đương khối lượng-năng lượng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Tác phẩm điêu khắc cao 3 mét về công thức nổi tiếng của Einstein E = mc2 tìm ra năm 1905 ở Walk of Ideas, Berlin, Germany năm 2006.

Trong vật lý học, sự tương đương khối lượng-năng lượng là khái niệm nói về khối lượng của vật thể được đo bằng lượng năng lượng của nó. Năng lượng nội tại toàn phần E của vật thể ở trạng thái nghỉ bằng tích khối lượng nghỉ của nó m với một hệ số bảo toàn phù hợp để biến đổi khối lượng đơn vị thành năng lượng đơn vị. Nếu vật thể không đứng im tương đối với quan sát viên thì lúc đó ta phải tính đến hiệu ứng tương đối tính ở đó m được tính theo khối lượng tương đối tínhE trở thành năng lượng tương đối tính của vật thể. Albert Einstein đề xuất công thức tương đương khối lượng-năng lượng vào năm 1905 trong những bài báo của Năm Kì diệu với tiêu đề Quán tính của một vật có phụ thuộc vào năng lượng trong nó? (“Does the inertia of a body depend upon its energy-content?”)[1] Sự tương đương được miêu tả bởi phương trình nổi tiếng

E = mc^2 \,\!

Với E là năng lượng, m là khối lượng, và ctốc độ ánh sáng trong chân không. Ở hai vế của công thức có thứ nguyên bằng nhau và không phụ thuộc vào bất kì đơn vị của hệ thống đo lường. Ví dụ, trong nhiều hệ đơn vị tự nhiên, tốc độ của ánh sáng (vô hướng) được đặt bằng 1 (‘khoảng cách’/’thời gian’), và công thức trở thành đồng nhất thức E = m'(‘khoảng cách’^2/’thời gian’^2)’; và từ đây có thuật ngữ “sự tương đương khối lượng-năng lượng”.[2]
Phương trình E = mc2 cho thấy năng lượng luôn luôn thể hiện được bằng khối lượng cho dù năng lượng đó ở dưới dạng nào đi chăng nữa.[3] sự tương đương khối lượng-năng lượng cũng cho thấy cần phải phát biểu lại định luật bảo toàn khối lượng, hay hoàn chỉnh hơn đó là định luật bảo toàn năng lượng, nó là định luật thứ nhất của nhiệt động lực học. Các lý thuyết hiện nay cho thấy khối lượng hay năng lượng không bị phá hủy, chúng chỉ biến đổi từ dạng này sang dạng khác.

Tham Khảo

  1. ^ Einstein, A. (1905), “Ist die Trägheit eines Körpers von seinem Energieinhalt abhängig?”, Annalen der Physik 18: 639–643, doi:10.1002/andp.19053231314. Xem thêm bản dịch tiếng Anh.
  2. ^ Flores, F., trong E. N. Zalta, The Equivalence of Mass and Energy, Stanford Encyclopedia of Philosophy, truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2010
  3. ^ Paul Allen Tipler, Ralph A. Llewellyn (tháng 1 năm 2003), Modern Physics, W. H. Freeman and Company, tr. 87–88, ISBN 0-7167-4345-0

Liên kết ngoài


Dòng Tên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Dòng Tên (Dòng Chúa Giêsu)
Gọi tắt S.J.
Khẩu hiệu Ad maiorem Dei gloriam – Để Vinh Danh Thiên Chúa Hơn
Thành lập 27 tháng 9 năm 1540 (473 năm trước)
Loại hình Dòng Tu Công Giáo
Trụ sở chính Nhà Thờ Giê-su (Nhà Thờ Mẹ), General Curia (Nhà Bề Trên Cả)
Tọa độ Rome, Italy
Bề Trên Cả Adolfo Nicolás
Nhân vật chủ chốt Thánh I-nhã—đấng sáng lập
Jorge Mario Bergoglio (ĐTC Phanxicô) – Giáo Hoàng thứ 266
Cơ quan chính General Curia
Trang web dongten.net

Ấn tín của Dòng Tên. “IHS” là 3 chữ đầu của “IHΣOYΣ”, “Giêsu” trong tiếng Hy Lạp. Về sau được giải thích như “Iesus Hominum Salvator” (“Giêsu đấng Cứu chuộc nhân loại”) hoặc “Iesum Habemus Socium” (“Chúng ta có Giêsu là Bạn hữu”)

Dòng Tên (còn gọi là Dòng Chúa Giêsu; tiếng La Tinh: Societas Iesu= Hội dòng Giêsu, viết tắt là S.J.) là một dòng tu lớn của Công Giáo. Được thành lập bởi Inhaxiô thành Loyola, người Tây Ban Nha gốc Basque, và các cộng sự viên vào năm 1535 tại Paris. Dòng được Giáo hoàng Phaolô III phê chuẩn năm 1539. Dòng mau chóng phát triển mạnh trong các công việc truyền giáogiáo dục đến châu Á, châu Phichâu Mỹ. Hiện nay dòng có mặt ở hơn 100 quốc gia trên thế giới, với 19.200 tu sĩ (năm 2007). Bề trên tổng quyền của Dòng hiện nay là linh mục Adolfo Nicolás.
Nguyên tên bằng tiếng La Tinh Societas Iesu nghĩa là Đoàn Giêsu, người Việt Công giáo gọi là Dòng Tên, là do thói quen kiêng gọi tên Chúa Giêsu.

Lịch sử

Sau thời gian tuổi trẻ đầy tham vọng và với binh nghiệp sáng chói, Inhaxiô (tên gốc: Ignacio López), một quý tộc xứ Loyola (Tây Ban Nha), đã đi tìm các trải nghiệm về tôn giáo Thiên chúa. Sau nhiều cuộc mò mẫm tìm tòi, ông tuyên bố đã tìm thấy tiếng gọi thiêng liêng cứu các linh hồn (chính lời của ông) và phụng sự chúa Kitô. Ông bắt đầu học thần học tại Đại học Paris rồi dần dần tập hợp quanh mình các bạn hữu trong Chúa, sẵn sàng làm việc để vinh danh Chúa (khẩu hiệu tiếng latin Ad maiorem Dei gloriam trong Giáo hội Công giáo).

Thánh Inhaxiô thành Loyola, người thành lập dòng Tên

Ngày 15 tháng 8 năm 1534, Inhaxiô cùng 6 bạn sinh viên khác trong đó có François XavierPierre Favre (người được thụ phong linh mục đầu tiên của Dòng Tên) họp lại ở Montmartre và quyết định hiến thân cho Chúa, lập ra Đoàn Giêsu, khấn hứa giữ khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục (bề trên). Inhaxiô đã gợi ý cho các bạn tên Đoàn Giêsu để nhắc nhở các tu sĩ dấn thân triệt để làm chiến sĩ phục vụ Chúa. Tên Societas Iesu được ghi trong Sắc chỉ Giáo hoàng công nhận Dòng năm 1539.
Từ Tu sĩ dòng Tên (Jésuite) hay “Giêsu hữu” xuất hiện sau năm 1545, khi đó người theo Tin Lành gán cho với nghĩa xấu là “Người đạo đức giả”[1].
Năm 1537, Inhaxiô cùng các bạn sang Ý để xin Giáo hoàng Phaolô III công nhận Dòng và đã được Giáo hoàng công nhận trong sắc chỉ Regimini militantis ecclesiae năm 1539. Ngày 21 tháng 7 năm 1550, Giáo hoàng Julius III tái công nhận Dòng trong sắc chỉ “Exposcit debitum”.
Sau khi Cải cách Kháng Cách thành công, Giáo hội Công giáo cũng thấy cần phải có một cuộc cải cách, do đó Giáo hoàng Phaolô III đã triệu tập Công đồng Tridentinô (ở Trento, Ý từ 1545-1563), trong đó các tu sĩ dòng Tên đã góp phần quan trọng trong phong trào chống Cải cách.
Ban đầu, dòng Tên hoạt động chủ yếu trong lãnh vực truyền giáo, nhưng từ năm 1547, dòng đã quay sang tập trung vào lãnh vực giáo dục cho tới cuối thế kỷ 16. Năm 1551, Dòng đã mở 1 trường trung học ở Rôma, trong khi các tu sĩ của Dòng đã có mặt ở Congo, Brasil, Angola và cả Đế quốc Ottoman với trường trung học thánh Benoît lập năm 1583.
Khi Inhaxiô qua đời năm 1556), Dòng đã có trên 1.000 tu sĩ và 60 năm sau, Dòng có trên 13.000 tu sĩ trên toàn châu Âu. Inhaxiô được Giáo hoàng Paul V tôn phong Chân phước năm 1609 và được Giáo hoàng Gregory XV phong Thánh năm 1622.

Phát triển

Các tu sĩ dòng Tên ở Trung Quốc.

François Xavier tới Goa (Ấn Độ) năm 1542Nhật Bản ngày 27 tháng 7 năm 1549. Một lãnh chúa samuraiMitsuhide Akechi cho ông ta truyền giáo ở Nagasaki từ năm 1580. Nhưng lúc đó Nhật Bản đang trong thời kỳ bất ổn chính trị. Chỉ 2 năm sau, năm 1582, Mitsuhide bị giết và người giết Mitsuhide là Hideyoshi Toyotomi đã trục xuất François Xavier khỏi Nhật Bản vào năm 1587.
Năm 1582, phái bộ truyền giáo Dòng Tên tới Trung Quốc. Linh mục Matteo Ricci được các quan lại công nhận ngang hàng với họ. Matteo là người đầu tiên nghiên cứu Hán học. Alexandre de Rhodes tới truyền giáo tại Việt Nam và đã góp công lớn trong việc hình thành chữ Quốc ngữ (theo mẫu tự latin). Hai nhà truyền giáo Dòng Tên Johann GrüberAlbert Dorville tới Lhassa (Tây Tạng) năm 1661.
Tại châu Mỹ, các tu sĩ dòng Tên tới Québec (Canada) năm 1625. Các tu sĩ dòng Tên cũng đã tham gia các phái bộ truyền giáo Tây ban nha tại California (1769-1823). Tại Nam Mỹ, nhất là ở BrasilParaguay phái bộ truyền giáo dòng Tên gây ra sự bài xích thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và chống đối việc nô lệ hóa dân bản xứ. Các tu sĩ dòng Tên lập ra các khu tập trung người bản xứ để truyền giáo và dạy chữ cho họ từ năm 1609. Cũng chính các tu sĩ này đã lập ra nhiều thành phố ở đây, như thành phố São Paulo năm 1554.

Tu sĩ dòng Tên ở Brasil thế kỷ 18

Năm 15501551, các hội nghị ở Valladolid công nhận nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người. Văn hóa của người da đỏ bản xứ được công nhận. Mặc dù vậy, một số thực dân vẫn tiếp tục lạm dụng người da đỏ và đối xử với họ như nô lệ. Các tu sĩ dòng Tên đã học ngôn ngữ và phong tục tập quán của người bản xứ và lập ra các tổ chức xã hội để giúp đỡ các người bản xứ.
Ngay khi tới Peru, năm 1566, các tu sĩ dòng Tên cũng đã lập các khu tập trung truyền giáo và dạy chữ cho các người da đỏ Mojos (hoặc Moxos), ChiquitosGuarani. Tuy nhiên, do sự căng thẳng giữa dòng Tên với các viên chức thuộc địa và sự chống đối của Tây ban nha và Bồ Đào Nha, các khu này đã dần dần biến mất. Các tu sĩ dòng Tên đã buộc phải dời bỏ các khu truyền giáo ở Nam Mỹ năm 1767, các khu này bị phá, ngoại trừ khu của người Chiquitos và Mojos.
Trên thế giới, dòng Tên tranh đấu chống ảnh hưởng của Tin Lành. Dòng Tên đã phải đối mặt với các cuộc bách hại dữ dội vì lập trường thần học của mình và việc ủng hộ Giáo hoàng vô điều kiện. Dòng đã bị giải tán trên lãnh thổ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1767.

Tại Pháp

Vào năm 1580, các tu sĩ dòng Tên thiết lập Maison ProfesseParis, trong khu Marais, để tiếp đón các nhà thần học và khoa học. Đồng thời họ cũng quyết định lập 1 nguyện đường lớn cạnh Maison Professe (nay là nhà thờ Saint-Paul Saint-Louis). Tháng 5/1641, Hồng y de Richelieu đã dâng thánh lễ misa đầu tiên tại nhà thờ này. Giới quí tộc thường tới đây dâng lễ và nghe giảng. Bà de Sévigné cũng tới dây dâng lễ, nghe linh mục Louis Bourdaloue (1 người thuyết giảng nổi tiếng) giảng thuyết. Người ta cũng tới đây nghe nhạc của những nhạc sĩ Pháp tên tuổi đương thời như Marc-Antoine CharpentierJean-Philippe Rameau.
Người ta nghi ngờ các tu sĩ Dòng Tên đã dính líu đến vụ ám sát vua Henri IV – ông vua đã chấm dứt tình cảnh chiến tranh tôn giáo Pháp vào thế kỷ thứ 16.[2] Trong các năm 16561657, theo yêu cầu của phái jansénisme, Blaise Pascal đã công kích Dòng Tên trong tập Les Provinciales (gồm 18 thư) về vấn đề thần học trong các tình huống khó khăn (casuistique).

Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử, tác phẩm của linh mục Prospero Intorcetta, 1687.

Tại Việt Nam

Các giáo sĩ dòng Tên đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1625 tại Hội An. Giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) và các bạn đã đóng góp đáng kể cho việc hình thành chữ quốc ngữ. Từ năm 1957 đến 1975, các giáo sĩ dòng Tên điều hành Giáo hoàng Học viện Pio X Đà Lạt, góp phần đào tạo các linh mục Việt Nam.
Tại Sài Gòn, các giáo sĩ dòng Tên điều hành trung tâm Đắc Lộ. Năm 1979, các giáo sĩ tại đây bị bắt, trung tâm Đắc Lộ bị tịch thu. Từ năm 1980 tới 2004, trung tâm Đắc Lộ được dùng làm trụ sở báo Tuổi Trẻ. Một phần trung tâm Đắc Lộ được trả lại cho dòng Tên năm 2006.

Các khó khăn, giải thể và tái lập

Trong suốt lịch sử của Dòng Tên, họ đã phải trải qua những năm tháng gian khổ.[2] Các năm 17041742, Giáo hoàng ra lệnh cấm các nghi lễ Trung Hoa, mang nét của thuyết hỗn hợp (syncretism) mà các nhà truyền giáo dòng Tên đã tôn trọng.
Quốc gia châu Âu đầu tiên nỗ lực trục xuất Dòng Tên là Bồ Đào Nha. Vào năm 1758, các tu sĩ Dòng Tên bị quan Tổng trưởng Đế quốc (tương đương Thủ tướng) Sebastião José de Carvalho e Melo gán cho cái tội mưu sát vua José I. Không những thế, Melo còn tiến hành tuyên truyền bài trừ Dòng Tên trên khắp châu Âu, để các nước khác ủng hộ ông ta. Cuối cùng, vào năm 1759, ông ta ban bố sắc lệnh đuổi Dòng Tên ra khỏi Bồ Đào Nha. Không lâu sau, Pháp theo chân Bồ Đào Nha, quan Tổng trưởng Ngoại giao là Công tước Choiseul và ái thiếp của vua Louis XVNữ Hầu tước Pompadour chống đối ảnh hưởng của Dòng Tên. Họ gán cho Dòng tội mưu sát vua Louis XV, dù không phải là chủ mưu.[2] Họ bị những người theo thuyết Giansêniô (Jansénisme) và các triều thần tấn công, rồi bị cấm và bị trục xuất khỏi Pháp năm 17631764, khoảng 200 trường của họ bị đóng cửa. Theo gót Pháp, vua Tây Ban NhaCarlos III đã trục xuất Dòng Tên ra khỏi đất nước (1767), không những thế, ông ta còn đuổi các tu sĩ Dòng Tên ra khỏi ra khỏi xứ Napoli (1767) và xứ Parma (1768) – những xứ nằm dưới quyền thống trị của thân quyến của ông ta.[2]
Cuối cùng, vào năm 1773, Giáo hoàng Clêmentê XIV – trước áp lực quá lớn của các nền quân chủ Pháp, Tây Ban Nha và Napoli, phải quyết định bãi bỏ Dòng Tên. Nữ hoàng ÁoMaria Theresia bất đắc dĩ thi hành mệnh lệnh.[2] Lệnh của Giáo hoàng chỉ không có hiệu lực ở hai nước PhổNga – các nền quân chủ phi Công giáo và không chịu ảnh hưởng của thế lực Giáo hoàng. Vua Phổ là Friedrich II Đại Đế đang thực hiện chính sách khoan dung tôn giáo,[3] không những thế ông còn đề cao nền tri thức của Dòng Tên. Vị vua này đã gây bất ngờ đối với trào lưu triết học Khai Sáng tiến bộ thời đó.[4] Tương tự, Nữ hoàng Nga là Ekaterina II Đại Đế cũng tôn trọng tài năng xuất sắc của các tu sĩ Dòng Tên, bà cho rằng họ sẽ giúp ích cho nền văn hóa nước nhà.[2]
Nhờ có Quốc vương Friedrich II Đại Đế và Nữ hoàng Ekaterina II Đại Đế mà Dòng Tên vẫn còn tồn tại được. Dòng Tên được Giáo hoàng Piô VII tái lập vào năm 1814,[2] tuy nhiên các cuộc công kích họ vẫn tiếp tục suốt thế kỷ 19:

  • Tại Pháp, các tu sĩ dòng Tên[5] bị trục xuất lần nữa vào năm 1880 và lần nữa năm 1901.
  • Tại Thụy Sĩ, mãi tới năm 1973 mới bãi bỏ luật cấm các tu sĩ dòng Tên hoạt động. Luật này được ban hành từ năm 1848.

Tuy nhiên các ngăn cấm và chống đối nói trên cũng không ngăn cản được Dòng Tên. Họ đã tái lập các phái bộ truyền giáo ở Bắc Mỹ hoặc ở Madagascar. Họ đã lập các trường đại học trong thế kỷ thứ 19. Họ cũng đã xuất bản các tạp chí tinh thần như “Études”, “Christus” và “Projet” ở Pháp, “Relations” ở Quebec (Canada), “la Civiltà Cattolica” ở Ý, “La Nouvelle Revue Théologique” ở Bỉ[6], tuần san “America” ở Hoa Kỳ (từ năm 1909).[7] . Dòng cũng có nhiều cơ sở giáo dục ở Pháp và có cả các đại học riêng về thần học và triết họcCentre Sèvres, Paris và ở Brussel[8]. Sau Thế chiến thứ hai họ cũng tới Tchad và trở lại Nhật Bản.

Ngày nay

Tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2005, Dòng có 19.850 tu sĩ ở rải rác tại 112 quốc gia trên thế giới[9], so với khoảng 35.000 năm 1964. Cũng giống như các dòng khác của Giáo hội Công giáo, Dòng Tên cũng bị giảm ơn gọi (đi tu). Ngày nay phần lớn các tu sĩ dòng Tên có mặt tại châu Á (khoảng 3.500 ở Ấn Độ), ở châu Mỹ latinchâu Phi. Hiện dòng có khoảng 900 người dự tu.
Linh mục bề trên tổng Dòng hiện nay là Adolfo Nicolás, người Tây Ban Nha, được bầu trong đại hội dòng lần thứ 35 ngày 21 tháng 1 năm 2008[10], thay thế cho linh mục Peter Hans Kolvenbach (người Hà Lan) từ chức ngày 7 tháng 1 năm 2008. Đặc biệt, vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, Hồng y Jorge Mario Bergoglio thuộc Dòng Tên được bầu làm giáo hoàng thứ 266 của Giáo hội Công giáo, ông lấy tông hiệu là Giáo hoàng Phanxicô

Chú thích

  1. ^ Lettre de Pierre Canisius à l’empereur Oswald II, 5 février 1545 (écrite de Cologne), dans Epistulae, Fribourg, 1896, p. 134.
  2. ^ a ă â b c d đ Ellen Judy Wilson, Peter Hanns Reill, Encyclopedia of the Enlightenment, trang 318
  3. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 52
  4. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 168
  5. ^ en 1878, 1514 Jésuites étaient répartis sur 46 établissements cf. Etat des congrégations autorisées ou non (1085 Jésuites en 1861 cf. Recensement spécial des communautés religieuse)
  6. ^ Site de la revue Nouvelle Revue Théologique
  7. ^ Site de la revue America
  8. ^ Site de la “Faculté de Théologie de la Compagnie de Jésus à Bruxelles
  9. ^ [http://www.fides.org/fra/news/2005/0503/31_3821.html Agenzia Fides – EUROPE / ITALIE – Le nombre des Jésuites est de 19.850: confirmation de la tendance des dernières années, d’une diminution du nombre des prêtres et des frères
  10. ^ (tiếng Pháp) « Les Jésuites élisent Adolfo Nicolás comme supérieur général » sur Wikinews, le 21 janvier 2008.

Tài liệu tham khảo

(ISBN 2-02-012213-8) (tome 1, édition brochée)
(ISBN 2-02-014407-7) (édition complète)
(ISBN 2-02-013714-3) (tome 1, édition reliée)
(ISBN 2-02-014408-5) (édition complète)

Liên kết ngoài

Aung San Suu Kyi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Aung San Suu Kyi
အောင်ဆန်းစုကြည်
Aung San Suu Kyi 17 November 2011.jpg
Suu Kyi tại Yangon, tháng 11 năm 2011
Chức vụ
Chủ tịch và Tổng Bí thư NLD
Nhiệm kỳ 27 tháng 11 năm 1988 – Hiện nay
Tiền nhiệm Không có
Kế nhiệm Chưa có
Thông tin chung
Đảng phái NLD
Sinh 19 tháng 6, 1945 (69 tuổi)
Rangoon, Myanma
Alma mater Đại học Delhi
St Hugh’s College, Oxford
Đại học London
Nghề nghiệp Chính trị gia
Tôn giáo Phật giáo Nguyên thủy
Chồng Michael Aris (1972–1999)
Con cái Alexander
Kim
Giải thưởng Giải Rafto
Giải Nobel Hòa bình
Giải Jawaharlal Nehru
Giải Simón Bolívar Quốc tế
Giải Olof Palme

Aung San Suu Kyi (tiếng Miến Điện: Aung San Suu Kyi (Burmese).svg; MLCTS: aung hcan: cu. krany, /ŋˌsæn.sˈ/,[1] Phát âm tiếng Myanma: [àʊɴ sʰáɴ sṵ tɕì] sinh ngày 19 tháng 6 năm 1945 tại Rangoon, Myanma (Miến Điện), là lãnh tụ phe đối lập Myanmar, chủ tịch đảng Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ (NLD). Trong cuộc bầu cử phổ thông năm 1990, NLD giảnh 59% tổng số phiếu và 81% (392/485) ghế trong nghị viện[2][3][4][5][6][7][8]. Tuy nhiên, bà chưa bao giờ được nhậm chức thủ tướng mà thay vào đó phải sống dưới tình trạng quản thúc tại gia mà chính quyền quân sự áp đặt trong khoảng 15 năm cho đến lần được thả gần đây tháng 11 năm 2010,[9] và đã trở thành một trong những tù nhân chính trị nổi tiếng nhất thế giới.[10]
Năm 1990, bà được trao Giải tưởng niệm Thorolf RaftoGiải thưởng Sakharov cho Tự do Tư tưởng. Bà được tặng giải Nobel Hòa bình năm 1991 [11] và Giải thưởng Jawharlal Nehru cho Hiểu biết quốc tế của chính phủ Ấn Độ và Giải thưởng Simón Bolívar của chính phủ Cânnda. Tháng 9 năm 2006, theo bình chọn của tạp chí Forbes, Aung San Suu Kyi ở vị trí thứ 47 trong số 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới [12]. Năm 2011 bà được trao Huy chương Wallenberg.[13]. Hiện nay bà là hội viên danh dự của Câu lạc bộ Madrid và là công dân danh dự của Canada[14]. Năm 2012, bà nhận Huy chương Vàng Quốc hội Hoa Kỳ[15].
Tháng 4 năm 2012, với tư cách thành viên NLD, bà trúng cử vào Hạ viện Myanmar, Pyithu Hluttaw đại diện cho khu vực Kawhmu[16]. Ngày 6 tháng 6 năm 2013, Suu Kyi thống báo tại trang web của Diễn đàn Kinh tế Thế giới rằng bà muốn tranh cử tổng thống vào năm 2015[17]. Bà thường được gọi với tên là Daw Aung San Suu Kyi. Daw trong ngôn ngữ Myanma mang ý nghĩa gần giống với danh xưng (Madam), dùng để tỏ sự tôn trọng.

Tiểu sử

19451964

  • 1942: Sĩ quan chỉ huy của quân đội độc lập Miến Điện Aung San, làm quen với Ma Khin Kyi, nữ y tá cao cấp của nhà thương lớn tại Rangoon, nơi ông ta hồi phục sau cuộc hành quân. Hai người kết hôn vào ngày 6 tháng 9.
  • 1945: Suu Kyi, con thứ ba của Aung San, ra đời tại Rangoon ngày 19 tháng 6. Người anh kế của Suu Kyi bị chết đuối khi bà còn nhỏ. Người anh cả định cư tại Hoa Kỳ.
  • 1947: Tướng Aung San bị ám sát ngày 19 tháng 7, khi Suu Kyi mới hai tuổi. Mẹ là Daw Khin Kyi trở thành một nhân vật trong chính trường, lãnh đạo một số cơ quan về kế hoạch và xã hội. Tướng Aung San được coi là người thành lập Quân đội Miến điện.
  • 1948: Liên hiệp Độc lập Miến Điện thành lập ngày 4 tháng.
  • 1960: Daw Khin Kyi được cử làm đại sứ tại Ấn Độ. Suu Kyi theo mẹ sang New Delhi.
  • 1960-1964: Suu Kyi theo học trường trung học và trường Lady Shri Ram College tại New Delhi.

19651985

  • 1964-1967: Học bằng Cử nhân triết, chính trị và kinh tế tại Đại học Oxford. Khi ở Anh, Suu Kyi sống chung với gia đình “cha nuôi” là Sir Gore-Booth, cựu đại sứ và cao ủy Anh Quốc tại Miến Điện, và qua đó làm quen với Michael Aris, một sinh viên người Anh chuyên khảo cứu về văn minh Tây Tạng.
  • 19691971: Suu Kyi đến New York để học cho xong, sống chung với bạn là Ma Than E, một nhân viên của Liên Hiệp Quốc. Qua đó, Suu Kyi tạm ngưng việc học, theo làm phụ tá thư ký, ban tham vấn về điều hành hành chính tại Liên Hiệp Quốc. Ngoài giờ làm việc thì làm việc thiện nguyện tại nhà thương, an ủi và đọc sách cho bệnh nhân.
  • 1972: Suu Kyi và Michael Aris kết hôn ngay 1 tháng 1. Suu Kyi Theo chồng đi Bhutan. Michael là người dạy tiếng Anh cho hoàng gia Bhutan và là trưởng phòng phiên dịch. Suu Kyi sau đó làm nhân viên khảo cứu cho Bộ Ngoại giao.
  • 1973: Hai vợ chồng trở về Luân Đôn. Suu Kyi sinh con đầu lòng Alexander.
  • 1977: sinh con thứ nhì là Kim tại Oxford. Trong khi ờ nhà nuôi con nhỏ, Suu Kyi bắt đầu viết sách, nghiên cứu về cha của bà và giúp chồng khảo cứu về văn hoá vùng Himalaya.
  • 1984: Xuất bản bài về cha mình Aung San trong phần “Các lãnh tụ Á châu” của báo định kỳ Đại học Queensland. (Xem Freedom from Fear, pp. 3–38.)
  • 1985: Xuất bản “Đi thăm Miến Điện” cho giới đọc giả trẻ. Xuất bản sách về Nepal và Bhutan (NXB: Burke, London)

19851988

  • 1985-1986: Là học giả nội trú tại Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á của Đại học Kyoto, Suu Kyi tìm hiểu về cha bà trong thời gian ông ở Nhật.
  • 1986: Hằng năm, hai con trai của Suu Kyi, Alexander và Kim, về Rangoon thăm bà ngoại và dần dần học hỏi về tu hành đạo Phật.
  • 1987: Sau khi được trao bằng thành viên của trường nghiên cứu văn hóa Ấn, Suu Kyi cùng chồng con về cư trú tại Simla. Sau đó về London khi mẹ bà cần mổ mắt vì bệnh cườm thủy tinh thể mắt. Xuất bàn “Thời sự xã hội chính trị Miến Điện trong những năm 1910-1940” trong báo của Đại học Tokyo. (Xem “Freedom from Fear”, pp. 140–164.) Gia đình trở về Oxford vào tháng 9. Suu Kyi ghi danh học tại trường London nghiên cứu về châu Á và châu Phi.

1988

  • 31 tháng 3: Khi nghe tin mẹ bị tai biến mạch máu não trầm trọng, Suu Kyi về Rangoon chăm sóc cho bà.
  • 23 tháng 7: Tướng Ne Win, nhà độc tài Myanma từ năm 1962, từ chức. Những cuộc biểu tình chống đối tiếp tục xảy ra.
  • 8 tháng 8: Nhiều cuộc nổi dậy khắp nơi. Chính quyền dùng vũ lực đàn áp, rất nhiều người chết và bị thương.
  • 15 tháng 8: Suu Kyi bắt đầu hoạt động chính trị. Bà gửi thư cho chính phủ, kêu gọi thành lập ủy ban cố vấn độc lập về vấn đề bầu cử đa đảng.
  • 26 tháng 8: Trong bản tuyên bố đầu tiên trước hàng trăm ngàn công chúng bên ngoài chùa Shwedagon, bà kêu gọi thành lập chính phủ tự do dân chủ. Chồng và hai con trai bà cũng có mặt hôm ấy.
  • 18 tháng 9: Chính phủ quân đội Myanma (SLORC) ban ra hình luật để áp chế các cuộc biểu tình.
  • 24 tháng 9: Đảng Liên kết Quốc gia Dân chủ (NLD) thành lập do Suu Kyi làm tổng thư ký. Chủ trương bất bạo động.
  • Tháng 10 – 12: Mặc dù bị nhà nước cấm, Suu Kyi tiếp tục đi khắp nơi phát huy, cổ động nhân dân về phong trào tự do, dân chủ.
  • 27 tháng 12: Mẹ của Suu Kyi, bà Khin Kyi, chết (thọ 76 tuổi).

1989

  • 2 tháng 1: tang lễ của Khin Kyi rất lớn. Suu Kyi thề sẽ theo bước mẹ cha phục vụ đồng bào Miến Điện cho đến chết.
  • Tháng 1 – tháng 7: Suu Kyi tiếp tục tranh đấu mặc dù bị đàn áp, đe dọa, bắt bớ bởi quân lính nhà nước.
  • 17 tháng 2: Suu Kyi bị nhà nước cấm không cho tranh cử.
  • 5 tháng 4: Sự kiện tại khu Irawaddy Delta, Suu Kyi can đảm đi thẳng tới trước những nòng súng của quân đội chính phủ đang chĩa vào bà.
  • 20 tháng 7: Suu Kyi bị giam lỏng trong nhà, không có án kết. Hai con trai đang sống cùng bà. Chồng bà là Michael bay từ Rangoon về thăm sau khi nghe tin bà tuyệt thực ba ngày để đòi được đem vào tù chung với những học sinh bị bắt tại tư gia của bà. Bà ngưng tuyệt thực khi chính quyền hứa sẽ đối xử tốt với học sinh.

1990

  • 27 tháng 5: Đảng NLD thắng cử (82% phiếu) mặc dù Suu Kyi đang bị giam lỏng. Nhà nước SLORC không chấp nhận kết quả bầu cử.
  • 12 tháng 10: Suu Kyi lãnh giải thưởng Nhân Quyền Rafto.

1991

1992

Suu Kyi công bố bà sẽ dành khoản tiền nhận được từ giải Nobel (khoảng 1,3 triệu đô Mỹ) để tái thiết các trụ sở giáo dục và y tế cho đồng bào Myanma.

1993

  • Nhóm người lãnh giải Nobel Hòa bình xin gặp bà nhưng bị nhà nước Myanma từ chối. Họ sang thăm dân Myanma tỵ nạn tại Thái Lan và kêu gọi nhà nước Myanma trả tự do cho Suu Kyi. Sau đó lời kêu gọi này được lập lại tại Liên Hiệp Quốc.

1994

  • Tháng 2: Những người không bà con được thăm Suu Kyi gồm có đại diện Liên Hiệp Quốc, nghị viên Mỹ, phóng viên báo New York Times.
  • Tháng 9 – 10: Các nhà lãnh đạo chính quyền Myanma gặp Suu Kyi – bà vẫn đòi một cuộc đối thoại công khai.

1995

  • 10 tháng 7: SLORC thả Suu Kyi sau 6 năm giam lỏng.

19962006

Trong nhiều năm sau, Suu Kyi bị kềm chế về vấn đề đi lại. Bà có cơ hội gọi điện thoại cho thân nhân ở Anh Quốc nhưng ngoài ra không hoạt động gì được. Báo chí do nhà nước quản chế liên tục bôi nhọ bà và nhiều người lo sợ cho an ninh của bà. Mọi nỗ lực để phát huy đảng NLD đều bị dập tắt, nhiều thành viên bị đánh đập và bỏ tù. Một vài tháng sau khi lệnh quản thúc tại gia kết thúc, Suu Kyi có cố gắng tuyên bố trước đám đông công chúng tụ tập tại nhà bà, nhưng sau đó hoạt động này bị dẹp. Tuy nhiên bà vẫn được nhiều người ngưỡng mộ và ủng hộ.
Suu Kyi vẫn tiếp tục có tiếng nói trên thời sự quốc tế. Phóng viên, ký giả vẫn có thể quay phim và phỏng vấn bà. Tại cuộc hội thảo quốc tế về phụ nữ do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh tháng 8 năm 1995, bà gửi video để tường trình các vấn đề chính yếu với diễn đàn các tổ chức phi chính phủ.
Trong khi đó, SLORC đổi tên thành Ủy ban Hòa bình và Xây dựng Quốc gia, nhưng vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền như trước.
Suu Kyi khuyến khích thế giới đừng du lịch và ngưng liên hệ ngoại giao với Myanma cho đến khi nào nước này có tự do chân chính. Tuy Hoa Kỳ có ra biện pháp cấm vận kinh tế với Myanma, những nước láng giềng vẫn có liên hệ ngoại giao với nước này và Myanma đã được nhận vào Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN).
Ngày 27 tháng 3 năm 1999, chồng Suu Kyi qua đời tại London vì bệnh ung thư tuyến tiền liệt ở tuổi 52 khi đang là Giáo sư Oxford. Lần cuối cùng ông bà gặp nhau là vào Giáng sinh năm 1995. Khi biết tin mình bị ung thư, ông cố gắng gặp vợ lần cuối cùng nhưng chính phủ Myanma không cấp visa cho ông vào Miến điện. Ông xin cấp visa hơn 30 lần, có cả sự can thiệp của Giáo Hoàng, Tổng thống Mỹ Bill Clinton nhưng chính phủ Miến điện luôn từ chối và luôn khuyên Suu Kyi rời nước đi thăm chồng, nhưng bà từ chối vì biết rằng một khi bà ra khỏi nước, chính phủ Myanma sẽ không bao giờ được cho phép bà trở về lại Myanma. Suu Kyi xem sự đau khổ xa cách chồng, ngay cả khi ông chết, là một hy sinh bà phải nhận trong quá trình tranh đấu cho tự do dân tộc Myanma.
Năm 2004, đặc sứ Liên hiệp quốc Razali Ismali đến Myanma, thăm bà Suu Kyi, nhưng trong 2 năm sau đó không có người nước ngoài nào được tới gặp bà.
Tháng 5 năm 2006, Phó tổng thư ký Liên hiệp quốc phụ trách chính trị Ibrahim Gambari đến Myanma để thảo luận với chính quyền quân sự về vấn đề nhân quyền cũng như việc lập lại dân chủ. Ông đã gặp bà Suu Kyi, tuy nhiên nội dung cuộc trò chuyện không được công bố.

2007

Cuộc biểu tình của tu sĩ Phật giáo tại Burma bắt đầu ngày 19 tháng 8 năm 2007, khởi nguồn từ sự tăng giá quá cao của xăng dầu. Mặc dầu bị quân đội chính quyền Junta đàn áp tàn bạo nhưng các vị sư sãi vẫn tiếp tục xuống đường lên án nhà nước [18].
Ngày thứ bảy, 22 tháng 9, mặc dầu đang bị giam lỏng tại tư gia, bà Aung San Suu Kyi xuất hiện trước công chúng tại cổng nhà mình, đón tiếp các vị tăng ni phật giáo trên đường họ kéo về tham gia biểu tình đòi nhân quyền [19].
Sau đó có tin là Suu Kyi bị bắt đem về nhà tù Insein nơi bà từng bị giam cầm năm 2003 [20] [21][22][23], nhưng qua cuộc đàm thoại ngày 30 tháng 92 tháng 10 với phái đoàn Liên Hiệp Quốc do ông Ibrahim Gambari dẫn đầu thì bà chỉ tiếp tục bị giam lỏng tại tư gia.[24][25].

2009

Ngày 3 tháng 5, 2009, một người Mỹ tên John Yettaw không hiểu vì lý do gì lại lội ngang hồ Inya. Ông tìm đến nhà bà Suu Kyi xin trú ngụ vì ông ta mệt quá và khi ông ta dự định lội trở về vài hôm sau thì bị bắt. Ngày 13 tháng 5 khi chính quyền Myanma nghe tin này liền kết tội bà Suu Kyi là vi phạm bản án tù tại gia.[26] Bà bị bắt giam tại trại giam Insein, với nghi án có thể lên đến 5 năm tù ở.[27] Phiên tòa xử bà Suu Kyi và hai người hầu của bà bắt đầu ngày 18 tháng 5.[28][29] Các nhà ngoại giao và phóng viên báo chí bị cấm theo dõi, nhưng sau đó một số nhân viên ngoại giao của Nga, Thái LanSingapore được vào gặp bà Suu Kyi.[30]
Phiên tòa lúc đầu dự định cho kêu mời 22 nhân chứng [31] đồng thời kết ông Yettaw vào tội làm nhục quốc thể Burma.[32] Bà Suu Kyi tuyên bố là bà vô tội. Bên bị cáo chỉ được gọi 1 nhân chứng (trong 4 người) trong khi bên chính quyền lại kêu 14 nhân chứng. Hai nhân chứng bên bị cáo là Tin OoWin Tin (thành viên đảng NLD) bị từ chối.[33] Có tin cho rằng chính quyền Burma dự định tống giam bà Suu Kyi vào một trại lính bên ngoài thủ đô.[34] Tại một phiên tòa khác ông Yettaw nói rằng ông lội đến nhà bà Suu Kyi đề cảnh giác bà là bà ta sắp gặp nạn lớn.[35] Cảnh sát trưởng quốc gia sau đó xác định rằng Yettaw là “thủ phạm chính” trong vụ án của bà Suu Kyi.[36] Theo lời của người tùy tùng thì bà Suu Kyi nằm tù trong thời gian quanh ngày sinh nhật thứ 64 của bà.[37]
Vụ bắt giữ và xét xử bà Aung San Suu Kyi bị cả thế giới phản đối, nhất là từ Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon, the Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc,[38] các chính phủ tây phương [39] Nam Phi,[40] Nhật Bản [41]Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Burma là thành viên của hiệp hội này).[42]
Chính quyền Myanma phản bác các phản đối này là không tôn trọng truyền thống [43] và đồng thời chỉ trích Thái Lan đã xen vào chuyện nội bộ của Burma.[44] Ngoại trưởng Burma Nyan Win tuyên bố trên báo nhà nước Ánh sáng Mới Myanmar rằng: Vụ án này được thổi phồng lên để tăng áp lực đến chính phủ Burma do một số phần tử phản động bên trong và ngoài Burma không muốn thấy những thay đổi tốt trong chính sách liên hệ giữa các nước này với Burma.[32] Ông Ban Ki-moon lãnh thỉnh nguyện thư của các nước [45] đem sang Burma thương lượng nhưng chính quyền Burma khước từ các thỉnh nguyện này.[46]
Chính quyền Burma đình hoãn tuyên án bà Suu Kyi đến ngày 11 tháng 8 [47] và ra án 18 tháng tù tại gia [48]. Bà Suu Kyi do đó sẽ không thể ra ứng cử trong cuộc bầu cử năm tới. Liên Hiệp Quốc và chính phủ tại nhiều quốc gia lên tiếng phản đối hành động này của chính quyền Burma.[49]
Ông Yettaw bị tuyên án 7 nằm tù khổ sai.[48]
Ngày 14 tháng 8, nghị sĩ Hoa Kỳ Jim Webb sang gặp chính quyền Myanma và sau đó thăm bà Suu Kyi. Ông Webb xin tha và Burma quyết định thả và trục xuất Yettaw.[50]
Luật sư của bà Suu Kyi kháng cáo.[51] Ngày 18 tháng 8 tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama kêu gọi chính quyền Burma thả tất cả các tù nhân chính trị, trong đó có bà Suu Kyi.[52]
Ngày 25 tháng 9, Suu Kyi chuẩn bị để cùng làm việc với các lãnh đạo quân sự Miến Điện hầu sự cấm vận kinh tế đang áp đặt ở quốc gia này được bãi bỏ. Điều mà trước đây Suu Kyi nhất mực chống lại. Theo lời U Nyan Win, phát ngôn viên vừa là luật sư của Suu Kyi, thì Suu Kyi thảo một bức thư gửi trực tiếp cho nhà lãnh đạo quân đội, Tướng Than Shwe, theo đó bà sẵn sàng hợp tác để làm sao cho việc cấm vận được bãi bỏ. Shwe bỏ ra chừng một tiếng đồng hồ để cùng bà thảo bức thư được miêu tả là “lối suy nghĩ mới” của bà về việc cấm vận. Trong vài ngày tới, bức thư được chính thức nộp cho nhà lãnh đạo quân sự. Luật sư Nyan Win nói Suu Kyi muốn biết có bao nhiêu cấm vận từng áp đặt lên đất nước Miến Điện, và phần lớn mang lại hậu quả tiêu cực đối với đời sống của dân chúng. Trong lá thư bà còn bày tỏ muốn nghe ý kiến của các quốc gia khác đang có đại sứ ở Miến Điện. Đảng đối thủ Liên minh Quốc gia vì Dân chủ của bà, từng thắng cử trong cuộc đầu phiếu năm 1989, chưa quyết định sẽ tham gia cuộc tuyển cử trở lại vào năm 2010 hay không. Quyết định tiếp xúc với chánh đảng quân sự của Suu Kyi đến cùng lúc với chính sách thay đổi của Hoa Kỳ đối với Miến Điện.
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton công bố ngày 23/9 rằng Hoa Kỳ sẽ cố liên hệ trực tiếp với các nhà lãnh đạo Miến mà không phải bãi bỏ việc cấm vận hiện tại. Theo bà, đây là một phần của sự tái duyệt chính sách đã được công bố từ Tháng Hai, và chi tiết sẽ được đưa ra trong vài ngày sắp đến. Sự tái duyệt chính sách này bị chậm lại vào tháng 5 sau khi có sự gia hạn việc quản chế dành cho Suu Kyi. Suu Kyi tuyên bố ngày 24/9 rằng bà tán đồng sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ, nhưng nhấn mạnh rằng bất cứ quan hệ nào của Mỹ cũng sẽ đều gặp sự chống đối. Bà Clinton nói, “Chúng ta muốn thấy có sự cải cách về dân chủ; một chính quyền biết đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Miến; thả lập tức và không điều kiện những tù nhân chính trị, kể cả bà Aung San Suu Kyi; đối thoại nghiêm túc với phe chống đối và các nhóm thuộc sắc tộc thiểu số.”
Ngày 2 tháng 10, một tòa án tại Myanma ra phán quyết bác bỏ đơn xin trả tự do của Suu Kyi, theo luật sư của bà. Suu Kyi nói việc kết tội bà là không đúng, nhưng tòa ở Yangon bác bỏ đơn này. Ông nói rằng các luật sư đại diện cho Suu Kyi sẽ đưa đơn lên Tối cao Pháp viện trong vòng 60 ngày và nếu điều này thất bại sẽ tiếp tục kiện lên tòa kháng án đặc biệt tại thủ đô mới ở Naypyidaw. Phán quyết của tòa án Myanma đưa ra trong lúc có sự thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ đối với chính quyền quân phiệt tại Myanma.[53]
Suu Kyi gặp một viên chức chính quyền quân sự ngày 7 tháng 10. Ðây là cuộc gặp gỡ thứ nhì trong một tuần kể từ khi bà lên tiếng kêu gọi mở ra một thời đại hợp tác.[54] Cuộc họp không được loan báo trước giữa Suu Kyi và Bộ trưởng Giao tế Aung Kyi diễn ra tại một nhà khách chính phủ gần căn nhà bên bờ hồ của bà ở Yangon và kéo dài chừng nửa giờ đồng hồ.[55] Chi tiết của cuộc gặp gỡ này không được tiết lộ.
Nyan Win, phát ngôn viên của đảng Liên đoàn quốc gia Dân chủ, tin rằng điều này có thể liên hệ đến lá thư của Suu Kyi và sự tiếp nối của cuộc họp ngày 3 tháng 10. Phía đảng Liên đoàn quốc gia Dân chủ đòi hỏi là nếu muốn có sự hợp tác, phía chính quyền phải trả tự do cho thành phần tranh đấu còn đang bị giam giữ và cho mở cửa văn phòng đại diện của đảng Liên đoàn quốc gia Dân chủ trên cả nước.[56]

2010

Chiều ngày 13 tháng 11 năm 2010, theo chiếu lệ của tòa án Miến Điện, Aung San Suu Kyi được trả tự do, sau khi bị quản thúc tại gia 15 năm trong 21 năm qua.[57][58]
Đây là ngày được ấn định là hết hạn giam giữ theo một phán quyết của tòa án trong tháng 8 năm 2009. Bà được thả sáu ngày sau cuộc tổng tuyển bị cử chỉ trích rộng rãi. Bà xuất hiện trước một đám đông người ủng hộ đổ xô đến nhà bà ở Rangoon, khi rào chắn gần đó đã được gỡ bỏ bởi các lực lượng an ninh.The Light tờ báo của chính phủ mới của Myanmar nói việc thả tự do là tích cực, [122] nói rằng bà đã được ân xá sau khi chấp hành hình phạt “tốt” [123]. The New York Times cho rằng chính phủ quân sự có thể đã thả Suu Kyi bởi vì họ cảm thấy đó là ở một cách để kiểm soát người ủng hộ bà sau cuộc bầu cử. [122] Vai trò Suu Kyi thể hiện trong tương lai đối với dân chủ ở Miến Điện vẫn còn là một chủ đề của nhiều cuộc tranh luận.
Con trai Kim Aris của bà đã được cấp thị thực trong tháng 11 năm 2010 để gặp lại mẹ của mình ngay sau khi được thả, lần đầu tiên trong 10 năm. Anh đã thăm một lần nữa vào ngày 05 Tháng 7 năm 2011, đi cùng bà trên một chuyến đi đến Bagan, chuyến đi đầu tiên ra bên ngoài Yangon từ năm 2003. Con trai của bà đã đến thăm một lần nữa trong 08 tháng 8 năm 2011, đi cùng bà trên một chuyến đi đến Pegu.
Các cuộc thảo luận đã được tổ chức giữa Suu Kyi và chính phủ Miến Điện trong năm 2011, dẫn đến một số cử chỉ chính thức để đáp ứng nhu cầu của bà. Trong tháng mười, khoảng 1/10 của các tù nhân chính trị Miến Điện trả tự do ân xá và tổ chức công đoàn đã được hợp pháp hoá.
Tháng 11 năm 2011, sau một cuộc họp của các nhà lãnh đạo, NLD tuyên bố ý định đăng ký lại như một đảng chính trị để tranh 48 vị trí nghị sĩ. Sau quyết định, Suu Kyi đã tổ chức điện đàm với Tổng thống Mỹ Barack Obama, trong đó đồng ý rằng Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ thực hiện một chuyến viếng thăm Miến Điện, một cuộc viếng thăm nhận được phản ứng thận trọng từ đồng minh Trung Quốc. Vào ngày 01 tháng 12 năm 2011, Suu Kyi gặp với Hillary Clinton tại nơi cư trú của nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ tại Yangon.
Ngày 21 tháng 12, năm 2011, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra gặp Suu Kyi tại Yangoon, trở thành “lần đầu tiên cuộc họp với nhà lãnh đạo của một quốc gia nước ngoài” của Suu Kyi.
Ngày 5 tháng 1 năm 2012, Bộ trưởng Ngoại giao Anh William Hague đã gặp bà Aung San Suu Kyi và đối tác Miến Điện của mình. Đây là một chuyến thăm quan trọng cho Suu Kyi và Miến Điện. Suu Kyi học tại Vương quốc Anh và duy trì mối quan hệ, trong khi Anh là nhà tài trợ song phương lớn nhất của Miến Điện. Aung San Suu Kyi là chuyến thăm của bà tới châu Âu và thăm quốc hội Thụy Sĩ và nhận giải thưởng Nobel năm 1991 ở Oslo.

Bầu cử năm 2012

Trong 1 bài phát biểu chính thức của chiến dịch phát sóng trên MRTV truyền hình nhà nước Miến Điện của ngày 14 tháng Ba năm 2012, Suu Kyi công khai vận động cải cách Hiến pháp năm 2008, loại bỏ các luật hạn chế, bảo vệ đầy đủ hơn quyền dân chủ của người dân, và thành lập tư pháp độc lập. Bài phát biểu đã bị rò rỉ trên internet một ngày trước khi nó được phát sóng. Một đoạn văn trong bài phát biểu, tập trung vào kiểm soát của Quân đội Miến điện bằng pháp luật, đã bị kiểm duyệt bởi chính quyền.
Suu Kyi cũng đã kêu gọi các phương tiện truyền thông quốc tế giám sát cuộc bầu cử sắp tới, trong khi công khai chỉ ra bất thường trong danh sách cử tri chính thức, trong đó bao gồm các cá nhân đã chết và loại trừ các cử tri đủ điều kiện khác trong bầu cử gây tranh cãi. Vào ngày 21 tháng 3 năm 2012, bà Aung San Suu Kyi đã được trích dẫn khi nói “Gian lận và vi phạm quy tắc đang diễn ra và chúng tôi thậm chí có thể nói rằng chúng đang gia tăng.”
Ngày 01 Tháng tư 2012, NLD tuyên bố rằng Suu Kyi đã thắng cử một ghế trong Quốc hội.

Nhận giải Nobel Hòa Bình 1991 sau 21 năm

Ngày 16/6/2012, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình đã tổ chức đón tiếp bà Suu Kyi, người đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1991. Buỗi lễ với sự hiện diện của vua Harald, hoàng hậu Sonja, thái tử Haakon, thủ tướng Jens Stoltenberg, chủ tịch quốc hội Dag T. Andersen, và lãnh đạo các chính đảng của Nauy. Chủ tịch Ủy Ban, ông Thorbjørn Jagland đọc diễn văn chào đón Aung San Suu Kyi. Diễn văn nhấn mạnh gương tranh đấu của Aung San Suu Kyi đã mang lại hi vọng cho thế giới. Chế độ quân phiệt càng quản chế và cô lập mạnh bao nhiêu, tiếng nói của bà càng rõ hơn. Lý tưởng và sự tranh đấu kiên trì của bà đã động viên được người dân Miến và chiến thắng được chế độ quân phiệt. Tự do và dân chủ không do nhà cầm quyền hay luật pháp ban phát. Những giá trị cao quý đó phải do tranh đấu bền bỉ mà có. Thành quả tranh đấu của Aung San Suu mang một thông điệp: chế độ độc tài có tất cả mọi thứ trong tay nhưng họ rất sợ dân chủ và trước sau cũng sụp đổ.[59]

Các tác phẩm chính trị nổi bật

  • Freedom from fear: là tên của một bài viết nổi tiếng của bà Suu Kyi. Đây cũng là tên của cuốn sách tập hợp các bài viết của bà. Nội dung chính nhấn mạnh về sự đấu tranh cho dân chủ và tự do. Nội dung xem ở [2].
  • “It is not power that corrupts but fear. Fear of losing power corrupts those who wield it and fear of the scourge of power corrupts those who are subject to it.” (không phải quyền lực mà là sự sợ hãi làm cho người ta thối nát. Sợ mất quyền thế làm cho những kẻ đương quyền trở nên đồi bại, và sợ bị những kẻ quyền thế trừng phạt làm cho những người bị trị sai lạc). Phát biểu khi được nhận giải Freedom of Glasgow.[60]
  • “Bất cứ nơi nào sự đau khổ bị làm ngơ thì ở đó sẽ có mầm mống của xung đột…”. Bài phát biểu trong buổi lễ nhận giải Nobel 16/6/2012 có thể đọc ở đây.[3]

Truyền thông

Năm 2011, một phim tiểu sử về một đoạn đời của bà đã được một tổ hợp Anh-Pháp thực hiện, với tựa đề The Lady do Luc Besson làm đạo diễn, với sự góp mặt của Dương Tử Quỳnh trong vai Aung San Suu Kyi và David Thewlis trong vai người chồng quá cố của bà là Michael Aris.

Chú thích

  1. ^ “Aung San Suu Kyi”. Oxford Dictionaries Online. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2012.
  2. ^ Aung San Suu Kyi should lead Burma, Pravda Online. 25 September 2007
  3. ^ The Next United Nations Secretary-General: Time for a Woman. Equality Now.org. November 2005.
  4. ^ MPs to Suu Kyi: You are the real PM of Burma. The Times of India. 13 June 2007
  5. ^ Walsh, John. (February 2006). Letters from Burma. Shinawatra International University.
  6. ^ Deutsche Welle.
  7. ^ Sharpe, Penny. “Daw Aung San Suu Kyi”. Penny Sharpe MLC. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2010.
  8. ^ twist in Aung San Suu Kyi’s fate
  9. ^ Burma releases Aung San Suu Kyi. BBC News, 13 November 2010.
  10. ^ Aye Aye Win, Myanmar’s Suu Kyi Released From Hospital, Associated Press (via the Washington Post, 10 June 2006.
  11. ^ Trang web của giải Nobel
  12. ^ [1]
  13. ^ Recipients of the Wallenberg Medal. Wallenberg.umich.edu. Retrieved 2 April 2012.
  14. ^ “Canada makes Myanmar’s Suu Kyi an honorary citizen”. Reuters. 17 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2010.
  15. ^ “Burma’s Aung San Suu Kyi given US Congressional medal”. 19 tháng 7 năm 2012.
  16. ^ Fuller, Thomas, Democracy Advocate Elected to Myanmar’s Parliament, Her Party Says, The New York Times, 1 April 2012.
  17. ^ Maierbrugger, Arno (6 tháng 6 năm 2013). “Suu Kyi wants to run for president”. Inside Investor. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2013.
  18. ^ Yahoo News on Buddhist monk uprising
  19. ^ AFP:Democracy icon Aung San Suu Kyi greets Myanmar monks
  20. ^ Reuters News 25 tháng 9 năm 2007 quote 1: In another sign of a potential clash, a well-placed source said detained democracy leader Aung San Suu Kyi had been moved to the notorious Insein prison on Sunday, a day after she appeared in front of her house to greet marching monks. quote 2: If true, removing Suu Kyi from her lakeside villa would deprive the protesters of a focus after they were stunned by police allowing them through the barricades sealing…
  21. ^ BBC News: Inside Burma’s Insein jail. Report from 2003 Ed. Note: Describes conditions at the jail
  22. ^ The Australian: Security tight amid speculation Suu Kyi jailed 28 tháng 9 năm 2007 reportquote: The head of Burma’s self-proclaimed government-in-exile, Sein Win, said in Paris on Wednesday that Ms Suu Kyi had been at Insein since Sunday. Sein Win, a first-cousin of Ms Suu Kyi, said two sources had confirmed her transfer.
  23. ^ current article about conditions in Time.com
  24. ^ http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/asia-pacific/7020465.stm UN envoy sees top Burma dissident.
  25. ^ http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/asia-pacific/7023344.stm UN envoy holds key Burmese talks
  26. ^ U.S. Man Held After Swim to Burmese Nobel Peace Laureate’s Home, New York Times, 7 tháng 5 năm 2009
  27. ^ Lake swimmer could cost Suu Kyi her freedom, Guardian, 14 tháng 5 năm 2009
  28. ^ Burma opposition leader on trial, Financial Times, 19 tháng 5 năm 2009
  29. ^ Burma’s Aung San Suu Kyi on trial, BBC News Online, 18 tháng 5 năm 2009
  30. ^ Suu Kyi ‘composed’ at Burma trial, BBC News Online, 20 tháng 5 năm 2009
  31. ^ Lawyers for Aung San Suu Kyi protest innocence as trial begins, The Times, 18 tháng 5 năm 2009
  32. ^ a ă Myanmar Court Charges Suu Kyi, Wall Street Journal, 22 tháng 5 năm 2009
  33. ^ “Court Rejects Two Suu Kyi Defense Witnesses”. Irrawaddy.org. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009.
  34. ^ “Myanmar Aung San Suu Kuy to be put under detention – Asia News”. Asianews.it. 14 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2009.
  35. ^ Suu Kyi’s witnesses ‘rejected’, BBC News Online, 28 tháng 5 năm 2009
  36. ^ Myanmar says American main culprit in Suu Kyi case. AP. 25 tháng 6 năm 2009
  37. ^ Aung San Suu Kyi celebrates 64th birthday with jail guards. The Guardian. 19 tháng 6 năm 2009
  38. ^ UN calls for release of Suu Kyi, The Age, 24 tháng 5 năm 2009
  39. ^ Western outcry over Suu Kyi case, BBC News Online, 18 tháng 5 năm 2009
  40. ^ SAfrica urges immediate Aung San Suu Kyi release, AFP at IC Publications, 22 tháng 5 năm 2009
  41. ^ Asian leaders call for release of Aung San Suu Kyi, Radio Australia, 15 tháng 5 năm 2009
  42. ^ Asian leaders condemn Burma trial, BBC News Online, 19 tháng 5 năm 2009
  43. ^ Myanmar protests ASEAN alternate chairman statement on Aung San Suu Kyi, Xinhua, 24 tháng 5 năm 2009
  44. ^ Burma lashes out at Thailand over Suu Kyi, Bangkok Post, 25 tháng 5 năm 2009
  45. ^ Free Burma’s Political Prisoners Now! Campaign.
  46. ^ Horn, Robert (5 tháng 7 năm 2009). Ban Ki-Moon Leaves Burma Disappointed. Time.
  47. ^ Lawyers still hope Suu Kyi will be freed ca.news.yahoo.com
  48. ^ a ă Suu Kyi sentenced to 18 months house arrest – Sydney Morning Herald
  49. ^ Anger greets Suu Kyi conviction – news.bbc.co.uk
  50. ^ “Senator wins release of US prisoner in Myanmar”, Associated Press, 15 tháng 8 năm 2009
  51. ^ McCurry, Justin (12 tháng 8 năm 2009). Lawyers to appeal against Aung San Suu Kyi sentence. The Guardian.
  52. ^ Obama appeals to Myanmar junta to release Aung San Suu Kyi. The Times of India. 18 tháng 8 năm 2009.
  53. ^ Burma denies Suu Kyi appeal court access: Verdict October
  54. ^ Suu Kyi Meets Junta Liaison Again
  55. ^ Myanmar official: Suu Kyi meets with junta minister | Radio Netherlands Worldwide
  56. ^ http://rawstory.com/news/afp/Suu_Kyi_meets_with_junta_minister_o_10072009.html
  57. ^ “Myanmar’s Aung San Suu Kyi released – Asia-Pacific”. Al Jazeera English. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010.
  58. ^ “Aung San Suu Kyi Freed From House Arrest”. Sky News. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010.
  59. ^ http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/peace/laureates/1991/kyi-lecture_en.html
  60. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/uk_news/scotland/glasgow_and_west/7923425.stm

Tham khảo

Do Aung San Suu Kyi viết:

  • Freedom from Fear and Other Writings. Edited with introduction by Michael Aris. 2nd ed., revised. New York and London: Penguin, 1995. (Includes essays by friends and scholars.)
  • Voice of Hope: Conversations. London: Penguin, 1997 and New York City: Seven Stories Press, 1997 (Conversations beginning in November 1995 with Alan Clements, the founder of the Burma Project in California who helped with the script for the film based on her life, “Beyond Rangoon”.)

Các nguồn khác:

  • “Aung San Suu Kyi”, in Current Biography, February 1992.
  • Clements, Alan and Leslie Kean. Burma’s Revolution of the Spirit: The Struggle for Democratic Freedom and Dignity. New York: Aperture, 1994. (Many colour photographs with text, Includes essay by Aung San Suu Kyi.)
  • Clements, Alan. Burma: The Next Killing Fields. Tucson, Arizona; Odonian Press, 1992. (With a foreword by the Dalai Lama.)
  • Lintner, Bertil. Burma in Revolt: Opium and Insurgency since 1948. Boulder, Colorado: Westview, 1994. (By a well-informed Swedish journalist.)
  • Lintner, Bertil. Outrage: Burma’s Struggle for Democracy. 2nd ed., Edinburgh: Kiscadale, 1995.
  • Mirante, Edith T. Burmese Looking Glass. A Human Rights Adventure and a Jungle Revolution. New York: Grove, 1993.
  • Smith, Martin J. Burma: Intrangency and the Politics of Ethnicity. London: Zed Books, 1991. (A detailed and well-organised account by a journalist of the violent conflict between the military government and the many minorities.)
  • Victor, Barbara. The Lady: Aung San Suu Kyi: Nobel Laureate and Burma’s Prisoner. Boston and London: Faber & Faber, 1998. (A sympathetic account by a wellpublished author and journalist, whose research in Burma included interviews with government leaders.)

Đọc thêm

  • Aung San Suu Kyi đấu tranh cho tự do, Huỳnh Văn Thanh dịch, Nxb Văn hóa Thông tin và Công ty Văn Lang, 1998

Chào ngày mới 26 tháng 9

Parthenon from west.jpg

CNM365. Chào ngày mới 26 tháng 9. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày châu Âu về các ngôn ngữ; ngày quốc gia tự trị tại New ZealandNăm 904 – Sau khi ám sát Đường Chiêu Tông, Chu Toàn Trung đưa hoàng tử Lý Tộ lên ngôi, tức Đường Ai Đế– hoàng đế cuối cùng của triều Đường. Năm 1687Đền Parthenon (hình) tại Athena bị phá hủy một phần trong một xung đột vũ trang giữa VeneziaOttoman. Năm 1969 – Album phòng thu cuối cùng của ban nhạc The BeatlesAbbey Road được phát hành tại Anh. Năm 2007Sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ tại tỉnh Vĩnh Long, Việt Nam khiến 54 người thiệt mạng và 180 người bị thương.

New Zealand

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
New Zealand
New Zealand (tiếng Anh)
Aotearoa (tiếng Maori)
Flag of New Zealand.svg Coat of arms of New Zealand.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của New Zealand
Khẩu hiệu
Không có
Quốc ca
God Defend New Zealand
Hành chính
Chính phủ Quân chủ lập hiến
 • Nữ hoàng
Toàn quyền
Thủ tướng
Elizabeth II
Anand Satyanand
John Key
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Anh, tiếng Maori, ngôn ngữ ký hiệu New Zealand
Thủ đô Wellington
41°17′N, 174°47′Đ
Thành phố lớn nhất Auckland
Địa lý
Diện tích 268.680 km² (hạng 75)
Diện tích nước 2,1% %
Múi giờ NZST (UTC+12); mùa hè: NZDT (UTC+13)
Ngày thành lập Từ Đế quốc Anh
Ngày 26 tháng 9, 1907
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 4.165.600 người (hạng 120)
Dân số (2006) 4.143.279 người
Mật độ 15 người/km² (hạng 193)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 101,685 tỷ Mỹ kim
HDI (2009) 0,936 cao (hạng 17)
Đơn vị tiền tệ Dollar (NZD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .nz
¹God Save The Queen là quốc ca chính thức nhưng ít được sử dụng

New Zealand (phiên âm tiếng Việt: Niu Di-lân, Hán-Việt: Tân Tây Lan) là một quốc gia hải đảo nằm ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương bao gồm hai đảo chính (tên là đảo Bắcđảo Nam) và nhiều đảo nhỏ hơn, trong số đó được biết đến nhiều nhất là đảo Stewart/Rakiura. Theo tiếng Māori bản địa, New Zealand được gọi là Aotearoa có thể dịch là “vùng đất của dải mây trắng dài“. Lãnh thổ của New Zealand còn bao gồm cả quần đảo CookNiue (tự quản bằng một chính phủ liên kết tự do); Tokelau; và Ross Dependency (vùng lãnh thổ được New Zealand tuyên bố chủ quyền tại châu Nam cực).
New Zealand được biết đến nhiều vì vị trí biệt lập về mặt địa lý của quốc gia này: lãnh thổ của New Zealand nằm cách phía Đông Nam nước Úc khoảng 2.000 kilomet (1.200 dặm) băng qua biển Tasman. Các quốc gia gần New Zealand nhất là Nouvelle Calédonie về phía bắc tây-bắc, Fiji về phía bắc và Tonga về phía bắc đông-bắc. Trong khoảng thời gian biệt lập lâu dài, tại New Zealand đã phát triển một hệ động thực vật đặc thù riêng chiếm ưu thế bởi các loài chim. Nhiều loài này đã tuyệt chủng kể từ khi con người di cư đến nơi này và mang theo các loài hữu nhũ xâm lấn.
Dân cư New Zealand phần lớn gốc người châu Âu (tiếng Māori: Pakeha) trong khi thổ dân người Maori là thiểu số đông nhất. Những người gốc Polynesia (Đa Đảo) và châu Á cũng là những nhóm thiểu số quan trọng, nhất là ở những vùng đô thị. Ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất ở New Zealand là tiếng Anh.
New Zealand là một quốc gia phát triển được xếp hạng cao trong các bảng đánh giá quốc tế về nhiều mặt, bao gồm giáo dục, tự do kinh tế, và chỉ số nhận thức tham nhũng. Các thành phố của New Zealand cũng thường xuyên có mặt trong danh sách những thành phố dễ sống nhất thế giới.
Elizabeth IINữ hoàng New Zealand, được đại diện bởi Toàn quyền. Chức vị Toàn quyền là một chức vị lễ nghi chứ không tham dự vào chính trị. Theo cách nói của người dân đây thì Nữ hoàng “reigns but does not rule“, tức là Nữ hoàng “tại vị chứ không trực trị” cho nên hoàng gia Anh không tham chính. Thủ tướng cầm quyền chính trị và đứng đầu Chính phủ trong Nghị viện Tân Tây Lan, được dân cử theo kiểu dân chủ.

Nguồn gốc tên gọi

Bản đồ vào năm 1657 cho thấy bờ biển phía tây của “Nova Zeelandia”

Cho đến nay thời điểm người Māori đặt chân đến New Zealand vẫn chưa được xác định. Trước khi người châu Âu có mặt thì thổ dân Māori gọi đảo Bắc là “Te Ika a Māui” (con cá của Māui) và gọi đảo Nam là Te Wai Pounamu (nguồn nước của Pounamu) hay Te Waka o Aoraki (canoe của Aoraki).[1] Cho đến đầu thế kỷ 20, Đảo Bắc vẫn còn được gọi là Aotearoa (dịch nghĩa là “miền đất của mây trắng dài”);[2] trong ngôn ngữ Māori hiện đại. Địa danh này được dùng để chỉ cả quốc gia New Zealand. Aotearoa vẫn còn được dùng phổ biến trong tiếng Anh New Zealand với cùng một nghĩa như “New Zealand”, và từ này được dùng riêng hoặc cũng có thể được dùng trong cách viết trang trọng đi đôi với từ tiếng Anh để tỏ ý tôn trọng văn hóa thổ dân, ví dụ nhưng trong tên các tổ chức như “Aotearoa New Zealand”.
Tên nguyên thủy mà người phương Tây gọi New Zealand là Staten Landt, vốn được nhà thám hiểm Hà Lan Abel Tasman đặt cho. Ông cũng chính là người châu Âu đầu tiên tìm ra được quần đảo này vào năm 1642. Tasman cho rằng nơi này là một phần của lục địa phía nam nối liền với phần đất liền thuộc mũi đất cực nam của châu Nam Mỹ mới được Jacob Le Maire khám phá vào năm 1615 và đặt cho cái tên Staten Landt, có nghĩa là “Miền đất của Quốc dân Nghị hội” để vinh danh Quốc hội Hòa Lan.[3][4]
Cái tên New Zealand bắt nguồn từ những người làm bản đồ Hà Lan, họ gọi là New Zealand là Nova Zeelandia, theo tên tỉnh Zeeland của Hà Lan.[4] Không ai biết đích thực ai là người đặt ra cái tên này, nhưng nó xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1645 và có lẽ do nhà họa đồ Johan Blaeu chọn.[5] Nhà thám hiểm nước Anh James Cook sau đó đã dùng tên tương đương tiếng Anh và địa danh “New Zealand” ra đời. Về mặt địa lý và lịch sử, New Zealand không có liên hệ gì với đảo Zealand (Sjælland) của Đan Mạch.
Mặc dù các đảo Bắc và Nam vốn đã được đặt tên từ nhiều năm nay, nhưng Ủy ban Địa lý New Zealand đã tuyên bố vào năm 2009 rằng họ chưa có cái tên chính thức nào cho những hòn đảo này. Ủy ban dự định đặt tên các hòn đảo chính thức cùng với các tên theo tiếng Māori thay thế. Một số bản đồ ban đầu đề cập đến Đảo Nam với cái tên Đảo Trung.[6] Mặc dù vài cái tên Māori vẫn đang được sử dụng, Cố vấn Ngôn ngữ Maori Erima Henare xem Te Ika-a-Māui và Te Wai Pounamu là hai cái tên có nhiều khả năng được chọn.[7]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử New Zealand

Những người định cư Polynésie

Người Māori định cư ở New Zealand đến từ Đông Polynésie, phải vượt qua những cuộc hành trình dài

New Zealand thuộc địa bàn định cư chính của người Polynésie. Về diện tích New Zealand cũng là lãnh thổ lớn nhất của chủng tộc này. Theo những nhà nghiên cứu thì người Polynésie xâm nhập và định cư khu vực này khoảng năm 1250–1300 sau Công Nguyên.[8] Một số nghiên cứu thì cho rằng làn sóng di cư đầu tiên có thể diễn ra sớm hơn trước đó nhiều vào khoảng 50–150 sau Công Nguyên nhưng nhóm người đó sau diệt vong hoặc thiên cư sang nơi khác, nên sau đó New Zealand lại vắng bóng con người.[1][9][10] Sau nhiều thế kỷ, dân Polynesia ở New Zealand đã hình thành một nền văn hóa riêng biệt, nay gọi là dân Māori. Cư dân trên đảo được chia ra thành nhiều nhómiwi (bộ lạc) và hapū (phân tộc). Các nhóm này có mối quan hệ thay đổi, khi thì hợp tác, khi cạnh tranh và có khi là giao tranh. Sau đó một nhóm Māori di cư đến quần đảo Chatham và lập ra một nền văn hóa riêng biệt nữa có tên Moriori.[11][12]

Những nhà thám hiểm châu Âu

Người châu Âu đầu tiên sử sách ghi nhận đã đặt chân đến New Zealand là nhà thám hiểm người Hà Lan Abel Janszoon Tasman cùng với thủy thủ đoàn của ông vào năm 1642.[13] Trong cuộc chạm trán với thổ dân Māori, một số thủy thủ Âu châu trong đoàn của Tasman bị giết. Tasman liền sai nhổ neo rời New Zealand và không trở lại nữa. Bẵng một thời gian dài hơn 100 năm New Zealand hoàn toàn vắng bóng người Âu châu cho đến khi nhà thám hiểm người Anh James Cook trong những chuyến hành trình ở miền nam Thái Bình Dương khoảng 1768-71 cặp bến vào New Zealand.[13] Cook đến New Zealand lần đầu vào năm 1769 và vẽ địa đồ hầu hết bờ biển của quần đảo. Sau Cook là vô số thương thuyền và ngư thuyền từ châu Âu và Bắc Mỹ ghé New Zealand để đánh bắt cá voi hoặc hải cẩu. Họ trao đổi với thổ dân các hàng hóa và thực phẩm châu Âu, và đặc biệt là dụng cụ và vũ khí kim loại để đổi lấy gỗ, lương thực, và các món hàng khác của người Māori. Sự giao lưu còn ghi nhận có cả tệ nạn mua dâm.[14]
Với sự xâm nhập của người Âu châu, New Zealand tiếp thu một số các mặt hàng quan trọng, trong đó có khoai tâysúng hỏa mai. Hai món hàng này tác động mạnh đến lối canh tác cây lương thực và tổ chức xã hội của thổ dân Māori vì sau đó xảy ra những cuộc xung đột bằng hỏa pháo giữa các bộ lạc trên đảo.
Về mặt văn hóa bắt đầu vào thế kỷ 19, mặc dù lúc đầu đã gặp nhiều chống đối từ dân bản xứ, các nhà truyền giáo đạo Cơ Đốc dần hoạt động ngày càng mạnh ở New Zealand và truyền đạo Thiên Chúa cho thổ dân Māori. Dân theo đạo thì ngày càng đông biến đổi sắc thái văn hóa Māori.[15]
Trước cảnh dân Âu châu nhập cư đông đảo và thiếu trật tự gây xáo trộn đến xã hội thổ dân, lại thêm mối đe dọa và tham vọng lãnh thổ của người Pháp dòm ngó vùng Thái Bình Dương, chính phủ Anh liền phái William Hobson đến New Zealand để khẳng định chủ quyền của Anh và tìm cách thương lượng một thỏa thuận chính trị với người Māori.[i] Kết quả là Hiệp ước Waitangi ký tại Bay of Islands vào ngày 6 tháng 2, 1840.[16] Vì việc thảo hiệp ước có phần vội vã nên văn bản tiếng Anhtiếng Māori có nhiều điểm bất nhất trong cách dịch thuật, gây ra nhầm lẫn trong việc thi hành. Dù vậy Hiệp ước Waitangi vẫn được xem là nền tảng khai sinh ra xứ New Zealand và nó vẫn được viện dẫn là văn bản pháp lý bảo đảm quyền lợi của người Māori.
Tình thế trở nên rối ren khi Hobson, với tư cách là Phó Toàn Quyền, ban hành hai bản tuyên cáo trên Công báo Quảng cáo và Vịnh Quần đảo New Zealand ngày 19 tháng 6, 1840. Bản thông cáo đầu tiên “khẳng định trên miền đất được Khám phá [nhấn mạnh], Chủ quyền của Nữ hoàng Tối cao đối với quần đảo Nam thuộc New Zealand, thường được gọi là ‘Đảo Trung’ (Đảo Nam) và ‘Đảo Stewart’ (đảo Stewart/Rakiura); và Đảo, thường được gọi là ‘Đảo Bắc’, đã được nhượng lại cho Nữ hoàng Tối cao.” Bản thông cáo thứ hai miêu tả quá trình xác lập chủ quyền của Nữ hoàng trên “Đảo Bắc” đã được nhượng lại qua hiệp ước ký vào tháng 2.[17]
Dưới chế độ cai trị của người Anh, New Zealand ban đầu là một phần của thuộc địa New South Wales, nhưng sau đó trở thành một thuộc địa riêng biệt vào năm 1841.[16] Lúc đầu, Okiato được Hobson chọn là thủ đô của thuộc địa vào năm 1840, trước khi chuyển nơi làm việc của chính phủ đến Auckland vào năm 1841. Số lượng người Anh định cư ở New Zealand đặc biệt tăng lên. Ban đầu, người Māori buôn bán thuận lợi với ‘Pakeha‘, tên người Māori gọi người châu Âu, và nhiều iwi trở nên giàu có. Khi số lượng người định cư mới đến tăng lên, xung đột về đất đai đã nổ ra dẫn tới Chiến tranh đất đai New Zealand vào thập niên 1860 và 1870, kết quả là phần lớn đất của người Māori rơi vào tay người phương Tây.[18] Các chi tiết về sự định cư của người Âu và sự từ bỏ đất đai của người Māori vẫn còn là một chủ đề gây tranh cãi.

Một chính phủ đại diện cho thuộc địa được thành lập vào năm 1852 khi Vương Quốc Anh thông qua Đạo luật Hiến pháp New Zealand 1852. Quốc hội New Zealand lần thứ nhứt họp vào năm 1854. Năm 1856 chính quyền thuộc địa đã có thể quản lý hiệu quả và giải quyết suôn sẻ mọi vấn đề trong lãnh thổ hơn là chính sách đối với người bản xứ. Quyền lực trên phương diện này đã được chuyển giao cho chính quyền thuộc địa vào thập niên 1860.[16]
Năm 1863 Thủ Tướng Alfred Domett đi đến một quyết định rằng thủ đô sẽ được dời đến một nơi trong eo biển Cook, rõ ràng nguyên nhân là do mối quan ngại rằng Đảo Nam sẽ tách ra thành một thuộc địa riêng biệt. Những nhà truyền giáo đến từ Úc (được chọn vì vị thế trung lập của họ) đưa ra lời khuyên rằng Wellington là nơi thích hợp để đặt chính quyền do vị trí trung tâm và hải cảng ở đây, sau đó quốc hội đã chính thức dời đến nơi này lần đầu tiên vào năm 1865.[19] Năm 1893, New Zealand trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận quyền bầu cử của phụ nữ.[16]

Thế kỷ 20

Năm 1907 New Zealand trở thành một lãnh thổ bán tự trị của Đế quốc Anh, và là một quốc gia Thịnh vượng chung độc lập vào năm 1947 khi Đạo luật Westminster 1931 được chấp thuận,[16] mặc dù trên thực tế ảnh hưởng của người Anh lên việc điều hành New Zealand vẫn tồn tại một thời gian dài sau đó. Khi quốc gia này ngày càng trở nên độc lập về mặt chính trị, tuy nhiên, trên bình diện kinh tế, nó lại trở nên phụ thuộc; vào thập niên 1890, công nghệ đóng tàu làm lạnh cho phép xuất khẩu thịt và bơ sữa sang Anh, mối liên hệ thương mại này đã mang đến sự phát triển nền tảng cho nền kinh tế New Zealand.[20]

Lính bộ binh thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Auckland trong Trận Somme, tháng 9, 1916.

New Zealand là một thành viên tích cực trong Đế quốc Anh, nước này tham chiến cùng quân đội Anh trong các cuộc chiến như chiến tranh Boer lần 2, Thế chiến I và Thế chiến II, đặc biệt là trong Trận đánh nước Anh, ngoài ra nước này còn ủng hộ Anh trong Khủng hoảng Suez. Quốc gia này đóng góp một phần quan trọng vào nền kinh tế thế giới và đã phải gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề của cuộc Đại Suy thoái trong thập niên 1930. Cuộc suy thoái đã dẫn đến việc chính phủ lao động đầu tiên được bầu, vốn sau đó đã xây dựng được một nhà nước phúc lợi và một nền kinh tế mang nặng tính bảo hộ mậu dịch.

New Zealand trải qua một thời kỳ phát triển thịnh vượng sau Thế chiến II. Tuy nhiên, một số vấn đề xã hội vẫn còn tồn tại và chưa được giải quyết thỏa đáng; người Māori đã bắt đầu rời bỏ lối sống truyền thống ở nông thôn và chuyển tới cách thành phố để tìm việc. Một phong trào phản đối của người Māori cuối cùng đã xảy ra, để phản đối chủ nghĩa trọng Âu và nhằm tìm kiếm sự công nhận xứng đáng đối với văn hóa Māori và Hiệp ước Waitangi, vốn từ lâu đã bị phớt lờ.
Năm 1975, Phiên tòa Waitangi được mở nhằm điều tra những cáo buộc vi phạm Hiệp ước, và phiên tòa này đã tạo điều kiện chi việc điều tra những bất hòa trong lịch sử vào năm 1985. Cùng với các quốc gia phát triển khác, sự phát triển về mặt xã hội trong thập niên 1970 luôn đi đôi cả sự thay đổi về mặt chính trị.
Tư cách thành viên của nước Anh trong Cộng đồng Kinh tế châu Âu được thực thi vào năm 1973 đã giúp cho các nhà xuất khẩu New Zealand hạn chế được nhiều rào cản để thâm nhập vào các thị trường lớn trước đây của họ. Sự kiện trên và cuộc khủng hoảng năng lượng thập niên 1970 đã dẫn đến những thay đổi quan trọng về mặt kinh tế và xã hội trong suốt thập niên 1980 dưới sự điều hành từ chính phủ lao động thứ tư lãnh đạo bởi Bộ trưởng Tài chính Roger Douglas, người mà các chính sách được biết đến với cái tên Rogernomics.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị New Zealand

Chính phủ

New Zealand là một quốc gia quân chủ lập hiến với một thể chế đại nghị.[21] Mặc dù không có một hiến pháp được hệ thống hóa, Đạo luật Hiếp pháp năm 1986 đã tuyên bố những cấu trúc cơ bản của hiến pháp New Zealand.[22] Hiến pháp của New Zealand được miêu tả với đặc điểm là “phần lớn vẫn là các quy tắc bất thành văn” và là một “hỗn hợp của các đạo luật và thỏa ước hiến pháp.”[22] Nữ Hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia và được mang tước hiệu là Nữ Hoàng của New Zealand thông qua Đạo luật Tước hiệu Hoàng gia năm 1974. Bà được đại diện bởi một Toàn quyền, vốn được bổ nhiệm dựa trên sự đề cử từ Thủ Tướng.[23] Vị Toàn quyền hiện tại là Anand Satyanand.
Toàn quyền có nhiệm vụ thi hành các đặc quyền của Hoàng Gia, như quyền chỉ định và bãi nhiệm Thủ tướng và giải tán Quốc hội, và trong những trường hợp hiếm hoi là quyền dự phòng. Toàn Quyền cũng tham dự trong Hội đồng Hành pháp, vốn là một hội đồng chính thức bao gồm tất cả bộ trưởng trong chính phủ Hoàng gia. Chức năng chính của Toàn quyền theo hiến pháp là “dàn xếp để các lãnh đạo các đảng chính trị chính thành lập chính phủ”; bằng các thỏa ước hiến pháp, Toàn quyền “hoạt động dựa vào lời khuyên của các bộ trưởng giành được nhiều sự ủng hộ trong Quốc Hội.”[22] Quyền lập pháp nằm trong tay Quốc Hội New Zealand được bầu cử dân chủ, và phần còn lại của nội các. Nữ Hoàng và Toàn Quyền không thể thực thi quyền lực của mình một cách bình thường nếu không được nội các tham vấn, ngoại trừ các trường hợp mà chính phủ không còn nội các hoặc nội các bị mất sự tín nhiệm của Quốc Hội.[24]
Thành viên của Hội đồng Hành pháp phải là Thành viên của Quốc hội, và phần lớn trong số đó nằm trong thành phần nội các. Nội các là cơ quan đưa ra những chính sách quan trọng được lãnh đạo bởi Thủ tướng, người mà được chọn ra từ những người đứng đầu đảng cầm quyền hay liên minh giữa các đảng nắm đa số trong Quốc Hội. Đây là cơ chế quyền lực cao nhất của chính phủ.[22]
Quốc hội New Zealand theo thể chế đơn viện là Viện Dân biểu New Zealand, bao gồm 120 thành viên.[22]
Cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức mỗi ba năm một lần dưới dạng đại diện tỷ lệ gọi là Thành viên Tỉ lệ Hỗn hợp. Tờ tạp chí Economist giải thích:

Dưới dạng Thành viên Tỉ lệ Hỗn hợp thường có 120 ghế trong quốc hộit; một ghế phụ thểm thỉnh thoảng có thể được thêm vào nhằm đảm bảo sự đại diện tỉ lệ. Trong tổng số các ghế tại quốc hội, có 65 ghế (được bầu chọn trực tiếp bởi cử tri) được thay thế cho các thành viên cũ, bao gồm cả 7 ghế dành cho người bản địa Māori. Còn 55 ghế được phân bổ sao cho tương ứng với tỉ lệ ủng hộ mà người dân dành cho mỗi đảng (bầu cử đảng). Dưới hệ thống thành viên tỉ lệ hỗn hợp, một đảng có thể đạt được ghế trực tiếp từ cử tri hoặc có được hơn 5% tổng số phiếu bầu các đảng để có được ghế đại diện trong quốc hội. Chính phủ có thể tiếp tục lãnh đạo đất nước chỉ khi đảng cầm quyền giành được đa số ủng hộ tại Quốc hội, hay có thể đảm bảo thế đa số qua việc liên kết với các đảng chính trị khác để vượt qua cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm và lập pháp tại quốc hội.

[22]

Cuộc tổng tuyển cử năm 2008 đã làm phát sinh thêm hai ghế phụ thêm, dành cho Đảng Māori, vì lý do đảng này giành được nhiều ghế từ phía cử tri hơn số tỉ lệ số ghế trước đó đảng nắm giữ.[22]
Từ tháng 10, 2005 đến tháng 11, 2008, chính phủ do Đảng Lao động lãnh đạo được thành lập trên liên minh với Đảng Cấp tiến, với Jim Anderton là thành viên duy nhất nằm trong quốc hội. Ngoài ra, đảng New Zealand FirstUnited Future cũng đóng góp phần tính nhiệm và ủng hộ của họ cho đảng cầm quyền để đáp lại việc người của hai đảng này được nắm giữ các chức bộ trưởng không thuộc nội các. Ngoài ra đảng cầm quyền còn lập thỏa ước với Đảng Xanh để đảng này không bỏ phiếu bất tín nhiệm và ủng hộ chính phủ.[25] Năm 2007, đảng Lao động vận động bỏ phiếu bằng ủy quyền cho một cựu thành viên của đảng là Taito Phillip Field. Những cuộc dàn xếp này nhằm đảm bảo cho đảng một thế đa số vững chắc trong các cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm tại quốc hội.
Đảng Lao động bị Đảng Quốc gia New Zealand đáng bại trong cuộc tổng tuyển cử ngày 8 tháng 11, 2008. Theo sau chiến thắng, lãnh đạo đảng Quốc gia John Key nhanh chóng thành lập chính phủ mới, thông qua các thỏa thuận liên minh với các đảng cánh hữu đảng ACT, lãnh đạo bởi Rodney Hide, đảng chủ trương ôn hòa United Future mặc dù đảng này chỉ có một ghế duy nhất của người đứng đầu Peter Dunne, và Đảng Māori, do Tariana TuriaPita Sharples lãnh đạo. Mỗi vị lãnh đạo các đảo liên minh nắm giữ một vị trí bộ trưởng không thuộc nội các.[26] Còn lại là ba đảng ở phe đối lập với chính phủ: Đảng Lao động New Zealand, đứng đầu là Phil Goff; Đảng Xanh của Aotearoa New Zealand, đồng lãnh đạo bởi Metiria TureiRussel Norman, cuối cùng là Đảng Cấp tiến New Zealand, do Jim Anderton đứng đầu.

Tòa nhà “Beehive” của chính phủ New ZealandTòa nhà Quốc hội, ở Wellington

Tòa án có thẩm quyền cao nhất ở New Zealand là Tòa án Tối cao New Zealand, được lập vào năm 2004 theo sau việc thông qua Đạo luật Tòa án Tối cao năm 2003. Đạo luật đã bãi bỏ việc kháng cáo lên Hội đồng Cơ mật tại Luân Đôn.[22] Chánh án hiện tại là ông Dame Sian Elias. Bộ máy tư pháp New Zealand cũng bao gồm Tòa Thượng thẩm; Tòa án Tối cao, có nhiệm vụ giải quyết các tội ác nghiêm trọng, các vụ việc dân sự the ở cấp xét xử và các kháng cáo từ các tòa án ở cấp thấp hơn.
Trong khi Tòa án thỉnh thoảng có thể giới hạn hiệu lực của các đạo luật được Quốc hội thông qua, bản Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1990 của New Zealand cho phép việc xem xét lại hoạt động hành pháp của Tòa án, và chưa có một văn bản chính thức nào đảm bảo quyền thực thi việc này.[22] Theo hiến pháp, đây chính là cơ chế làm cho tòa án độc lập đối với Quốc hội, nó được duy trì bởi sự bổ nhiệm không theo đảng phái và theo các luật lệ khắt khe về thời gian tại nhiệm.[22]
New Zealand là đất nước duy nhất trên thế giới mà tất cả các chức vụ cao cấp nhất trong chính phủ đều do phụ nữ nắm giữ: (Nữ hoàng) Elizabeth II, (Toàn quyền) Dame Silvia Cartwright, (Thủ Tướng) Helen Clark, (Chủ tịch Viện dân biểu New Zealand) Margaret Wilson và (Chánh án) Dame Sian Elias, tất cả đều tại nhiệm trong khoảng thời gian giữ tháng 3, 2005 và tháng 8, 2006.[27] Công ty được niêm yết lớn nhất New Zealand là Telecom New Zealand, có một người phụ nữ là – Theresa Gattung – nắm giữ chức giám đốc điều hành cho tại thời điểm hiện tại.

Quan hệ đối ngoại và quân sự

New Zealand là quốc gia luôn đi đầu trong việc bảo vệ môi trường, quyền con người và thương mại tự do, đặc biệt là nông nghiệp. New Zealand là một thành viên của Khối Thịnh vượng chung Anh, OECD, Các Hiệp định Phòng thủ Năm bên, APEC, Hội nghị cấp cao Đông Á, và Liên hiệp quốc. New Zealand tham gia vào một số thỏa thuận thương mại tự do, trong đó quan trọng nhất phải kể đến là Thỏa thuận thương mại tự do New Zealand – Trung QuốcHiệp định Quan hệ Kinh tế Mật thiết hơn với Australia.

2007 ANZAC Dawn Service ở Wellington. Từ trái sang phải là cờ của New Zealand, Anh Quốc và Australia.

Trong một trăm năm tồn tại đầu tiên của mình, chính sách đối ngoại của New Zealand phụ thuộc vào Vương quốc Anh. Trong sự kiện tuyên chiến với Đức ngày 3 tháng 9, 1939, Thủ Tướng Michael Savage đã tuyên bố, “Nơi nào nước Anh đi, chúng ta đi; Nơi nào nước Anh dừng chân, chúng ta dừng chân.”[28]
Trải qua hai cuộc đại chiến thế giới, đánh dấu sự tác động với New Zealand bằng việc nhiều thanh niên nước này hi sinh tại nhiều nơi như Gallipoli (nơi mà truyền thống ANZAC được hình thành với Australia), Crete, El AlameinCassino. New Zealand cũng đóng góp công sức quan trọng cùng với nước Anh trong hai trận đánh nổi tiếng: Trận sông PlateTrận đánh nước Anh trên không. Còn tại mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến II, Hoa Kỳ có hơn 400.000 nhân viên quân sự đồn trú tại New Zealand để chuẩn bị cho các trận đánh quan trọng như Tarawa, Guadalcanal, SaipanIwo Jima.
Sau chiến tranh, Hoa Kỳ gia tăng ảnh hưởng của mình lên văn hóa của đất nước này và người New Zealand nhận thức rõ hơn về vị thế của một quốc gia đang hình thành. New Zealand gia nhập cùng với Astralia và Hoa Kỳ vào hiệp ước phòng thủ chung ANZUS vào năm 1951, và sau đó nước này đã sát cánh với Hoa Kỳ trong cả hai cuộc chiến tranh Triều TiênViệt Nam. Ngược lại, về phía nước Anh lại trở nên chú trọng vào các vấn đề châu Âu theo sau Khủng hoảng Suez, và New Zealand buộc phải phát triển nền kinh tế mới để có thể gia nhập cùng với Vương quốc Anh vào Cộng đồng châu Âu vào năm 1973.[29]

Tòa nhà New Zealand nơi đặt Cao ủy New Zealand ở Luân Đôn

New Zealand có quan hệ truyền thống gần gũi với Australia, và hai nước vốn có chính sách đối ngoại khá tương đồng. Mối quan hệ gần gũi này được xác lập tại Trận đánh Gallipoli và là một phần của tinh thần ANZAC, vốn là truyền thống vững chắc ở cả hai quốc gia. Về phía các quốc gia thuộc quần đảo Thái Bình Dương như Tây Samoa lại đi theo đường lối New Zealand. Ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với New Zealand đã giảm sau cuộc thất trận ở Việt Nam; vụ chìm tàu Rainbow Warrior do Pháp gài đặc công trong khi Anh cũng như Hoa Kỳ không lên án mạnh đủ để bảo vệ quyền lợi của New Zealand. Ngoài ra bất đồng về thương mại, nông nghiệp, môi trường và chính sách phi hạt nhân New Zealand cũng là những điểm xung khắc giữa Hoa Kỳ và New Zealand.
Trong khi hiệp ước ANZUS được thực hiện đầy đủ giữa các bên Australia, New Zealand và Hoa Kỳ, thì vào tháng 2, 1985, New Zealand từ chối cho các tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân hay được vũ trang bằng vũ khí hạt nhân được phép cập cảng nước này. New Zealand đã trở thành quốc gia đầu tiên thuộc khối đồng minh phương Tây nằm trong Vùng phi hạt nhân vào tháng 6, năm 1987.[30][31][32] Năm 1986, Hoa Kỳ loan báo rằng đang đình chỉ nghĩa vụ an ninh trong hiệp ước đối với New Zealand cho đến khi nào quyền được sử dụng các cảng của nước này được khôi phục.
Đạo luật Giải trừ, Kiểm soát vũ khí, Phi hạt nhân New Zealand năm 1987 đã ngăn chặn việc triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ New Zealand và ngăn không cho các tàu có trang bị vũ khí hạt nhân được quyền vào vùng lãnh hải nước này. Đạo luật này vẫn là nguyên nhân chính gây nên mối bất hòa giữa Hoa Kỳ và New Zealand, dẫn tới việc các nghĩa vụ trong hiệp ước phòng thủ chung của nước này bị Hoa Kỳ đình chỉ.

HMNZS Canterbury là một tàu chiến đấu đa chức năng của Hải quân Hoàng gia New Zealand.

Trước khi có sự hiện diện của người châu Âu, đã có các cuộc chiến khác nhau giữa các bộ lạc ở New Zealand, và sau đó là giữa người định cư nước Anh và các bộ lạc bản địa. Lịch sử cận đại của New Zealand đánh dấu bằng các cuộc chiến của nước Anh có sự tham gia của New Zealanh như Chiến tranh Boer lần hai, Thế chiến thứ nhất, Thế chiến thứ hai, Chiến tranh Triều Tiên, Khủng hoảng Mã Lai (trong đó New Zealand đã gửi binh lính, máy bay tiêm kích và ném bom theo sau cuộc đối đầu trước đó với Indonesia), Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Vùng vịnhChiến tranh Afghanistan. Nước này cũng gửi một đơn vị kỹ sư quân sự để giúp tái thiết cơ sở hạ tầng Iraq với thời hạn một năm trong chiến tranh Iraq. Vào tháng 10, 2009, lực lượng New Zealand vẫn tiếp tục hoạt động ở Afghanistan.[33]
Lực lượng Phòng thủ New Zealand có ba nhánh: Lục quân New Zealand, Hải quân Hoàng gia New ZealandKhông lực Hoàng gia New Zealand. New Zealand coi lực lượng phòng thủ quốc gia cần phải tinh giảm; hạn chế khả năng chiến đấu trên không vào năm 2001. Lực lượng gìn giữ hòa bình của New Zealand đã tham gia vào nhiều nhiệm vụ của Liên hiệp quốc, bao gồm tại Cyprus, Somalia, Bosnia và Herzegovina, Sinai, Angola, Campuchia, biên giới Iran/Iraq, Bougainville, Đông Timor, và Quần đảo Solomon.[34]

Chính phủ địa phương và lãnh thổ thuộc New Zealand

Những người định cư châu Âu đầu tiên phân chia New Zealand làm hai tỉnh. Việc phân chia này bị bãi bỏ vào năm 1876 nhằm mục đích tập trung chính quyền để giải quyết các vấn đề tài chính. Kết quả là New Zealand không có các phân cấp hành chính đại diện riêng biệt như tỉnh, bang hay lãnh thổ, ngoài chính quyền địa phương. Tuy nhiên tinh thần địa phương của người dân vẫn tồn tại, và được thể hiện quan sự tranh tài gay gắt trong các sự kiện thể thao, văn hóa. Kể từ năm 1876, chính quyền địa phương đã quản lý nhiều vùng khác nhau của New Zealand.
Năm 1989, chính phủ nước này hoàn tất việc tái tổ chức chính quyền địa phương, đưa vào hoạt động hai cơ cấu có liên hệ chặt chẽ là hội đồng vùngchính quyền lãnh thổ theo Luật Chính phủ Địa phương 2002. Luật Quản lý Tài nguyên 1991 đã thay thế Luật Thị trấn và Nông thôn như là văn bản lập pháp chính cho các chính phủ địa phương.
New Zealand có 12 hội đồng vùng có chức năng quản lý các vấn đề môi trường và giao thông, 73 chính quyền lãnh thổ quản lý đường sá, hệ thống thoát nước, thỏa ước nhà đất và các vấn đề địa phương khác. Chính quyền lãnh thổ bao gồm 16 hội đồng thành phố, 57 hội đồng quận, và Hội đồng Quần đảo Chatham.
Bốn hội đồng lãnh thổ (một thành phố và ba quận) và hội đồng quần đảo Chatham cũng thực hiện chức năng của hội đồng vùng và được biết như là các chính quyền đơn nguyên. Các chính quyền quận không phải là phân cấp hành chính dưới của hội đồng vùng quận, and a few of them straddle regional council boundaries.

The regions are (asterisks denote unitary authorities): Northland, Auckland, Waikato, Bay of Plenty, Gisborne*, Hawke’s Bay, Taranaki, Manawatu-Wanganui, Wellington, Marlborough*, Tasman*, Nelson*, West Coast, Canterbury, Otago, Southland, Chatham Islands*.
As a major South Pacific nation, New Zealand has a close working relationship with many Pacific Island nations, and continues a political association with the Cook Islands, Niue and Tokelau. New Zealand operates Scott Base in its Antarctic territory, the Ross Dependency. Other countries also use Christchurch to support their Antarctic bases and the city is sometimes known as the “Gateway to Antarctica”.

Nhân khẩu học

Tỉ lệ sinh, tuổi thọ (kỳ vọng sống), tỉ lệ trẻ em chết
2005–2010 2010–2015 2015–2020 2020–2025 2045–2050
Tỉ lệ sinh (số trẻ trên một phụ nữ) 2,02 2,02 1,95 1,88 1,85
Tuổi thọ trung bình theo số năm sống 80 81 82 82 85
Tỉ lệ trẻ em chết trên 1.000 trẻ được sinh ra 4,6 4,2 3,9 3,7 2,7

Chú thích: Các năm được tính tròn. Nguồn: Liên hiệp Quốc.[35]
Kitô giáo là tôn giáo chiếm ưu thế ở New Zealand, mặc dù xã hội nước này là một trong những xã hội thế tục nhất trên thế giới.[36] Trong cuộc điều tra dân số năm 2006, 55,6% dân số tự nhận mình là Kitô hữu, trong khi một 34,7% chỉ ra rằng họ không có tôn giáo (tăng từ 29,6% năm 2001) và khoảng 4% là các tôn giáo khác.[37] Các giáo phái Kitô giáo chính là Anh giáo, Công giáo La Mã, Trưởng LãoPhong trào Giám Lý. Cũng có một số lượng đáng kể người Kitô hữu xác định mình là Phong trào Ngũ Tuần, Báp-tít, và đạo Mặc Môn. Theo số liệu điều tra dân số, các tôn giáo thiểu số quan trọng khác bao gồm Ấn Độ giáo, Phật giáoHồi giáo.[38]

Địa lí

Quốc gia ở châu Đại Dương; gồm một quần đảo trải dài 1.550 km, cách Úc 2.000 km về hướng Đông Nam. Lãnh thổ gồm hai đảo chính tách rời nhau bởi eo biển Cook, đảo Bắc là đảo núi lửa (Ruhapehu, 2.797 m; Egomont, 2.518 m), 75% dân cư tập trung ở vùng đồng bằng ven biển; đảo Nam phần lớn là núi và cao nguyên (đỉnh Cook, 3.764 m; dãy Kaikura ở phía Đông Bắc; ngọn núi Eyre ở phía Tây Nam).

Kinh tế

New Zealand có cơ sở kinh tế nông-công nghiệp phát triển, trong đó chăn nuôi giữ vai trò quan trọng; cơ cấu kinh tế: nông nghiệp (4,4%), công nghiệp (26%), dịch vụ (69,6%); 3/4 sản phẩm nông nghiệp hàng năm dùng để xuất khẩu. Thu nhập bình quân đầu người khoảng 28,000 USD (2008-PPP). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 2%. Riêng năm 2008 GDP tăng 0,1% do bị tác động từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Quý 2 năm 2009 là (-2,1%). Nền kinh tế New Zealand chủ yếu dựa vào thương mại, xuất nhập khẩu hàng hoá. New Zealand buôn bán với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó các bạn hàng lớn nhất là Úc, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Anh. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm sữa, thịt gia súc, gỗ, , thiết bị máy móc, rauhoa quả. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phương tiện giao thông, máy móc, nhiên liệu, chất dẻo, thiết bị y tế….
Đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào Niu Di-lân chủ yếu đến từ Úc, Nhật Bản, Singapore, Anh, Mỹ, tập trung vào các lĩnh vực như sản xuất, xây dựng và du lịch.
New Zealand được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng cao về khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, kinh tế New Zealand hiện cũng chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 4,6% (cao nhất từ năm 2003) và giá nhà đất giảm xuống mức kỷ lục (10-15%).

Chú thích

  1. ^ a ă Mein Smith (2005) tr 6.
  2. ^ King (2003) tr 41.
  3. ^ The Discovery of New Zealand
  4. ^ a ă Wilson, John (21 tháng 9 năm 2007). “Tasman’s achievement”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2008.
  5. ^ Mackay (1986) pg 52–54.
  6. ^ http://www.nzetc.org/tm/scholarly/BruJour-fig-BruJour_P001a.html
  7. ^ Isaac Davison, North and South Islands officially nameless, New Zealand Herald, 22 April 2009. Accessed 22 April 2009.
  8. ^ Irwin, Geoff; Walrond, Carl (4 tháng 3 năm 2009). “When was New Zealand first settled? – The date debate”. Te Ara Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2010.
  9. ^ Lowe, David J. (2008). Trong Lowe, David J. Guidebook for Pre-conference North Island Field Trip A1 ‘Ashes and Issues’ (28–30 November 2008). Australian and New Zealand 4th Joint Soils Conference, Massey University, Palmerston North (1–5 December 2008). New Zealand Society of Soil Science. tr. 142–147. ISBN 978-0-473-14476-0. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2010.
  10. ^ Sutton et al. (2008), pg 109. “This paper… affirms the Long Chronology [first settlement up to 2000 years BP], recognizing it as the most plausible hypothesis.”
  11. ^ Clark (1994) pg 123–135
  12. ^ Davis, Denise (11 tháng 9 năm 2007). “The impact of new arrivals”. Te Ara Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2010.
  13. ^ a ă Mein Smith (2005), pg 23.
  14. ^ King (2003) pg 122.
  15. ^ Peggy Brock, ed. Indigenous Peoples and Religious Change. Leiden: Brill, 2005. ISBN 978-90-04-13899-5. pages 67–69
  16. ^ a ă â b c Political and constitutional timeline, New Zealand History online, Ministry for Culture and Heritage. Updated 6 December 2009. Retrieved 30 April 2010.
  17. ^ “New Zealand Advertiser and Bay Of Islands Gazette, 19 June 1840”. Hocken Library. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  18. ^ New Zealand’s 19th-century wars – overview, New Zealand History online, Ministry for Culture and Heritage. Updated 29-Apr-2009. Retrieved 30 April 2010.
  19. ^ Temple, Phillip (1980). Wellington Yesterday. ISBN 0-86868-012-5. Referenced in WellingtonNZ.com’s Wellington Media Pack. Retrieved 30 April 2010.
  20. ^ Hugh Stringleman and Robert Peden. Sheep farming – Growth of the frozen meat trade, 1882–2001, Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Ministry for Culture and Heritage. Updated 20 October 2009. Retrieved 6 May 2010.
  21. ^ “Queen and New Zealand”. The British Monarchy. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2000.
  22. ^ a ă â b c d đ e ê g The Economist Intelligence Unit (15 tháng 2 năm 2005). “Factsheet – New Zealand – Political Forces”. The Economist. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2009.
  23. ^ “The Queen’s role in New Zealand”. The British Monarchy. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2000.
  24. ^ “The Reserve Powers”. The Governor-General of New Zealand. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2009.
  25. ^ Full coverage: Labour Forms 3rd Term Govt, scoop.co.nz, 20 October 2005. Retrieved 29 April 2010.
  26. ^ Key announces shape of new National-led government, National Business Review, 16 November 2008. Retrieved 29 April 2010.
  27. ^ Election of Speaker, Hansard, 3 March 2005. Quote from Jim Anderton: “I, too, noted with a slightly sinking feeling of inferiority that it is not just the top three constitutional positions that are occupied by women; it is now the top four.”
  28. ^ Today in history – 5 September 1939 – PM declares NZ’s support for Britain, New Zealand history online, New Zealand Ministry for Culture and Heritage. Retrieved 28 April 2010.
  29. ^ Patman (2005) pg 8.
  30. ^ Lange (1990).
  31. ^ Dewes, Kate. “Legal challenges to nuclear weapons from Aotearoa/NewZealand”. disarmsecure.org. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2007.
  32. ^ Green, Robert. “The Naked Nuclear Emperor—Debunking Nuclear Deterrence”. disarmsecure.org. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2007.
  33. ^ “ISAF Troops in Numbers (Placemat)”. International Security Assistance Force. 22 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2010.
  34. ^ “New Zealand Defence Force Overseas Operations”. nzdf.mil.nz. 22 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
  35. ^ Department of Economic and Social Affairs Population Division. “World Population Prospects, Table A.1, A.2, A.12, A.15, A.17, A.18 see pgs 27, 38, 44, 57, 62” (.PDF). 2008 revision. United Nations. Truy cập ngày 29 August 2009.
  36. ^ https://worldview.gallup.com/default.aspx
  37. ^ http://www.stats.govt.nz/Census/2006CensusHomePage/QuickStats/quickstats-about-a-subject/culture-and-identity/religious-affiliation.aspx
  38. ^ http://web.archive.org/web/20111011032945/http://www.stats.govt.nz/~/media/statistics/publications/census/2006-reports/quickstats-subject/culture-identity/quickstats-about-culture-and-identity-tables.aspx

Tham khảo

Thư mục

  • Allan, H.H. (1982) Indigenous Tracheophyta – Psilopsida, Lycopsida, Filicopsida, Gymnospermae, Dicotyledons, Flora of New Zealand Volume I. Botany Division, Department of Scientific and Industrial Research.
  • Bain, Carolyn (2006). New Zealand. Lonely Planet. ISBN 1741045355.
  • Clark, R. (1994) Moriori and Māori: The Linguistic Evidence. In Sutton, Douglas G. (Ed.) (1994), The Origins of the First New Zealanders. Auckland: Auckland University Press.
  • Davenport, Sally. “Panic and panacea: brain drain and science and technology human capital policyResearch Policy 33 (2004) 617–630. Accessed 2007-04-24.
  • Jackson, Duncan J.R. (2005). “Exploring the Dynamics of New Zealand’s Talent Flow”. New Zealand Journal of Psychology.
  • Inkson, K (2004). “The New Zealand Brain Drain: Expatriate views”. University of Auckland Business Review 6 (2): 29–39.
  • King, Michael (2003). The Penguin History of New Zealand. New Zealand: Penguin Books. ISBN 9780143018674.
  • Lange, David (1990). Nuclear Free: The New Zealand Way. New Zealand: Penguin Books. ISBN 0140145192.
  • Lindsey, Terence; Morris, Rod (2000). Collins Field Guide to New Zealand Wildlife. HarperCollins (New Zealand) Limited.
  • Mackay, D. (1986) The Search For The Southern Land. In Fraser, B. (Ed.) (1986), The New Zealand Book Of Events. Auckland: Reed Methuen.
  • Mein Smith, Philippa (2005). A Concise History of New Zealand. Australia: Cambridge University Press. ISBN 0521542286.
  • Robert G. Patman (2005). “Globalisation, Sovereignty, and the Transformation of New Zealand Foreign Policy” (PDF). Working Paper 21/05. Centre for Strategic Studies, Victoria University of Wellington. tr. 8. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2007.
  • Sutton, Douglas G.; Flenley, John R.; Li, Xun; Todd, Arthur; Butler, Kevin; Summers, Rachel; Chester, Pamela I. (2008). “The timing of the human discovery and colonization of New Zealand”. Quaternary International 184: 109–121. doi:10.1016/j.quaint.2007.09.025.
  • Winkelmann, R. (2000). “The [[Labour economics|labour market]] performance of European immigrants in New Zealand in the 1980s and 1990s”. The International Migration Review (The Center for Migration Studies of New York, Inc.) 33 (1): 33–58. doi:10.2307/2676011. Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  • Zavos, Spiro (2 tháng 9 năm 2007). “How to beat the All Blacks”. The Sun Herald (supplement). tr. 54.

Đọc thêm

  • David Bateman, ed. Bateman New Zealand Encyclopedia (2005)
  • Keith Sinclair and Raewyn Dalziel. A History of New Zealand (2000)
  • A. H. McLintock, ed. Encyclopedia of New Zealand 3 vols (1966)
  • New Zealand Official Yearbook (annual)

Liên kết ngoài


Đền Parthenon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Parthenon
Παρθενών Bản mẫu:Gr icon
Attica 06-13 Athens 35 Parthenon.jpg
Đền Parthenon
Thông tin chung
Dạng Đền
Phong cách Cổ điển
Địa điểm Athens, Hy Lạp
Chủ đầu tư Chính Phủ Hy Lạp
Sử dụng Bảo tàng
Xây dựng
Khởi công 447 TCN
Hoàn thành 432 TCN
Phá hủy Một phần vào 26 tháng 9, 1687
Kích thước
Kích thước 69,5 nhân 30,9 m (228 nhân 101 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Kích thước khác Cella: 29,8 nhân 19,2 m (98 nhân 63 ft)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Thiết kế
Kiến trúc sư Iktinos, Kallikrates
Nhà thiết kế khác Phidias (nhà điêu khắc)

Tọa độ: 37,97025°B 23,72247°Đ

Đền Parthenon nhìn từ phía đồi Pnyx

Parthenon (tiếng Hy Lạp: Παρθενών) là một ngôi đền thờ thần Athena, được xây dựng vào thế kỷ 5 trước Công nguyênAcropolis. Đây là công trình xây dựng nổi tiếng nhất còn lại của Hy Lạp cổ đại, và đã được ca ngợi như là thành tựu của kiến trúc Hy Lạp. Các điêu khắc trang trí của ngôi đền bằng từ đá cẩm thạch (marble) trắng, được coi như là đỉnh cao của nghệ thuật Ai Cập cổ đại. Đền Parthenon là biểu tượng của sự kết thúc Hy Lạp cổ đại và của nền dân chủ Athena, và được đánh giá như là một trong những công trình văn hóa vĩ đại nhất thế giới.
Tên của đền Parthenon dường như có nguồn gốc từ tượng đài kỷ niệm Athena Parthenos ở căn phòng phía Đông công trình[1]. Bức tượng này do Phidias điêu khắc từ ngà voivàng; tên gọi cho Athena là parthenos (παρθένος, “virgin”) có nghĩa là vị chúa vẫn còn trinh nguyên.
Đền Parthenon được thay thế một đền thờ Athena cũ hơn đã bị huỷ hoại bởi Đế chế Ba Tư vào năm 480 trước Công nguyên. Giống như phần lớn các ngôi đền Hy Lạp khác, đền Parthenon đã được sử dụng như là một kho tàng, và đã phục vụ cho liên minh Delian, liên minh mà sau này trở thành Đế chế Athena.
Vào thế kỷ 6 sau Công nguyên, đền Parthenon được chuyển sang thành nhà thờ Kitô giáo và được thiết kế để tôn kính Đức Mẹ Đồng trinh. Sau cuộc xâm chiếm của Thổ Nhĩ Kỳ, công trình lại được chuyển sang thành nhà thờ Hồi giáo. Vào năm 1687, một kho quân trang đạn dược của Thổ Nhĩ Kỳ có bên trong công trình đã bị bốc cháy; kết quả của vụ nổ này đã làm hỏng đền Parthenon và những điêu khắc của nó. Vào thế kỷ 19, Thomas Bruce đã tháo dỡ một vài điêu khắc còn sót lại và mang chúng đến Anh. Những tác phẩm điêu khắc này, bây giờ được biết đến như Elgin Marbles hay Parthenon Marbles, được trưng bày trong Viện Bảo tàng Anh. Cuộc tranh luận về việc Elgin Marbles cần phải được mang trả lại Hy Lạp vẫn còn đang tiếp diễn.
Đền Parthenon, cùng với các công trình khác ở Acropolis, là một trong những địa điểm khảo cổ học có nhiều khách du lịch đến tham quan nhất. Bộ Văn hóa Hy Lạp hiện nay đang tiến hành một chương trình bảo tồn và khôi phục công trình.

Thiết kế và xây dựng

Đền Parthenon nhìn từ phía Nam. Cận cảnh là hình ảnh về sự xây dựng lại

Đền Parthenon được xây dựng theo đề xuất của Pericles, chính trị gia lãnh đạo Athen trong thế kỉ thứ 5 TCN. Đền được xây dựng dưới sự giám sát chung của nhà điêu khắc Phidias, người cũng đóng vai trò chính trong việc điêu khắc trang trí đền. Các kiến trúc sưIktinosKallikrates. Việc xây dựng bắt đầu vào năm 447 TCN, và công trình gần như được hoàn thành vào năm 438 TCN, nhưng việc trang trí trong đền tiếp tục cho đến ít nhất là năm 433 TCN. Một số ghi chép về tài chính của đền Parthenon vẫn còn sót lại cho thấy chi phí đắt nhất là việc chuyên chở đá từ núi Pentelicus, cách Athena khoảng 16 km, đến Acropolis. Số tiền này một phần lấy ra từ ngân khố của liên minh Delian, đã được mang từ nhà thờ Panhellenic ở vùng Delos đến Acropolis vào năm 454 TCN.
Mặc dù đền Hephaestus gần đó là công trình còn sót lại hầu như nguyên vẹn nhất của loại đền thờ xây dựng có trang trí thức cột Doric, đền Parthenon, trong thời gian tồn tại, vẫn được xem như là đền thờ đẹp nhất. John Julius Cooper đã viết về đền thờ rằng, “có danh tiếng là đền thờ kiểu thức cột Doric hoàn hảo nhất đã từng được xây dựng. Ngay cả trong thời cổ đại, kiến trúc tinh vi của nó đã trở thành truyền thuyết, đặc biệt là sự liên hệ tinh tế giữa độ cong của bệ đỡ hàng cột, các đường trau chuốt của các bức tường các phòng trong công trình và các đường gờ của các cột.” Các đường gờ này hơi cong lên phía trên một chút theo chiều cao của cột để làm bù trừ các hiệu ứng quang học khi nhìn lên phía trên đền. Hiệu ứng của những đường cong tinh tế này làm đền thờ có vẻ cân đối hơn là cách nhìn thật về nó.
Đo ở bậc cao nhất, kích cỡ của nền đền Parthenon là 69,5 m × 30,9 m (228,0 × 101,4 ft). Căn phòng bên trong dài 29,8 m và rộng 19,2 m (97,8 × 63,0 ft), với dãy cột kiểu Doric bên trong theo hai tầng, cấu trúc cần để chống đỡ mái đền. Ở bên ngoài, các cột Doric có đường kính 1,9 m (6,2 ft) và cao 10,4 m (34,1 ft). Các cột ở góc có đường kính hơi lớn hơn một chút. Bệ đỡ hàng cột có độ cong lên phía trên về phía trung tâm 60 mm (2,36 inch) về đầu phía Đông và phía Tây, và 110 mm (4,33 inch) ở hai bên. Một số kích thước đã tạo thành hình chữ nhật vàng diễn tả tỉ lệ vàng, được đề xuất bởi Pythagoras vào thế kỉ trước đó.
Mái của công trình được lợp bằng những tấm đá cẩm thạch được biết đến như là imbrex và tegula.

Điêu khắc trang trí

Chi tiết metope phía Tây, thể hiện chi tiết tình trạng đền sau 2.500 chiến tranh, ô nhiễm, sự bảo tồn thất thường, sự cướp bóc và phá hoại

Đền Parthenon, một đền thờ kiểu cột Dorickiểu Peripteral với các kiến trúc mang đặc điểm của thức cột Ionic, chứa bức tượng bằng ngà và vàng của Athena Parthenos được điêu khắc bởi Pheidias và hoàn thành khoảng năm 439/438 TCN. Đền thờ được dùng để thờ thần Athena vào thời điểm đó, mặc dù công việc xây dựng được tiếp tục gần như là đến giai đoạn bắt đầu của cuộc chiến tranh Peloponnesian vào năm 432 TCN. Cho đến năm 438 TCN, các trang trí điêu khắc của các metope của cột Doric trên trụ ngạch phía bên dãy cột bên ngoài, và của trụ ngạch cột Ionic vòng quanh phần trên các của bức tường của phòng thờ, đã được hoàn thành.
92 metope được chạm khắc nổi, một công việc mà lúc đó chỉ dành cho các kho tàng (các tòa nhà dùng để chứa các quà tạ ơn cho các thần linh). Theo như các tài liệu ghi lại về việc xây dựng, các điêu khắc metope có niên đại khoảng 446-440 TCN. Thiết kế của chúng được cho là do nhà điêu khắc Kalamis. Các metope về phía Đông của đền Parthenon, phía trên lối ra vào chính, miêu tả Gigantomachy (trận đánh thần thoại giữa các vị thần trên đỉnh Olympus và các người khổng lồ). Các metope phía Tây diễn tả Amazonomachy (trận đánh thần thoại của dân thành Athena chống lại người Amazon). Các metope phía Nam —với ngoại trừ một số metope 13-20 có vấn đề, giờ đây thất lạc—miêu tả Thessalian Centauromachy (trận đánh của người Lapith được giúp bởi Theseus chống lại nhân mã, một sinh vật nửa người, nửa ngựa). Trên mặt phía Bắc của đền Parthenon các metope không được bảo tồn tốt, nhưng đề tài có vẻ như là cướp phá Troia.

Chi tiết các metope phía Tây. Một trong những điêu khắc chạm nổi đã bị lấy ra từ cuộc thám hiểm của Lord Elgin và hiện nay đang có ở Bảo tàng Anh.

Các metope cho thấy các vết tích còn lại của kỹ thuật cao trong điêu khắc giải phẫu đầu, trong giới hạn đường nét của những chuyển động thân thể và những bó cơ, những tĩnh mạch cũng nhận thấy rõ ở các hình Nhân mã. Một vài metope vẫn có ở công trình nhưng ngoại trừ những phần ở mặt phía Bắc, chúng hầu như đã bị hỏng gần hết. Một vài metope hiện có ở Bảo tàng Acropolis, những cái khác thì có ở bảo tàng Anh và một cái có thể được thấy ở bảo tàng Louvre.
Phần lớn những đặc điểm trong kiến trúc và trang trí đền theo kiểu cột Ionic có xung quanh tường ngoài của phòng thờ. Các chạm khắc ở phù điêu miêu tả một phiên bản lý tưởng hóa của đám diễu hành Panathenaic từ cổng Dipylon ở Kerameikos đến Acropolis. Đám diễu hành này được tổ chức 4 năm một lần, người dân Athen và những người nước ngoài bị lôi cuốn vào việc tôn vinh thần Athena. Hệ thống cột còn lại được chạm khắc vào thời gian khoảng năm 442-438 TCN.
Pausanias, một người du lịch vào thế kỷ thứ 2, khi đến thăm Acropolis và nhìn thấy Parthenon, đã miêu tả ngắn gọn cái trán tường của đền. Trán tường phía Đông miêu tả sự sinh ra của Athena từ đấu của bố cô, Zeus, trong khi đó trán tường phía Tây cho thấy sự tranh luận của thần Athena và thần Poseidon về thành phố Athena. Các công việc tạo dựng trán tường có thời gian từ 438-432 TCN.
Sự phong phú trong trang trí của đền Parthenon là duy nhất trong số các ngôi đền Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, nó cũng phù hợp với chức năng của đền là nơi cất giữ khi báu. Ở trong opisthodomus (phòng phía sau phòng thờ) đã lưu giữ rất nhiều tiền bạc thu được của liên minh Delian mà thành phố Athena là thành viên lãnh đạo.

Kho tàng hay đền đài

Về mặt kiến trúc, Parthenon rõ ràng là một ngôi đền, gồm những tranh tượng tôn giáo nổi tiếng về thần Athena do Phidias làm và kho chứa những đồ dâng cúng tạ ơn. Những buổi cúng tế thực tế của người Hy Lạp được tổ chức ở nơi thờ ngoài trời, và cũng như những luyện tập mang tính tôn giáo của họ, đền Parthenon không phù hợp với một vài định nghĩa về đền cũng như không có bằng chứng gì chứng tỏ những việc thờ cúng ngoài trời. Tuy nhiên, có vài nhà nghiên cứu đã cho rằng đền Parthenon chỉ đã từng là kho báu. Lần đầu tiên có những ý kiến này là vào thế kỷ 19 và nó ngày càng được củng cố trong những năm gần đây. Những ý kiến chính của việc nghiên cứu vẫn xem công trình theo thuật ngữ của Walter Burkert miêu tả về thánh đường của Hy Lạp, gồm có temenos, altar và đền với những tranh tượng tôn giáo[2].

Lịch sử sau này

Parthenon đã tồn tại như một ngôi đền của thần Athena mà đã bị đóng cửa hàng ngàn năm. Nó chắc chắn vẫn còn nguyên vẹn cho đến thế kỷ 4 sau công nguyên, cùng thời với Nhà thờ Đức BàParis ngày nay và lâu đời hơn Nhà thờ Thánh PhêrôRoma. Nhưng vào thời gian đó Athens đã bị chuyển thành một thị trấn của Đế chế Roman, mặc dù nó đã có một quá khứ huy hoàng. Vào thế kỷ thứ 5, thỉnh thoảng những tranh tượng tôn giáo lớn của Athena đã bị lấy mất bởi một trong các vị Hoàng đế, và được mang tới Constantinopolis, và sau này nó đã bị huỷ hoại tại đó, có thể là vào thời kỳ thành phố bị giảm sút uy tín trong cuộc thập tự chinh thứ 4 vào năm 1204.
Một thời gian ngắn sau, Parthenon đã được chuyển sang thành một nhà thờ Cơ đốc giáo. Vào thời kỳ Đế quốc Byzantine nó trở thành nhà thờ của Parthena Maria (Mary Đồng trinh), hay còn gọi là nhà thờ Theotokos. Vào thời kỳ đế chế Latin công trình trở thành nhà thờ Công giáo Rôma của Đức Mẹ đồng trinh. Sự chuyển đổi từ ngôi đền thành nhà thờ đòi hỏi đến việc di chuyển các hàng cột bên trong và một vài bức tường phòng thờ và tạo ra một hậu đường ở phần cuối phía Đông công trình. Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến việc di chuyển và phân tán một vài điêu khắc kiến trúc. Những vị thần được miêu tả cũng được thể hiện lại theo chủ đề Cơ đốc giáo hoặc bị mang đi chỗ khác và tiêu hủy.
Vào năm 1456, Athena rơi vào tay đế chế Ottoman và Parthenon lại được chuyển đổi lần nữa, trở thành nhà thờ Hồi giáo. Với một nhận thức đối lập lại với nhận thức của đế chế cũ, người Ottoman nói chung tôn thờ các công trình cổ ở trong chủ quyền đất nước họ và không cố tình hủy hoại những công trình cổ xưa của Athena, mặc dù họ không có một chương trình bảo vệ chúng thực sự. Tuy nhiên, trong nhiều thời gian chiến tranh họ đã tự phá hủy chúng để cung cấp nguyên liệu cho những bức tường và công sự. Một ngọn tháp đã được xây thêm vào Parthenon, cái mà nền cùng với cầu thang của nó hiện vẫn còn sử dụng được, đã dẫn trên cao tận architrap và từ bên ngoài không thể nhìn thấy được chỗ này; ngoài ra, công trình không bị hủy hoại gì thêm. Các vị khách tham quan châu Âu trong thế kỷ 17, cũng như một vài người đại diện cho Acropolis đã chứng thực rằng công trình vẫn còn nguyên vẹn.

Mặt phía Nam của đền Parthenon với những hư hại trong vụ nổ năm 1687

Vào năm 1687, đền Parthenon đã phải chịu một sự hủy hoại lớn nhất khi Cộng hòa Venezia dưới thời Francesco Morosini tấn công Athena, và người Ottoman đã phải bảo vệ Acropolis và sử dụng công trình như một kho chứa thuốc súng. Vào ngày 26 tháng 9, một quả pháo đại bác của người Venezia bay từ quả đồi của Philopapus, tới và làm nổ kho thuốc súng và làm cho công trình đã bị phá hủy một phần. Những cấu trúc bên trong đã bị phá hủy, những gì còn lại của mái đã bị sập và một vài cột chống, đặc biệt ở cạnh phía Nam, đã bị chặt gãy. Các điêu khắc bị hư hỏng nặng. Nhiều thứ đã bị rơi xuống sàn và những kỷ vật sau này đã được làm từ những mảnh vỡ này. Sau trận chiến, rất nhiều bộ phận của công trình bị bỏ đi và một nhà thờ Hồi giáo nhỏ hơn đã được xây lên.
Vào cuối thế kỷ 18, có nhiều người châu Âu khác đã tới Athena và phong cảnh về những hư hại, đổ nát Parthenon đã được vẽ lại rất nhiều, gợi lên những sự cảm thông của người Anh and người Pháp cho nền độc lập của Hy Lạp. Vào năm 1801, viên đại sứ Anh ở Constantinople, Thomas Bruce, đã đệ trình một firman (giấy phép) từ Sultan để làm ra các bản quy hoạch và bản vẽ về những công trình cổ xưa ở Acropolis, để phá bỏ những công trình mới xây dựng gần đây nếu chúng làm hỏng sự quan sát các công trình cổ và để tháo dỡ các điểu khắc từ chúng. Ông đã lấy giấy phép này để thu thập tất cả những điêu khắc mà ông có thể tìm thấy. Ông đã cho tuyển dụng những người địa phương để gỡ bỏ chúng ra khoải các công trình, một vài thứ thì ông tìm được ở trên các mặt sàn và một vài mảnh nhỏ hơn thì ông mua từ người dân địa phương.
Ngày nay, những điêu khắc này được nhìn thấy trong Bảo tàng Anh, nơi chúng có tên là Elgin Marbles hay Parthenon Marbles. Những điêu khắc khác từ Parthenon cũng có ở Bảo tàng Louvre tại Paris và ở Copenhagen. Phần lớn các vật còn lại ở Athena, trong bảo tàng Acropolis và được đặt ở dưới sàn, cách một vài mét về phía Đông Nam của Parthenon. Một vài điêu khắc vẫn có thể được quan sát trực tiếp ở công trình. Chính phủ Hy Lạp đã tiến hành một chiến dịch trong nhiều năm với bảo tàng Anh để có thể mang trả lại những điêu khắc trên về Hy Lạp. Nhưng bảo tàng Anh đã từ chối thẳng về việc xem xét điều này và chính phủ Anh đã miễn cưỡng phải ép bảo tàng làm việc như vậy (cái việc mà có thể đòi hỏi đến pháp chế).
Khi Hy Lạp giành được độc lập và lấy được quyền kiểm soát Athena vào năm 1832, những phần nhìn thấy được của ngọn tháp đã bị chuyển đi khỏi Parthenon và tất cả những công trình thời trung cổ và thời Ottoman có ở Acropolis cũng đã bị di chuyển đi. Khu này trở thành một khu vực lịch sử, có rào cấm và do chính phủ Hy Lạp kiểm soát. Ngày nay, nó là địa điểm hấp dẫn hàng triệu người du lịch mỗi năm, những người đã du lịch từ phía cuối Tây của Acropolis, qua Propylaea và lên đường Panathenaic tới Parthenon, nơi được bao vây bởi một hàng rào thấp để chống sự hư hại.

Xây dựng lại

Công việc xây dựng lại đền Parthenon vào tháng 2 năm 2004

Vào năm 1975, chính phủ Hy Lạp bắt đầu bàn tính đến việc tu bổ đền Parthenon và những kiến trúc khác ở Acropolis. Dự án sau này đã thu hút được nhiều sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính từ Liên minh châu Âu. Một hội đồng khảo cổ học đã làm báo cáo về các mảnh vỡ còn lại ở chân công trình và những kiến trúc sư được sự trợ giúp của máy tính đã dựng nên những mô hình để xác định những vị trí ban đầu của chúng. Trong một vài trường hợp, những việc tái tạo xây dựng lại trước đây đã mắc sai lầm. Những điêu khắc đặc biệt quan trọng và dễ vỡ được chuyển đến bảo tàng Acropolis. Một chiếc cần cẩu đã được lắp đặt để di chuyển những khối đá cẩm thạch; chiếc cần cẩu được thiết kế để được xếp lại phía dưới mái khi không dùng đến. Những phần xây dựng cũ mà không chính xác được tháo dỡ và một quá trình tu bổ cẩn thận được bắt đầu. Đền Parthenon sẽ không được tái tạo lại theo tình trạng trước năm 1687, mà những gì còn lại sau vụ nổ sẽ được giữ lại và làm cho chân thực nhất và đá cẩm thạch mới được lấy từ nơi khai khác cũ và được hàn gắn vào các khe hở và những cấu trúc bị ảnh hưởng cũng được sửa chữa. Cuối cùng, tất cả những mảnh đá chính được đặt vào đúng vị trí ban đầu của chúng và được hỗ trợ bởi những vật liệu hiện đại nếu thấy cần thiết.
Ban đầu, những khối đá khác nhau được giữ chặt bởi chốt sắt dài hình chữ H mà sau này được phủ bằng chì, vật liệu bảo vệ sắt khỏi bị ăn mòn. Những cái chốt được thêm vào từ thế kỷ 19 đã không được phủ chì và đã bị ăn mòn. Khi phần han gỉ bị rộng một khoảng lớn, nó sẽ gây nguy hiểm hơn và làm vỡ các khối đá. Tất cả các công việc về kim loại đều sử dụng titanium, một vật liệu cứng, nhẹ và chống gỉ.

Mối nguy hại do ô nhiễm

Từ thập niên 1960, mối đe dọa lớn nhất đối với đền Parthenon là môi trường. Thành phố Athena đã phát triển nhanh từ sau Thế chiến thứ hai và đã có vấn đề trong việc tắc nghẽn giao thôngô nhiễm không khí. Những miếng đá cẩm thạch bị ăn mòn bởi mưa axit, được gây ra bởi những loại khí thải ra từ động cơ ô tô, nó đe dọa các tác phẩm điêu khắc của công trình và bản thân công trình. Qua 20 năm, chính phủ Hy Lạp và thành phố Athena đã cho tiến hành một vài chương trình để ngăn chặn việc này, nhưng tương lai của Parthenon vẫn còn là một vấn đề cần quan tâm.

Xem thêm

Acropolis và Parthenon ban đêm

Ghi chú

  1. ^ Hurwit, pp. 162-163.
  2. ^ Burkert 1985, pp. 84–92; xem phần Holtzmann 2003 cho một nghiên cứu hoàn chỉnh trong tranh luận.

Tham khảo

Ấn phẩm

Nguồn trực tuyến

Đọc thêm

Kiến trúc Hy Lạp cổ đại
  • John Boardman, Jose Dorig, Werner Fuchs and Max Hirmer, ‘’The Art and Architecture of Ancient Greece’’, Thames and Hudson, London, (1967)
  • Banister Fletcher, A History of Architecture on the Comparative method (2001). Elsevier Science & Technology. ISBN 0-7506-2267-9.
  • Helen Gardner; Fred S. Kleiner, Christin J. Mamiya, Gardner’s Art through the Ages. Thomson Wadsworth, (2004) ISBN 0-15-505090-7.
  • Michael and Reynold Higgins, A Geological Companion to Greece and the Aegean, Cornell University Press, (1996) ISBN 978-0-8014-3337-5
  • Marian Moffett, Michael Fazio, Lawrence Wodehouse, ‘’A World History of Architecture’’, Lawrence King Publishing, (2003), ISBN 1-85669-353-8.
  • Donald E. Strong, ‘’The Classical World’’, Paul Hamlyn, London (1965)
  • Henri Stierlin, Greece: From Mycenae to the Parthenon,, Taschen, 2004
  • Marilyn Y. Goldberg, “Greek Temples and Chinese Roofs,” American Journal of Archaeology, Vol. 87, No. 3. (Jul., 1983), pp. 305–310
  • Penrose, F.C., (communicated by Joseph Norman Lockyer), The Orientation of Geek Temples, Nature, v.48, n.1228, May 11.
  • Orjan Wikander, “Archaic Roof Tiles the First Generations,” Hesperia, Vol. 59, No. 1. (Jan. – Mar., 1990), pp. 285–290
  • William Rostoker; Elizabeth Gebhard, “The Reproduction of Rooftiles for the Archaic Temple of Poseidon at Isthmia, Greece,” Journal of Field Archaeology, Vol. 8, No. 2. (Summer, 1981), pp. 211–2
Nữ thần Athena

Liên kết ngoài

Tọa độ: 37°58′17.39″B, 23°43′35.69″Đ

Sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Vị trí xảy ra sự cố

Hiện trường sự cố sập nhịp

Hiện trường, ở một góc nhìn khác

Sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ là một trong những thảm họa cầu đường và tai nạn xây dựng nghiêm trọng nhất tại Việt Nam[1][2] xảy ra vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long. Hai nhịp cầu dẫn cao khoảng 30 mét giữa ba trụ cầu đang được xây dựng thì bị đổ sụp, kéo theo giàn giáo cùng nhiều công nhân, kỹ sư đang làm việc xuống đất.
Đến ngày 2 tháng 7 năm 2008, Bộ trưởng Xây dựng Nguyễn Hồng Quân đã báo cáo Chính phủ kết quả điều tra sự cố sập nhịp cầu Cần Thơ là do lún lệch đài móng trụ tạm.

Cầu Cần Thơ

Bài chi tiết: Cầu Cần Thơ

Cầu Cần Thơ hiện nay

Chủ đầu tư là Bộ Giao thông vận tải (Bộ trưởng đương nhiệm là Hồ Nghĩa Dũng), đại diện chủ đầu tư quản lý dự án là Ban quản lý dự án Mỹ Thuận (Tổng Giám đốc đương nhiệm là Dương Tấn Minh), Tư vấn giám sát quốc tế Liên danh Nippon Koei – ChoDai, Nhà thầu chính Liên danh Taisei – Kajima – Nippon Steel (nhà thầu TKN), Nhà thầu phụ VSL (Thụy Sỹ)

Diễn biến

Khoảng 7h55 sáng ngày 26 tháng 9, đoạn dầm cầu bị sập nằm ở phía bờ Vĩnh Long bắc qua trụ 13, 14, 15 dài 87 m, rộng 24 m, vừa được đổ bê tông ngày hôm trước. Lúc xảy ra sự cố có khoảng 120 công nhân đang làm việc trên đoạn dầm và khoảng 100 công nhân làm việc ở phía dưới. Khi dàn giáo bị sập tất cả công nhân ở phía trên đã bị kéo tuột xuống.

Xem Báo cáo của Bộ GTVT báo cáo Thủ tướng sự cố tại Dự án Xây dựng cầu Cần Thơ

Thương vong

Theo nhà thầu, có khoảng từ 150 đến 250 công nhân đang làm việc tại khu vực trước khi xảy ra thảm họa. Các báo cáo ban đầu có khoảng 20 thi thể công nhân được tìm thấy. Tuy nhiên số lượng thương vong ngày càng tăng và dao động ở mức từ 37 đến hơn 60 người thiệt mạng, từ 97 đến hơn 200 người bị thương. Hầu hết nạn nhân là công nhân địa phương làm việc tại công trình, các kỹ sư và cả người dân buôn bán quanh công trường. Nhiều công nhân khác bị sốc nặng, boàng hoàng.

Xem Danh sách người tử nạn vụ sập cầu Cần Thơ

Tại thời điểm 24h ngày 26 tháng 9

  • Theo báo Thanh NiênVnExpress, có 37 người chết và 87 người bị thương, chưa kể số người đang bị chôn vùi[1].
  • Theo BBC, có 36 người chết, tuy nhiên nhà thầu Trung Quốc dẫn tin cho Reuters khẳng định có đến 60 người thiệt mạng[3].
  • Theo Vietnam Net, có 49 thi thể được tìm thấy và hơn 181 người bị thương[4].
  • Theo báo Tuổi Trẻ, có 52 người chết, 97 người bị thương và hiện vẫn còn nạn nhân sống sót bị kẹt trong đống đổ nát. Tuy nhiên đến sáng ngày 27 báo nói chỉ có 37 người thiệt mạng.
  • Theo Thông tấn xã Việt NamCNN, có 52 người chết và 149 người bị thương.
  • Theo báo Tiền Phong, có 59 người tử vong, 97 người bị thương và 70 người còn bị kẹt dưới đống đổ nát[5][6].
  • Một ca tử vong do nổ bình gas trong lúc cứu hộ.

Thống kê của các bệnh viện

  • Bệnh viện Quân y 121 xác nhận có 38 ca tử vong[1].
  • Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ thống kê 8 người chết.
  • Bệnh viện 30-4 của TP Cần Thơ thống kê có 2 người thiệt mạng. Chưa có thống kê từ các bệnh viện địa phương.
  • Bệnh viện Vĩnh Long có 3 trường hợp tử vong.

Tại thời điểm 24h ngày 27 tháng 9

  • Theo Đài truyền hình Việt Nam, Vnexpress và Thanh niên, có 45 người thiệt mạng [1].
  • Theo Tuổi trẻ, có 43 người thiệt mạng [2].
  • Theo Lao Động và Tiền Phong, có 48 người thiệt mạng [7].
  • Theo Vietnamnet, có 54 người [3].
  • Theo báo Nhân Dân, có 64 người tử nạn và trên 180 người bị thương [4].

Các báo đều thống nhất còn một số công nhân bị mắc kẹt trong đống đổ nát chưa cứu hộ được.

Vào ngày 28 tháng 9

  • Thông tấn xã Việt Nam dẫn lời ông Nguyễn Tấn Quyên, Bí thư Thành ủy Cần Thơ, Trưởng Ban chỉ đạo khắc phục hậu quả sự cố cầu Cần Thơ công bố: tổng số bị nạn là 128 người, trong đó có 46 người chết, có 7 người quê các tỉnh phía Bắc, còn lại đa số là tỉnh Vĩnh Long, chủ yếu là huyện Bình Minh. Số người bị thương đang điều trị là 82 người, trong đó điều trị tại Bệnh Viện Đa khoa TW 30 người, Bệnh viện Quân y 121 là 26 người, Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ 14 người, Bệnh Viện Tây Đô 6 người, chuyển một bệnh nhân lên tuyến trên Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh) vì gãy cột sống và 5 người điều trị tại huyện Bình Minh (Vĩnh Long) hiện nay đã ra viện. [5]
  • Theo VnExpress có 47 người chết, 82 người bị thương đang trong bệnh viện và 6 người mất tích tính đến 15 giờ. [6]
  • Theo báo Nhân Dân, 44 người thiệt mạng, 76 người bị thương [7]. Khác biệt với con số 64 người được đăng trước đó.

Vào ngày 30 tháng 9

Các báo đều thông báo danh sách những công nhân tử nạn, gồm 49 người [8] trong đó 37 người tại Vĩnh Long; 2 người tại Cần Thơ; 10 người tại các tỉnh Quảng Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi, An Giang, Nam Định, Hà Nam, Hà Nội, Thanh Hóa, Thái Bình.

Vào ngày 1 tháng 10

Tính đến trưa ngày 1 tháng 10 có thêm một nạn nhân trong vụ sập cầu đã tử vong trong bệnh viện, nâng số người bị thiệt mạng lên 50 người; 81 người bị thương, 3 người mất tích.[9]

Vào ngày 3 tháng 10

Thêm 3 công nhân thiệt mạng tại bệnh viện, nâng tổng số thương vong: 53 người; số người bị thương: 80 người; số người mất tích: 1 người. [10]

Ngày 17 tháng 10

Thi thể nạn nhân cuối cùng đã được tìm thấy, nâng tổng số người thiệt mạng lên 54 người.

Công tác cứu hộ

Ngay sau khi xảy ra sự cố, nhiều công nhân đang thi công ở gần đấy dù bị xây xát và choáng váng tinh thần nhưng cũng xông vào đống đổ nát để dìu những người bị thương ra ngoài[8]. Ngay sau khi nhận được tin báo, nhân dân, sinh viên học sinh, công nhân viên chức trên địa bàn tỉnh và thành phố Cần Thơ tình nguyện xếp hàng tham gia hiến máu nhân đạo; trong khi đó, những người lái đò ngang gần đó lập tức tình nguyện dùng đò của mình để đưa những người bị thương đến bệnh viện. Tại hiện trường, “trong khi công tác cứu hộ lại rất khó khăn, lực lượng cứu hộ còn thiếu chuyên nghiệp” như ông Ngô Thịnh Đức – thứ trưởng Bộ GTVT, cho biết. Tuy nhiên bất chấp khó khăn, công tác cứu hộ các nạn nhân vẫn tiếp tục qua đêm, có nhận được cả sự giúp đỡ từ các nhóm cứu hộ quốc tế chuyên nghiệp gồm 30 người đến từ Nhật BảnPhilippines. Ngoài ra, bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh cũng cử 2 đội cơ động xuống giúp đỡ[9].
Công tác cứu hộ hiện đang được tiếp tục khẩn trương với sự trực tiếp chỉ đạo bởi Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, ngoài ra còn có các lực lượng của Bộ Quốc Phòng, Bộ Y Tế, Bộ Công An, lực lượng thanh niên sinh viên tình nguyện, và các lực lượng tại chỗ.

Điều tra nguyên nhân

Hiện trường

Bộ Giao thông Vận tải kết hợp với Bộ Công an đã thành lập một ủy ban điều tra do trung tướng Phạm Nam Tào – phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát – làm công tác điều tra sự cố, song song với việc tìm kiếm số người bị nạn[10].

Những giả thiết ban đầu

Theo PGS-TS Trần Chủng (Cục trưởng cục giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng): Cầu Cần Thơ sập có thể do hệ thống giàn giáo đã bị dịch chuyển trong khi bê tông của cầu chỉ mới đổ được 2 ngày, chưa đủ độ liên kết[cần dẫn nguồn].
Trụ T14 – T13 – T12 có độ cao từ 35 đến 40 m, thường ở độ cao này người ta thi công bằng cốp pha (tức khuôn đúc bê tông) lao như những nhịp ở giữa sông. Làm kiểu này chỉ cho phép đúc mỗi lần một khẩu 6m (gọi là phương pháp đúc hẫng bằng khuôn đúc di động theo phương ngang), sau đó chờ kết cấu bê tông đông cứng và đạt tới cường độ nhất định, đủ để bê tông có thể chịu lực được (ít nhất là trọng lượng bản thân khẩu dầm đó) mà không cần khuôn đúc, thì mới di chuyển khuôn đúc theo phương ngang để đúc khẩu tiếp theo. Cách này an toàn nhưng thời gian thi công lâu hơn và cốp pha đắt hơn.
Có tin cho biết công ty Vĩnh Thịnh thấy nhịp này tuy cao nhưng còn ở trên bờ nên đã sáng tạo ra cách thi công mới rẻ hơn và nhanh hơn là dùng giàn giáo chống từ dưới mặt đất lên và đổ luôn một lần mấy chục mét[cần dẫn nguồn]. Theo một công nhân kỹ thuật làm cầu hơn 10 nãm nay thì cách này chỉ dùng được khi độ cao mặt cầu thấp (khi đó độ cao của giáo chống thấp, đảm bảo giáo chống ổn định khi chịu nén) và chống bằng dàn giáo chuyên dụng cho làm cầu (giáo cầu) vì khối lượng được ước tính lên tới 2000 tấn mà dùng dàn giáo dân dụng [cần dẫn nguồn] lắp ráp lên tới độ cao 40 m nên càng yếu và mất ổn định do độ mảnh của giáo chống trở nên rất lớn. Ngày hôm trước (24/9) đổ bê tông xong một đoạn, lẽ ra phải chờ đoạn đó ổn định kết cấu (đủ thời gian để bê tông đạt tới cường độ có thể cho phép tháo dỡ khuôn đúc chịu lực) theo tiêu chuẩn quy phạm kỹ thuật thi công nhưng sáng hôm sau đã cho công nhân gỡ cốp pha và đổ tiếp. Khi bê tông chưa đạt tới cường độ cho phép tháo dỡ cốp pha, đã gỡ cốp pha và có nhiều tác động mạnh trên đó nên gây sập đúng vào đầu giờ làm việc.
Cũng có thông tin rằng có hiện tượng sụt lún đất do gần bờ sông. Nếu có hiện tượng này thì đây cũng có thể là một nguyên nhân gây ra chuyển vị của hệ giáo chống dẫn đến nghiêng đổ chúng gây sập cốp pha. Theo vnexpress.net thì: “…Các biện pháp cứu hộ chỉ thực hiện được từ xa (dùng cần cẩu cẩu bê tông, sắt thép cứu người bị kẹt), do khu vực xung quanh nhiều nhịp cầu có nguy cơ sập tiếp, nên không dám điều thêm nhân lực vào trong cứu trợ. Đất ở khu vực đầu cầu vẫn đang tiếp tục bị lở[11].
Trả lời báo chí, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải