Chào ngày mới 1 tháng 9

 Vị trí của Uzbekistan

CNM365 Chào ngày mới 1 tháng 9. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Độc lập tại Uzbekistan (1991), ngày Tri thức tại Nga. Ngày Khai trường tại nhiều quốc gia; Năm 1449Sự biến Thổ Mộc bảo: Dã Tiên thái sư lãnh đạo quân Ngõa Lạt bộ Mông Cổ đại thắng quân Minh, bắt Minh Anh Tông làm tù binh. Năm 1914Bồ câu viễn khách (hình) tuyệt chủng khi cá thể cuối cùng chết ở vườn động vật Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ. Năm 1939 – Đức Quốc xã bất ngờ tấn công Ba Lan, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tại Châu Âu. Năm 1980 – Chuyến Marathon Hy vọng của Terry Fox kết thúc gần vịnh Thunder, Ontario, Canada.

Uzbekistan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
O‘zbekiston Respublikasi
O‘zbekiston Jumhuriyati
Flag of Uzbekistan.svg Uzbekistan coa.png
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Uzbekistan
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
O’zbekiston Respublikasining Davlat Madhiyasi
Hành chính
Chính phủ Nhà nước độc đảng
Tổng thống
Thủ tướng
Islam Karimov
Shavkat Mirziyayev
Ngôn ngữ chính thức tiếng Uzbek
Thủ đô Tashkent
41°16′B, 69°13′Đ
Thành phố lớn nhất Tashkent
Địa lý
Diện tích 447.400 km² (hạng 56)
Diện tích nước 4,9% %
Múi giờ UTC+5; mùa hè: UTC+6
Lịch sử
Ngày thành lập Từ Nga
1 tháng 9 năm 1991
8 tháng 12 năm 1991
1747, as Bukharian Emirate
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 26.851.195 người (hạng 42)
Mật độ 60 người/km² (hạng 111)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 52,21 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,694 trung bình (hạng 111)
Đơn vị tiền tệ Uzbekistani som (UZS)
Thông tin khác
Tên miền Internet .uz

Uzbekistan (phiên âm tiếng Việt: U-dơ-bê-ki-xtan; cũng gọi là Uzbekstan hay Ozbekistan), tên chính thức Cộng hoà Uzbekistan (tiếng Uzbek: O‘zbekiston Respublikasi; Kiril: Ўзбекистон Республикаси; tiếng Nga: Республика Узбекистан), là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Trung Á, trước kia từng là một phần của Liên bang Xô viết. Nước này có chung biên giới với Kazakhstan ở phía tây và phía bắc, KyrgyzstanTajikistan ở phía đông, và Afghanistan cùng Turkmenistan ở phía nam.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Uzbekistan

Người Nga bị quân Khiva đánh bại ở Uzbekistan, Trung Á năm 1871

Vùng đất Uzbekistan đã có người ở từ hai nghìn năm trước Công nguyên. Có nhiều di tích về những công cụ và công trình của loài người từ thời kỳ sớm tại các vùng Ferghana, Tashkent, Bukhara, Khorezm (Khwarezm, Chorasmia) và Samarkand.
Alexandros Đại Đế đã chinh phục Sogdiana và Bactria năm 327 trước Công nguyên, cưới Roxana, con gái của vị thủ lĩnh Bactrian địa phương. Tuy nhiên, cuộc chinh phục được cho là không mang lại nhiều kết quả cho Alexandros bởi những cuộc kháng chiến của người dân địa phương khá mãnh liệt, khiến quân đội của Alexandros bị sa lầy trong vùng.
Trong nhiều thế kỷ vùng Uzbekistan nằm dưới quyền cai trị của các Đế chế Iran như Đế chế ParthianSassanid.
Ở thế kỷ mười bốn sau Công nguyên, Timur, thường được gọi là Tamerlane ở phía tây, nổi lên thay thế người Mông Cổ và xây dựng một đế chế. Trong các chiến dịch quân sự của mình, Tamerlane đã tiến xa tới tận Trung Đông. Ông đánh bại Hoàng đế Đế chế Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman Bayezid I. Bayezid bị bắt và chết trong khi bị giam cầm. Tamerlane đã tìm cách xây dựng thủ đô đế chế của mình tại Samarkand. Ngày nay Tamerlane được coi là một trong những anh hùng vĩ đại nhất của Uzbekistan người đóng vai trò quan trọng trong lịch sử và đặc tính quốc gia. Sau sự sụp đổ của Đế chế Timurid, những người du mục Uzbek đã chinh phục vùng này.
thế kỷ 19, Đế chế Nga bắt đầu mở rộng và kéo dài tới tận Trung Á. Giai đoạn “Great Game” nói chung được coii là bắt đầu từ khoảng năm 1813 tới Hiệp oớc Anh Nga năm 1907. Sau cuộc cách mạng của những người Bolshevik năm 1917 một thời kỳ ổn định hơn diễn ra. Đầu thế kỷ 19, một vùng đất khoảng 2.000 dặm (3.200 km) chia cắt Ấn Độ thuộc Anh và những vùng xa xôi của nước Nga Sa Hoàng. Đa số vùng đất đệm này còn chưa được vẽ bản đồ.
Tới đầu thế kỷ 20, Trung Á đã hoàn tay rơi vào tay người Nga dù một số cuộc kháng chiến chống người Bolsheviks có xảy ra trong thời kỳ đầu, Uzbekistan và phần còn lại của Trung Á trở thành một phần của Liên bang Xô viết. Ngày 31 tháng 8 năm 1991, Uzbekistan bất đắc dĩ tuyên bố độc lập, và ngày 1 tháng 9 trở thành ngày quốc khánh.
Nước này hiện đang tìm cách dần giảm sự phục thuộc vào nông nghiệp – đây là nước xuất khẩu bông lớn thứ hai thế giới – trong khi vẫn phát triển các nguồn tài nguyên khoáng sảndầu mỏ.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Uzbekistan

Bản đồ Uzbekistan

Uzbekistan xấp xỉ Maroc và có diện tích 447.400 kilômét vuông (172.700 sq mi). Đây là nước lớn thứ 56 trên thế giới.
Uzbekistan trải dài 1.425 kilômét (885 mi) từ tây sang đông và 930 kilômét (578 mi) từ bắc tới nam. Giáp biên giới với Turkmenistan ở phía tây nam, KazakhstanBiển Aral ở phía bắc, và Tajikistan cùng Kyrgyzstan ở phía nam và phía đông, Uzbekistan không phải là một trong những nước lớn nhất vùng Trung Á nhưng là quốc gia Trung Á duy nhất giáp biên giới với tất cả bốn nước kia. Uzbekistan cũng giáp biên giới với Afghanistan ở phía nam.
Uzbekistan là một quốc gia nằm kín trong hai lục địa; 10% lãnh thổ nước này được trồng cấy dày đặc nhờ nước tưới tiêu từ các lưu vực sông. Đây là một trong hai quốc gia duy nhất nằm kín giữa hai lục địa – nước kia là Liechtenstein; và dù trường hợp của Uzbekistan không rõ ràng bằng, bởi nó giáp biên giới với hai nước (Kazakhstan ở phía bắc và Turkmenistan ở phía nam) goaớ với Biển Caspian kín trong lục địa nhưng từ đây tàu thủy có thể đi tới Biển Azov và từ đó tới Biển Đen, Địa Trung Hải và các đại dương khác.
Điểm cao nhất tại Uzbekistan là Adelunga Toghi ở độ cao 4.301 mét (14.111 ft).
Khí hậu Cộng hòa Uzbekistan là khí hậu lục địa, với lượng mưa hàng năm khoảng 100-200 milimét, hay 3.9-7.9 inches). Nhiệt độ trung bình mùa hè thường khoảng 400C, mùa đông khoảng -230C. [1]
Các thành phố lớn gồm: Bukhara, SamarqandTashkent.

Tỉnh

Bài chi tiết: tỉnh Uzbekistan

Uzbekistan được chia thành mười hai tỉnh (viloyatlar, số ít viloyat; viloyati từ ghép, ví dụ Toshkent viloyati, Samarqand viloyati, vân vân), một nước cộng hòa tự trị (respublika; respublikasi từ ghép, ví dụ Qaraqalpaqstan Avtonom Respublikasi, Karakalpakistan Cộng hòa Tự trị, vân vân), và một thành phố độc lập (shahar; shahri từ ghép, ví dụ thành phố Tashkent với một chữ K, Toshkent shahri). Các tên được đặt theo ngôn ngữ Uzbek, dù nhiều biến thể trong khi dịch qua ngôn ngữ khác vẫn tồn tại.
Bản đồ hành chính Uzbekistan

Phân loại Thành phố thủ phủ Diện tích
(km²)
Dân số Key
Andijon Viloyati Andijon 4.200 1.899.000 2
Buxoro Viloyati Buxoro (Bukhara) 39.400 1.384.700 3
Farg’ona Viloyati Farg’ona (Fergana) 6.800 2.597.000 4
Jizzax Viloyati Jizzax 20.500 910.500 5
Xorazm Viloyati Urganch 6.300 1.200.000 13
Namangan Viloyati Namangan 7.900 1.862.000 6
Navoiy Viloyati Navoiy 110.800 767.500 7
Qashqadaryo Viloyati Qarshi 28.400 2.029.000 8
Qaraqalpaqstan Respublikasi Nukus 160.000 1.200.000 14
Samarqand Viloyati Samarqand 16.400 2.322.000 9
Sirdaryo Viloyati Guliston 5.100 648.100 10
Surxondaryo Viloyati Termez 20.800 1.676.000 11
Toshkent Viloyati Toshkent (Tashkent) 15.300 4.450.000 12
Toshkent Shahri Toshkent (Tashkent) Không dữ liệu 2.205.000 1

Số thống kế cho Toshkent Viloyati cũng gồm số thống kê của Toshkent Shahri.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Uzbekistan

Cùng với nhiều nền kinh tế của các quốc gia thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập khác, kinh tế Uzbekistan gần đây có mức độ phát triển kinh tế rất cao, tới 9.1% trong quý đầu năm 2007, và mức lạm phát thấp 2.9%. [2]
Uzbekistan là quốc gia có mức GNI trên đầu người đạt US$460 và Sức mua tương đương đạt US$1860 [3]. Sản xuất kinh tế tập trung ở hàng tiêu dùng: Uzbekistan hiện là nước sản xuất lớn thứ tư thế giới và là nước xuất khẩu bông lớn thứ hai thế giới, thứ bảy thế giới về sản xuất vàng. Theo vùng, đây cũng là nước sản xuất khí gas, đồng, than, dầu mỏ, bạc và uranium khá quan trọng [4]. Nông nghiệp đóng góp khoảng 37% GDP và sử dụng 44% nguồn nhân lực [5]. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm được ước tính dưới 20% [6].

Tashkent, thủ đô Uzbekistan.

Đối mặt với nhiều thách thức kinh tế từ khi giành lại độc lập, chính phủ đã chấp nhận một chiến lược cải cách mang tính cách mạng, với sự nhấn mạnh trên sự kiểm soát của nhà nước, giảm nhập khẩu và tự cung cấp trong lĩnh vực năng lượng. Từ năm 1994, các phương tiên truyền thông thuộc quản lý của nhà nước đã nhiều lần tuyên bố sự thành công của “Mô hình Kinh tế Uzbek” này [7] coi đó là ví dụ duy nhất về sự chuyển tiếp êm ả sang nền kinh tế thị trường, tránh được tình trạng sốc, sự bần cùng hóa và sự trì trệ.
Chiến lược cải cách dần dần đã khiến nhiều kế hoạch cải cách cơ cấu và kinh tế vĩ mô bị trì hoãn. Chính quyền trong tay giới công chức quan liêu vãn giữ ảnh hưởng mạnh trong nền kinh tế. Tham nhũng lan tràn xã hội: Chỉ số Nhận thức Tham nhũng Uzbekistan năm 2005 là 137 trong số 159 quốc gia. Một báo cáo tháng 2 năm 2006 về nước này của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế đã viết về một khía cạnh của tình trạng tham nhũng này:

Đa phần tăng trưởng GDP Uzbekistan xuất phát từ giá cả cao của những loại hàng xuất khẩu quan trọng, đặc biệt là vàng, bông và nguồn thu ngày càng tăng từ khí gas, nhưng nguồn thu này chỉ được phân chia trong một nhóm rất nhỏ cầm quyền, đại đa số nhân dân có rất ít hoặc không một chút nào từ các khoản thu này. [8] [9].

Theo Economist Intelligence Unit, “chính phủ tỏ thái độ kiên quyết không cho phép phát triển một lĩnh vực tư nhân độc lập, lĩnh vực họ không thể kiểm soát” [10]. Vì thế, giới trưởng giả nói chung và tầng lớp trung lưu nói riêng, đang bị cách ly về mặt kinh tế, và vì thế, cả với chính trị.
Các chính sách kinh tế đã làm nản lòng giới đầu tư, với mức đầu tư trên đầu người ở mức thấp nhất trong Cộng đồng các quốc gia độc lập [11]. Trong nhiều năm, rào cản lớn nhất với các công ty nước ngoài muốn vào thị trường Uzbek là sự khó khăn trong chuyển đổi tiền tệ. Năm 2003, chính phủ đã chấp nhận những bắt buộc của Điều VIII của Quỹ Tiền tệ Quốc tế [12], cho phép tự do chuyển đổi tiền tệ. Tuy nhiên, những biện pháp quản lý tiền tệ chặt chẽ và kiểm soát biên giới đã khiến những hiệu quả mang lại của việc này không lớn.
Lạm phát, dù ở mức thấp hơn thời gian giữa thập niên 1990, vẫn còn cao cho tới tận năm 2003 (ước tính 50% năm 2002, 21.9% năm 2003, [13]). Các chính sách kinh tế chặt chẽ năm 2004 đã khiến lạm phát giảm mạnh, xuống còn 3.8% (tuy nhiên những ước tính khác [14] dựa trên rổ thị trường thực ở mức 15%). Tuy nhiên, sự giảm lạm phát dường như chỉ thoảng qua, bởi theo ước tính của IMF về chỉ số giá tiêu thụ dựa trên lạm phát tại Uzbekistan năm 2005 là 14.1% [15].
Chính phủ Uzbekistan hạn chế nhập khẩu bằng nhiều cách, gồm cả đánh thuế nhập khẩu cao. Các loại thuế áp dụng mang tính phân biệt cao để bảo vệ các sản phẩm sản xuất trong nước. Các mức thuế chính thức được công thêm các khoản không chính thức, các khoản phí mang tính phân biệt khiến tổng số tiền phải trả lên tới 100 hay 150 phần trăm giá trị thực của sản phẩm, khiến những sản phẩm nhập khẩu có giá thành không thể chấp nhận với người tiêu dùng [16]. Thay thế xuất khẩu là một chính sách được tuyên bố chính thức và chính phủ đã lấy làm hãnh diện thông báo [17] con số hàng tiêu dùng nhập khẩu đã giảm hai lần. Một số quốc gia thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập được chính thức miễn trừ các khoản thuế nhập khẩu của Uzbekistan.
Kinh doanh tại Uzbekistan không đơn giản. Nó đòi hỏi nhiều đầu tư và mối quan hệ với tầng lớp cầm quyền. Tuy nhiên, lợi nhuận hàng năm có thể thu được sẽ ở trong khoảng 30-40%. Lĩnh vực đầu tư mang lại nhiều lợi nhuận nhất hiện tại là bất động sản. Trong năm 2006, bất động sản đã tăng trưởng tới 80%. [18]

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Uzbekistan

Uzbekistan là nước đông dân nhất vùng Trung Á. Dân số nước này ước tính đạt 27.7 triệu người[1], tập trung tại phía nam và phía đông đất nước, chiếm tới gần một nửa dân số trong vùng. Uzbekistan từng là một trong những nước cộng hòa nghèo nhất thuộc Liên bang Xô viết[cần dẫn nguồn]; đa số dân cư nước này tham gia vào ngành nông nghiệp bông tại các hợp tác xã nhỏ (kolkhozy). Trong những năm gần đây, số lượng dân nông thôn tiếp tục gia tăng [19] hiện ở mức 63.5%. Dân số Uzbekistan rất trẻ: 34.1% dân dưới 14 tuổi.
Người Uzbek chiếm đa số dân (80%). Các nhóm sắc tộc khác gồm người Nga 5.5%, Tajik 5%, Kazakh 3%, Karakalpak 2.5%, và Tatar 1.5%[2]. Cũng có một nhóm sắc tộc người Triều Tiên đã bị buộc phải di dời tới Uzbekistan theo lệnh của Stalin trong thập niên 1930. 88% dân số là tín đồ Hồi giáo (chủ yếu thuộc dòng Sunni, với nhóm thiểu số 5% Shi’a), 9% Nhà thờ chính thống Phương đông và 3% theo những đức tin khác. Theo Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2004 của Bộ ngoại giao Mỹ 0.2% dân số theo Đạo Phật (những người này thuộc cộng đồng Triều Tiên). Tương tự, ước tính 93.000 người Do thái từng sống tại Uzbekistan đầu thập niên 1990 (nguồn Thư viện Quốc hội Nghiên cứu Quốc gia).
Uzbek là ngôn ngữ chính thức duy nhất của quốc gia. Tuy nhiên, tiếng Nga trên thực tế là ngôn ngữ giao tiếp giữa các cộng đồng sắc tộc, gồm cả được sử dụng đa số trong kỹ thuật, khoa học, văn bản chính phủ và công việc kinh doanh hàng ngày. Theo dân tộc học, 49% dân số Uzbekistan nói tiếng Nga.
Tiếng Tajik được sử dụng rộng rãi tại thành phố Samarkand và Bukhara. Có một số tranh cãi liên quan tới số phần trăm dân số Tajik. Trong khi các con số chính thức của Uzbekistan cho rằng số lượng là 5%, một số học giả phương Tây tin rằng con số này cao hơn, lên tới 40%[3].
Theo những con số của chính phủ khoảng 817.000 người tàn tật được đăng ký tại Uzbekistan năm 2003.[cần dẫn nguồn] Tổ chức Y tế Thế giới ước tính khoảng 10% số dân mỗi nước là người tàn tật.[cần dẫn nguồn]
Cái tên “Uzbek”, vừa để chỉ dân tộc vừa để chỉ quốc gia, được cho là có liên quan tới gia đoạn chạm trán đầu tiên với người Nga, câu ozum bek, hay “Tôi là chúa tể (người cai trị)”.[cần dẫn nguồn]
Uzbekistan có tỷ lệ biết chữ 99.3% (trong số người lớn hơn 15 tuổi), một phần nhờ hệ thống giáo dục miễn phí và phổ thông thời Liên bang Xô viết.

Viễn thông

Bài chi tiết: Viễn thông Uzbekistan

Theo số liệu chính thức, tính đến 1 tháng 7 năm 2007, có 3,7 triệu người sử dụng điện thoại di động ở Uzbekistan (nguồn từ Tổ chức Viễn thông và Thông tin Uzbekistan (UzACI) [20] và UzDaily.com [21]). Đơn vị kinh doanh dịch vụ di động lớn nhất (tính theo số khách hàng) là MTS-Uzbekistan [22] (trước là Uzdunrobita và là chi nhánh của Russian Mobile TeleSystems). Tiếp theo là Beeline [23](là một chi nhánh của công ty Beeline của Nga) và Coscom [24] (do US MCT Corp. sở hữu, nhưng có thông tin cho rằng TeliaSonera đang mua lại công ty này [25]).
Tính đến 1 tháng 7 năm 2007, số người sử dụng internet ở Uzbekistan ước tính là 1,8 triệu, theo thống kê của UzACI.

Vận tải

Bài chi tiết: Vận tải Uzbekistan

Tashkent, thủ đô và là thành phố lớn nhất nước, có ba đường tàu điện ngầm được xây dựng năm 1977, và mở rộng năm 2001 mười năm sau khi giành lại độc lập từ Liên bang Xô viết. Uzbekistan hiện là quốc gia duy nhất tại Trung Á có hệ thống tàu điện ngầm và được coi là một trong những hệ thống tàu điện ngầm sạch nhất thế giới.[cần dẫn nguồn] Có tàu điện, xe buýt và trolleybus (xe buýt chạy nối với hệ thống dây điện bên trên) do chính phủ điều hành chạy khắp thành phố. Tương tự, có nhiều xe tắc xi cả xe có đăng ký và xe dù. Các nhà máy sản xuất ô tô tại Uzbekistan đang làm ra những chiếc xe hiện đại. Chính phủ hỗ trợ việc sản xuất xe hơi và công ty Daewoo Hàn Quốc. Chính phủ Uzbek có 50% cổ phần của Daewoo năm 2005 với trị giá không được tiết lộ và vào tháng 5 năm 2007 UzDaewooAuto, công ty sản xuất ô tô, đã ký kết thỏa thuận chiến lược với General Motors-Daewoo Auto and Technology (GMDAT) [26]. Chính phủ cũng mua cổ phần của công ty Koc in SamKocAuto, công ty sản xuất xe buýt và xe tải nhỏ Thổ Nhĩ Kỳ. Tiếp đó, chính phủ đã ký thỏa thuận với Isuzu Motors Nhật Bản để sản xuất xe buýt và xe tải [27][28].
Những tuyến đường sắt nối liền các thị trấn bên trong Uzbekistan cũng như với các nước cộng hòa cũ thuộc Liên bang Xô viết. Hơn nữa, sau khi giành lại độc lập hai hệ thống tàu hỏa chạy nhanh đã được thiết lập. Tương tự, đã có một nhà máy chế tạo máy bay lớn thời Xô viết, Nhà máy Sản Xuất Hàng không Tashkent Chkalov, hay ТАПОиЧ trong tiếng Nga. Nhà máy này bắt đầu được xây dựng trong Thế chiến II, khi các cơ sở chế tạo được di dời về phía nam và phía đông để tránh rơi vào tay các lực lượng Phát xít Đức. Cho tới tận cuối thập niên 1980, nhà máy là một trong những trung tâm sản xuất máy bay hàng đầu tại Liên bang Xô viết, nhưng với sự sụp đổ của Liên xô các thiết bị của nhà máy dần trở nên lỗi thời, và đa số công nhân đã bỏ việc. Hiện nhà máy chỉ sản xuất vài chiếc máy bay mỗi năm, nhưng với sự chú ý từ các công ty Nga tới nhà máy này, hiện có tin đồn rằng các kế hoạch tái khôi phục đang chuẩn bị thực thi.

Quân đội

Bài chi tiết: Quân đội Uzbekistan

Uzbekistan sở hữu lực lượng quân sự lớn nhất vùng Trung Á, với khoảng 65.000 quân nhân. Cơ cấu của lực lượng này được thừa kế từ các lực lượng vũ trang Xô viết, dù nó đang nhanh chóng chuyển đổi trở thành một tổ chức đã được tái cơ cấu hoàn toàn, và cuối cùng sẽ được xây dựng xung quanh các lực lượng hạng nhẹ và lực lượng đặc biệt. Trang bị của Các lực lượng vũ trang Uzbek không hiện đại, và công tác huấn luyện, tuy có được cải thiện nhưng không đồng nhất và thích đáng để đáp ứng cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh lãnh thổ mới. Chính phủ đã chấp nhận các biện pháp quản lý vũ khí của Liên xô cũ, thừa nhận Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân (với tư cách nước phi hạt nhân), và ủng hộ một chương trình Cơ quan Giảm nhẹ Đe dọa Quốc phòng (DTRA) của Hoa Kỳ tại tây Uzbekistan (NukusĐảo Vozrozhdeniye). Chính phủ Uzbekistan chi khoảng 3.7% GDP cho quân đội nhưng có được viện trợ Tài chính Quân sự Nước ngoài (FMF) cùng khác khoản hỗ trợ an ninh ngày càng lớn khác từ năm 1998. Uzbekistan đã chấp nhận yêu cầu của Sở chỉ huy Trung ương Hoa Kỳ cho phép sử dụng một căn cứ không quân quân sự có vai trò sống còn, Căn cứ không quân Karshi-Khanabad, phía nam Uzbekistan sau các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001. Sau vụ Thảm sát Andijan và phản ứng sau đó của Hoa Kỳ, Uzbekistan đã yêu cầu quân Mỹ rút khỏi các căn cứ không quân này. Những quân nhân Mỹ cuối cùng rời Uzbekistan tháng 11 năm 2005.

Quan hệ ngoại giao

Uzbekistan đã gia nhập Cộng đồng các quốc gia độc lập vào tháng 12 năm 1991. Tuy nhiên, họ phản đối việc phục hồi và rút lui khỏi thỏa thuận an ninh tập thể của cộng đồng năm 1999. Từ thời điểm đó, Uzbekistan đã tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Cộng đồng tại Tajikistan và trong những nhóm do Liên hiệp quốc tổ chức nhằm giải quyết những cuộc xung đột Tajik và Afghan, mà họ coi là những nguy cơ tiềm tàng cho sự ổn định của mình.
Trước kia có quan hệ gần gũi với Washington (mối quan hệ mang lại cho Uzbekistan nửa tỷ dollar viện trợ năm 2004, khoảng một phần tư ngân sách quân sự của họ), chính phủ Uzbekistan đã hạn chế việc sử dụng căn cứ quân sự tại Karshi-Khanabad cho những chiến dịch tấn công vào nước Afghanistan láng giềng của Hoa Kỳ (xem bài viết của AP).
Uzbekistan từng là nước nhiệt thành ủng hộ các nỗ lực của Hoa Kỳ chống chủ nghĩa khủng bố trên thế giới và đã gia nhập liên minh quân sự ở cả Afghanistan và Iraq. Quan hệ giữa Uzbekistan và Hoa Kỳ đã bắt đầu xấu đi sau cái gọi là “những cuộc cách mạng màu” tại Georgia và Ukraina (và ở mức độ thấp hơn là Kyrgystan). Khi Hoa Kỳ lên tiếng cùng cộng đồng đòi hỏi tiến hành một cuộc điều tra quốc tế về những sự kiện đẫm máu tại Andijon, mối quan hệ xấu đi nhanh chóng và Tổng thống Islam Karimov đã thay đổi liên kết chính trị chuyển sang gần gũi hơn với nước Nga và Trung Quốc, những nước đã không chỉ trích những vị lãnh đạo Uzbekistan vì cái gọi là những hành động vi phạm nhân quyền.
Cuối tháng 7 năm 2005, chính phủ Uzbekistan đã ra lệnh cho quân Mỹ rút khỏi một căn cứ không quân tại Karshi-Kanabad (gần biên giới Uzbek với Afghanistan) trong 180 ngày. Karimov đã đề xuất cho phép Hoa Kỳ sử dụng căn cứ này ngay sau vụ khủng bố 11 tháng 9. Một số người Uzbeks cũng tin rằng các cuộc tuần hành tại Andijan có sự ảnh hưởng phía sau của Mỹ và Anh trong vùng Andijan. Vì thế, đây là một lý do khác cho sự thù địch giữa Uzbekistan và phương Tây.
Uzbekistan là một thành viên Liên hiệp quốc (từ ngày 2 tháng 3 năm 1992), Hội đồng Cộng tác Euro-Atlantic, Cộng tác vì Hòa bình, và Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu (OSCE). Nước này cũng là một thành viên của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC) và Tổ chức Hợp tác Kinh tế (gồm năm quốc gia Trung Á, Azerbaijan, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, và Pakistan). Năm 1999, Uzbekistan gia nhập liên minh GUAM (Georgia, Ukraina, Azerbaijan và Moldova), được thành lập từ năm 1997 (biến nó thành GUUAM), nhưng đã rút lui năm 2005. Uzbekistan cũng là một thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và đã đứng ra tổ chức Cơ cấu Chống Khủng bố cấp Vùng (RATS) của SCO tại Tashkent. Uzbekistan cũng đã gia nhập Tổ chức Hợp tác Trung Á (CACO) năm 2002. CACO gồm Uzbekistan, Tajikistan, Kazakhstan, và Kyrgyzstan. Nước này là thành viên sáng lập và hiện vẫn tham gia Liên minh Trung Á, cùng Kazakhstan và Kyrgyzstan, tháng 3 năm 1998 Tajikistan cũng gia nhập tổ chức này.
Tháng 9, UNESCO đã bày tỏ ý định trao cho Islam Karimov một giải thưởng về sự bảo tồn nền văn hóa và truyền thống phong phú của Uzbekistan. Dù vị Tổng thống này vẫn bị phương tây chỉ trích, đây có thể coi là một dấu hiệu cải thiện quan hệ giữa Uzbekistan và phương Tây.
Tháng 10 năm 2006 có lẽ là thời điểm Uzbekistan không còn bị phương Tây cô lập. EU gần đây đã thông báo họ có kế hoạch gửi các đoàn đại biểu tới Uzbekistan để đàm phán về nhân quyền và tự do sau một giai đoạn quan hệ thù địch khá dài giữa hai bên. Dù sự thực về Vụ thảm sát Andijan vẫn chưa được khám phá, EU đã bày tỏ quan tâm tới việc giảm bớt các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Uzbekistan. Tuy nhiên, trong cộng đồng dân cư Uzbek quan điểm chung vẫn cho rằng chính phủ sẽ bảo vệ lập trường của mình và giữ quan hệ bền chặt với Liên bang Nga và tiếp tục chỉ trích rằng những cuộc tuần hành phản kháng năm 2004-2005 tại Uzbekistan có bàn tay xúi giục của Hoa KỳAnh Quốc.

Văn hoá

Bài chi tiết: Văn hoá Uzbekistan

Tôn giáo

Hồi giáo là đến nay là tôn giáo chiếm ưu thế ở Uzbekistan với 90% dân số trong khi 5% dân số theo Chính Thống giáo Nga, và 5% dân số theo tôn giáo khác.[4] Tuy nhiên, một báo cáo nghiên cứu của tổ chức Pew Center vào năm 2009 cho biết có đến 96,3% dân số theo Hồi giáo.[5] Ước tính có khoảng 93.000 người Do Thái giáo đã từng hiện diện trong nước.
Tuy là tôn giáo lớn nhất nước, nhưng sự thực hành đạo Hồi là rất ít. Có nhiều truyền thống Hồi giáo được thực hành tại Uzbekistan đã dẫn đến sự xung đột. Điều này đang làm Hồi giáo ở quốc gia này suy giảm nghiêm trọng. Sự chấm dứt quyền lực của Liên Xô tại Uzbekistan đã không mang lại một sự bùng nổ của trào lưu Hồi giáo chính thống, như nhiều người dự đoán, mà là một sự xa rời dần với giới luật và đức tin Hồi giáo.
Mặc dù hiến pháp duy trì quyền tự do tôn giáo, Uzbekistan vẫn duy trì lệnh cấm tất cả các hoạt động tôn giáo không được sự chấp thuận của nhà nước, đặc biệt là sự đối xử khắc nghiệt của chính quyền với các Kitô hữu, tín đồ Tin Lành là những tôn giáo đang được phổ biến trong người dân.

Môi trường

Tình hình môi trường hiện tại tại Uzbekistan dường như là một mối lo ngại lớn trong cộng đồng quốc tế. Hàng thập kỷ áp dụng các chính sách mang tư duy sai lầm thời Xô viết nhằm mở rộng tối đa diện tích trồng bông đã mang lại một thảm họa thiên nhiên cho nước này. Công nghiệp nông nghiệp dường như là yếu tố chính gây ô nhiễm và xuống cấp không khí, nước trong quốc gia. [29]
Thảm hoạ Biển Aral chính là một ví dụ kinh điển. Một vấn đề còn lại ai là người chịu trách nhiệm cho thảm họa này: các nhà khoa học và chính trị Xô viết những người đã ra lệnh ngăn nước dẫn tới sự bắt đầu thảm họa trong thập niên sáu mươi, hay những chính sách thời hậu Xô viết khi việc thiếu tiền xây dựng các đập chắn và hệ thống tưới tiêu là nguyên nhân. Biển Aral từng là biển nội địa lớn thứ tư trên Trái đất, hoạt động như một yếu tố điều hòa độ ẩm không khí. [30]
Từ thập niên 1960, thập niên của việc sử dụng sai lầm nguồn nước Biển Aral bắt đầu, Biển Aral đã giảm 50% diện tích và kích thước, và giảm thể tích chỉ còn một phần ba. Những dự liệu đáng tín cậy và chính xác nhất vẫn chưa được thu thập, lưu trữ hay cung cấp bởi bất kỳ một tổ chức hay cơ quan chính thức nào. Số lượng con người và động vật bị ảnh hưởng bởi thảm họa này chỉ có thể được ước đoán.
Vì vấn đề Biển Aral, tình trạng tập trung độ mặn cao là điều bình thường tại Uzbekistan. Đa số các nguồn nước của quốc gia này được dùng cho nông ngiệp, chiếm gần 94% sự sử dụng nước. [31] This results in heavy use of pesticides and fertilizers. [32]

Thể thao

Bài chi tiết: Thể thao Uzbekistan

Uzbekistan là một trong nhiều nền thể thao đang nổi ở châu Á. Đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan đã từng làm nên nhiều chiến tích tuyệt vời khi lọt vào 5 kì AFC Asian Cup liên tiếp vào các năm 1996, 2000, 2004, 2007, 2011 & mới đây

Tham khảo

  • Chasing the Sea: Lost Among the Ghosts of Empire in Central Asia by Tom Bissell
  • A Historical Atlas of Uzbekistan by Aisha Khan
  • The Modern Uzbeks From the 14th Century to the Present: A Cultural History by Edward A. Allworth
  • Nationalism in Uzbekistan: Soviet Republic’s Road to Sovereignty by James Critchlow
  • Odyssey Guide: Uzbekistan by Calcum Macleod and Bradley Mayhew
  • Uzbekistan: Heirs to the Silk Road by Johannes Kalter and Margareta Pavaloi
  • “Silk Road to Ruin: Is Central Asia the New Middle East?” by Ted Rall
  • Murder in Samarkand – A British Ambassador’s Controversial Defiance of Tyranny in the War on Terror by Craig Murray

Tham khảo

  1. ^ July 2007 estimate; CIA World factbook, Uzbekistan
  2. ^ 1996 data; CIA World factbook, Uzbekistan
  3. ^ D. Carlson, “Uzbekistan: Ethnic Composition and Discriminations”, Harvard University, August 2003
  4. ^ State.gov. August 19, 2010. Retrieved January 28, 2011.
  5. ^ Pew Forum on Religion & Public Life (October 2009)

Xem thêm

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Cộng đồng Kinh tế Âu Á Bản mẫu:Vùng nói tiếng Turkic

Sự biến Thổ Mộc bảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Sự biến Thổ Mộc bảo
Một phần của Chiến tranh Minh-Mông Cổ
Thời gian 1 tháng 9, 1449
Địa điểm Hoài Lai, Hà Bắc, Trung Quốc
Nguyên nhân bùng nổ Bộ tộc Ngõa Lạt Mông Cổ tiến đánh Trung Quốc
Kết quả Chiến thắng của bộ tộc Ngõa Lạt Mông Cổ, Minh Anh Tông bị bắt làm tù binh
Tham chiến
Bộ tộc Ngõa Lạt Mông Cổ Nhà Minh
Chỉ huy
Thoát Thoát Bất Hoa
Dã Tiên
Minh Anh Tông
Vương Chấn
Trương Phụ
Trần Doanh
Vương Tá
Khoáng Dã
Tào Nại
Đình Tư
Vương Vĩnh Hòa
Đặng Khởi.
Lực lượng
20.000 500.000[1][2][3][4]
Tổn thất
Không rõ Minh Anh Tông bị bắt
trên 50 tướng bị giết
vài chục vạn lính thương vong[5].
.

Sự biến Thổ Mộc bảo (bính âm: 土木堡之變; Hán Việt: Thổ Mộc bảo chi biến) hay Sự biến Thổ Mộc (bính âm: 土木之变; Thổ Mộc chi biến) là cuộc chiến xảy ra vào ngày Nhâm Tuất (15) tháng 8 năm Kỉ Tị (1 tháng 9 năm 1449) tại biên giới Đại Minh giữa quân đội nhà Minh và lực lượng của bộ lạc Ngõa Lạt (Oirat) Mông Cổ. Trong trận chiến này, lực lượng nhà Minh vốn đông đảo hơn đã thất bại hoàn toàn trước đội quân của Ngõa Lạt do Dã Tiên thai cát chỉ huy, toàn bộ bộ chỉ huy của quân Minh bị tiêu diệt hoặc bắt sống trong đó có Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn, hoàng đế đương triều của nhà Minh. Với việc toàn quân bại trận, hoàng đế bị bắt sống, Sự biến Thổ Mộc bảo được coi là thất bại quân sự lớn nhất trong lịch sử nhà Minh và là bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi cán cân quyền lực ở biên giới phía Bắc Trung Quốc giữa nhà Minh và các bộ tộc gốc Mông Cổ.

Bối cảnh

Người Mông Cổ bị Minh Thái Tổ đánh đuổi về thảo nguyên phía bắc (1368) nhưng vẫn là lực lượng hùng mạnh, luôn uy hiếp biên cương nhà Minh trong những năm sau đó. Trong đời Minh Thành Tổ đã từng ra quân, tuy đã làm yếu thêm quân Mông Cổ, nhưng đến thời Minh Anh Tông tương quan lực lượng đã thay đổi.
Chiến sự liên miên trong nước cùng sự tham lam của bộ máy cai trị khiến quân đội nhà Minh càng suy yếu. Đồn điền vốn của quân sĩ tự cày cấy nuôi nhau bị các võ quan cao cấp và các địa chủ lớn tại địa phương chiếm làm của riêng, thu nhập của đồn điền không đủ nuôi binh sĩ[6].
Quân sĩ bỏ trốn rất nhiều, tính đến năm 1448, Bộ Binh báo cáo lên triều đình, tổng số quân sĩ bỏ trốn phải xóa tên lên tới 66 vạn người, điển hình tại một Bách hộ ở Sơn Đông, trong tổng số 120 quân lính bỏ trốn gần hết chỉ còn lại 1 người. Ngoài ra, vũ khí trang bị cho quân đội nhà Minh cũng vừa thiếu vừa kém chất lượng, nhiều đồ dùng bị hư hỏng[6].
Tộc Ngõa Lạt là một chi của Mông Cổ, trước kia sinh sống du mục ở phía tây nam hồ Baikan. Khi Thành Cát Tư Hãn thống nhất các bộ tộc Mông Cổ, Ngõa Lạt quy phục Mông Cổ rồi di chuyển dần về phía thượng lưu sông Enisei, phát triển về phía nam, mở rộng thế lực tới sông Táp Bồn và vùng lòng chảo Chuẩn Cát Nhĩ. Đến đầu thời Minh, bộ tộc Ngõa Lạt lớn mạnh hơn so với các bộ tộc Mông Cổ khác.
Trong lúc nhà Minh có dấu hiệu suy yếu thì các bộ lạc Mông Cổ lại mạnh lên. Các bộ lạc Ngõa Lạt và Thát Đát được thống nhất. Từ năm 1439, Dã Tiên thái sư của tộc Ngõa Lạt lên nắm quyền trong chính quyền Mông Cổ của Khả hãn Thoát Thoát. Nhân sự suy nhược của nhà Minh, Dã Tiên dần dần nảy sinh ý định đánh xuống trung nguyên để khôi phục uy quyền của nhà Nguyên trước đây[7].

Xung đột ngoại giao

Để vỗ về Dã Tiên, Minh Anh Tông cho phép Dã Tiên vượt rào quy định, từ năm 1442 đoàn sứ Mông Cổ vào triều cống ở Bắc Kinh được phép có tới hàng ngàn người và có thể đi tìm kiếm những vật quý hiếm của Trung Quốc.
Nhân lúc quân Minh sa lầy vào cuộc chiến ở phía tây nam (Vân Nam), năm 1442 Dã Tiên mang quân tiến về phía tây, xây dựng quan hệ thông gia với các vệ Sa châu và Xích Cân Mông Cổ, khiến những nơi này càng ngày càng xa rời nhà Minh. Sang năm 1445, Dã Tiên lôi kéo những nơi này tham chiến đánh Cáp Mật vệ. Thủ lĩnh Đảo Ngõa Tháp Thất Lý cầu cứu nhà Minh nhưng không được cứu viện, buộc phải thần phục Dã Tiên. Dã Tiên dần dần mở rộng lãnh thổ từ phía đông tới Triều Tiên, phía tây tới Tân Cương.
Năm 1448, Dã Tiên lại cử đoàn sứ bộ gồm 2524 người đến Bắc Kinh, nói thăng lên 3598 người để lĩnh thêm đồ thưởng của nhà Minh. Hoạn quan Vương Chấn cầm quyền trong triều ra lệnh điều tra số lượng sứ bộ, lại thấy ngựa mang cống của Dã Tiên nhỏ gầy, bèn hạ giá ngựa đi, rồi giảm đồ ban thưởng xuống chỉ còn 1/5[8]. Dã Tiên từng có hứa hẹn thông gia với nhà Minh, thấy triều Minh có ý khất việc đó và làm nhục sứ bộ, bèn nhân cớ đó để khởi binh.

Diễn biến

Dã Tiên ra quân

Mùa hè năm Kỉ Tị (1449), Dã Tiên tập kết binh mã các nơi chuẩn bị tiến xuống phía nam. Tin truyền đến Bắc Kinh, Minh Anh Tông cử sứ đến các Tuyên Phủ, Đại Đồng chỉnh đốn quân bị để đối phó. Tuy nhiên trong triều vẫn có người lén lút mang vũ khí đổi lấy ngựa tốt của Dã Tiên[9].
Tháng 7 năm Kỉ Tị, Dã Tiên khởi đại quân chia làm 4 đường đánh vào Đại Minh:

  • Đường phía đông do Khả hãn Thoát Thoát Bất Hoa lĩnh quân Sở Bộ cùng Ngột Lương Cáp đánh Liêu Đông
  • Đường phía tây do một biệt tướng tấn công Cam châu (Trường Dịch, Cam Túc)
  • Cánh quân đi đường trung bộ, do A Thích Tri Viện đánh Tuyên Phủ
  • Cánh quân còn lại cũng đi đường trung bộ do Dã Tiên chỉ huy, tấn công Đại Đồng

Ngày Kỉ Sửu (11) tháng 7 (30 tháng 7), quân Ngõa Lạt của Dã Tiên ồ ạt tấn công Đại Đồng. Tướng Ngô Hạo nhà Minh đụng độ Dã Tiên ở Miêu Nhi Trang bị đại bại và tử trận. Minh Anh Tông điều Tỉnh Nguyên mang 4 vạn quân ra cứu viện, cũng bị tiêu diệt hoàn toàn[9].

Minh Anh Tông thân chinh

Tình thế nguy cấp, hoạn quan Vương Chấn ra sức cổ vũ Anh Tông thân chinh noi theo gương các vua đời trước đánh Mông Cổ như Minh Thái TổMinh Thành Tổ. Minh Anh Tông quen hưởng lạc, chưa có kinh nghiệm gian khổ trận mạc nên nghĩ việc quân sự khá đơn giản và nghe theo lời Vương Chấn[10].
Các đại thần như Thượng thư Bộ Binh là Khoáng Dã, Hữu thị lang Bộ Binh là Vu Khiêm, Thượng thư bộ Lại là Vương Trực… thấy Anh Tông định thân chinh, vội vã dâng sớ can ngăn, nhưng Anh Tông nhất định không nghe theo. Ngày rằm tháng 7 năm đó, ông ban chiếu thân chinh, để em là Thành vương Chu Kỳ Ngọc trấn thủ kinh thành, Phò mã đô úy Tiêu Kính phụ chính[11].
Tình hình ngoài mặt trận càng ngày càng bất lợi cho quân Minh. Tại Tuyên Phủ, quân Ngõa Lạt bao vây quân Minh nhiều ngày, cắt đứt nguồn nước. Tại Đại Đồng, các tướng trấn thủ là Tống Anh, Chu Miện Thạch Hanh ra đánh đều thua nặng; Tống Anh và Chu Miện tử trận cùng nhiều quân sĩ, chỉ còn Thạch Hanh chạy trốn thoát thân.

Quyết sách của Vương Chấn

Ngày Giáp Ngọ (16) tháng 7 (4 tháng 8), Anh Tông lên đường ra mặt trận, mang theo 50 vạn tướng sĩ[1][12], đêm hôm đó đại quân đóng ở Ma Gia Lĩnh. Ngày Ất Mùi (17) tức 5 tháng 8, Minh Anh Tông đóng ở Long Hổ Đài, ngay trong đêm đó quân Minh đã cướp đoạt đồ của nhau, thành ra hỗn loạn.
Ngày Đinh Dậu (19) tức 7 tháng 8, Minh Anh Tông ra khỏi Cư Dung Quan, ngày 20 âm đến Du Lâm, ngày 21 âm đến Hoài Lại, ngày 22 âm đến Lôi Gia Phạm, ngày Tân Sửu (23) tức 11 tháng 8 đến Tuyên Phủ. Những ngày hành quân liên tiếp có mưa gió, mọi người lo lắng, lương thảo không đủ, quân lĩnh đều mệt mỏi. Các quan xin Anh Tông ngừng hành quân vì quân sĩ kém hăng hái. Nhưng Anh Tông giao hết quyền cho Vương Chấn. Vương Chấn một mực muốn đánh, hạ lệnh ba quân bày trận[13].
Ngày 24 tháng 7 âm, Anh Tông đến núi Kê Minh, ngày 25 tới hẻm núi Vạn Toàn, ngày 26 âm tới phía tây thành Hoài An, ngày 27 âm đến phía tây thành Thiên Thành, ngày Bính Ngọ (28) tức 16 tháng 8 tới phía nam thành Dương Hòa. Quân sĩ trông thấy xác chết của quân nhà trong trận đánh trước đó với quân Ngõa Lạt, đều hoảng sợ.
Ngày 29 tháng 7 âm, Anh Tông tới trạm dịch Tu Lạc. Ngày Mậu Thân (1) tháng 8 tức 18 tháng 8 thì đại quân đến Đại Đồng. Lúc này Dã Tiên sau trận thắng đã chủ động rút về phía bắc chờ đợi thời cơ. Vương Chân muốn phát lệnh bắc tiến, thái giám thân tín là Quách Kính vội báo với Vương Chấn về tình hình bi đát ngoài mặt trận của quân Minh. Vương Chấn biết tin thật, bắt đầu lo lắng, bèn quyết định tuyên bố “chiến thắng” và vội vàng rút quân trở về[14].
Ngày 2 tháng 8 âm, đại quân bắt đầu rút về phía đông. Ban đầu, Vương Chấn định đi theo đường Tử Kinh Quan là đường ngắn để về nhanh. Tuy nhiên, đây cũng là đường qua Úy châu[15] – quê Vương Chấn. Đi được 40 dặm, Vương Chấn chợt thay đổi ý định, sợ số quân lớn 50 vạn người sẽ giẫm nát lúa màu của trang trại nhà mình, do đó quyết định đổi hướng hành quân từ đường đông nam lên đường đông bắc, đi theo đường cũ từ Tuyên Phủ[16] về kinh. Việc thay đổi lộ trình vừa kéo dài thời gian, vừa gây ra nghi hoặc lớn trong các tướng sĩ[14].
Ngày 3 tháng 8 âm, Anh Tông tới Trích Trích Thủy, ngày 4 âm đến Phương Thành, Hồng châu, ngày 5 âm đến Bạch Đăng, ngày 6 đến phía tây thành Hoài An, ngày 7 âm đến Tuyên Phủ.

Quân Minh bại trận

Dã Tiên phát hiện quân Minh đi đường vòng mất thời gian, bèn dẫn quân từ phía bắc đón đường vây đánh. Thượng thư Bộ Binh là Khoáng Dã đề nghị cử tinh binh đi sau cùng chặn hậu, còn xa giá phải nhanh chóng chạy vào cửa ải, nhưng Vương Chấn ra sức phản đối.
Ngày Đinh Tị (10) tháng 8 tức 27 tháng 8, Minh Anh Tông đến đông nam Tuyên Phủ, ngày 11 âm đến trạm Lôi Gia, ngày 12 âm sắp khởi hành thì nhận được tin báo quân Dã Tiên đã đuổi tới gần. Ngày Canh Thân (13) tháng 8 tức 30 tháng 8, Anh Tông bèn hạ lệnh đóng quân dựng trại một chỗ, cử anh em Ngô Khắc Trung và Ngô Khắc Cần ra chặn hậu. Dã Tiên đánh tới, giết chết anh em họ Ngô. Chập tối, Anh Tông nghe tin anh em họ Ngô tử trận, bèn cử Chu Dũng, Tiết Phụ mang 4 vạn quân ra đánh, nhưng gặp phục binh ở hẻm núi Diều Nhi, toàn quân bị tiêu diệt.
Anh Tông cùng đại quân tới pháo đài Thổ Mộc – Thổ Mộc bảo[17], phía đông cách thành Hoài Lai 20 dặm. Quần thần kiến nghị kéo đến bảo vệ Hoài Lai, nhưng Vương Chấn cho rằng còn hơn 1000 xe quân dụng chưa tới, hạ lệnh toàn quân đóng lại Thổ Mộc Bảo để chờ đợi. Quân Minh chọn chỗ cao đóng trại, nhưng không tìm được nguồn nước.
Dã Tiên nắm được điểm yếu trong việc đóng quân của nhà Minh, Dã Tiên nhanh chóng cho quân Ngõa Lạt cắt đứt đường tiếp tế nước của quân Minh với con sông nằm ở phía Nam của Thổ Mộc bảo. Kỵ binh Ngõa Lạt đuổi đến nơi, bao vây chặt quân Minh, cắt đường nước suối phía nam cách đó 15 dặm. Quân Minh đào đất sâu hơn 2 trượng vẫn không tìm được mạch nước. Quân Minh bị đói khát, phải kịch chiến suốt đêm ở phụ cận Ma Cốc Khẩu. Quân Minh không tìm được đường ra, Vương Chấn cũng hoảng hốt không dám hạ lệnh khởi hành.
Ngày Nhâm Tuất (15) tháng 8 tức 1 tháng 9, đang lúc nguy cấp, có sứ giả của Dã Tiên tới xin nghị hòa, làm ra vẻ muốn rút quân. Anh Tông và Vương Chấn không biết là dối trá, bèn cho học sĩ Tào Nại thảo chiếu nghị hòa, rồi sai sứ sang gặp Dã Tiên. Vương Chấn cho rằng vòng vây đã được mở, vội hạ lệnh cho quân đi đến chỗ có gần nước. Trong lúc quân Minh tranh nhau đi lấy nước mất hàng lối thì quân Ngõa Lạt đột ngột tấn công. Mấy chục vạn quân Minh không kịp trở tay, không có đường chạy trốn, bị tử trận, thây nằm ngổn ngang[5][18].
Trong lúc hỗn loạn, Vương Chấn bị hộ vệ tướng quân Phàn Trung nổi giận cầm gậy đánh chết. Sau đó Phàn Trung ra trận nhưng không chống nổi quân Ngõa Lạt và bị tử trận. Cùng bị giết với mấy chục vạn quân Minh có trên 50 quan văn võ là: Trương Phụ, Trần Doanh, Vương Tá (Thượng thư Bộ Hộ), Khoáng Dã (Thượng thư Bộ Binh), Tào Nại, Đình Tư, Vương Vĩnh Hòa, Đặng Khởi[5].

Minh Anh Tông bị bắt

Minh Anh Tông biết không còn khả năng trốn chạy, bèn xuống ngựa chọn chỗ ngồi nhìn về hướng nam, chỉ còn 1 viên hoạn quan bên cạnh. Một kị binh Ngõa Lạt đuổi đến, muốn lấy bộ áo giáp quý giá trên người ông, nhưng ông cự tuyệt. Người lính Ngõa Lạt định giết ông thì anh người đó phi ngựa tới ngăn lại vì trông thấy phong cách bất thường của ông. Hai anh em người lính dẫn Minh Anh Tông đến gặp em Dã Tiên là Trại San vương[19].
Vừa gặp Trại San vương, Anh Tông cất tiếng hỏi thân thế. Trại San vương nghe khẩu khí ông rất kinh ngạc, vội báo cho Dã Tiên. Dã Tiên bèn sai hai thủ hạ là Cáp Ba quốc sư và Cáp Giả Lý Bình Chương từng đi sứ nhà Minh đến nhận mặt. Sau khi xác định rõ là vua nhà Minh, Dã Tiên rất mừng, cho rằng đã có cơ hội tiến vào trung nguyên như các vua nhà Nguyên trước đây[7].
Dã Tiên muốn lấy Anh Tông làm con tin, bèn mang ông tới giao cho doanh trại của Bá Nhan Thiếp Mục Nhi phải bảo vệ.

Hậu quả và ý nghĩa

Quân Minh thất bại nặng nề, tổn thất nhân sự rất lớn trong sự biến Thổ Mộc bảo. Minh Anh Tông chủ quan thiếu sự chuẩn bị và chỉ huy sáng suốt. Bản thân Dã Tiên cũng không ngờ rằng ông có thể giành được một thắng lợi lớn tới vậy trên chiến trường chỉ bằng chưa đầy 5.000 kỵ binh trong số 20.000 quân Ngõa Lạt tiến qua biên giới Trung Quốc.
Sự biến Thổ Mộc Bảo biến vua Minh Anh Tông trở thành tù binh trong tay người Ngõa Lạt trong 1 năm[20]. Nhà Minh trải qua cuộc khủng hoảng nặng nề[21]. Dã Tiên bắt được Minh Anh Tông, muốn dùng làm con tin để đánh chiếm các thành trì đất đai của nhà Minh.
Được tin Anh Tông bị bắt, Bắc Kinh rơi vào tình trạng hỗn loạn vì trong thành chỉ còn khoảng 10 vạn quân và ngựa già yếu[22]. Triều đình nhà Minh từng có ý kiến định dời đô về phía nam, nhưng Thượng thư Bộ Binh mới là Vu Khiêm cương quyết tử thủ tại kinh thành. Tôn thái hậu gấp gáp đối phó, lập em Anh Tông là Thành vương Chu Kỳ Ngọc lên làm vua mới, tức là Minh Đại Tông, lấy niên hiệu là Cảnh Thái và vọng tôn Anh Tông làm thái thượng hoàng[23].
Ngày 13 tháng 10 âm, quân Ngõa Lạt đánh thành Bắc Kinh. Quân Minh dưới sự chỉ huy của Vu Khiêm đã kháng cự mãnh liệt. Vu Khiêm đã bất chấp sự đe dọa của Dã Tiên và tiếp tục giữ vững Bắc Kinh. Dã Tiên cố sức đánh hơn 1 ngày không nổi, lại sợ viện binh quân Minh các nơi kéo đến chặn đường về, nên ngày 15 tháng 10 hạ lệnh nhổ trại lui về phía bắc.
Phía Ngõa Lạt, ý định dùng Minh Anh Tông để mở rộng thế lực sau đó bất thành nên sang năm sau đành trả lại Anh Tông. Sự kiện Anh Tông bị bắt và đổi ngôi vua mới Đại Tông được triều đình nhà Minh gửi chiếu thư báo cho nước Đại Việt vào ngày 21 tháng 6 âm lịch tức 19 tháng 7 năm 1451 (triều vua Lê Nhân Tông)[24]. Các sử gia xác nhận Đại Việt là nước chư hầu duy nhất ở Đông Nam Ánhà Minh thông báo chính thức sự kiện này[25].
Dã Tiên bị chỉ trích kịch liệt vì đã không tận dụng được cơ hội lớn này để mở phát triển bờ cõi của Ngõa Lạt và bị ám sát năm 1455, 6 năm sau chiến thắng vang dội ở Thổ Mộc Bảo. Sự biến Thổ Mộc Bảo là bước ngoặt chuyển của vương triều Minh chuyển từ sơ kỳ sang trung kỳ[5]. Nhà Minh tiếp tục trải qua cuộc đấu tranh giành quyền lực nữa giữa vua mới và vua cũ trong vòng 7 năm (14501457) và kết thúc bằng sự trở lại ngôi vua của Minh Anh Tông.

Xem thêm

Tham khảo

  • An Tác Chương (1996), Chuyện những kẻ bạo tàn trong lịch sử, NXB Văn hóa thông tin
  • Vương Thiên Hữu chủ biên (2004), Mười sáu hoàng đế triều Minh, NXB Văn hóa thông tin
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 3, NXB Văn hóa thông tin
  • Minh thực lục – Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam thế kỷ 14-17, Hồ Bạch Thảo dịch, NXB Hà Nội, 2010
  • Hồ Hán Sinh (2002), Bí mật lăng tẩm triều Minh, NXB Văn hóa thông tin
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Cambridge History of China, Volume 7, The Ming Dynasty”, edited by Twitchett and Mote, 1988.
  • Frederick W. Mote. “The T’u-Mu Incident of 1449.” In Chinese Ways in Warfare, edited by Edward L. Dreyer, Frank Algerton Kierman and John King Fairbank. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1974.

Chú thích

  1. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 322
  2. ^ An Tác Chương, sđd, tr 90
  3. ^ Bennett, Matthew (1998). The Hutchinson dictionary of ancient & medieval warfare. Taylor & Francis. tr. 323. ISBN 1579581161.
  4. ^ Nolan, Cathal J. (2006). The age of wars of religion, 1000-1650: an encyclopedia of global warfare and civilization. Greenwood Publishing Group. tr. 151. ISBN 0313337330.
  5. ^ a ă â b Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 326
  6. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 316
  7. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 328
  8. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 89
  9. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 320
  10. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 321
  11. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 90
  12. ^ An Tác Chương, sđd, tr 90
  13. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 323
  14. ^ a ă Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 324
  15. ^ Nay là huyện Uất, Trương Gia Khẩu, Hà Bắc, Trung Quốc
  16. ^ Nay là Tuyên Hóa, Hà Bắc
  17. ^ Nằm ở phía tây huyện Hoài Lai
  18. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 93
  19. ^ Vương Thiên Hữu, sách đã dẫn, tr 327
  20. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 133
  21. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 22
  22. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 123
  23. ^ An Tác Chương, sách đã dẫn, tr 95
  24. ^ Minh thực lục, tập 1, tr 99; tập 3, tr 55-56, Hồ Bạch Thảo dịch từ nguyên văn tại Anh Tông thực lục trong bộ Minh thực lục, quyển 205, tr 12a-13b. Minh Đại Tông thông báo việc này cho Đại Việt sau khi đã đón Anh Tông trở về
  25. ^ Minh thực lục, tập 1, tr 99: Phần Giới thiệu và các bài nghiên cứu về Minh thực lục

Cuộc tấn công Ba Lan (1939)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cuộc tấn công Ba Lan
Một phần của Chiến trường châu Âu trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
WBK -battle of Bzura 1939.jpgKỵ binh Ba Lan trong trận Bzura, trận đánh lớn nhất giữa Đức và Ba Lan trong cuộc chiến
.
Thời gian 1 tháng 96 tháng 10 năm 1939
Địa điểm Ba Lan
Kết quả Đức Quốc xã và Liên Xô chiến thắng, lãnh thổ Ba Lan bị phân chia
Tham chiến
Cờ của Ba Lan Ba Lan Cờ của Đức Quốc Xã Đức Quốc Xã
Cờ của Liên Xô Liên Xô
Chỉ huy
Cờ của Ba Lan Edward Rydz-Śmigły Cờ của Đức Quốc Xã Fedor von Bock
(Tập đoàn quân phía bắc)
Cờ của Đức Quốc Xã Gerd von Rundstedt
(Tập đoàn quân phía nam)
Cờ của Liên Xô Mikhail Kovalev
(Phương diện quân Belorussia)
Cờ của Liên Xô Semyon Timoshenko
(Phương diện quân Ukraina)
Cờ của Slovakia Ferdinand Čatloš
(Tập đoàn quân Bernolák)
Lực lượng
 Ba Lan:
39 sư đoàn,
16 lữ đoàn,[1]
4.300 khẩu pháo,[1]
880 xe tăng,
400 máy bay[2]
Tổng cộng: 950.000[3]
 Đức:
56 sư đoàn,
4 lữ đoàn,
9.000 khẩu pháo,
2.500 xe tăng,[2]
2.315 máy bay[4]
Liên Xô:
33+ sư đoàn,
11+ lữ đoàn,
4.959 khẩu pháo,
4.736 xe tăng,
3.300 máy bay
Slovakia:
3 sư đoàn
Tổng cộng:
1.500.000 lính Đức,[2]
800.000 Hồng quân,
50.000 lính Slovakia
Tổng cộng: 2.350.000[3]
Tổn thất
 Ba Lan:
66.000 người chết,[5]
133.700 người bị thương,
694.000 người bị bắt
 Đức:
16.343 người chết,[5]
27.280 người bị thương,
320 người mất tích
Liên Xô:
737 người chết hoặc mất tích,
1.125 người bị thương
Slovakia:
18 người chết,
46 người bị thương,
11 người mất tích
.

Cuộc tấn công Ba Lan 1939 — được người Ba Lan gọi là Chiến dịch tháng Chín (Kampania wrześniowa), Chiến tranh vệ quốc 1939 (Wojna obronna 1939 roku); người Đức gọi là Chiến dịch Ba Lan (Polenfeldzug) với bí danh Kế hoạch Trắng (Fall Weiss) — là một sự kiện quân sự đã mở đầu Thế chiến thứ hai diễn ra vào ngày 1 tháng 9 năm 1939 khi Đức Quốc xã bất ngờ tấn công Ba Lan. Ngày 17 tháng 9 năm 1939, đến lượt Hồng quân Liên Xô cho quân tiến chiếm miền đông Ba Lan. Ngoài ra còn có một lực lượng nhỏ Slovakia đồng minh của Đức tham chiến. Chiến thắng quyết định trong cuộc tấn công này đã thể hiện sức chiến đấu hiệu quả của lực lượng Wehrmacht của nền Đệ tam Đế chế Đức.[6]
Sự kiện Đức tấn công Ba Lan là điểm khởi phát cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai, lôi kéo Pháp và các nước đồng minh của Ba Lan như Anh Quốc, ÚcNew Zealand tuyên chiến với Đức vào ngày 3 tháng 9 năm 1939, sau đó là Nam Phi, Canada và nhiều nước khác. Tuy vậy, Anh và Pháp dù đã tuyên chiến với Đức, vẫn không chi viện đáng kể gì cho Ba Lan. (Xem Cuộc chiến tranh kỳ quặc).
Sau sự kiện Gleiwitz ngày 31 tháng 8 năm 1939, ngày 1 tháng 9, quân Đức tiến đánh Ba Lan từ các hướng bắc, nam và tây. Do phải dàn mỏng ra trên toàn tuyến biên giới, quân Ba Lan nhanh chóng bị buộc phải rút lui về hướng đông. Sau khi thắng trận Bzura, quân Đức giành được ưu thế quyết định trên chiến trường. Quân Ba Lan bắt đầu rút lui về hướng đông nam, theo một kết hoạch định ra từ trước nhằm bảo vệ tuyến phòng thủ dọc theo khu vực đầu cầu Romania, nơi quân Ba Lan hy vọng nhận được cứu viện từ lực lượng Đồng Minh để phản công.[7]
Ngày 17 tháng 9 năm 1939, Hồng quân tràn vào đánh chiếm lãnh thổ Kresy thuộc Ba Lan để phối hợp với quân Đức.[8] Quân Liên Xô tiến công để thực thi thỏa thuận trong điều khoản bổ sung Hiệp ước Xô-Đức, theo đó chia cắt Đông Âu thành khu vực ảnh hưởng của Đức và Liên Xô.[9] Phải đối mặt với một mặt trận thứ hai, chính phủ Ba Lan quyết định việc phòng thủ khu vực đầu cầu Romania không còn khả thi nữa, và quyết định di tản toàn bộ binh lính sang nước România trung lập.[10] Tới 1 tháng 10, quân Đức và Liên Xô đã hoàn thành chiếm đóng Ba Lan, mặc dù chính phủ Ba Lan không chịu tuyên bố đầu hàng. Hơn thế nữa, lực lượng bộ binh và không quân Ba Lan được di tản sang RomâniaHungary, rất nhiều người trong số này sau đó gia nhập Đạo quân Ba Lan phía Tây, nằm trong lực lượng đồng minh Pháp, lãnh thổ ủy trị Syria, và Vương quốc Anh.
Ngày 27 tháng 9 năm 1939, thủ đô Warszawa của Ba Lan chính thức bị quân Đức chiếm. Ngày 6 tháng 10 năm 1939, cuộc tấn công Ba Lan chấm dứt, lãnh thổ Ba Lan đã bị phân chia giữa Đức Quốc xãLiên Xô. Tuy vậy người Ba Lan tiếp tục tiến hành kháng chiến và đóng góp cho các chiến dịch quân sự của phía Đồng minh trong suốt cuộc Đại chiến thế giới. Đức chiếm vùng do Liên Xô chiếm đóng sau khi họ tấn công Liên Xô ngày 22 tháng 6 năm 1941, và mất Ba Lan khi quân Liên Xô phản công năm 1944. Trong suốt thời gian bị chiếm đóng, Ba Lan mất hơn 20% dân số, cuộc chiến tranh này cũng đánh dấu sự kết thúc của nền Cộng hòa Ba Lan lần thứ hai. Chiến thắng chóng vánh của nền Đệ tam Đế chế Đức trong cuộc tiến công này đã đặt tiền đề cho thuật ngữ Blitzkrieg (“Chiến tranh Chớp nhoáng”) chỉ đường lối chiến tranh của nước Đức thời ấy xuất hiện trong từ điển tiếng Anh.[11]

Hoàn cảnh

Ngày 30 tháng 1 năm 1933, Adolf HitlerĐảng Quốc xã lên nắm quyền tại nước Đức. Nước Đức dần trở thành một lò lửa chiến tranh ở Châu Âu. Trong Mein Kampf, Adolf Hitler đã đề ra nhiều kế hoạch lớn sau khi nắm quyền trong đó có việc mở rộng “Lebensraum” (Không gian sống) bằng cách bành trướng về phía đông nước Đức, mà cụ thể sẽ là Ba LanLiên Xô[12].
Tuy nhiên, trong thời gian đầu nắm quyền, Hitler lại có chính sách thân thiện với Ba Lan nhằm chống lại Liên Xô nên vào ngày 26 tháng 1 năm 1934, Ba Lan và Đức đã kí hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau trong đó hai nước đã tạm thời dàn xếp vụ tranh chấp vùng Danzig.
Tuy nhiên sau đó, mối quan hệ giữa Đức và Ba Lan ngày càng xấu đi nhất là sau khi sức mạnh quân sự của Đức Quốc xã ngày càng gia tăng. Đức muốn thiết lập một đường biên giới mới với Ba Lan nhằm đưa vùng Đông Phổ bị tách rời khỏi nước Đức bởi “Hành lang Ba Lan” trở lại, ngoài ra còn muốn giành quyền kiểm soát thành phố Danzig. Danzig là vùng đất của Đế quốc Đức trước Thế chiến thứ nhất nhưng do Đế quốc Đức thua trận và tan rã nên vùng này thuộc quyền quản lí của Hội quốc Liên. Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1930, các cuộc tranh chấp và xô xát diễn ra ngày càng thường xuyên giữa người Đức và người Ba Lan sống tại đây.

Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Molotov ký Hiệp ước Xô-Đức, với Stalin và Ribbentrop đứng sau lưng

Năm 1938, Đức ngày càng đưa ra cho Ba Lan nhiều yêu sách về vùng Danzig trong đó có việc xây dựng một tuyến đường sắt nối Đông Phổ và phần còn lại của nước Đức, băng ngang qua hành lang Ba Lan. Nhưng chính phủ Ba Lan đã kiên quyết từ chối các yêu sách này vì không tin tưởng vào Đức Quốc xã cũng như lo sợ sẽ chịu chung số phận với Tiệp Khắc[13]. Tuy nhiên, chính phủ Ba Lan biết rằng không thể đơn phương chống lại Đức nên đã cầu viện đến sự giúp đỡ của Anh và Pháp. Anh và Pháp vào thời điểm đó vẫn tiếp tục đeo đuổi chính sách thoả thiệp với Đức nhằm tránh một cuộc chiến tranh mới có thể xảy ra. Nhưng trước sức ép chính trị dữ dội cộng với những lo sợ trước sự bành trướng của Đức nên lãnh đạo của hai nước này đã quyết định cô lập Đức bằng cách tạo ra một khối liên minh với các nước ở Đông Âu như Ba Lan, Latvia, Estonia, România. Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Thủ tướng Anh Neville Chamberlain ra tuyên bố về sự đảm bảo của cả Anh và Pháp đối với nền độc lập Ba Lan.

Bản đồ chỉ rõ khu vực ảnh hưởng của Đức Quốc xãLiên Xô trong nghị định thư bí mật của Hiệp ước Xô-Đức

Hành động này của nước Anh đã khiến Hitler vô cùng giận dữ và mối quan hệ thân thiện giữa Đức và Ba Lan chính thức kết thúc vào ngày 28 tháng 4 năm 1939 khi Đức tuyên bố xoá bỏ hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau đã được ký vào năm 1934. Ngoài ra, các điều khoản trong Hội nghị Hải quân London năm 1935 với Anh cũng theo đó mà tan vỡ.
Ngày 10 tháng 5, hiệp định tương trợ Pháp-Ba Lan được kí kết. Sau đó, ngày 25 tháng 8, hiệp định tương trợ lẫn nhau giữa Anh và Ba Lan ra đời. Cuộc đàm phán an ninh giữa Anh-Pháp với Liên Xô nhằm đối phó với Đức bị trì hoãn và kéo dài mà không thu được kết quả do sự nghi kỵ lẫn nhau giữa các bên, đặc biệt là thái độ lừng chừng của Anh.Trong khi đó, Đức rốt ráo tìm kiếm một hiệp ước bất tương xâm với Liên Xô.Kết quả Hiệp ước Xô-Đức được kí kết ngày 23 tháng 8 tại Moskva, trong đó Liên Xô chấp nhận đóng vai trò trung lập trong cuộc xung đột Đức-Ba Lan đổi lại những quyền lợi ở Đông Âu và vùng Baltic (bao gồm việc chia sẻ Ba Lan và xác định ảnh hưởng của Nga ở Phần Lan, Estonia, Litva, Latvia,Bessarabia)
Ngày 29 tháng 8, tối hậu thư của Đức được giao cho Ba Lan với yêu sách đòi Danzig trở lại và xoá bỏ “hành lang Ba Lan”. Chính phủ Ba Lan đã thẳng thừng từ chối.
Ngày 30 tháng 8, Hải quân Ba Lan tiến hành Chiến dịch Peking, di tản hạm đội của mình đến Anh để tránh bị hải quân Đức bao vây phong tỏa. Cùng ngày, Thống chế Ba Lan Edward Rydz-Śmigły ra lệnh tổng động viên quân đội. Tuy nhiên, dưới sức ép của Pháp vốn vẫn hy vọng vào một giải pháp ngoại giao, ông phải thu hồi lệnh trên, không biết rằng Đức đã hoàn thành tổng động viên và tập trung quân để đánh vào Ba Lan. Đêm 31 tháng 8, quân Đức dàn cảnh “sự kiện Gleiwitz” theo đó “quân Ba Lan” tấn công vào trạm phát thanh tại thành phố biên giới Gleiwitz thuộc Thượng Silesia.
Ngày 31 tháng 8, Hitler ra mật lệnh tấn công vào rạng sáng ngày 1 tháng 9. 4 giờ 45 phút sáng ngày 1 tháng 9, Đức chính thức tấn công Ba Lan, mở màn cuộc tấn công. Vì lệnh hoãn tổng động viên khi trước, Ba Lan chỉ có thể tập trung được 70% lực lượng dự kiến, và nhiều đơn vị của họ vẫn còn đang trên đường di chuyển hay còn đang tập kết tại các vị trí tiền tiêu định sẵn.

Mật lệnh tấn công Ba Lan do Hitler đưa ra ngày 31 tháng 8 năm 1939

So sánh lực lượng

Đức

Poster tuyên truyền của Đức Quốc xã – “Chiến thắng Ba Lan bằng không quân”

So với Ba Lan, Đức có ưu thế vượt trội về quân số, xe tăngmáy bay chiến đấu. Bộ binh Đức ngoài được huấn luyện tốt còn được cơ giới hóa hàng loạt thay thế cho việc đi bộ và các phương tiện vận chuyển thô sơ như ngựa. Hơn nữa, nhiều người lính trong quân đội Đức đã từng tham gia cuộc Nội chiến Tây Ban Nha nên tỏ ra vô cùng thiện chiến.
Trước khi tiến hành tấn công Ba Lan, một chiến thuật quân sự mới đã được người Đức nghiên cứu từ lâu và dự tính sẽ được áp dụng trong các cuộc chiến sắp tới là chiến thuật “Blitzkrieg” (Chiến tranh chớp nhoáng). Chiến thuật này dựa trên việc tập trung lực lượng tấn công cơ động mạnh, tấn công nhanh, thọc sâu, bao vây và chia cắt lực lượng đối phương bằng khối lượng xe tăng và cơ giới lớn. Đi cùng xe tăng là bộ binh cơ giới được bảo vệ tốt khỏi sức sát thương của đối phương và có vũ khí chống tăng tốt. Các đợt tấn công này còn được yểm hộ bằng không quân tấn công lớn và mạnh, nhất là các máy bay ném bom bổ nhào. Thực tế sau đó đã chứng minh Ba Lan trở thành nạn nhân đầu tiên của chiến thuật này[cần dẫn nguồn], kế tiếp sau đó là PhápLiên Xô.
Để phục vụ cho chiến thuật chiến tranh chớp nhoáng, hàng loạt các sư đoàn thiết giáp Panzer của người Đức đã được thành lập và tất nhiên đi cùng với đó là sự gia tăng một cách chóng mặt về số lượng và chất lượng xe tăng. Không quân Đức (Luftwaffe) được xem là chìa khoá then chốt dẫn đến thành công nên cũng rất được bộ chỉ huy Đức quan tâm. Để chuẩn bị cho cuộc tấn công này, Luftwaffe đã chuẩn bị 1180 máy bay tiêm kích hiện đại hơn hẳn các máy bay cùng loại của Ba Lan, 290 máy bay ném bom bổ nhào Ju 87 Stuka, 1100 máy bay ném bom hạng nặng (chủ yếu là Heinkel 111Dornier Do 17). Ngoài ra còn có 550 máy bay vận chuyển và 350 máy bay trinh sát[14][15]. Không quân Đức Quốc xã vào thời điểm này được đánh giá là lực lượng không quân mạnh nhất thế giới và sức mạnh của lực lượng này đã được thể hiện một cách khủng khiếp trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.

Ba Lan

Xe tăng 7TP của Ba Lan

Bộ binh Ba Lan

Từ năm 1936 đến 1939, Ba Lan đã tiến hành chuẩn bị cho một cuộc tấn công của Đức nhưng hầu hết người dân Ba Lan đều tin rằng chiến tranh sẽ chỉ xảy ra vào năm 1942. Chính phủ Ba Lan còn bán nhiều trang thiết bị hiện đại do họ sản xuất để có tiền cho quỹ phòng hộ quốc gia tăng cường sức mạnh cho quân đội Ba Lan.
Về quân số, Ba Lan có gần 1 triệu quân nhưng gần phân nửa số này chỉ được huy động sau ngày 1 tháng 9. Đều này đã dẫn đến hậu quả là khi các phương tiện vận chuyển trở thành mục tiêu không kích của không quân Đức, phần lớn quân đội Ba Lan đã không thể huy động kịp ra chiến trường. Ngoài ra, Ba Lan còn thua xa Đức về các đơn vị thiết giáp cũng như cơ giới. Lực lượng cơ giới duy nhất mà Ba Lan có được trong cuộc chiến này là các lữ đoàn kỵ binh, vốn từng được sử dụng trong cuộc Chiến tranh Liên Xô-Ba Lan. Tuy kỵ binh Ba Lan về sau cũng đạt được một vài thành công đáng kể nhưng nó cũng phần nào thể hiện sự lỗi thời và lạc hậu của quân đội Ba Lan. Khoảng 800 xe tăng bao gồm 2 lữ đoàn và 4 tiểu đoàn đã được đưa vào chiến đấu nhưng con số này là quá it ỏi so với những gì mà quân đội nước này cần.

Máy bay ném bom PZL.37 Łoś của Ba Lan

Về không quân, các máy bay của Đức Quốc xã không chỉ vượt trội về số lượng mà còn hơn hẳn về chất lượng. Hầu hết các máy bay chiến đấu của Ba Lan là rất lạc hậu, chỉ có khoảng 600 chiếc tương đối hiện đại. Không lực Ba Lan có thể kể đến bao gồm 185 chiếc PZL P.11, 95 chiếc PZL P.7, 175 chiếc PZL.23 Karaś B, 35 chiếc Karaś A và hơn 100 chiếc PZL.37 Łoś[16]. Ngoài ra còn hơn 1000 máy bay vận chuyển, do thám và dùng cho tập luyện. Tuy nhiên Ba Lan chỉ có khoảng 36 chiếc máy bay ném bom hạng trung bình PZL.37 Łoś. Tất cả các loại máy bay không quân Ba Lan sử dụng đều là do các công ty trong nước sản xuất. Các máy bay tiêm kích Ba Lan đáng chú ý có thể kể đến như chiếc PZL P.11 tuy ra đời vào cuối thập niên 1930 nhưng chỉ đạt đến tốc độ 365 km/giờ, thậm chí còn chậm hơn nhiều máy bay ném bom của Đức nhưng nổi bật ở khả năng nhào lộn và linh hoạt.
Tuy thua sút rất lớn về máy bay nhưng Ba Lan lại may mắn có được những phi công được huấn luyện tốt nhất thế giới. Lực lượng phi công này về sau đã giúp đỡ Không quân Hoàng gia Anh rất nhiều trong Trận chiến nước Anh năm 1940[17]. Khi chiến tranh nổ ra, nhờ sức mạnh và sự nhanh nhẹn của các máy bay ném bom mà không quân Đức đã oanh tạc dữ dội vào các phi trường Ba Lan, phá huỷ nhiều máy bay đậu trên mặt đất tuy nhiên không đến nỗi làm cho không quân Ba Lan tê liệt như một số người vẫn thường nghĩ.
Hải quân Ba Lan chỉ có vỏn vẹn một hạm đội nhỏ với các khu trục hạm, tàu ngầmtàu chở dầu. Hạm đội này đã rời Ba Lan vào ngày 20 tháng 8 theo biển Bắc để gia nhập Hải quân Hoàng gia Anh. Phần lớn các tàu này về sau tham gia vào các đoàn convoy (hộ tống) hoặc tấn công các tàu chở hàng Đức trên biển Bắc.

Liên Xô

Lực lượng Liên Xô tham gia cuộc tấn công Ba Lan gồm hai Phương diện quân, mỗi Phương diện quân tương đương với một Tập đoàn quân của Đức, gồm có lực lượng cơ động gồm kỵ binh và quân cơ giới; tiền thân của lực lượng bộ binh cơ giới sau này. Phương diện quân Belorussia bao gồm các Tập đoàn quân 3, 4, 10, 11 và Quân đoàn 24, chỉ huy bởi Trung tướng Mikhail Kovalyov, đảm trách mặt trận phía bắc. Phương diện quân Ukrain bao gồm các Tập đoàn quân 5, 6, 12 chỉ huy bởi tướng Semyon Timoshenko, đảm trách mặt trận phía nam. Tổng số có hơn 800.000 quân và 4.736 xe tăng, 3.300 máy bay, 4.959 pháo. Quân Nga theo kế hoạch sẽ bất ngờ tiến công Ba Lan sau khi Đức mở màn chiến dịch từ phía tây, và như vậy sẽ không gặp nhiều sự kháng cự từ phía Ba Lan. Mặc dù quân Liên Xô tham chiến bao gồm nhiều đơn vị lớn, nhưng do ảnh hưởng từ các cuộc thanh trừng nên hàng ngũ sỹ quan Liên Xô rất thưa thớt, phải dùng các sỹ quan cấp thấp hơn để chỉ huy đơn vị tham gia chiến dịch.

Kế hoạch quân sự của Đức và Ba Lan

Đức

Kế hoạch tấn công của Đức

Từ tháng 4 1939, quyết định tấn công và thôn tính Ba Lan đã được bộ chỉ huy quân sự Đức Quốc xã thông qua. Hitler cũng đã ấn định trước thời điểm tấn công sẽ là tháng 9 1939. Một kế hoạch quân sự đã được vạch ra với tên gọi “Chiến dịch Tháng Chín” và tác giả của kế hoạch này là tướng Franz Halder, Tham mưu Trưởng Lục quân Đức và người được giao nhiệm vụ thực hiện kế hoạch là tướng Walther von Brauchitsch. Theo kế hoạch, chiến thuật “Blitzkrieg” sẽ được áp dụng tối đa với vai trò chọc thủng phòng tuyến của các đơn vị thiết giáp, đi theo đó là lực lượng bộ binh cơ giới cùng với pháo binh di chuyển nhanh và các xe vận chuyển, tiếp tế. Không quân Đức Luftwaffe có nhiệm vụ oanh tạc các trục giao thông, cơ sở hạ tầng và trung tâm chiến lược của Ba Lan.
Địa hình Ba Lan được xem như hoàn hảo cho kế hoạch tấn công chớp nhoáng này nếu được thời tiết ủng hộ. Thêm vào đó là 1 đường biên giới dài 5600 km cộng với 1 phần Đông Phổ 2000 km. Đó là chưa kể hơn 300 km sau khi người Đức sáp nhập 2 vùng lãnh thổ của Tiệp Khắc BohemiaMoravia vào lãnh thổ. Tất cả những điều kiện trên bảo đảm cho sự thành công của người Đức trong cuộc tấn công sắp tới khi Ba Lan buộc phải dàn trải quân đội trên tuyến biên giới dài nên các tuyến phòng thủ của họ trở nên vô cùng rời rạc.
Quân đội Đức được chỉ định sẽ tiến vào Ba Lan theo 3 đường:

  • Hướng tấn công chính sẽ là từ vùng phía nam biên giới Ba Lan nhắm thẳng vào Warsaw. Nhiệm vụ này được giao cho tập đoàn quân phía nam của tướng Gerd von Rundstedt, bắt đầu tấn công từ vùng Silesia, Moravia và biên giới Slovakia. Các nhiệm vụ khác còn được phân ra như tướng Johannes Blaskowitz thuộc tập đoàn quân 8 sẽ tiến về phía đông chiếm Łódź, tướng Wilhelm List binh đoàn 14 sẽ vượt qua Kraków, tấn công quân Ba Lan tại núi Carpathian, tướng Walter von Reichnau thuộc tập đoàn thiết giáp 10 sẽ tiến thẳng về trước và chọc thủng phòng tuyến, mở đường cho các binh đoàn khác tiến lên.
  • Hướng tấn công thứ hai từ Bắc Phổ được giao cho tập đoàn quân phía Bắc dưới quyền chỉ huy của tướng Fedor von Bock sẽ tiến đánh binh lực Ba Lan đóng tại “Hành lang Ba Lan”, vượt qua phòng tuyến này và tiến sâu vào đất Ba Lan.
  • Hướng tấn công thứ ba là từ đồng minh Slovakia của Đức có nhiệm vụ như tập đoàn quân phía nam.
  • Ngoài ra, 1 lực lượng thiểu số người Đức sống tại Ba Lan còn được giao nhiệm vụ đánh nghi binh và phá hoại ngầm các cơ sở hạ tầng.

Ba Lan

Sự bố trí các sư đoàn Đức và Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 1939

Do không thể biết rõ hướng tấn công của quân Đức nên kế hoạch phòng thủ của Ba Lan mang tên Zachód đã hoàn toàn thất bại khi nó được triển khai. Kế hoạch của Ba Lan là bố trí các lực lượng phòng thủ dọc quanh biên giới Ba Lan-Đức và hi vọng vào sự giúp đỡ của AnhPháp như họ đã hứa khi chiến tranh xảy ra. Trong khi đó, 1 số chính trị gia Ba Lan cho rằng nếu Ba Lan chấp nhận trả lại cho Đức 1 số vùng đất thì Anh và Pháp có thể dàn xếp 1 hội nghị như hội nghị Munich để tránh chiến tranh. Thực tế sau đó đã chứng minh Ba Lan đã bị 2 đồng minh Anh-Pháp bỏ rơi khi chiến tranh bắt đầu.
Silesia, thuộc vùng biên giới phía tây là vùng đất tập trung nhiều tài nguyên, dân số và cũng là 1 trung tâm công nghiệp lớn nên đã được tập trung bảo vệ. Trong trường hợp thất bại, kế hoạch này cho phép quân đội Ba Lan được rút lui dần về các tuyến phòng thủ sau, được chuẩn bị từ trước như các phòng tuyến gần sông Vistulasông San. Các phòng tuyến này sẽ ngăn quân Đức giúp Ba Lan có thêm thời gian tổng động viên quân đội và 1 cuộc phản công lớn sẽ được tổ chức đồng thời với cuộc tấn công của Anh-Pháp ở mặt trận phía tây.

Máy bay chiến đấu P-11 của Ba Lan ngụy trang tại một sân bay ngày 31 tháng 8 năm 1939

Kế hoạch rút lui của quân đội Ba Lan bao gồm việc rút về phía sau sông San rồi về các tỉnh đông nam và bảo vệ đầu cầu Romania. Người Anh và Pháp ước tính Ba Lan có thể phòng ngự khu vực này trong khoảng hai đến ba tháng, trong khi Ba Lan dự tính họ có thể giữ được trong 6 tháng. Kế hoạch của Ba Lan dựa trên hy vọng Đồng minh giữ lời hứa và nhanh chóng tiến hành chiến dịch tấn công chống lại Đức. Tuy nhiên, cả Pháp lẫn Anh đều không có kế hoạch tấn công Đức khi cuộc xâm lăng Ba Lan nổ ra. Thêm vào đó, họ tính rằng chiến tranh sẽ diễn ra theo kiểu chiến tranh hầm hào như thời Đệ nhất thế chiến, buộc Đức phải ký hiệp ước phục hồi lại biên giới Ba Lan như trước khi chiến tranh nổ ra. Chính phủ Ba Lan tuy vậy không được thông báo về chiến lược này, nên lập kế hoạch phòng ngự của mình dựa vào lời hứa của phe Đồng minh sẽ nhanh chóng tiếp viện cho Ba Lan.[18][19]

Diễn biến

Giai đoạn 1: Đức tấn công Ba Lan

Thị trấn Wieluń sau khi bị không quân Đức Luftwaffe oanh tạc ngày 1 tháng 9 1939

.

Pháo phòng không của Ba Lan 1939

Tối ngày 31 tháng 8 1939, 1 cánh quân Đức mặc sắc phục Ba Lan đã tập kích vào 1 thị trấn của Đức nằm sát biên giới Đức-Ba Lan, chiếm lĩnh đài phát thanh của thị trấn này và dùng tiếng Ba Lan để loan báo “Thời điểm thanh toán người Đức đã đến”. Hitler ngay lập tức lấy cớ nước Đức bị tấn công đã phát động cuộc tấn công vào Ba Lan vào lúc 4:45 phút sáng ngày 1 tháng 9. Trước đó 5 phút, vào lúc 4:40, không quân Đức Luftwaffe đã tấn công 1 thị trấn Ba lan tại Wieluń, làm 1200 người chết và chủ yếu là dân thường. Trên Biển Bắc, thiết giáp hạm SMS Schleswig-Holstein của Đức đã nổ súng tấn công 1 kho hàng quân sự tại Westerplatte thuộc Danzig. 8:00, bộ binh Đức mở màn tấn công vào thị trấn Mokra. Ngay từ khi bắt đầu cuộc chiến, người Đức đã huy động 56 sư đoàn, 2500 xe tăng và 2300 máy bay chiến đấu tiến theo 3 đường vào Ba Lan từ biên phía bắc, phía đông và phía tây và mục tiêu của cả 3 hướng tấn công này đều là thủ đô Warsaw của Ba Lan. Các cuộc chiến đấu ở biên giới bắt đầu diễn ra. Trong khi đó, không quân Đức ra sức oanh tạc phá hủy các cơ sở hạ tầng, trục đường giao thông, trung tâm chỉ huy và nhất là các phi trường Ba Lan. Ngày 3 tháng 9, theo tinh thần của hiệp ước liên minh tương trợ Anh-Ba Lan kí vào ngày 25 tháng 8, Anh tuyên chiến với Đức. Trong ngày này, các nước thuộc liên hiệp Anh hay các thuộc địa của Anh như Ấn Độ, Australia, New Zealand rồi sau đó là Nam PhiCanada cũng tuyên chiến với Đức. Còn Pháp cũng theo tinh thần của liên minh tương trợ kí ngày 10 tháng 5 chính thức tuyên chiến với Đức. Tuy nhiên, Anh và Pháp vẫn tiếp tục chính sách thỏa thiệp, nhân nhượng với Đức nên đã “tuyên” mà không chiến. Liên quân Anh-Pháp chỉ tập trung dàn quân tại biên giới Pháp-Đức mà không hề tấn công Đức để chi viện cho Ba Lan trong khi phần lớn quân lực của Đức đã tập trung tại Ba Lan.

Thiết giáp hạm Schleswig-Holstein của Đức bắn phá Gdynia vào ngày 13 tháng 9

Hành động này của Anh-Pháp cũng phá vỡ luôn kế hoạch phòng thủ mà chính phủ Ba Lan đã vạch ra trước đó.

Tình hình chiến sự cho đến ngày 14 tháng 9 1939.

Nhờ ưu thế vượt trội về quân lực, vũ khí và phương tiện kỹ thuật nên quân đội Đức đã dễ dàng chọc thủng phòng tuyến biên giới Ba Lan ở nhiều nơi, buộc quân đội Ba Lan phải bỏ biên giới rút về WarsawLwów. Không quân Đức Luftwaffe hoàn toàn nắm quyền kiểm soát bầu trời chỉ sau vài ngày giao chiến. Các trục đường giao thông và cơ sở hạ tầng của Ba Lan bị tàn phá nặng nề, rất nhiều máy bay bị phá hủy ngay tại phi trường. Không quân Ba Lan vừa bị thiệt hại nặng lại thiếu nguồn tiếp tế xăng dầu trầm trọng, 98 chiếc máy bay của họ đã trốn sang România. Với 400 máy bay ở đầu cuộc chiến, Ba Lan chỉ còn 54 chiếc vào ngày 14 tháng 9.[20]
Ngày 3 tháng 9, tướng Günther von Kluge đã tiến đến sông Vistula (cách biên giới 10 km),Georg von Küchler tiến sát sông Narew và tập đoàn quân thiết giáp của Walther von Reichenau đã vượt sông Warta. Hai ngày sau, cánh trái của quân Đức đã tiến đến Łódź và cánh phải tiến đến Kielce. Ngày 8 tháng 9, các quân đoàn thiết giáp đã tiến đến ngoại ô Warsaw. Như vậy chỉ trong 1 tuần đầu của cuộc chiến, quân Đức đã tiến được 225 km. Sau đó, 1 lực lượng thiết giáp nhẹ của Reichenau tiếp tục tiến đến khu vực nằm giữa Warsaw và thị trấn Sandomierz ngày 9 tháng 9 trong khi tướng List ở phía nam đã vượt qua sông San và chuẩn bị đến Przemyśl. Cũng thời điểm đó, Guredian đưa tập đoàn quân thiết giáp số 3 vượt sông Narew, tấn công các phòng tuyến Ba Lan tại sông Bug, chuẩn bị bao vây Warsaw.
Trước sức tấn công vũ bão của Đức, quân đội Ba Lan buộc phải rút lui liên tục và bỏ

Pháo phòng không Bofors 40 mm của Ba Lan đang chống lại máy bay Đức trong trận Bzura

PomeraniaSilesia lại cho người Đức. Kế hoạch phòng thủ của Ba Lan hoàn toàn bị phá sản. Ngày 10 tháng 9, thống chế Ba Lan Edward Rydz-Śmigły ra lệnh cho quân đội rút về đông nam, tiến về đầu cầu Romania. Quân Đức ngày càng xiết chặt vòng vây quanh quân đội Ba Lan tại phía tây sông Vistula (quanh khu vực Łódź và xa hơn nữa về phía tây, quanh Poznań). Ngày 9 tháng 9,

Bộ binh Ba Lan trong Trận Bzura

lần đầu tiên kể từ khi chiến sự bắt đầu, Warsaw bị bắn phá và vào ngày 13 tháng 9, thành phố này bắt đầu bị vây hãm (Xem Cuộc vây hãm Warsaw (1939)). Ngày 24 tháng 9, 1150 máy bay Đức oanh tạc Warsaw. Trong thời gian đó, quân Đức cũng đã tiến đến Lwów, thành phố chính tại miền đông Ba Lan.
Trận đánh lớn nhất của cuộc chiến, trận Bzura đã diễn ra tại địa điểm gần sông Bzura phía bắc Warsaw. Trận đánh này kéo dài từ ngày 9 tháng 9 đến ngày 19 tháng 9. Các tập đoàn quân Ba Lan sau khi rút lui từ biên giới đã tấn công vào tập đoàn quân 8 của Đức do tướng Johannes Blaskowitz chỉ huy đang trên đà tiến vào lãnh thổ Ba Lan. Cuộc tấn công này của Ba Lan thu được thắng lợi ban đầu nhưng sau đó đã thất bại. Sức mạnh của không quân Đức chính là yếu tố quyết định cho trận đánh này.[21] Không quân Đức nhanh chóng phá hủy cây cầu bắc ngang sông Bzura. Sau đó, quân Ba Lan đã rơi vào cái bẫy người Đức đã giăng sẵn khi bị các máy bay Stukas chở những quả bom nhẹ 50 kg tấn công gây thương vong rất lớn. 1 số đơn vị bỏ chạy vào rừng thì bị những chiếc Heinkel He 111Dornier Do 17 tấn công bằng bom cháy. Những người sống sót sau các đợt không kích trên đều dễ dàng bị quân Đức bắt sống hoặc tiêu diệt. Ước tính trong trận này những chiếc Stuka đã thả xuống chiến trường 388 tấn bom.[21]
Chính phủ Ba Lan (đứng đầu là tổng thống Ignacy Mościcki) và bộ chỉ huy quân sự tối cao (đứng đầu là thống chế Edward Rydz-Śmigły) rời Warsaw ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến và tiến về phía đông nam. Quân đội Ba Lan cũng được lệnh rút lui theo cùng hướng đó, về phía sau sông Vistulasông San, chuẩn bị cho việc chạy sang România.

Giai đoạn 2: Liên Xô tấn công Ba Lan

Bộ binh Liên Xô tiến vào Ba Lan 17.09.1939

Xe tăng Liên Xô tiến vào Ba Lan 17.09.1939

Ngay từ khi bắt đầu chiến tranh, Đức đã liên tục đề nghị Joseph StalinVyacheslav Molotov tấn công Ba Lan như đã hẹn ước trước.[22] Lo ngại trước đà tấn công chớp nhoáng của Đức, và ham muốn giành lấy phần ảnh hưởng Ba Lan theo như thỏa thuận với Đức, ngày 17 tháng 9 năm 1939, Hồng Quân Liên Xô từ phía đông tiến hành tấn công Ba Lan, tiến vào vùng phía đông của Ba Lan. Đức và Liên Xô thỏa thuận là Liên Xô sẽ từ bỏ tham vọng trên vùng đất từ biên giới mới tới Warsaw, và để đổi lại, Litva sẽ phải nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên Xô. Liên Xô công khai ủng hộ hành động gây hấn của Đức, và ngoại trưởng Liên Xô Molotov tuyên bố sau khi Ba Lan đã bị đánh bại:

Nước Đức, với 80 triệu dân, đã chinh phục một số quốc gia láng giềng bằng uy thế tuyệt đối của mình và bằng sức mạnh quân sự, và như vậy đã trở thành một đối thủ đáng gờm cho các đế quốc chính ở châu Âu là Anh và Pháp. Đó là lý do vì sao họ tuyên chiến với Đức với cái cớ là thi hành các nghĩa vụ của họ với Ba Lan. Tuy nhiên, hơn bao giờ hết, mục tiêu của các quốc gia trên rõ ràng là hoàn toàn khác xa với việc bảo vệ Ba Lan hay Tiệp Khắc[23]

Ngày 17 tháng 9 năm 1939, sức kháng cự của Ba Lan bị bẻ gãy, hy vọng cuối cùng của Ba Lan là rút lui và tái tập hợp dọc theo đầu cầu Romania. Tuy nhiên, kế hoạch này trở nên lỗi thời chỉ trong một đêm, khi hơn 800 ngàn quân Liên Xô tiến công với hai Phương diện quân Belarussia và Ukrainia, đánh chiếm khu vực Kresy thuộc đông Ba Lan, vi phạm Hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau Liên Xô-Ba Lan, cũng như các hiệp ước quốc tế song phương và đa phương khác[24] Về mặt ngoại giao, Liên Xô tuyên bố họ hành động để “bảo vệ người Ukraina và Belarusia thiểu số ở miền đông Ba Lan trước bối cảnh thất bại của Ba Lan đã rõ ràng”. Một lý do thực dụng hơn là những vùng đất phía Đông này vốn do Ba Lan chiếm của Nga trong Chiến tranh Nga-Ba Lan (1919-1921), Liên Xô muốn nhân cơ hội Ba Lan sắp bị Đức đánh bại để thu hồi lại những vùng đất này mà không cần phải đổ nhiều máu.
Lực lượng biên phòng Ba Lan bao gồm khoảng 25 tiểu đoàn được lệnh tránh giao tranh trực tiếp với Hồng quân và từ từ rút về biên giới Ba Lan-România. Tuy nhiên tại một số nơi đã diễn ra những trận đánh nhỏ như trận Grodno diễn ra từ ngày 21 tháng 9 đến 24 tháng 9, nơi dân chúng và binh sỹ Ba Lan tìm cách chặn đánh quân Liên Xô. Nhiều lính Ba Lan, gồm cả tù binh chiến tranh bị quân Liên Xô giết hại, trong đó có tướng Józef Olszyna-Wilczyński[25][26]. Ngoài ra, lợi dụng lúc Liên Xô tiến vào, Tổ chức những người dân tộc chủ nghĩa Ukraina đã nổi lên chống lại người Ba Lan. Các hoạt động này nhanh chóng được lực lượng NKVD (cảnh sát Bộ nội vụ Liên Xô) dập tắt.
Cuộc tiến công của Liên Xô là nhân tố quyết định khiến chính phủ Ba Lan hiểu rằng cuộc chiến đã ngã ngũ[10][10] Tuy nhiên chính phủ Ba Lan từ chối đầu hàng, thay vào đó ra lệnh tất cả các đơn vị quân đội di tản khỏi Ba Lan và tập hợp lại tại Pháp[10] Từ ngày 17 tháng 9 đến ngày 20 tháng 9, quân đội Ba Lan lại một lần nữa thảm bại trong trận Tomaszów Lubelski trước quân Đức, trận đánh có quy mô lớn thứ hai trong cuộc chiến, sau trận Bzura[27]. Ngày 22 tháng 9, thành phố Lwów bị Liên Xô chiếm (thành phố này đã bị quân Đức tấn công từ tuần trước nhưng sau đó Đức đã nhường lại cho Liên Xô tấn công).[28][29]
Thủ đô Warsaw anh dũng kháng cự lại cuộc vây hãm của Đức cho đến ngày 28 tháng 9. Pháo đài Modlin phía bắc Warsaw bị chiếm ngày 29 tháng 9 sau 16 ngày chiến đấu ác liệt. Nhiều đơn vị đồn trú đã giữ được vị trí trong một thời gian dài bị quân Đức bao vây, cô lập như Westerplatte, Oksywie hay Hel. Trong tuần cuối cùng của tháng 9, Hitler đã có 1 bài diễn văn tại thành phố Danzig:

Ba Lan sẽ không bao giờ gượng dậy nổi như sau hòa ước Versailles. Điều này được đảm bảo chắc chắn không chỉ bởi Đức, mà còn bởi Nga.[30]

Mặc dù quân Ba Lan giành được thắng lợi trong trận đánh nhỏ Szack, ngày 28 tháng 9, Hồng quân Liên Xô đã tiến đến vùng ranh giới là sông Narew, Vistula và San, sau khi tiêu diệt hết các sỹ quan và hạ sỹ quan Ba Lan trong trận đánh này, và gặp quân Đức tiến theo hướng ngược lại tại nhiều nơi. Một số vị trí của quân đội Ba Lan phòng thủ tại thung lũng Hel trên bờ biển Baltic đã kiên cường kháng cự lại quân Đức đến ngày 2 tháng 10. Cuối cùng vào ngày 6 tháng 10, tướng Ba Lan Franciszek Kleeberg đầu hàng sau trận Kock diễn ra suốt 4 ngày tại Lublin, giữa Đức và Ba Lan. Đến đây thì cuộc tấn công của Đức Quốc xã và Liên Xô vào Ba Lan chính thức kết thúc sau hơn một tháng giao tranh.

Kết quả

Thất bại của Ba Lan là hậu quả không thể tránh khỏi của chính quyền Ba Lan do những ảo tưởng của họ về sự trợ giúp của đồng minh, cũng như sự đánh giá quá cao khả năng của quân đội Ba Lan cho một sự kháng cự lâu dài.

Sau cuộc tấn công, lãnh thổ Ba Lan bị phân chia giữa Đức Quốc xã, Liên Xô, LitvaSlovakia. Phần phía tây Ba Lan do 1 toàn quyền người Đức cai trị. Ngày 28 tháng 9 1939, tại Moskva đã diễn ra lễ kí kết hiệp ước thiết lập đường biên giới giữa Liên Xô và Đức. Theo hiệp ước này, phần lãnh thổ phía đông Ba Lan với diện tích 200 280 km² được trao cho Liên Xô. Ngoài ra, 2 nước này còn tiếp tục thỏa thuận với nhau về việc phân chia khu vực ảnh hưởng ở Litva. Ngày 12 tháng 11 1939, Xôviết tối cao Liên Xô đã chấp nhận đề nghị của Hội nghị Nhân dân Tây Ukraine và Hội nghị Nhân dân Tây Belarus về việc sáp nhập vùng tây Ukraine và tây Belarus thuộc miền đông Ba Lan vào nước Cộng hòa xôviết UkraineCộng hòa xôviết Belarus thuộc Liên Xô.[32]. Tuy nhiên đây chỉ là hành động hợp thực hóa cho sự tấn công của Liên Xô.
Mặc dù khu vực ảnh hưởng của Nga và Đức bị ngăn cách bởi một dòng sông nhưng Hồng quân và lính Đức vẫn gặp nhau trong nhiều trường hợp. Một trong những sự kiện được nhắc đến nhiều nhất là sự kiện ngày 22 tháng 9 tại Brest-Litovsk. Quân đoàn thiết giáp Panzer số 19 dưới quyền chỉ huy của Heinz Guderian đã chiếm thành phố này mặc dù nó thuộc về vùng ảnh hưởng của Liên Xô. Do đó khi lữ đoàn thiết giáp 29 Liên Xô do Semyon Krivoshein tiến đến, 2 bên đã dàn xếp để quân Đức rút lui và Hồng quân tiến vào. 2 đội quân này trong lúc gặp nhau đã giơ tay chào lẫn nhau.[33] Tại đây, các sĩ quan Đức và Liên Xô còn cùng nhau tổ chức 1 cuộc duyệt binh mừng chiến thắng trước khi quân Đức rút lui.[8] Tuy nhiên, cũng có vài cuộc đụng độ xảy ra như sự kiện 1 trung đoàn Đức tấn công 1 đội do thám thuộc lữ đoàn thiết giáp 24 của Liên Xô tại Lviv nhưng sau một vài thương vong, cuộc đụng độ được hòa giải. Quân Đức nhanh chóng rút khỏi nơi này còn Liên Xô chiếm Lviv vào ngày 22 tháng 9.

Cảnh sát và những người dân thường Ba Lan bị Hồng quân bắt giữ vì được xem là kẻ thù của nhân dân

. 66.000 lính Ba Lan đã chết trong các cuộc giao tranh. Ngoài ra còn có 660.000 người bị Đức và Liên Xô bắt làm tù binh. 120 000 lính Ba Lan đã chạy trốn được sang RomâniaHungary, 20.000 người chạy sang LatviaLitva trong khi chính phủ Ba Lan buộc phải sống lưu vong tại Luân Đôn. Thương vong của Đức là 16.000 người chết và 27.000 người bị thương. Đất nước Ba Lan bị tàn phá nặng nề, nhất là những khu vực chịu sự không kích của không quân Đức.
Trong suốt thời kì chiếm đóng của Đức và Liên Xô, nhiều nhóm người Ba Lan vẫn bền bỉ kháng chiến. Phong trào chống Đức diễn ra sôi nổi, đặc biệt là những hoạt động của tổ chức Armia Krajowa (tạm dịch là “Quân đội trong nước”), thành lập vào tháng 2 1942 có nguồn gốc từ tổ chức Służba Zwycięstwu Polski (tạm dịch là “Sự giúp sức cho chiến thắng của Ba Lan”) do tướng Michał Karaszewicz-Tokarzewski thành lập ngay từ 27 tháng 9 1939.[34].Ngoài tổ chức này, còn nhiều tổ chức kháng chiến khác hoạt động tại Ba Lan[35] Sự kiện do AK thực hiện gây chấn động nhất là cuộc khởi nghĩa Warsaw vào ngày 1 tháng 8 1944 nhằm giải phóng thủ đô Warsaw từ tay Đức Quốc xã nhưng cuộc khởi nghĩa này đã thất bại và bị đàn áp đẫm máu với 16.000 người khởi nghĩa chết và 6,000 người bị thương.[36]. Tổ chức này hoạt động đến ngày 20 tháng 1 1945 khi Hồng quân Liên Xô trên đường truy kích Đức tiến vào Ba Lan, tạo điều kiện cho Đảng cộng sản Ba Lan lên nắm quyền và đàn áp tổ chức nhằm giành quyền lãnh đạo hoàn toàn Ba Lan.
Tình hình tại khu vực phía đông của Liên Xô thì phức tạp hơn. Một mặt, những người gốc Ukraina và Belarus hoan nghênh Hồng quân vì họ và dân tộc Nga có quan hệ gần gũi (nhóm chủng tộc đông Slav) và cùng thuộc về Đế quốc Nga trước kia. Nhưng ngược lại, người gốc Ba Lan (chủng tộc Tây Slav) thì coi Liên Xô là kẻ chiếm đóng. Tại phía đông, Liên Xô ít gặp chống đối vì người gốc Ukraina và Belarus chiếm đa số tại đây. Trong khi đó ở phía tây, khu vực người gốc Ba Lan đông hơn, phong trào chống Liên Xô phát triển mạnh trong thời gian chiếm đóng của Liên Xô. Nhiều người tại khu vực này đã bị giết, bị bắt, trục xuất hoặc cho vào các trại lao động khổ sai.
Cuộc tấn công Ba Lan đã chính thức mở đầu cho chiến tranh thế giới thứ hai. Thắng lợi nhanh chóng của Đức Quốc xã khiến cho thế giới phải sững sờ khi chưa đầy 1 tháng, quân đội Đức đã nghiền nát 1 nước có lục quân đứng hàng thứ 5 ở Châu Âu. Dư luận phải ấn tượng rất lớn trước sự chóng vánh của chiến thắng vẻ vang của nền Đệ tam Đế chế Đức.[11] Tuy nhiên, các lãnh đạo cấp cao của quân đội Đức vẫn chưa thể hài lòng với chiến thắng và cho rằng quân Đức cần phải có 1 chương trình huấn luyện nhanh chóng sửa đổi những khiếm khuyết đã mắc ở Ba lan để có thể đương đầu với các trận đánh lớn sắp tới với AnhPháp. Mặt khác, nước Đức giờ đây phải đương đầu với sự phong tỏa của Anh-Pháp khiến cho nhập khẩu của Đức giảm mạnh, nhất là xăng, dầu mà Đức đang thiếu trầm trọng. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến Đức mở cuộc tấn công Scandinavia, Pháp và các nước Vùng đất thấp năm 1940. Không lâu sau khi nước Đức hoàn toàn hạ nốc ao Pháp trong Trận chiến nước Pháp, thuật ngữ “Blitzkrieg” (Chiến tranh Chớp nhoáng) ra đời trong từ điển tiếng Anh nhằm chỉ học thuyết chiến tranh của nền Đệ tam Đế chế Đức hồi ấy.[11]

Tội ác chiến tranh của cuộc tấn công

Tội ác của Đức

Người dân Ba Lan bị lính Đức xử tử tháng 10 1939

Cuộc tấn công Ba Lan đã gây ra nhiều thương vong cho dân thường trong và cả sau cuộc chiến. Không những khắc họa sự chiến đấu xuất sắc của Quân đội Đức Quốc Xã mà cuộc tấn công này còn thể hiện tội ác của họ.[6] Lực lượng không quân Đức Quốc xã Luftwaffe đã tiến hành không kích vào các khu dân cư và thậm chí là các đoàn người tị nạn để nhằm khủng bố tinh thần người dân. Ngay trong ngày đầu tiên của cuộc chiến, 1200 người, chủ yếu là dân thường tại thị trấn Viên đã chết sau cuộc tấn công kinh hoàng của Luftwaffe. Ngoài việc tàn sát dân thường qua các cuộc không kích, lực lượng SSWehrmacht của quân đội Đức còn tiến hành xử tử hàng ngàn tù binh và những người dân bị chúng khép tội chống đối. Trong 1 chiến dịch thanh trừng người Ba Lan, 760 địa điểm tử hình đã được thành lập và trong chiến dịch đó, 20.000 người Ba Lan đã bị xử bắn. Ước tính có khoảng 150.000 thường dân Ba Lan chết trong cuộc giao tranh[37], trong khi thiệt hại về thường dân Đức là khoảng 3.250 người (bao gồm cả 2.000 người thuộc “đạo quân thứ năm” chết trong khi chiến đấu chống lại quân đội Ba Lan.[38]

Tuy nhiên, chính ách thống trị tàn bạo của phát xít Đức từ năm 1939 đến năm 1945 mới là nguyên nhân gây ra cái chết của 6 triệu người Ba Lan (20% dân số nước này và 90% dân số Do Thái). Hàng loạt các trại tập trung đã ra đời, trong đó lớn nhất và nổi tiếng nhất là Auschwitz (tên Ba Lan là Oswiecim) ra đời ngày 20 tháng 5 1940. Trại này nằm gần thành phố Kraków, cách Warsaw về phía nam 268 km. Trong thời gian tồn tại cho đến tháng 1 1945, trại tập trung này đã giết chết 3 triệu người, ngoài người Ba Lanngười Do Thái còn có người Nga, người Hungary, người Hi Lạp, người Trung Quốc, người Pháp, người Mỹ,… Ngày nay, chính phủ Ba Lan đã cho bảo lưu toàn bộ di tích trại tập trung này để tố cáo tội ác của phát xít Đức tại Ba Lan trong thế chiến thứ hai. Tù nhân tại các trại này ngoài chết vì bị tra tấn hoặc bằng hơi ngạt còn bị quân Đức dẫn đến các bìa rừng, xả súng tàn sát hàng loạt rồi chôn một cách sơ sài.

Tội ác của Liên Xô

Bản danh sách được Lavrentiy Beria gửi đến Joseph Stalin ngày 5 tháng 3 1940 đề nghị tử hình các sĩ quan Ba Lan

Trong quá trình Hồng quân Liên Xô chiếm miền Tây UkrainaBelarus, thoạt tiên Hồng quân được cư dân Ukraina và Belorusia ở đây nhiệt tình chào đón, tình hình này thay đổi khi Liên Xô bắt đầu áp đặt chế độ kiểm soát chính trị lên các vùng này, cũng như sự thành lập các nhóm chống Xô viết của người Ba Lan. Việc đó dẫn đến các phong trào chống Liên Xô ở các vùng mà nay là Tây Ukraina. Hơn một triệu người Ba Lan đã chết hoặc bị trục xuất khỏi nhà cửa. Những người bị cho là có thể gây nguy hiểm bị buộc phải vào các Xô viết, cưỡng bức tái định cư, bị đưa vào các trại lao động hoặc bị giết. Ngoài ra việc tấn công người Ba Lan còn tái diễn khi Hồng quân đánh đuổi quân Đức khỏi Đông Ba Lan năm 1944, với việc Liên Xô tiêu diệt nhóm kháng chiến quân Ba Lan của Armia Krajowa, do họ đã quay sang chống lại Hồng quân sau khi Đức rút lui.
Ngày nay, Ba Lan đã bắt đầu một cuộc điều tra về cuộc thảm sát Katyn, sự kiện xử tử hàng chục ngàn sĩ quan Ba Lan tại rừng Katyn rồi chôn vào các nấm mồ tập thể năm 1940.[39] Ngày 5 tháng 3 1940, dân ủy Bộ Nội vụ Liên Xô (NKVD) Lavrenty Beria gửi một danh sách mang mã số 794/B (794/Б) cho Stalin. Trong đó, người gửi đưa ra nhận định rằng các tù binh Ba Lan tại miền Tây Ukraina và Belorussia (gồm 14.736 người, 97% là người Ba Lan), cũng như những tù nhân đang bị giam trong tù (18.632 người, trong đó có 1.207 sĩ quan quân đội, tổng cộng 57% là người Ba Lan) đều là kẻ thù của chính quyền Xô Viết và không thể cải tạo được nên đề nghị tử hình 14.700 tù binh và 11.000 tù nhân.[40].
Đến năm 1987, được sự đồng tình của lãnh đạo Liên Xô Gorbachev, một ủy ban liên hợp Ba Lan – Liên Xô đã được thành lập với nhiệm vụ tìm hiểu và làm sáng tỏ thực tế. Cuối cùng, thông báo của Hãng Thông tấn Liên Xô (TASS) ngày 14 tháng 4 1990 đã đưa ra một bước tiến trong vụ này: các lãnh tụ Liên Xô chính thức tuyên bố Beria (chỉ huy mật vụ Liên Xô khi đó, năm 1953 đã bị Nhà nước Liên Xô xử tử vì tội lạm sát và âm mưu đảo chính) và các đồng sự phải chịu trách nhiệm về cái chết của các sĩ quan Ba Lan tại Katyn.[41].

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a ă Переслегин. Вторая мировая: война между реальностями.- М.:Яуза, Эксмо, 2006, с.22; Р. Э. Дюпюи, Т. Н. Дюпюи. Всемирная история войн. — С-П,М: АСТ, кн.4, с.93
  2. ^ a ă â Ministry of Foreign Affairs. The 1939 Campaign Polish Ministry of Foreign Affairs, 2005
  3. ^ a ă 1 số nguồn tài liệu không giống giau cho những số liệu khác nhau do đó con số này chỉ là con số ước tính gần đúng cho sức mạnh của 2 bên. Con số phổ biến nhất trong phạm vị khác biệt trên là: Đức 1.500.000 (con số chính thức của Bộ ngoại giao Ba Lan)- hoặc 1.800.000. Số xe tăng Ba Lan: 100–880, 100 là số xe tăng hiện đại, 880 là bao gồm cả các xe tăng từ thế chiến thứ nhất và tankettes. Tất cả các số liệu này đều có nguồn từ Encyklopedia PWN, bài viết trong ‘Kampania Wrześniowa 1939’ hoặc từ website của bộ ngoại giao Ba Lan.
  4. ^ E.R Hooton, p85
  5. ^ a ă 1 số nguồn tài liệu khác nhau cho những số liệu không giống nhau. Con số phổ biến nhất trong phạm vi khác biệt trên là: thương vong của Ba Lan — 63.000 đến 66.300 người chết, 134.000 người bị thương; Đức- số người chết từ 8.082 tới 16.343, với số người mất tích từ 320 tới 5.029, tổng cộng thương vong vào khoảng 45.000. Sự không nhất quán trong ước tính số thương vong phía Đức có thể do thực tế rằng nhiều số liệu của Đức đã đưa luôn số lính Đức mất tích sau chiến tranh vào. Ngày nay con số phổ biến nhất và được chấp nhận là 16.343 lính Đức chết trong chiến đấu. Con số chính thức Liên Xô đưa ra là khoảng 737–1.475 người chết hoặc mất tích, và 1.859–2.383 người bị thương. Khoảng 420.000 tù binh Ba Lan đã bị người Đức bắt, con số này về phía Liên Xô là 250.000, tổng công số tù binh Ba Lan vào khoảng 660.000–690.000. Về trang thiết bị kỹ thuật, Đức mất khoảng 236 xe tăng và 1.000 phương tiện chuyên chở trong khi Ba Lan mất 132 xe tăng và 300 phương tiện chuyên chở, 107–141 máy bay Đức và 327 máy bay Ba Lan (118 khu trục cơ) (PWN Bách khoa toàn thư của Ba Lan cho số liệu mất 700 máy bay). Đức mất 1 tàu bắn thủy lôi nhỏ trong khi Ba lan mất 1 khu trục hạm (ORP Wicher), 1 tàu bắn thủy lôi (ORP Gryf) và 1 số tàu tiếp tế. Liên Xô mất chừng 42 xe tăng trong khi hàng trăm chiếc khác lại gặp vấn đề về kỹ thuật.
  6. ^ a ă Steven J. Zaloga, Howard Gerrard, Poland 1939: The Birth of Blitzkrieg, trang 89
  7. ^ Baliszewski, Most honoru
  8. ^ a ă Fischer 1999–2000
  9. ^ Cienciala, Anna M. (2004). “The Coming of the War and Eastern Europe in World War II”. University of Kansas. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2006.
  10. ^ a ă â b Bản mẫu:Wikiref
  11. ^ a ă â Steven J. Zaloga, Howard Gerrard, Poland 1939: The Birth of Blitzkrieg, trang 87
  12. ^ [1]
  13. ^ [2] Người Ba Lan không tin vào Hitler và những ý định giúp đỡ của ông ta.[3]
  14. ^ Bombers of the Luftwaffe, Joachim Dressel and Manfred Griehl, Arms and Armour, 1994
  15. ^ The Flying pencil, Heinz J. Nowarra, Schiffer Publishing,1990,p25
  16. ^ Adam Kurowski ‘Lotnictwo Polskie 1939’ 129 chiếc P-11 (+43 chiếc dự trữ), 30 P-7 (+85 dự trữ), 118 máy bay ném bom nhẹ P-23 Karaś, 36 máy bay ném bom P-37 Łoś (tuy nhiên chỉ 1 số ít được sử dụng trong chiến đấu), 84 máy bay trinh sát RXIII Lublin, RWD14 Czapla (+115 dự trữ)
  17. ^ 4. Phi đoàn Ba Lan số 303 “Kościuszko”, 1 phi đoàn thành lập bởi những phi công Ba Lan tại Anh trong thời gian 2 tháng sau khi trận chiến nước Anh bắt đầu và phi đoàn này nổi tiếng bới đã đạt thành tích tiêu diệt được nhiều máy bay địch nhất trong cuộc chiến so với các phi đoàn khác.
  18. ^ (tiếng Ba Lan) Henryk Piątkowski (1943). Kampania wrześniowa 1939 roku w Polsce. Jerusalem: Sekcja Wydawnicza APW. tr. 39.
  19. ^ (tiếng Anh) Count Edward Raczyński (1948). The British-Polish Alliance; Its Origin and Meaning. London: Mellville Press.
  20. ^ E.R Hooton, p87
  21. ^ a ă E.R Hooton, p91
  22. ^ Bức điện tín: Từ đại sứ quán Đức tại Liên Xô, (Schulenburg) đến Bộ ngoại giao Đức. Moscow, 10 tháng 9, 1939-9:40 p. m. và Điện tín 2: Từ đại sứ quán Đức tại Liên Xô, (Schulenburg) đến Bộ ngoại giao Đức. Moscow, 16 tháng 9, 1939. Nguồn: Dự án Avalon tại trường Luật Yale. Lần truy cập cuối 14 tháng 11 2006
  23. ^ Báo cáo của Molotov ngày 29 tháng 3 năm 1940 http://www.histdoc.net/history/molotov.html
  24. ^ 1 số hiệp ước quốc tế khác bị Liên Xô vi phạm: quy định của Hội quốc Liên(Liên Xô trở thành thành viên năm 1934), Thỏa thuận Briand-Kellogg năm 1928 và định nghĩa sự tấn công ra đời tại London 1933London Convention on the Definition of Aggression; xem thêm: (tiếng Anh) Tadeusz Piotrowski (1997). Poland’s Holocaust: Ethnic Strife, Collaboration with Occupying Forces and Genocide…. McFarland & Company. ISBN 0-7864-0371-3.
  25. ^ Sanford, p. 23; (tiếng Ba Lan) Olszyna-Wilczyński Józef Konstanty, Encyklopedia PWN. Truy cập 14 tháng 11 năm 2006.
  26. ^ (tiếng Ba Lan) Śledztwo w sprawie zabójstwa w dniu 22 września 1939 r. w okolicach miejscowości Sopoćkinie generała brygady Wojska Polskiego Józefa Olszyny-Wilczyńskiego i jego adiutanta kapitana Mieczysława Strzemskiego przez żołnierzy b. Związku Radzieckiego. (S 6/02/Zk) Polish Institute of National Remembrance
  27. ^ The Vickers Mk. E light tank in the Polish service. Private Land Army Research Institute. Truy cập 11 tháng 3 năm 2007
  28. ^ (tiếng Ba Lan) Artur Leinwand (1991). “Obrona Lwowa we wrześniu 1939 roku”. Instytut Lwowski. Truy cập 16 tháng 7 2007.
  29. ^ Ryś, p 50
  30. ^ Seven Years War?, Tạp chí TIME, 2 tháng 10, 1939
  31. ^ Erich von Manstein, Lost Victories, trans. Anthony G. Powell (Chicago: Henry Regnery, 1958), trang 46
  32. ^ Lê Văn Quang, sđd trang 163
  33. ^ Кривошеин С.М. Междубурье. Воспоминания. Воронеж, 1964. (Krivoshein S. M. Between the Storms. Memoirs. Voronezh, 1964. in Russian); Guderian H. Erinnerungen eines Soldaten Heidelberg, 1951 (in German — Memoirs of a Soldier in English)
  34. ^ (tiếng Ba Lan) Armia Krajowa
  35. ^ Tomasz Strzembosz, Początki ruchy oporu w Polsce. Kilka uwag. In Krzysztof Komorowski (ed.), Rozwój organizacyjny Armii Krajowej, Bellona, 1996, ISBN 83-11-08544-7
  36. ^ (tiếng Ba Lan) Jerzy Kirchmayer (1978). Powstanie warszawskie. Warsaw: Książka i Wiedza. tr. 576. ISBN 830511080X.
  37. ^ Poland’s Holocaust: Ethnic Strife, Collaboration with Occupying Forces and Genocide in the Second Republic, 1918-1947 Tadeusz Piotrowski trang 301 McFarland, 1998
  38. ^ (tiếng Ba Lan) Tomasz Chinciński, Niemiecka dywersja w Polsce w 1939 r. w świetle dokumentów policyjnych i wojskowych II Rzeczypospolitej oraz służb specjalnych III Rzeszy. Część 1 (marzec–sierpień 1939 r.). Pamięć i Sprawiedliwość. nr 2 (8)/2005
  39. ^ Ba Lan điều tra thảm sát Katyn
  40. ^ VỤ THẢM SÁT KATYN DƯỚI ÁNH SÁNG NHỮNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ (2)
  41. ^ VỤ THẢM SÁT KATYN DƯỚI ÁNH SÁNG NHỮNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ (8)

Sách tham khảo

Liên kết ngoài


Terry Fox

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Terry Fox

Terry Fox tại Toronto trong cuộc Marathon Hy vọng xuyên Canada (tháng 7 năm 1980).
Sinh Terrance Stanley Fox
28 tháng 7, 1958
Winnipeg, Manitoba, Canada
Mất 28 tháng 6, 1981 (22 tuổi)
New Westminster, British Columbia, Canada
Nguyên nhân mất Di căn Xacôm xương
Học vị Simon Fraser University
Nổi tiếng vì Cuộc chạy Terry Fox
Danh hiệu Huân chương Canada

Terrance StanleyTerryFox (28 tháng 7, 1958 – 28 tháng 6, 1981) là một nhà hoạt động nhân đạo và vận động viên người Canada. Năm 1980, với một chân bị cắt bỏ phải sử dụng chân giả, Terry Fox đã thực hiện một cuộc chạy xuyên Canada để quyên tiền và kêu gọi sự chú ý của người dân Canada với việc nghiên cứu chữa trị ung thư. Mặc dù căn bệnh ung thư di căn cuối cùng đã khiến Fox phải chấm dứt cuộc hành trình sau 143 ngày, 5.373 km và không lâu sau đó đã cướp đi mạng sống của anh, những nỗ lực của Terry Fox đã đem lại một di sản lâu dài ở tầm quốc tế. Đó là Cuộc chạy Terry Fox (Terry Fox Run), vốn được tổ chức lần đầu năm 1981 tại Canada, nay đã được tổ chức thường niên ở trên 60 quốc gia với hàng triệu người tham gia, Cuộc chạy Terry Fox được coi là cuộc vận động một ngày quyên tiền cho nghiên cứu chữa trị ung thư lớn nhất thế giơiis, trên 500 triệu đô la Canada đã được quyên góp từ hoạt động này.
Fox là một vận động viên chạy việt dã và bóng rổ ở trường phổ thông của anh tại Port Coquitlam, British Columbia và sau đó là tại Đại học Simon Fraser. Người ta phải cắt cụt chân phải của Fox vào năm 1977 sau khi anh bị chẩn đoán mắc Xacôm xương, một thể ung thư xương, tuy nhiên Terry Fox vẫn tiếp tục chạy với chân giả và anh còn chơi cho đội bóng rổ xe lănVancouver và giành ba chức vô địch quốc gia.
Năm 1980, Terry Fox bắt đầu cuộc chạy Marathon Hy vọng (Marathon of Hope), đây là cuộc chạy xuyên Canada để quyên tiền cho hoạt động nghiên cứu chữa trị ung thư. Foxx hy vọng rằng anh sẽ quyên được 1 đô la từ mỗi người dân Canada, vốn lúc đó có 24 triệu dân. Khởi đầu với không nhiều sự chú ý từ công chúng, Fox xuất phát từ St. John’s, Newfoundland vào tháng 4 và hàng ngày chạy qua quãng đường tương đương một cuộc chạy marathon. Khi Fox đến Ontario thì anh đã trở thành một ngôi sao của quốc gia, anh xuất hiện nhiều lần trước công chúng cùng các thương gia, vận động viên và chính trị gia trong nỗ lực quyên tiền. Tới tháng 9 thì Terry Fox buộc phải ngừng cuộc chạy của anh ở bên ngoài Thunder Bay khi ung thư đã di căn tới phổi. Những hy vọng vượt qua căn bệnh và hoàn thành cuộc hành trình của Terry Fox chấm dứt khi anh qua đời 9 tháng sau đó vào ngày 28 tháng 6 năm 1981.
Fox là người trẻ nhất trong lịch sử Canada được trao Huân chương Canada (Companion of the Order of Canada), danh hiệu cao quý nhất trong số các danh hiệu không phải là phần thưởng cá nhân của Chế độ quân chủ Canada. Năm 1980 anh được trao Giải Lou Marsh (Lou Marsh Award), giải thưởng dành cho vận động viên thể thao của năm tại Canada, và anh được vinh danh là Canada’s Newsmaker of the Year (Người nổi bật nhất truyền thông Canada của năm) trong hai năm liên tiếp 1980 và 1981. Được xem là một anh hùng của dân tộc, rất nhiều tòa nhà, con đường và công viên tại Canada đã được đặt theo tên của Terry Fox để vinh danh anh.

Tiểu sử

Terry Fox sinh ngày 28 tháng 7 năm 1958 tại Winnipeg, Manitoba trong gia đình của ông bà Rolly và Betty Fox. Rolly là một công nhân bẻ ghi của Công ty Đường sắt Quốc gia Canada (Canadian National Railway).[1] Terry có một anh trai, Fred, một em trai, Darrell, và một em gái, Judith.[2] Gia đình Terry Fox chuyển tới Surrey, British Columbia năm 1966 và sau đó định cư tại Port Coquitlam năm 1968.[2] Bố mẹ của Terry là những người hết lòng chăm lo cho gia đình, và bà Betty Fox luôn dành sự che chở đặc biệt cho các con của mình; chính thông qua bà mà Terry Fox đã hình thành quyết tâm mạnh mẽ đối với bất cứ nhiệm vụ gì mà anh đã cam kết thực hiện.[3] Bố của Terry nhớ lại rằng anh là người có tính ganh đua rất cao, anh ghét thua cuộc tới mức mà Terry sẽ tiếp tục làm một việc gì đó tới tận khi anh thành công.[4]
Terry Fox là người rất ham mê thể thao, ngay từ bé Terry đã chơi bóng đá, bóng bầu dụcbóng chày.[5] Anh thích thú nhất là môn bóng rổ và tuy thời đó chỉ cao chừng 1,5 mét và chơi không giỏi, Fox vẫn nỗ lực vào được đội tuyển bóng rổ của trường vào năm lớp 8. Giáo viên thể dục và huấn luyện viên bóng rổ của Terry Fox tại Trường trung học cơ sở Mary Hill (Mary Hill Junior High School) cảm thấy rằng Terry thích hợp hơn với môn chạy đường dài và khuyến khích anh luyện tập môn thể thao này. Fox không có chút hứng thú nào với chạy việt dã, nhưng anh vẫn luyện tập nó vì anh tôn trọng huấn luyện viên của mình và muốn làm ông hài lòng.[6] Terry vẫn quyết tâm tiếp tục chơi bóng rổ, mặc dù anh chỉ là dự bị cuối cùng của đội. Trong mùa giải năm lớp 8, Terry chỉ được chơi duy nhất một phút nhưng anh đã dành cả mùa hè để cải thiện trình độ chơi bóng rổ của mình. Lên lớp 9 thì Terry Fox đã được chơi trong đội hình chính thức và đến lớp 10 thì đã có một vị trí trong đội hình xuất phát.[7] Đến lớp 12 thì Terry Fox giành giải Vận động viên của năm của trường phổ thông của anh bên cạnh người bạn thân Doug Alward.[2]
Mặc dù ban đầu Terry Fox không chắc việc anh có muốn vào đại học hay không, mẹ anh đã thuyết phục con trai đăng ký vào Đại học Simon Fraser, tại đây Terry học ngành Khoa học vận động (kinesiology) để trở thành một giáo viên thể dục.[8] Terry cũng thử sức với tuyển trẻ bóng rổ của trường, nhờ sự quyết tâm của mình mà anh đã có được vị trí cao hơn những vận động viên trội hơn về thể chất.[2]
Ngày 12 tháng 11 năm 1976, trên đường lái xe về nhà tại Port Coquitlam, Terry Fox mất tập trung vì công trình xây dựng cầu ở gần đó và đâm vào đuôi một chiếc xe bán tải. Mặc dù xe của Terry bị hỏng hoàn toàn nhưng anh chỉ bị đau ở đầu gối phải. Tới tháng 12 thì anh lại cảm thấy đau nhức nhưng vẫn bỏ qua nó cho tới hết mùa bóng rổ.[9] Đến tháng 3 năm 1977 thì chỗ đau đã trở nên dữ dội và Terry Fox phải tới bệnh viện, nơi anh bị chẩn đoán mắc Xacôm xương, một thể ung thư thường khởi phát gần đầu gối.[2] Fox tin rằng tai nạn ô tô đã làm suy yếu đầu gối của anh và khiến nó dễ bị tổn thương bởi bệnh tật mặc dù các bác sĩ của anh đã lập luận rằng không hề có một mối quan hệ nào như vậy.[10] Người ta nói với Terry rằng chân phải của anh phải bị cắt bỏ, bản thân Terry sẽ phải trải qua trị liệu hóa chất và rằng những tiến bộ y học giúp anh có 50% cơ hội sống sót. Fox được biết rằng chỉ 2 năm trước thôi thì cơ hội sống sót trong trường hợp như anh chỉ là 15%, sự cải thiện cơ hội sống sót đã gây ấn tượng cho Terry về giá trị của việc nghiên cứu chữa trị ung thư.[11]
Chỉ ba tuần sau khi chân phải bị cắt bỏ, Terry Fox đã đi lại với sự giúp đỡ của chiếc chân giả.[2] Sau đó anh tiến tới tập chơi golf cùng bố mình.[12] Các bác sĩ đã ấn tượng với quan điểm tích cực của Terry và đánh giá rằng nó đã góp phần vào sự phục hồi nhanh chóng của anh.[13] Terry Fox đã phải trải qua 16 tháng trị liệu hóa chất, anh coi quãng thời gian lưu lại cơ sở của Cơ quan Kiểm soát Ung thư British Columbia là quãng thời gian khó khăn khi mà Terry phải chứng kiến những người bạn cũng là bệnh nhân ung thư như anh phải chịu đau đớn và qua đời vì căn bệnh này.[14] Fox kết thúc giai đoạn trị liệu với một mục đích mới: Anh cảm thấy mình mắc nợ những tiến bộ y học cho sự tồn tại của mình và hy vọng rằng mình sẽ sống sao cho giúp được những người khác tìm thấy động lực sống.[15]
Mùa hè năm 1977 Rick Hansen, lúc đó đang làm việc cho Hiệp hội Thể thao Xe lăn Canada (Canadian Wheelchair Sports Association), đã mời Terry Fox thử chơi cho đội bóng rổ xe lăn của anh.[16] Mặc dù đang phải trải qua trị liệu hóa chất vào thời điểm đó, năng lượng của Fox vẫn làm Hansen phải ấn tượng.[2] Chỉ chưa đầy hai tháng học chơi môn thể thao này, Foxx đã được gọi vào đội tuyển tham gia giải vô địch quốc gia ở Edmonton.[17] Terry đã giành được 3 danh hiệu vô địch quốc gia cùng đội bóng này,[2] và được bầu chọn vào đội hình ngôi sao (all-star) bởi Hiệp hội Bóng rổ Xe lăn Bắc Mỹ (North American Wheelchair Basketball Association) vào năm 1980.[18]

Marathon Hy vọng

Tượng Terry Fox tại Công viên Beacon Hill, Victoria, British Columbia

Đêm trước cuộc phẫu thuật ung thư, Terry Fox nhận được một bài báo về Dick Traum, người cụt chân đầu tiên hoàn thành cuộc chạy Marathon New York.[2] Có được cảm hứng từ bài báo, Terry đã theo đuổi một chương trình luyện tập kéo dài 14 tháng, Terry nói với gia đình rằng anh có dự định tự mình hoàn thành một cuộc chạy marathon.[1] Riêng mình, Terry có một kế hoạch rộng hơn nhiều, những kinh nghiệm ở bệnh viện đã khiến Terry Fox tức giận vì số tiền ít ỏi được dành cho những nghiên cứu về ung thư. Anh dự định chạy xuyên Canada với hy vọng thúc đẩy được sự quan tâm của công chúng tới căn bệnh ung thư, một mục tiêu mà ban đầu Terry chỉ tiết lộ cho người bạn Doug Alward.[19]
Fox có một dáng chạy bất thường, vì anh phải nhảy lò cò trên chiếc chân còn tốt do các lò xo ở chiếc chân giả cần thời gian để hồi phục sau mỗi bước chạy.[20] Đối với Terry Fox giai đoạn luyện tập là quãng thời gian đau đớn vì áp lực phụ mà anh phải đặt lên cả chiếc chân còn tốt và phần chân cụt đã làm xây xước xương, rộp da và cơn đau nhức nhối. Terry nhận ra rằng cứ sau khoảng 20 phút chạy, anh lại vượt qua được ngưỡng đau và cuộc chạy trở nên dễ dàng hơn.[21]
Tháng 8 năm 1979, Fox hoàn thành một cuộc chạy marathon ở Prince George, British Columbia. Anh về đích cuối cùng, sau người chạy gần nhất tới 10 phút, nhưng những nỗ lực của Terry đã được đón nhận bằng những tràng pháo tay và cả nước mắt từ những người tham gia thi.[2] Sau cuộc chạy này, Terry đã tiết lộ toàn bộ kế hoạch của mình cho gia đình.[22] Mẹ anh đã can ngăn khiến cho anh tức giận, mặc dù sau đó bà đã ủng hộ kế hoạch của Terry. Bà nhớ lại: “Thằng bé nói, ‘Con đã nghĩ rằng mẹ sẽ là một trong những người đầu tiên tin tưởng con.’ Và tôi đã không tin tưởng nó. Tôi là người đầu tiên làm nó thất vọng”.[23] Ban đầu Fox hy vọng rằng anh sẽ quyên được 1 triệu đô la[23] nhưng sau đó anh dự định quyên được 1 đô la từ mỗi người dân Canada, đất nước có 24 triệu dân vào lúc đó.[24]

Chuẩn bị

Ngày 15 tháng 10 năm 1979, Fox gửi một lá thư cho Hội Ung thư Canada (Canadian Cancer Society) trong đó anh tuyên bố mục tiêu của mình và đề nghị được hỗ trợ kinh phí. Anh nói rằng mình sẽ “chiến thắng” sự tàn tật của bản thân, và hứa sẽ hoàn thành cuộc chạy, ngay cả khi anh phải “bò đi những dặm cuối cùng”. Để giải thích lý do tại sao anh muốn quyên tiền cho nghiên cứu, Fox mô tả lại kinh nghiệm của bản thân về quá trình điều trị ung thư:

Tôi sớm nhận ra rằng đó mới chỉ là một nửa cuộc hành trình của mình, dù tôi đã vượt qua 16 tháng thử thách cam go về cả thể chất và tinh thần với biện pháp hoá trị. Cảm giác bị xúm quanh và bị đẩy vào phòng khám ung thư dựng tôi dậy. Có những gương mặt mỉm cười can đảm, và những người đã mỉm cười buông xuôi. Có những cảm giác của hy vọng bị từ chối, và những cảm giác tuyệt vọng. Cuộc hành trình của tôi sẽ không phải là một cuộc hành trình cho cá nhân tôi. Tôi không thể b đi khi biết những gương mặt và những cảm giác ấy vẫn tồn tại, mặc dù tôi được tự do làm như vậy. Phải ngăn được những nỗi đau ở đâu đó… và tôi quyết định đem mình hiến dâng cho lý tưởng này.[25]

Fox không đưa ra lời hứa nào về việc những nỗ lực của anh sẽ dẫn đến chữa khỏi ung thư, nhưng anh kết thư bằng những lời sau: “Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các ông. Bệnh nhân trong các phòng khám ung thư trên khắp thế giới cần những người tin vào điều kì diệu. Tôi không phải một kẻ mộng mơ, và tôi không nói rằng nó sẽ khởi đầu cho một câu trả lời dứt khoát hay một liệu pháp chữa lành căn bệnh này. Tôi tin vào những điều kì diệu. Tôi phải tin tưởng.”[25] Hội Ung thư tỏ ra hoài nghi về quyết tâm của Fox, nhưng đồng ý hỗ trợ anh một khi anh có được nhà tài trợ và yêu cầu anh phải lấy giấy chứng nhận y tế từ một chuyên gia tim mạch rằng anh đủ khả năng thực hiện cuộc chạy. Fox được chẩn đoán mắc phình to tâm thất trái – bệnh tim lớn – một căn bệnh mà các vận động viên thường mắc phải. Các bác sĩ đã cảnh báo Fox về những nguy hiểm tiềm tàng mà anh phải đối mặt, mặc dù họ không coi căn bệnh của anh là một mối lo đáng kể. Các bác sĩ đã tán thành việc Terry tham gia chạy sau khi anh hứa sẽ dừng lại ngay khi cảm thấy có bất kì vấn đề nào về tim.[26]
Một bức thư thứ hai được gửi tới một số công ty để tìm kiếm tài trợ cho xe cộ, giày chạy và những chi phí khác của cuộc chạy.[27] Fox còn gửi những lá thư khác để tìm kiếm hỗ trợ tài chính nhằm mua một chiếc chân giả chuyên cho hoạt động chạy. Anh tiến hành việc đó trong nỗi biết ơn vì mình đã sống sót sau khi tiếp nhận điều trị. “Tôi nhớ hứa với bản thân rằng, tôi phải sống, tôi phải đứng dậy để đối mặt với thử thách mới (gây quỹ cho hoạt động nghiên cứu bệnh ung thư) này và chứng tỏ rằng mình xứng đáng với cuộc sống, một điều mà quá nhiều người coi là hiển nhiên.”[27] Công ty xe hơi Ford ủng hộ bằng một chiếc campervan (ô tô trang bị như nhà ở lưu động) trong khi Imperial Oil tài trợ nhiên liệu, và Adidas cung cấp giày chạy.[28] Fox từ chối bất cứ công ty nào yêu cầu anh quảng cáo sản phẩm của họ, anh cũng không nhận bất cứ khoản quyên góp có điều kiện nào, anh nhấn mạnh rằng không ai được thu lợi từ cuộc chạy của mình.[3]

Chạy dọc Canada

Chặng đường chạy của Terry Fox ở Đông Canada. Anh xuất phát ở St. John’s trên bờ biển phía Đông và chạy về hướng Tây.

Cuộc chạy marathon của Terry Fox bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1980 khi Fox nhúng chân vào nước biển Đại Tây Dương ở gần St. John’s, Newfoundland và đổ đầy hai chai nước biển với mục đích giữ một chai làm kỉ niệm và chai kia thì đổ xuống Thái Bình Dương khi kết thúc hành trình ở Victoria, British Columbia.[24] Người hỗ trợ Terry trong hành trình này là Doug Alward, anh lái một chiếc xe ô tô chạy theo Fox và nấu ăn cho bạn mình.[28]
Trong những ngày đầu tiên của cuộc chạy, Fox đã phải đối mặt với gió mạnh, mưa lớn và cả một cơn bão tuyết.[1] Ban đầu Terry Fox tỏ ý thất vọng về sự hưởng ứng mà anh nhận được, nhưng rồi sự động viên đã đến với Terry khi anh chạy tới Port aux Basques, Newfoundland, thành phố 10.000 dân này đã tặng cho anh món tiền quyên góp trị giá trên 10.000 đô la.[28] Trong suốt cuộc hành trình, Fox thường xuyên biểu lộ sự tức giận và thất vọng đến những điều mà anh coi có thể đe dọa cuộc chạy, và anh thường xuyên gây gổ với người bạn Alward. Khi hai người tới Nova Scotia thì họ chỉ còn hiếm khi trò chuyện với nhau và quyết định sắp xếp cho người em trai sôi nổi của Fox là Darrell, lúc đó 17 tuổi, tham gia làm trợ tá.[23] Fox rời các tỉnh ven biển ngày 10 tháng 6 và đối mặt với những thử thách mới khi đi vào Québec, đó là việc cả đoàn không có khả năng nói tiếng Pháp[29] và những tài xế ô tô liên tục buộc Terry phải rời khỏi đường cái.[30] Fox tới Montréal ngày 22 tháng 6, tới lúc này anh đã hoàn thành được một phần ba hành trình dài 8.000 km của mình và đã quyên được trên 200.000 đô la.[20] Terry quyết định lưu lại Montréal vài ngày vì Hội Ung thư Canada đã thuyết phục được anh rằng nếu Terry tới Ottawa vào đúng Ngày Canada thì việc đó sẽ hỗ trợ những nỗ lực quyên góp.[30]

Bia tưởng niệm tại Mốc dặm 0 (Mile 0) của cuộc hành trình tại St. John’s.

Fox đi vào địa phận bang Ontario tại thành phố Hawkesbury vào ngày thứ Bảy cuối cùng của tháng 6. Anh được chào đón bởi một ban kèn đồng và hàng nghìn người dân đứng hai bên đường cổ vũ, trong khi Cảnh sát tỉnh bang Ontario cử đội hộ tống Fox trong suốt chặng đường của anh ở bang này.[31] Bất chấp cái nóng oi ả của mùa hè, Terry vẫn tiếp tục chạy mỗi ngày 42 km.[29] Khi tới Ottawa, Fox đã gặp Toàn quyền Canada Edward SchreyerThủ tướng Canada Pierre Trudeau, anh cũng là khách mời danh dự của nhiều sự kiện thể thao tại thành phố này.[31] Trước 16.000 người hâm mộ, anh đã thực hiện cú đá mở màn tại một trận đấu của Giải bóng bầu dục Canada (Canadian Football League) và được cả sân vận động dành cho một tràng pháo tay cổ vũ. Nhật ký của Fox đã ghi lại sự hào hứng ngày một tăng của anh với sự đón nhận mà anh có được và Terry bắt đầu hiểu được rằng những nỗ lực của anh đã là người dân Canada cảm động sâu sắc tới mức nào.[32]
Tại Toronto một đám đông 10.000 người đã tập hợp để chào đón Terry Fox, tại đây anh đã được vinh danh trên Quảng trường Nathan Phillips. Khi anh chạy tới quảng trường, rất nhiều người đã hòa cùng cuộc chạy của Terry, trong đó có Darryl Sittler, ngôi sao của Giải khúc côn cầu trên băng Bắc Mỹ (National Hockey LeagueNHL), Sittler đã tặng Terry Fox chiếc áo đấu của anh trong trận đấu của các ngôi sao NHL (All-Star Game) năm 1980. Hội Ung thư Canada ước tính rằng chỉ riêng trong ngày hôm đó hội đã nhận được số tiền quyên góp khoảng 100.000 đô da.[2] Khi Terry Fox tiếp tục chạy xuyên qua phía Nam Ontario, anh đã gặp Bobby Orr, một vận động viên nổi tiếng của NHL, Orr đã tặng Terry một tấm séc trị giá 25.000 đô la, Terry coi cuộc gặp gỡ này là điểm nhấn trong chuyến đi của anh.[2]

“Everybody seems to have given up hope of trying. I haven’t. It isn’t easy and it isn’t supposed to be, but I’m accomplishing something. How many people give up a lot to do something good. I’m sure we would have found a cure for cancer 20 years ago if we had really tried”
Fox speaking outside of Ottawa[4]

Cùng với danh tiếng ngày một lớn của Fox, Hội Ung thư Canada đã sắp xếp cho anh tha; gia nhiều buổi lễ và phát biểu nhiều diễn văn hơn.[33] Fox đã cố gắng xem xét bất cứ đề nghị nào mà anh tin là có thể giúp quyên tiền, bất kể quãng đường mà anh phải chạy thêm dài thế nào.[34] Tuy nhiên Terry sẵn sàng nổi giận với bất cứ hành động nào mà anh coi là sự xâm phạm của truyền thông vào đời tư, ví dụ khi tờ Toronto Star thông báo rằng Terry Fox đã có một buổi hẹn hò.[35] Fox rơi vào trạng thái không chắc chắn rằng mình có thể tin tưởng vào truyền thông hay không sau khi những bài báo mang tính tiêu cực xuất hiện, trong đó có một bài của tờ Globe and Mail trong đó anh được mô tả như một người “anh trai bạo ngược” (“tyrannical brother”) ăn nói tàn tệ với em trai Darrell và quả quyết rằng Terry tham gia chạy vì anh có mối thù với người bác sĩ đã chẩn đoán sai căn bệnh của Terry, một luận điệu mà Terry Fox coi là “rác rưởi”.[36]
Đòi hỏi thể lực của việc chạy một quãng đường tương đương cuộc chạy marathon mỗi ngày đã làm cơ thể Fox tổn thương nặng nề. Nếu không tính những ngày dừng lại ở Montréal theo đề nghị của Hội Ung thư Canada, Terry từ chối một ngày nghỉ, kể cả vào ngày sinh nhật lần thứ 22 của anh.[37] Terry Fox thường xuyên phải chịu đựng hội chứng áp lực xương ống chân giữa (shin splints) và một đầu gối sưng tấy. Anh tiếp tục bị rộp phần mỏm cụt và thấy chóng mặt.[38] Có lúc, anh phải chịu đựng cơn đau mắt cá dai dẳng. Mặc dù anh sợ rằng mình đang bị rạn xương, anh vẫn chạy thêm 3 ngày nữa trước khi tìm kiếm sự hỗ trợ y tế, và sau đó nhẹ nhõm khi biết rằng mình chỉ bị viêm gân và có thể dùng thuốc giảm đau điều trị.[39] Fox bỏ qua những lời kêu gọi anh đi kiểm tra y tế thường xuyên[40] và bác bỏ những ý kiến cho rằng anh đang mạo hiểm với sức khoẻ của chính mình trong tương lai.[36]
Dù khả năng phục hồi của anh rất tốt,[41] đến cuối tháng 8, Fox nhận thấy anh bị kiệt sức trước khi bắt đầu ngày chạy.[42] Ngày 1 tháng 9, bên ngoài vịnh Thunder, anh buộc phải dừng lại một lúc sau khi bị ho dữ dội và đau ngực. Không biết phải làm gì, anh lại tiếp tục chạy khi đám đông dọc đường vẫn hò reo cổ vũ.[43] Sau vài dặm, vẫn thấy hụt hơi và đau ngực, anh yêu cầu Alward lái xe đưa mình đến bệnh viện. Anh ngay lập tức sợ rằng mình đã vừa chạy những bước cuối cùng.[44] Ngày hôm sau, Fox tổ chức một cuộc họp báo đầy nước mắt, thông báo rằng bệnh ung thư của anh đã tái phát và di căn lên phổi. Anh buộc phải ngừng chạy sau 143 ngày và 5373 km.[45] Fox từ chối những lời đề nghị chạy thay và tuyên bố rằng anh muốn tự mình hoàn thành cuộc marathon của mình.[2]

Cuộc chạy bộ Terry Fox hàng năm tại TP.Hồ Chí Minh

Hàng năm, Tổng lãnh sự quán Canada tại TP Hồ Chí Minh phối hợp với Trường Quốc tế Canada, Phòng Thương mại Canada tại Việt Nam và Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị TP Hồ Chí Minh tổ chức cuộc chạy bộ Terry Fox để gây quỹ phòng chống ung thư

  • Cuộc chạy Terry Fox lần thứ 14 (2010) đã thu hút 9,200 người tham gia và gây quỹ được hơn 40,500 USD (850,000,000 VND). Nhờ có số tiền này, một máy siêu âm đã được đầu tư thêm tại Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh để hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và điều trị ung thư tại Việt Nam
  • Cuộc chạy bộ Terry Fox lần thứ 16 sẽ được tổ chức vào Chủ nhật, 25 tháng 11, 2012 tại khu Crescent Plaza, Phú Mỹ Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

Chú thích

  1. ^ a ă â Scrivener, Leslie (28 tháng 4 năm 1980). “Terry’s running for the cancer society”. Montreal Gazette. tr. 21. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010.
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k “The Greatest Canadian: Terry Fox”. Canadian Broadcasting Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010.
  3. ^ a ă Scrivener, 2000, tr. 13–14.
  4. ^ a ă Inwood, Damian (18 tháng 9 năm 2005). “Terry Fox: 25 years; Celebrating his dream: a 12-page special section honouring the 25th Annual Terry Fox Run”. Vancouver Province.
  5. ^ Scrivener, 2000, tr. 16–17.
  6. ^ Scrivener, 2000, tr. 18.
  7. ^ Scrivener, 2000, tr. 19–20.
  8. ^ Scrivener, 2000, tr. 23.
  9. ^ Scrivener, 2000, tr. 25.
  10. ^ Scrivener, 2000, tr. 27.
  11. ^ Scrivener, 2000, tr. 30.
  12. ^ Scrivener, 2000, tr. 36.
  13. ^ Scrivener, 2000, tr. 35.
  14. ^ Scrivener, 2000, tr. 37–38.
  15. ^ Scrivener, 2000, tr. 41.
  16. ^ Edwards, Peter (3 tháng 1 năm 1987). “Man in Motion set to honour pal Terry Fox”. Toronto Star. tr. A13.
  17. ^ Scrivener, 2000, tr. 45.
  18. ^ Scrivener, 2000, tr. 47.
  19. ^ Scrivener, 2000, tr. 58.
  20. ^ a ă “Runner wants to cross nation on one leg”. Montreal Gazette. 23 tháng 6 năm 1980. tr. 1. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2010.
  21. ^ Scrivener, 2000, tr. 57.
  22. ^ Coupland, 2005, tr. 29.
  23. ^ a ă â MacQueen, Ken (4 tháng 4 năm 2005). “25th anniversary of Terry Fox’s Marathon of Hope”. Macleans Magazine (Historica-Dominion Institute of Canada). Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2010.
  24. ^ a ă “Terry Fox’s legacy of hope”. Canadian Broadcasting Corporation. 27 tháng 6 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010.
  25. ^ a ă Cosentino, Frank (1990). Not bad, eh?: great moments in Canadian sports history. General Store Publishing House. tr. 63–64. ISBN 9780919431294.
  26. ^ Scrivener, 2000, tr. 69–70.
  27. ^ a ă Scrivener, 2000, tr. 63.
  28. ^ a ă â Murphy, 2005, p. 33.
  29. ^ a ă Scrivener, 2000, tr. 232.
  30. ^ a ă Scrivener, 2000, tr. 97.
  31. ^ a ă Murphy, 2005, tr. 34.
  32. ^ Scrivener, 2000, tr. 118.
  33. ^ Scrivener, 2000, tr. 123.
  34. ^ Coupland, 2005, tr. 91.
  35. ^ Scrivener, 2000, tr. 130.
  36. ^ a ă Scrivener, 2000, p. 144.
  37. ^ Scrivener, 2000, p. 138.
  38. ^ Coupland, 2005, tr. 47.
  39. ^ Scrivener, 2000, p. 147.
  40. ^ Harper, Tim (30 tháng 7 năm 1980). “Medical check ‘stupid’, cancer marathoner scoffs”. Ottawa Citizen. tr. 1. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2010.
  41. ^ Scrivener, 2000, p. 133.
  42. ^ Scrivener, 2000, p. 150.
  43. ^ Scrivener, 2000, pp. 153–154.
  44. ^ Scrivener, 2000, p. 155.
  45. ^ “Terry Fox’s legacy of hope”. CBC News Online. 27 tháng 6 năm 2006. tr. 1. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.

Thư mục

  • Coupland, Douglas (2005). Terry. Vancouver: Douglas & McIntyre. ISBN 1-55365-113-8.
  • Murphy, Angela (2005). Great Canadians. Canada: Folklore Publishing. ISBN 1-894864-46-8.
  • Rak, Julie (2008). “Canadian Idols? CBC’s The Greatest Canadian as Celebrity History”. Trong Druick, Zoe and Kotsopoulos, Aspa. Programming Reality. Canada: Wilfrid Laurier University Press. ISBN 978-1554580101.
  • Scrivener, Leslie (2000). Terry Fox: His Story. Toronto: McClelland & Stewart. ISBN 978-0-7710-8019-7.

Liên kết ngoài

Giải thưởng
Tiền nhiệm:
Sandra Post
Giải Lou Marsh
1980
Kế nhiệm:
Susan Nattrass

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, VietnamAfricaCassavaRice, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Chào ngày mới 31 tháng 8

 Vị trí của Malaysia

CNM365. Chào ngày mới 31 tháng 8. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Độc lập tại Malaysia (1957), Trinidad và Tobago (1962), Kyrgyzstan (1991). Năm 805Đường Thuận Tông bị hoạn quan ép buộc phải nhường ngôi cho Thái tử Lý Thuần, tức Đường Hiến Tông, kết thúc giai đoạn Vĩnh Trinh cách tân. Năm 1963 – Thuộc địa Bắc Borneo của Vương thất Anh được trao quyền tự trị, và tham gia hình thành Malaysia nửa tháng sau đó với tên gọi Sabah. Năm 1996Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất kết thúc với thắng lợi của Chechnya, quân Nga rút lui. Năm 1997Vương phi Diana (hình) cùng tình nhân Dodi Fayed qua đời trong một vụ tai nạn giao thôngParis, Pháp.

Malaysia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Malaysia
Malaysia
Flag of Malaysia.svg Coat of arms of Malaysia.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Malaysia
Khẩu hiệu
Bersekutu Bertambah Mutu[1]
“Đoàn kết tạo nên lực lượng”
Quốc ca
Negaraku
Nước ta
Hành chính
Chính phủ quân chủ lập hiến liên bang
Quốc vương
Thủ tướng
Abdul Halim
Najib Tun Razak
Ngôn ngữ chính thức tiếng Malaysia
Thủ đô Kuala Lumpur
Putrajaya (hành chính)
2°30′B, 112°30′Đ
Thành phố lớn nhất Kuala Lumpur
Địa lý
Diện tích 329.847 km² (hạng 67)
Diện tích nước 0,3 %
Múi giờ MST (UTC+8)
Lịch sử
Độc lập
31 tháng 8 năm 1957[2] Malaya độc lập từ Anh Quốc
16 tháng 9 năm 1963 Liên bang của Malaya với Sabah, SarawakSingapore²
Dân cư
Dân số (2010) 28.334.135[3] người
Mật độ 86 người/km² (hạng 114)
Kinh tế
GDP (PPP) (2014) Tổng số: 555,912 tỷ USD[4]
Bình quân đầu người: 18.509 USD[4]
GDP (danh nghĩa) (2014) Tổng số: 367,712 tỷ USD[4]
Bình quân đầu người: 12.243 USD[4]
HDI (2013) 0,769[5] cao (hạng 64)
Hệ số Gini (2009) 46,2[6] (cao) (hạng 36)
Đơn vị tiền tệ Ringgit (RM) (MYR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .my, مليسيا.[7]
¹ 020 từ Singapore
² Singapore đã trở thành nước độc lập từ ngày 9 tháng 8 năm 1965

Malaysia (phiên âm tiếng Việt: Ma-lai-xi-a[8], Hán Việt: Mã Lai Tây Á) là một quốc gia quân chủ lập hiến liên bang tại Đông Nam Á. Quốc gia bao gồm 13 bang và ba lãnh thổ liên bang với tổng diện tích đất là 329.847 kilômét vuông (127.350 sq mi). Malaysia bị tách làm hai phần qua biển Đông: Malaysia bán đảoBorneo thuộc Malaysia. Malaysia có biên giới trên bộ với Thái Lan, Indonesia, và Brunei, trong khi có biên giới trên biển với Singapore, Việt Nam, và Philippines. Thành phố thủ đô là Kuala Lumpur, song nơi đặt trụ sở của chính phủ liên bang là Putrajaya. Năm 2010, dân số Malaysia là 28,33 triệu, trong đó 22,6 triệu sinh sống tại phần Bán đảo. Malaysia có điểm cực nam của đại lục Á-Âu là Tanjung Piai. Malaysia là một quốc gia nhiệt đới, là một trong 17 quốc gia đa dạng sinh học siêu cấp trên Trái Đất, với nhiều loài đặc hữu.
Malaysia có nguồn gốc từ các vương quốc Mã Lai hiện diện trong khu vực, và từ thế kỷ 18, các vương quốc này bắt đầu lệ thuộc vào Đế quốc Anh. Các lãnh thổ đầu tiên của Anh Quốc được gọi là Các khu định cư Eo biển. Các lãnh thổ tại Malaysia bán đảo được hợp nhất thành Liên bang Malaya (Malayan Union) vào năm 1946. Malaya được tái cấu trúc thành Liên hiệp bang Malaya (Federation of Malaya) vào năm 1948, và giành được độc lập vào ngày 31 tháng 8 năm 1957. Malaya hợp nhất với Bắc Borneo, Sarawak, và Singapore vào ngày 16 tháng 9 năm 1963, với từ si được thêm vào quốc hiệu mới là Malaysia. Đến năm 1965, Singapore bị trục xuất khỏi liên bang.
Malaysia là một quốc gia đa dân tộc và đa văn hóa, đặc điểm này đóng một vai trò lớn trong chính trị quốc gia. Hiến pháp tuyên bố Hồi giáo là quốc giáo trong khi bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Hệ thống chính quyền của Malaysia có mô hình gần với hệ thống nghị viện Westminster và hệ thống pháp luật dựa trên thông luật. Nguyên thủ quốc gia là quốc vương, được gọi là Yang di-Pertuan Agong. Người này là một quân chủ tuyển cử, được chọn từ các quân chủ kế tập của chín bang Mã Lai theo chế độ quân chủ, thay đổi sau mỗi 5 năm. Người đứng đầu chính phủ liên bang là thủ tướng.
Kể từ khi độc lập, Malaysia trở thành một trong những nước có hồ sơ kinh tế tốt nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6,5% trong gần 50 năm. Về truyền thống, yếu tố thúc đẩy kinh tế Malaysia là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, song quốc gia cũng phát triển các lĩnh vực khoa học, du lịch, thương mại hay du lịch y tế. Ngày nay, Malaysia có một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới, có GDP danh nghĩa xếp thứ ba tại Đông Nam Á và xếp thứ 29 trên thế giới. Malaysia là một thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Hội nghị cấp cao Đông ÁTổ chức Hợp tác Hồi giáo, và là một thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Thịnh vượng chung các quốc gia, và Phong trào không liên kết.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Malaysia

Có bằng chứng về việc người hiện đại cư trú tại Malaysia cách nay 40.000 năm.[9] Tại bán đảo Mã Lai, các cư dân đầu tiên được cho là người Negrito.[10] Các thương nhân và người định cư từ Ấn Độ và Trung Quốc đến từ thế kỷ 1 CN, lập nên các thương cảng và đô thị duyên hải vào thế kỷ 2 và 3. Sự xuất hiện của họ khiến ảnh hưởng của Ấn Độ và Trung Quốc có tác động mạnh đối các văn hóa bản địa, và người dân trên bán đảo Mã Lai tiếp nhận Ấn Độ giáoPhật giáo. Các bản khắc bằng tiếng Phạn xuất hiện từ thế kỷ 4 hoặc 5.[11] Vương quốc Langkasuka nổi lên vào khoảng thế kỷ 2 ở khu vực bắc bộ của bán đảo Mã Lai, tồn tại cho đến khoảng thế kỷ 15.[12] Từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13, phần lớn nam bộ bán đảo Mã Lai là một phần của đế quốc hàng hải Srivijaya. Sau khi Srivijaya sụp đổ, đế quốc Majapahit có ảnh hưởng đối với hầu hết Malaysia bán đảo và quần đảo Mã Lai.[13] Hồi giáo bắt đầu truyền bá trong cộng đồng người Mã Lai vào thế kỷ 14.[14] Vào đầu thế kỷ 15, một hậu duệ của hoàng thất Srivijaya là Parameswara thành lập Vương quốc Malacca, đây thường được xem là quốc gia độc lập đầu tiên tại bán đảo Mã Lai.[15] Đương thời, Malacca là một trung tâm thương mại quan trọng.

Người Bồ Đào Nha xây dựng pháo đài A Famosa tại Malacca vào thế kỷ 16.

Năm 1511, Bồ Đào Nha chinh phục Malacca,[14] đến năm 1641 thì lãnh thổ này bị người Hà Lan chiếm đoạt. Năm 1786, Đế quốc Anh thiết lập một sự hiện diện tại Malaya, khi đó Sultan của Kedah cho Công ty Đông Ấn Anh thuê Penang. Người Anh giành được Singapore vào năm 1819,[16] và đến năm 1824 thì đoạt quyền kiểm soát Malacca sau Hiệp định Anh-Hà Lan. Năm 1826, người Anh bắt đầu quản lý trực tiếp Penang, Malacca, Singapore, và đảo Labuan. Đến thế kỷ 20, tại các quốc gia Pahang, Selangor, Perak, và Negeri Sembilan, được gọi chung là Các quốc gia Mã Lai liên minh, có các thống sứ người Anh được bổ nhiệm để cố vấn cho các quân chủ Mã Lai theo điều khoản trong các hiệp định mà họ từng ký.[17] Năm quốc gia còn lại trên bán đảo được gọi là Các quốc gia Mã Lai phi liên minh, các quốc gia này không chịu sự quản lý trực tiếp của người Anh, song cũng chấp thuận các cố vấn người Anh. Tiến triển tại Bán đảo và Borneo nhìn chung là tách biệt cho đến thế kỷ 19. Trong thời gian người Anh cai trị, họ khuyến khích người Hoa và người Ấn nhập cư để trở thành lao công.[18] Khu vực mà nay là Sabah nằm dưới sự cai trị của người Anh với tên gọi Bắc Borneo khi cả Sultan của Brunei và Sultan của Sulu chuyển giao quyền sở hữu các lãnh thổ của riêng họ từ năm 1877 đến năm 1878.[19] Năm 1842, Sultan của Brunei nhượng Sarawak cho James Brooke, các Rajah da trắng kế tập cai trị Vương quốc Sarawak độc lập cho đến khi lãnh thổ này trở thành một thuộc địa vương thất Anh vào năm 1946.[20]
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản xâm nhập và chiếm đóng Malaya, Bắc Borneo, Sarawak, và Singapore trong ba năm. Trong thời kỳ này, căng thẳng sắc tộc gia tăng và chủ nghĩa dân tộc phát triển.[21] Sự ủng hộ của dân chúng đối với độc lập tăng lên sau khi lực lượng Đồng Minh tái chiếm Malaya.[22] Hậu chiến, người Anh tiến hành các nỗ lực nhằm hợp nhất việc cai quản Malaya trong một thuộc địa vương thất duy nhất gọi là Liên bang Malaya (Malayan Union), tuy nhiên điều này bị người Mã Lai phản đối mạnh, người Mã Lai phản đối việc địa vị của các quân chủ Mã Lai suy yếu và việc trao quyền công dân cho người gốc Hoa. Liên bang Malaya được thành lập vào năm 1946 và bao gồm toàn bộ các thuộc địa của Anh Quốc tại khu vực bán đảo Mã Lai, ngoại trừ Singapore, song chính thể này nhanh chóng bị giải thể và thay thế bởi Liên hiệp bang Malaya (Federation of Malaya), chính thể này khôi phục quyền tự trị cho các quân chủ của các quốc gia Mã Lai dưới sự bảo hộ của người Anh.[23] Trong thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Malaya, quân nổi dậy mà hầu hết là người gốc Hoa tiến hành các hoạt động du kích với mục đích đẩy người Anh ra khỏi Malaya. Tình trạng khẩn cấp Malaya kéo dài từ năm 1948 đến năm 1960, và liên quan đến một chiến dịch chống nổi loạn kéo dài của quân Thịnh vương chung tại Malaya.[24] Sau đó, người ta đưa ra một kế hoạch nhằm liên minh Malaya với các thuộc địa vương thất Bắc Borneo (gia nhập với tên Sabah), Sarawak, và Singapore. Ngày đề xuất hợp thành liên bang là 31 tháng 8 năm 1963, tuy nhiên, thời điểm bị trì hoãn cho đến ngày 16 tháng 9 năm 1963 do phản đối của Indonesia dưới quyền Tổng thống Sukarno và Đảng Nhân dân Liên hiệp Sarawak.[25]
Sự thành lập liên bang khiến các căng thẳng tăng cao, bao gồm một cuộc xung đột với Indonesia, Singapore bị trục xuất vào năm 1965,[26][27] và xung đột sắc tộc. Xung đột sắc tộc lên đến đỉnh điểm trong các cuộc bạo loạn sắc tộc ngày 13 tháng 5 năm 1969.[28] Sau các cuộc bạo loạn, Thủ tướng Tun Abdul Razak đưa ra Chính sách Kinh tế mới gây tranh cãi, mục đích là nhằm nâng cao phần sở hữu kinh tế của bumiputera.[29] Dưới thời Thủ tướng Mahathir Mohamad, Malaysia trải qua tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa nhanh chóng. Kinh tế Malaysia chuyển đổi từ dựa vào nông nghiệp sang dựa vào chế tạo và công nghiệp. Nhiều siêu dự án được hoàn thành, chẳng hạn như tháp đôi Petronas, xa lộ Nam-Bắc, hành lang đa phương tiện siêu cấp, và thủ đô hành chính liên bang mới Putrajaya.[30] Tuy nhiên, vào cuối thập niên 1990, Khủng hoảng tài chính châu Á suýt khiến cho đồng Ringgit cùng các thị trường chứng khoán và bất động sản Malaysia sụp đổ.[31]

Phân chia

Malaysia là một liên bang gồm 13 bang và ba lãnh thổ liên bang. Chúng được phân thành hai khu vực, 11 bang và hai lãnh thổ liên bang nằm tại Malaysia bán đảo; hai bang và một lãnh thổ liên bang nằm ở Đông Malaysia. Quyền cai quản các bang được phân chia giữa chính phủ liên bang và bang, trong khi chính phủ liên bang quản lý trực tiếp đối với các lãnh thổ liên bang.[32]
13 bang của Malaysia dựa trên nền tảng các vương quốc Mã Lai lịch sử, 9 trong số 11 bang Bán đảo vẫn duy trì các gia tộc vương thất của mình, và được gọi là các bang Mã Lai. Quốc vương được tuyển cử từ chín quân chủ với nhiệm kỳ 5 năm.[14] Mỗi bang có một cơ quan lập pháp đơn viện được gọi là Hội đồng lập pháp bang. Mỗi bang được chia tiếp thành các huyện, rồi lại được chia thành mukim. Tại SabahSarawak các huyện được nhóm thành tỉnh.[33] Sabah và Sarawak có quyền tự chủ nhiều hơn đáng kể so với các bang khác, đáng chú ý nhất là chính sách và kiểm soát nhập cư riêng.[34]

Chính phủ và chính trị

Malaysia là một quốc gia quân chủ tuyển cử lập hiến liên bang. Hệ thống chính phủ theo mô hình gần với hệ thống nghị viện Westminster, một di sản của chế độ thuộc địa Anh.[35] Nguyên thủ quốc gia là Yang di-Pertuan Agong, thường được gọi là Quốc vương. Quốc vương được bầu theo mỗi nhiệm kỳ 5 năm từ chín quân chủ kế tập của các bang Mã Lai; bốn bang còn lại có nguyên thủ trên danh nghĩa song không tham gia vào việc tuyển lựa. Theo thỏa thuận không chính thức, vị trí Quốc vương sẽ do quân chủ chín bang luân phiên nắm giữ,[35] Vai trò của Quốc vương phần lớn mang tính lễ nghi kể từ sau các thay đổi trong hiến pháp vào năm 1994.[36]
Quyền lập pháp được phân chia giữa các cơ quan lập pháp liên bang và bang. Nghị viện liên bang của Malaysia bao gồm hạ viện và thượng viện.[37] Hạ viện gồm có 222 thành viên, được bầu với nhiệm kỳ tối đa là 5 năm từ các khu vực bầu cử một ghế. Toàn bộ 70 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 3 năm; 26 người được 13 quốc hội bang tuyển chọn, 44 người được Quốc vương bổ nhiệm theo tiến cử của Thủ tướng.[14] Nghị viện Malaysia theo một hệ thống đa đảng và chính phủ được bầu thông qua một hệ thống đa số chế. Kể từ khi độc lập, cầm quyền tại Malaysia là một liên minh đa đảng được gọi là Barisan Nasional.[14]

Tòa nhà Perdana Putra tại Putrajaya, tổ hợp văn phòng của Thủ tướng Malaysia.

Mỗi bang có một quốc hội đơn viện, các nghị viên được bầu từ các đơn vị bầu cử một ghế. Người đứng đầu các chính phủ bang là các thủ tịch bộ trưởng (Chief Minister),[14] họ là những thành viên quốc hội và đến từ đảng chiếm đa số trong quốc hội. Tại các bang có quân chủ kế tập, thủ tịch bộ trưởng theo thường lệ cần phải là người Mã Lai, do quân chủ bổ nhiệm theo tiến cử của thủ tướng.[38] Các cuộc bầu cử nghị viện được tổ chức 5 năm một lần.[14] Các cử tri đăng ký 21 tuổi hoặc lớn hơn có thể bỏ phiếu để bầu các thành viên của Hạ viện, và bầu các thành viên quốc hội bang ở hầu hết các bang. Bầu cử không bắt buộc.[39] Ngoại trừ Sarawak, cuộc bầu cử cấp bang tại các khu vực còn lại diễn ra đồng thời với bầu cử liên bang.[36]
Quyền hành pháp được trao cho Nội các do thủ tướng lãnh đạo. Thủ tướng phải là thành viên của hạ viện, được Quốc vương chuẩn thuận, nhận được đa số ủng hộ tại nghị viện. Nội các được lựa chọn từ lưỡng viện quốc hội liên bang.[14] Thủ tướng là người đứng đầu nội các và cũng là người đứng đầu chính phủ.[36]
Hệ thống pháp luật Malaysia dựa trên thông luật Anh.[14] Mặc dù cơ quan tư pháp độc lập về lý thuyết, song sự độc lập của chúng bị đặt dấu hỏi và việc bổ nhiệm các thẩm phán thiếu trách nhiệm giải trình và tính minh bạch.[40] Tòa án tối cao trong hệ thống tư pháp là Tòa án Liên bang, sau đó là Tòa thượng tố và hai Tòa cao đẳng, một cho Malaysia bán đảo và một cho Đông Malaysia. Malaysia cũng có một tòa án đặc biệt để xét xử các vụ án do Quốc vương đưa ra hoặc chống lại Quốc vương.[41] Các tòa án Syariah tách biệt với các tòa án dân sự, các tòa này áp dụng luật Sharia trong các vụ án liên quan đến người Hồi giáo Malaysia[42] và vận hành song song với hệ thống tòa án thế tục.[43] Đạo luật An ninh Nội địa cho phép giam giữ không cần xét xử, và án tử hình được áp dụng cho các tội như buôn bán ma túy.[44]
Sắc tộc có ảnh hưởng lớn trong chính trị Malaysia, nhiều chính đảng dựa trên nền tảng dân tộc.[14] Các hành động quả quyết như Chính sách Kinh tế mới[29] và thay thế nó là Chính sách Phát triển Quốc gia, được thực hiện nhằm thúc đẩy địa vị của bumiputera, bao gồm người Mã Lai và các bộ lạc bản địa, trước những người phi bumiputera như người Malaysia gốc Hoa và người Malaysia gốc Ấn.[45] Các chính sách này quy định ưu đãi cho bumiputera trong việc làm, giáo dục, học bổng, kinh doanh, tiếp cận nhà giá rẻ hơn và hỗ trợ tiết kiệm. Tuy nhiên, nó gây ra oán giận rất lớn giữa các dân tộc.[46]

Quan hệ đối ngoại và quân sự

Malaysia là một thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)[47] Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC),[48] và cũng tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc,[49] Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương,[50] và Phong trào không liên kết (NAM).[51] Malaysia từng giữ chức chủ tịch ASEAN, OIC, và NAM.[14] Do là một cựu thuộc địa của Anh Quốc, Malaysia cũng là một thành viên của Thịnh vượng chung các quốc gia.[52] Kuala Lumpur là địa điểm diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào năm 2005.[53]

Vệ binh vương thất ngoài cổng chính cung Istana Negara tại Kuala Lumpur.

Chính sách ngoại giao của Malaysia về chính thức là dựa trên nguyên tắc trung lập và duy trì các quan hệ hòa bình với tất cả các quốc gia, bất kể hệ thống chính trị của quốc gia đó.[54] Chính phủ đặt ưu tiên cao đối với an ninh và ổn định của Đông Nam Á,[53] và cố gắng phát triển hơn nữa mối quan hệ với các quốc gia khác trong khu vực. Về phương diện lịch sử, chính phủ cố gắng khắc họa Malaysia là một quốc gia Hồi giáo tiến bộ[54] trong khi tăng cường quan hệ với các quốc gia Hồi giáo khác.[53] Trong chính sách của Malaysia, có một nguyên lý kiên định là chủ quyền quốc gia và quyền của một quốc gia trong việc kiểm soát các công việc nội bộ.[36]
Chính phủ Malaysia theo chủ nghĩa thực dụng trong chính sách đối với các tranh chấp lãnh thổ, giải quyết các tranh chấp theo một số phương pháp, chẳng hạn như đưa vụ việc ra Tòa án Công lý Quốc tế.[55] Nhiều quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Brunei và Malaysia vào năm 2008 tuyên bố kết thúc tuyên bố chủ quyền đối với các vùng đất của nhau, và giải quyết các vấn đề liên quan đến biên giới trên biển. Philippines có tuyên bố chủ quyền không thi hành đối với Sabah. Hoạt động cải tạo đất của Singapore gây ra căng thẳng giữa hai bên, và Malaysia cũng có tranh chấp biên giới trên biển với Indonesia.[56]
Malaysia chưa từng công nhận Israel và không có quan hệ ngoại giao với quốc gia này.[57] Malaysia ủng hộ mạnh mẽ Nhà nước Palestine.[58] Lực lượng gìn giữ hòa bình của Malaysia hiện diện tại Liban[59] và Malaysia đóng góp vào nhiều sứ mệnh gìn giữ hòa bình khác của Liên Hiệp Quốc.[14][60]
Lực lượng Vũ trang Malaysia gồm ba nhánh là Hải quân Hoàng gia Malaysia, Lục quân Malaysia, và Không quân Hoàng gia Malaysia. Malaysia không thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự, độ tuổi cần thiết để thực hiện quân sự tự nguyện là 18. Quân đội sử dụng 1,9% GDP của quốc gia, và sử dụng 1,23% nhân lực của Malaysia.[61]
Thỏa thuận phòng thủ năm nước là một sáng kiến an ninh khu vực tồn tại trong gần 40 năm, liên quan đến các cuộc luyện tập quân sự chung được tổ chức giữa Malaysia, Singapore, Australia, New Zealand, và Anh Quốc.[62] Các cuộc tuyện tập quân sự và tập trận chung được tổ chức với Indonesia trong nhiều năm.[63] Malaysia và Philippines chấp thuận tổ chức luyện tập an ninh chung nhằm đảm bảo biên giới hàng hải và giải quyết các vấn đề như nhập cư bất hợp pháp.[64]

Địa lý

Malaysia là quốc gia lớn thứ 67 trên thế giới về diện tích đất liền, với 329.847 km2 (127.355 sq mi). Tây Malaysia có biên giới trên bộ với Thái Lan, Đông Malaysia có biên giới trên bộ với Indonesia và Brunei.[65] Malaysia kết nối với Singapore thông qua một đường đắp cao hẹp và một cầu. Malaysia có biên giới trên biển với Việt Nam[66] và Philippines.[67] Biên giới trên bộ được xác định phần lớn dựa trên các đặc điểm địa chất, chẳng hạn như sông Perlis, sông Golok và kênh Pagalayan, trong khi một số biên giới trên biển đang là chủ đề tranh chấp.[65] Brunei hầu như bị Malaysia bao quanh,[68] bang Sarawak của Malaysia chia Brunei thành hai phần. Malaysia là quốc gia duy nhất có lãnh thổ nằm cả trên lục địa châu Á và quần đảo Mã Lai.[69] Điểm cực nam của lục địa châu Á là Tanjung Piai, thuộc bang nam bộ Johor.[70] Eo biển Malacca nằm giữa đảo Sumatra và Malaysia bán đảo, đây là một trong các tuyến đường quan trọng nhất trong thương mại toàn cầu.[71]

Bãi biển trên đảo Tioman ở phía đông bán đảo Mã Lai.

Hai phần của Malaysia tách nhau qua biển Đông, tuy nhiên hai phần này có cảnh quan phần lớn là tương tự nhau với các đồng bằng duyên hải rồi cao lên đồi và núi.[65] Malaysia bán đảo chiếm 40% diện tích đất liền của Malaysia,[69] trải dài 740 km (460 mi) từ bắc xuống nam, và có chiều rộng tối đa là 322 km (200 mi).[72] Dãy Titiwangsa phân chia bờ biển đông và tây tại Malaysia bán đảo,[73] dãy núi này là một phần của hàng loạt dãy núi chạy từ phần trung tâm của bán đảo.[69] Các dãy núi này vẫn có rừng bao phủ dày đặc,[74] và có cấu tạo chủ yếu gồm đá hoa cương và các loại đá lửa khác. Nhiều phần trong đó bị xói mòn, tạo thành cảnh quan karst.[69] Dãy núi là đầu nguồn của một số hệ thống sông tại Malaysia bán đảo.[74] Các đồng bằng duyên hải bao quanh bán đảo, có chiều rộng tối đa là 50 kilômét (31 mi), và bờ biển của phần bán đảo dài 1.931 km (1.200 mi), song các bến cảng chỉ có ở bờ phía tây.[72]
Đông Malaysia nằm trên đảo Borneo, có bờ biển dài 2.607 km (1.620 mi).[65] Khu vực này bao gồm các miền ven biển, đồi và thung lũng, và nội lục đồi núi.[69] Dãy Crocker trải dài về phía bắc từ Sarawak,[69] phân chia bang Sabah. Trên dãy này có núi Kinabalu với cao độ 4.095,2 m (13.436 ft),[75] là núi cao nhất Malaysia. Núi Kinabalu được bảo vệ trong khuôn khổ Vườn quốc gia Kinabalu– một di sản thế giới của UNESCO.[76] Các dãy núi cao nhất tạo thành biên giới giữa Malaysia và Indonesia. quần thể hang Mulu tại Sarawak nằm trong số các hệ thống hang lớn nhất trên thế giới.[69]
Xung quanh hai phần của Malaysia là một số hòn đảo, lớn nhất trong số đó là đảo Banggi.[77] Malaysia có khí hậu xích đạo, điểm đặc trưng là gió mùa tây nam (tháng 4 đến tháng 10) và gió mùa đông bắc (tháng 10 đến tháng 2).[72] Các vùng biển xung quanh giúp điều hòa nhiệt độ cho Malaysia.[69] Ẩm độ thường cao, và lượng mưa trung bình hàng năm là 250 cm (98 in).[72] Khí hậu tại Bán đảo và Đông bộ khác biệt, thời tiết Bán đảo chịu ảnh hưởng trực tiếp từ gió thổi từ lục địa, trong khi Đông bộ có khí hậu mang tính hải dương hơn. Các khí hậu địa phương có thể phân thành: vùng cao, vùng thấp và vùng duyên hải. Biến đổi khí hậu có thể tác động đến mực nước biển và lượng mưa, tăng nguy cơ lũ lụt và dẫn đến hạn hán.[69]

Đa dạng sinh học

Malaysia ký kết Công ước đa dạng sinh vật học Rio vào ngày 12 tháng 6 năm 1993, và trở thành một bên của công ước vào ngày 24 tháng 6 năm 1994.[78] Sau đó, Malaysia đưa ra một kế hoạch chiến lược và hành động đa dạng sinh vật quốc gia, được công ước công nhận vào ngày 16 tháng 4 năm 1998.[79] Malaysia là một quốc gia đa dạng sinh vật siêu cấp với một lượng lớn các loài và có mức độ loài đặc hữu cao.[80] Theo ước tính, Malaysia có 20% số loài động vật trên thế giới.[81] Mức độ loài đặc hữu cao được phát hiện tại các khu rừng đa dạng ở vùng núi Borneo, các loài tại đây bị cô lập với các loài khác ở các khu rừng đất thấp.[69]

Kinh tế

tháp đôi Petronas tại Kuala Lumpur là trụ sở của công ty dầu quốc gia Petronas, cũng là tháp đôi cao nhất trên thế giới.

Malaysia là một nền kinh tế thị trường định hướng nhà nước tương đối mở và công nghiệp hóa mới.[82][83] Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong hướng dẫn hoạt động kinh tế thông qua các dự án kinh tế vĩ mô, song vai trò này đang giảm xuống. Malaysia sở hữu một trong những hồ sơ kinh tế tốt nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm trong giai đoạn từ 1957 đến 2005.[14] Năm 2011, GDP (PPP) của Malaysia là khoảng 450  tỷ đô la Mỹ, là nền kinh tế lớn thứ ba trong ASEAN và lớn thứ 29 trên thế giới.[84] Năm 1991, Thủ tướng Malaysia đương thời là Mahathir bin Mohamad phác thảo ý tưởng của ông trong “Tầm nhìn 2020”, theo đó Malaysia sẽ trở thành một quốc gia công nghiệp hóa tự túc vào năm 2020.[85] Thủ tướng thứ sáu là Najib Razak nói rằng Malaysia sẽ đạt đến tình trạng nước phát triển vào năm 2018, sớm hơn so với mục tiêu vào năm 2020, ông đưa vào thực hiện hai chương trình là Chương trình chuyển đổi chính phủ và Chương trình chuyển đổi kinh tế.[86]
Trong thập niên 1970, nền kinh tế dựa chủ yếu vào khai mỏ và nông nghiệp của Malaysia bắt đầu chuyển đổi hướng đến một nền kinh tế đa lĩnh vực hơn. Từ thập niên 1980, lĩnh vực công nghiệp, với đầu tư ở mức cao, dẫn dắt tăng trưởng của quốc gia.[14][87] Sau Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, kinh tế Malaysia phục hồi sớm hơn các quốc gia láng giềng, và kể từ đó phục hồi mức của thời kỳ tiền khủng hoảng với GDP bình quân đầu người là 14.800 đô la.[88][89] Bất bình đẳng kinh tế tồn tại giữa các dân tộc khác nhau, người Hoa chiếm khoảng một phần ba dân số song lại chiếm 70% giá trị vốn hóa thị trường của quốc gia.[90]

Malaysia là một trong những quốc gia sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới

Thương mại quốc tế của Malaysia có thuận lợi do nằm sát tuyến đường tàu thủy qua eo biển Malacca, và chế tạo là lĩnh vực then chốt.[91][92][93] Malaysia là một nước xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản, dầu mỏ là mặt hàng xuất khẩu chính.[14] Malaysia từng là nhà sản xuất lớn nhất các mặt hàng thiếc,[94] cao sudầu cọ trên thế giới. Lĩnh vực chế tạo có ảnh hưởng lớn trong kinh tế quốc gia,[95] song cấu trúc kinh tế của Malaysia đang chuyển ra khỏi tình trạng này.[96] Malaysia vẫn là một trong các nhà sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới.[97]
Chính phủ thúc đẩy sự gia tăng du lịch đến Malaysia trong một nỗ lực nhằm đa dạng hóa kinh tế và giảm sự phụ thuộc vào hàng xuất khẩu. Kết quả là du lịch trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn thứ ba của Malaysia, song nó đang bị đe dọa do những tác động tiêu cực từ ngành công nghiệp đang phát triển, với một lượng lớn khí thải và nước thải cùng với nạn phá rừng.[98] Từ năm 2013-2014, Malaysia được xếp là một trong những nơi tốt nhất để nghỉ hưu trên thế giới, đứng vị trí thứ 3 theo Chỉ số hưu trí toàn cầu. Đây là một trong những kết quả của chương trình “Malaysia My Second Home”, theo đó người ngoại quốc được phép sống tại Malaysia theo một thị thực trường trú lâu đến 10 năm.[99]
Malaysia phát triển thành một trung tâm của ngân hàng Hồi giáo, và là quốc gia có số nữ lao động cao nhất trong ngành này.[100] Các ngành dịch vụ dựa trên tri thức cũng phát triển.[96] Để tạo ra khả năng phòng thủ tự lực và hỗ trợ phát triển quốc gia, Malaysia tiến hành tư hữu hóa một số cơ sở quân sự của mình trong thập niên 1970. Hành động tư hữu hóa tạo ra ngành công nghiệp quốc phòng, đến năm 1999 thì nằm dưới sự quản lý của Hội đồng công nghiệp quốc phòng Malaysia. Chính phủ tiếp tục thúc đẩy lĩnh vực này và tính cạnh tranh của nó, tích cực tiếp thị công nghiệp quốc phòng.[101]
Bộ Khoa học, Công nghệ và Cách tân quy định các chính sách khoa học tại Malaysia. Malaysia nằm trong số các nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới về thiết bị bán dẫn, thiết bị điện tử, sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông.[14] Malaysia bắt đầu phát triển chương trình không gian một cách riêng rẽ vào năm 2002,[102][103] và đến năm 2006, Nga đồng ý vận chuyển một người Malaysia lên Trạm vũ trụ Quốc tế như là một phần trong thương vụ 18 chiến đấu cơ Sukhoi Su-30MKM trị giá nhiều tỷ đô la giữa hai bên.[104] Chính phủ Malaysia đầu tư kiến thiết các vệ tinh thông qua chương trình RazakSAT.[105]

Cơ sở hạ tầng

Malaysia có cơ sở hạ tầng thuộc hàng phát triển nhất tại châu Á.[106] Hệ thống viễn thông chỉ đứng sau Singapore tại Đông Nam Á, với 4,7 triệu thuê bao điện thoại cố định và trên 30 thuê bao điện thoại di động.[107][108] Malaysia có bảy cảng quốc tế, cảng chính là cảng Klang. Malaysia có 200 khu công nghiệp cùng với các chuyên khu như Khu Công nghệ Malaysia hay Khu Công nghệ cao Kulim.[109] Trong thời kỳ thuộc địa, sự phát triển chủ yếu tập trung các thành thị hùng mạnh về mặt kinh tế và tại các khu vực hình thành mối quan tâm về an ninh. Mặc dù các khu vực nông thôn được chú trọng, song vẫn tụt hậu so với các khu vực như bờ Tây của Malaysia bán đảo.[110]
Hệ thống đường bộ của Malaysia trải dài 98.721 kilômét (61.342 mi) và có 1.821 kilômét (1.132 mi) đường cao tốc.[65] Xa lộ dài nhất Malaysia là xa lộ Nam-Bắc với chiều dài trên 800 kilômét (497 mi) từ biên giới với Thái Lan đến biên giới với Singapore. Hệ thống đường bộ tại Đông Malaysia kém phát triển hơn và có chất lượng thấp hơn so với Malaysia bán đảo.[111] Malaysia có 118 sân bay, trong đó 38 có đường băng được lát. Hãng hàng không quốc gia chính thức là Malaysia Airlines, cung cấp dịch vụ hàng không quốc tế và quốc nội. Hệ thống đường sắt do nhà nước vận hành, có tổng chiều dài 1.849 kilômét (1.149 mi).[65] Các hệ thống đường sắt nhẹ trên cao có giá tương đối rẻ và được sử dụng tại một số thành phố như Kuala Lumpur.[112]
Theo truyền thống, sản xuất năng lượng tại Malaysia dựa vào dầu và khí đốt thiên nhiên.[113] Quốc gia có công suất phát điện 13 GW.[114] Tuy nhiên, Malaysia chỉ có dự trữ khí đốt thiên nhiên 33 năm, và dự trữ dầu 19 năm, trong khi nhu cầu năng lượng đang gia tăng. Nhằm ứng phó, chính phủ phát triển các nguồn năng lượng tái tạo.[113] 16% nguồn cung điện năng đến từ thủy điện, 84% còn lại đến từ nhiệt điện.[114] Công ty quốc hữu Petronas chi phối ngành dầu khí Malaysia.[115]

Nhân khẩu

Theo điều tra dân số năm 2010, dân số Malaysia là 28.334.135,[3] là quốc gia đông dân thứ 42 trên thế giới. Dân số Malaysia bao gồm nhiều dân tộc. Năm 2010, các công dân Malaysia chiếm 91,8% dân số,trong đó bumiputera là 67,4%,.[116] Theo định nghĩa trong hiến pháp, người Mã Lai là những tín đồ Hồi giáo thực hiện các phong tục và văn hóa Mã Lai. Họ đóng vai trò chi phối về mặt chính trị.[117] Thân thế Bumiputera cũng được trao cho các dân tộc bản địa, trong đó có người Thái, người Khmer, người Chăm và dân tộc bản địa tại Sabah và Sarawak. Những người Bumiputera phi Mã Lai chiếm hơn một nửa dân số bang Sarawak và hơn hai phần ba dân số bang Sabah.[65] Các nhóm thổ dân cũng hiện diện trên phần Malaysia bán đảo song với số lượng ít hơn nhiều, họ được gọi chung là Orang Asli.[118] Luật về cấp thân thế bumiputera khác biệt giữa các bang.[119]

Mật độ dân số tại Malaysia (người/km²)

Các nhóm thiểu số khác không có thân thế bumiputera chiếm một lượng khá lớn trong dân số. 24,6% dân số Malaysia có nguồn gốc Trung Quốc, trong khi những người có nguồn gốc Ấn Độ chiếm 7,3% dân số.[116] Người Hoa có lịch sử chi phối trong cộng đồng kinh doanh và thương mại, và chiếm đa số trong dân số bang Penang. Người Ấn Độ nhập cư đến Malaysia vào cuối thế kỷ 19.[120] Phần lớn cộng đồng người gốc Ấn Độ là người Tamil.[121]
Quyền công dân Malaysia không tự động cấp cho những người sinh ra tại Malaysia, song một trẻ em sinh tại ngoại quốc có cha mẹ là người Malaysia thì sẽ có quyền công dân Malaysia. Sở hữu quốc tịch kép không được phép tại Malaysia.[122] Công dân tại các bang Sabah và Sarawak trên phần đảo Borneo của Malaysia bị phân biệt với công dân của Malaysia bán đảo vì mục đích nhập cư. Mỗi công dân được cấp một thẻ nhận dạng chíp nhân trắc học thông minh được gọi là MyKad ở tuổi 12, và phải luôn mang theo thẻ.[123]
Trong hệ thống giáo dục tại Malaysia, mẫu giáo là không bắt buộc, giáo dục tiểu học 6 năm là bắt buộc, và giáo dục trung học 5 năm là tùy chọn.[124] Các trường học trong hệ thống tiểu học được phân thành hai loại: các trường tiểu học quốc gia dạy bằng tiếng Mã Lai, các trường thổ ngữ dạy bằng tiếng Hán hoặc tiếng Tamil.[125] Vào năm cuối trung học, các học sinh tham gia khảo thí Văn bằng giáo dục Malaysia.[126] Từ khi đưa vào chương trình dự khoa vào năm 1999, các học sinh hoàn thành chương trình 12 tháng tại các trường cao đẳng dự khoa có thể nhập học tại các đại học địa phương. Tuy nhiên, trong hệ thống dự khoa, chỉ 10% sỗ chỗ dành cho các sinh viên phi bumiputera.[127]
Tỷ suất tử vong của trẻ sơ sinh năm 2009 là 6‰, và tuổi thọ bình quân vào năm 2009 là 75 năm.[128] Với mục tiêu phát triển Malaysia thành một điểm đến du lịch y tế, 5% ngân sách phát triển lĩnh vực xã hội của chính phủ được dành cho chăm sóc sức khỏe.[129] Dân số tập trung tại Malaysia bán đảo[130] với 20 triệu người trong xấp xỉ 28 triệu cư dân Malaysia.[14] 70% cư dân sống tại đô thị.[65] Kuala Lumpur là thủ đô[65] và thành phố lớn nhất tại Malaysia,[131] cũng như là trung tâm thương mại và tài chính lớn.[132] Putrajaya là một thành phố được hình thành có mục đích từ năm 1999, và là nơi đặt trụ sở của chính phủ,[133] do nhiều nhánh hành pháp và tư pháp của chính phủ liên bang chuyển tới thành phố này nhằm giảm bớt sự đong đúc ngày càng tăng tại Kuala Lumpur.[134]
Do sự nổi lên của các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động,[135] ước tính có trên 3 triệu công nhân nhập cư tại Malaysia; tức khoảng 10% dân số.[136]

Tôn giáo

Hiến pháp Malaysia đảm bảo quyền tự do tôn giáo trong khi xác định Hồi giáo là quốc giáo.[138] Theo số liệu từ Điều tra dân số và nhà ở năm 2010, có sự tương liên cao giữa dân tộc và tôn giáo. Xấp xỉ 61,3% dân số thực hành Hồi giáo, 19,8% thực hành Phật giáo, 9,2% thực hành Ki-tô giáo, 6,3% thực hành Ấn Độ giáo và 1,3% thực hành Nho giáo, Đạo giáo và các tôn giáo truyền thống Trung Hoa. 0,7% tuyên bố là người không tôn giáo và 1,4% còn lại thực hành các tôn giáo khác hoặc không cung cấp thông tin nào.[3] Trong số tín đồ Hồi giáo, tín đồ phái Sunni chiếm đa số trong khi tín đồ Hồi giáo phi giáo phái là nhóm đông thứ hai với 18%.[139]

Thánh đường Hồi giáo Sultan Salahuddin Abdul Aziz tại Shah Alam, Selangor.

Theo Hiến pháp, toàn bộ người Mã Lai được xem là người Hồi giáo.[138] Số liệu từ cuộc điều tra dân số năm 2010 cho thấy rằng 83,6% người Trung Quốc xác định bản thân là Phật tử, và một lượng lớn các tín đồ theo Đạo giáo (3,4%) và Ki-tô giáo (11,1%), cùng với một nhóm nhỏ người Hồi sinh sống tại các khu vực như Penang. Phần lớn người Ấn Độ theo Ấn Độ giáo (86,2%), với một thiểu số quan trọng xác định bản thân là tín đồ Ki-tô giáo (6,0%) hay Hồi giáo (4,1%). Ki-tô giáo là tôn giáo chiếm ưu thế trong cộng đồng bumiputera phi Mã Lai (46,5%), và thêm 40,4% xác định bản thân là người Hồi giáo.[3]
Người Hồi giáo có nghĩa vụ phải tuân theo phán quyết của các tòa án Syariah trong các vấn đề liên quan đến tôn giáo của họ. Các thẩm phán Hồi giáo được cho là theo trường phái pháp luật Shafi`i của Hồi giáo, madh’hab chính của Malaysia.[140] Quyền hạn của các tòa án Shariah bị giới hạn trong cộng đồng người Hồi giáo trong các vấn đề như kết hôn, thừa kế, ly dị, bội giáo, cải đạo. Các tội và vi phạm dân sự khác thuộc thẩm quyền của các tòa án công dân, các tòa án công dân không thụ lý các vấn đề liên quan đến thực hành Hồi giáo.[141]

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thức tại Malaysia là tiếng Malaysia,[65] đây là một hình thái tiêu chuẩn hóa của tiếng Mã Lai.[142] Về mặt lịch sử, tiếng Anh là ngôn ngữ hành chính trên thực tế, tiếng Mã Lai chiếm ưu thế sau các cuộc bạo loạn sắc tộc năm 1969.[143] Theo Đạo luật ngôn ngữ quốc gia năm 1967, “chữ quốc ngữ sẽ là chữ cái Rumi [Latin]: quy định này sẽ không ngăn cấm việc sử dụng chữ Mã Lai, còn được gọi phổ biến hơn là chữ Jawi, đối với quốc ngữ.”[144]
Tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ thứ hai đang dùng, Đạo luật ngôn ngữ năm 1967 cho phép sử dụng tiếng Anh trong một số mục đích chính thức,[144] và tiếng Anh đóng vai trò là ngôn ngữ giảng dạy toán và khoa học trong toàn bộ các trường công.[145][146] Tiếng Anh Malaysia là một hình thái của tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Anh Anh. Tiếng Anh Malaysia được sử dụng rộng rãi trong giao dịch cùng với tiếng bồi bắt nguồn từ tiếng Anh là Manglish. Chính phủ ngăn cản việc sử dụng tiếng Mã Lai phi tiêu chuẩn.[147][148]
Nhiều ngôn ngữ khác được sử dụng tại Malaysia, tại quốc gia này có người nói 137 thứ ngôn ngữ đang tồn tại.[149] Malaysia bán đảo có người nói 41 ngôn ngữ trong số đó.[150] Các bộ lạc bản địa tại Đông Malaysia có ngôn ngữ riêng của họ, chúng có liên hệ song dễ dàng phân biệt với tiếng Mã Lai. Tiếng Iban là ngôn ngữ bộ lạc chính tại Sarawak trong khi những người bản địa tại Sabah nói nhóm ngôn ngữ Dusun.[151] Người Malaysia gốc Trung Quốc chủ yếu nói các phương ngôn có nguồn gốc từ các tỉnh Hoa Nam. Phương ngôn tiếng Hán phổ biến nhất tại Malaysia là tiếng Quảng Đông, Quan thoại, tiếng Phúc Kiến, tiếng Khách Gia, tiếng Hải Namtiếng Phúc Châu. Phần lớn người nói tiếng Tamil là người Tamil, họ là nhóm chiếm đa số trong cộng đồng người Malaysia gốc Ấn. Các ngôn ngữ Nam Á khác cũng được nói phổ biến tại Malaysia, cùng với tiếng Thái Lan[65] Một số lượng nhỏ người Malaysia có nguồn gốc da trắng và nói các ngôn ngữ bồi, như tiếng bồi Malacca dựa trên tiếng Bồ Đào Nha,[152] và tiếng Chavacano dựa trên tiếng Tây Ban Nha.[153]

Văn hóa

Malaysia là một xã hội đa dân tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ. Văn hóa ban đầu của khu vực bắt nguồn từ các bộ lạc bản địa, cùng với những người Mã Lai nhập cư sau đó. Văn hóa Malaysia tồn tại các ảnh hưởng đáng kể từ văn hóa Trung Quốcvăn hóa Ấn Độ, bắt nguồn từ khi xuất hiện ngoại thương. Các ảnh hưởng văn hóa khác đến từ văn hóa Ba Tư, Ả Rập và Anh Quốc. Do cấu trúc của chính phủ, cộng thêm thuyết khế ước xã hội, có sự đồng hóa văn hóa tối thiểu đối với các dân tộc thiểu số.[154]
Năm 1971, chính phủ ban hành một “Chính sách văn hóa quốc gia”, xác định văn hóa Malaysia. Theo đó, văn hóa Malaysia phải dựa trên các dân tộc bản địa của Malaysia, có thể dung nạp các yếu tố phù hợp từ các văn hóa khác, và rằng Hồi giáo phải đóng một vai trò trong đó.[155] Nó cũng thúc đẩy tiếng Mã Lai ở cao hơn các ngôn ngữ khác.[156] Sự can thiệp này của chính phủ vào văn hóa khiến các dân tộc phi Mã Lai bất bình và cảm thấy quyền tự do văn hóa của họ bị giảm đi. Các hiệp hội của người Hoa và người Ấn đều đệ trình các bị vong lục lên chính phủ, buộc tội chính phủ chế định một chính sách văn hóa phi dân chủ.[155]
Tồn tại một số tranh chấp văn hóa giữa Malaysia và các quốc gia láng giềng, đặc biệt là Indonesia. Hai quốc gia có một di sản văn hóa tương đồng, có chung nhiều truyền thống và hạng mục. Tuy nhiên, diễn ra tranh chấp về nhiều điều, từ các món ăn cho đến quốc ca của Malaysia. Tại Indonesia có cảm tình mạnh mẽ về việc bảo vệ di sản văn hóa quốc gia.[157] Chính phủ Malaysia và chính phủ Indonesia có sự tiếp xúc nhằm xoa dịu một số căng thẳng bắt nguồn từ trùng lặp văn hóa.[158] Tình cảm này không phải là mạnh tại Malaysia, tại đây hầu hết đều công nhận nhiều giá trị văn hóa là của chung.[157]
Nghệ thuật truyền thống Malaysia chủ yếu tập trung quanh các lĩnh vực chạm khắc, dệt và bạc.[159] Nghệ thuật truyền thống có phạm vi từ những giỏ đan thủ công tại vùng nông thôn cho đến ngân sức của các triều đình Mã Lai. Các đồ nghệ thuật phổ biến vao gồm dao găm (kris) trang sức, bộ giã hạt cau, vải dệt batiksongket. Người bản địa tại Đông Malaysia nổi tiếng với các mặt nạ bằng gỗ.[69] Mỗi dân tộc có nghệ thuật trình diễn riêng biệt, có ít sự trùng lặp giữa họ. Tuy nhiên, nghệ thuật Mã Lai thể hiện một số ảnh hưởng của Bắc Ấn Độ do ảnh hưởng lịch sử của Ấn Độ.[160]
Nghệ thuật âm nhạc và trình diễn Mã Lai có vẻ như bắt nguồn từ khu vực KelantanPattani với các ảnh hưởng từ Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia. Âm nhạc dựa trên các nhạc cụ gõ,[160] quan trọng nhất trong đó là gendang (trống). Có ít nhất 14 loại trống truyền thống.[161] Trống và các nhạc cụ gõ truyền thống khác thường được làm từ các vật liệu tự nhiên.[161] Âm nhạc về mặt truyền thống được sử dụng để phục vụ cho kể chuyện, các sự kiện kỷ niệm vòng đời, và các dịp như vụ gặt.[160] Nó từng được sử dụng làm một hình thức truyền thông đường dài.[161] Tại Đông Malaysia, các bộ nhạc cụ bắt nguồn từ cồng như agungkulintang được sử dụng phổ biến trong các dịp lễ như tang lễ và hôn lễ.[162] Các bộ nhạc cụ này cũng phổ biến tại các khu vực lân cận như tại Mindanao tại Philippines, Kalimantan tại Indonesia, và Brunei.[162]

Quốc ẩm và quốc thái của Malaysia.[163][164]

Malaysia mạnh về truyền thống truyền khẩu, loại hình này tồn tại từ trước khi văn bản xuất hiện tại khu vực, và tiếp tục tồn tại cho đến nay. Mỗi vương quốc hồi giáo Mã Lai hình thành các truyền thống văn học riêng, có ảnh hưởng từ các câu chuyện truyền khẩu có từ trước và các câu chuyện đến cùng với Hồi giáo.[165] Tác phẩm văn học Mã Lai đầu tiên được viết bằng chữ Ả Rập. Bản văn Mã Lai đầu tiên được biết đến được khắc trên đá Terengganu, thực hiện vào năm 1303.[69] Văn học Trung Quốc và Ấn Độ trở nên phổ biến khi số người nói các ngôn ngữ này tăng lên tại Malaysia, và các tác phẩm xuất bản bản địa dựa trên ngôn ngữ từ các khu vực này bắt đầu được xuất bản vào thế kỷ 19.[165] Tiếng Anh cũng trở thành một ngôn ngữ văn học phổ biến.[69] Năm 1971, chính phủ tiến hành bước đi nhằm hạn chế văn học bằng các ngôn ngữ khác. Văn học viết bằng tiếng Mã Lai được gọi là “văn học quốc gia của Malaysia”, văn học bằng các ngôn ngữ bumiputera khác được gọi là “văn học khu vực”, trong khi văn học viết bằng các ngôn ngữ khác được gọi là “văn học tầng lớp”.[156] Thơ Mã Lai có sự phát triển ở mức độ cao, sử dụng nhiều thể thơ, trong đó phổ biến là Hikayat, và pantun được truyền bá từ tiếng Mã Lai sang các ngôn ngữ khác.[165]
Ẩm thực của Malaysia phản ánh đặc điểm đa dân tộc của quốc gia.[166] Nhiều nền văn hóa đến từ bên trong quốc gia và các khu vực xung quanh có ảnh hưởng lớn đến với ẩm thực Malaysia. Phần lớn ảnh hưởng đến từ văn hóa Mã Lai, Trung Hoa, Ấn Độ, Thái Lan, Java, và Sumatra,[69] phần lớn là do quốc gia là một phần của con đường hương liệu cổ đại.[167] Ẩm thực Malaysia rất tương đồng với ẩm thực Singapore và Brunei,[168] và cũng mang các đặc điểm tương tự với ẩm thực Philippines.[69] Các bang khác nhau có sự biến đổi về món ăn.[168]

Truyền thông

Các báo chính của Malaysia thuộc sở hữu của chính phủ và các chính đảng trong liên minh cầm quyền,[169][170] song một số đảng đối lập lớn cũng có báo riêng, chúng được bán công khai cùng với các báo chí chính quy. Sự phân chia tồn tại giữa truyền thông tại hai phần của quốc gia. Truyền thông đặt tại Bán đảo kém ưu tiến đối với các tin tức đến từ phía Đông, và thường xem các bang phía Đông như là những thuộc địa của Bán đảo.[171] Người ta đổ lỗi cho truyền thông trong việc gia tăng căng thẳng giữa Indonesia và Malaysia, mang đến cho người dân Malaysia một hình ảnh xấu về người Indonesia.[172] Malaysia có các nhật báo bằng tiếng Mã Lai, tiếng Anh, tiếng Trung, và tiếng Tamil.[171]

Nghỉ lễ

Cực Lạc tự tại Penang trăng đèn để chuẩn bị đón tết Trung Quốc.

Malaysia cử hành một số ngày lễ và lễ hội trong năm, một số là ngày lễ toàn liên bang, và một số là ngày lễ của riêng từng bang. Các lễ hội khác do các nhóm dân tộc đặc thù cử hành, và ngày lễ chính của mỗi nhóm dân tộc chính được tuyên bố là ngày nghỉ công. Ngày nghỉ quốc gia được cử hành trang trọng nhất là Hari Merdeka (ngày Độc lập) vào 31 tháng 8, kỷ niệm sự kiện Liên hiệp bang Malaya độc lập vào năm 1957.[69] Ngày Malaysia được cử hành vào ngày 16 tháng 9 để kỷ niệm sự kiện thành lập liên bang vào năm 1963.[173] Ngày nghỉ quốc gia đáng chú ý khác là ngày Lao động (1 tháng 5) và sinh nhật Quốc vương.[69]
Các ngày nghỉ Hồi giáo nổi bật do Hồi giáo là quốc giáo; Hari Raya Puasa (cũng gọi là Hari Raya Aidilfitri, tên tiếng Mã Lai của Eid al-Fitr), Hari Raya Haji (cũng gọi là Hari Raya Aidiladha, tức Eid ul-Adha), Maulidur Rasul (sinh nhật của Tiên tri), và các ngày lễ khác được cử hành.[69] Người Malaysia gốc Hoa tổ chức các lễ hội như tết Trung Quốc và các lễ hội khác liên quan đến tín ngưỡng Trung Quốc truyền thống. Tín đồ Ấn Độ giáo tại Malaysia tổ chức Deepavali, lễ hội ánh sáng,[138] trong khi Thaipusam là một nghi thức tôn giáo và khi đó xuất hiện việc người hành hương từ khắp nước hội tụ về động Batu.[174] Cộng đồng Ki-tô giáo Malaysia tổ chức hầu hết các ngày lễ mà các Ki-tô hữu ở những nơi khác cử hành, đáng chú ý nhất là lễ Giáng sinh và Phục sinh. Người dân tại Đông Malaysia cũng tổ chức một lễ hội gặt hái mang tên Gawai.[175]

Thể thao

2011 Malaysian Grand Prix

Đường đua quốc tế Sepang trong Grand Prix Malaysia năm 2011, thu hút nhiều người hâm mộ tại Malaysia.

Các môn thể thao phổ biến tại Malaysia gồm bóng đá, cầu lông, khúc côn cầu, bóng gỗ, quần vợt, bóng quần, võ thuật, cưỡi ngựa, thuyền buồm, và trượt ván.[109] Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Malaysia và quốc gia đang nghiên cứu về khả năng ứng cử làm đồng chủ nhà của Cúp bóng đá thế giới năm 2034.[176] Các trận đấu cầu lông thu hút hàng nghìn khán giả, và kể từ năm 1948 thì Malaysia là một trong ba quốc gia từng giành chức vô địch Thomas Cup.[177] Liên đoàn bóng gỗ Malaysia được đăng ký vào năm 1997.[178] Các thành viên của quân đội Anh Quốc đưa môn bóng quần đến Malaysia, cuộc thi đấu đầu tiên được tổ chức vào năm 1939.[179] Hiệp hội bóng quần Malaysia được hình thành vào ngày 25 tháng 6 năm 1972.[180] Đội tuyển khúc côn cầu nam quốc gia của Malaysia xếp hạng thứ 13 thế giới vào tháng 11 năm 2013.[181] Cúp Khúc côn cầu thế giới lần thứ ba và lần thứ 10 được tổ chức tại Kuala Lumpur.[182] Malaysia cũng có đường đua công thức 1 riêng là Đường đua quốc tế Sepang. Đường đua tổ chức giải Grand Prix đầu tiên vào năm 1999.[183]
Hội đồng Olympic Malaya được hình thành vào năm 1953, và được IOC công nhận vào năm 1954. Malaysia lần đầu tiên tham gia Thế vận hội vào năm 1956 tại Melbourne. Hội đồng được đổi tên hành Hội đồng Olympic Malaysia vào năm 1964, và tham gia hầu hết các kỳ Thế vận hội kể từ khi ra đời (trừ Thế vận hội năm 1980 tại Moskva). Số vận động viên lớn nhất mà Malaysia cử tham gia Thế vận hội là 57 trong Thế vận hội Mùa hè 1972.[184] Các vận động viên Malaysia giành được tổng cộng sáu huy chương Thế vận hội, trong đó có năm huy chương tại môn cầu lông.[185] Quốc gia tranh tài trong Đại hội thể thao Thịnh vượng chung kể từ năm 1950 với tên Malaya, và năm 1966 với tên Malaysia, đại hội từng được tổ chức tại Kuala Lumpur vào năm 1998.[186][187]

Tham khảo

  1. ^ “Malaysian Flag and Coat of Arms”. Malaysian Government. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2013.
  2. ^ Derek Mackay (11 tháng 6 năm 2005). Eastern Customs: The Customs Service in British Malaya and the Opium Trade. The Radcliffe Press. tr. 240–. ISBN 978-1-85043-844-1. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013.
  3. ^ a ă â b “Population Distribution and Basic Demographic Characteristics”. Department of Statistics Malaysia. tr. 82. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2011.
  4. ^ a ă â b “Malaysia”. International Monetary Fund. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013.
  5. ^ “National Human Development Reports for Malaysia”. United Nations. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2013.
  6. ^ “Gini Index”. World Bank. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011.
  7. ^ “Delegation of the مليسيا domain representing Malaysia in Arabic”. Internet Assigned Numbers Authority. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013.
  8. ^ http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/ca_tbd/
  9. ^ Stephanie Holme (13 tháng 2 năm 2012). “Getaway to romance in Malaysia”. stuff.co.nz. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2014.
  10. ^ Fix, Alan G. (tháng 6 năm 1995). “Malayan Paleosociology: Implications for Patterns of Genetic Variation among the Orang Asli”. American Anthropologist, New Series 97 (2): 313–323. doi:10.1525/aa.1995.97.2.02a00090. JSTOR 681964.
  11. ^ Mühlhäusler, Peter; Tryon, Darrell T; Wurm, Stephen A (1996). Atlas of languages of intercultural communication in the Pacific, Asia and the Americas. Walter de Gruyer & Co. tr. 695. ISBN 978-3-11-013417-9.
  12. ^ Suarez, Thomas (1999). Early Mapping of Southeast Asia. Periplus Editions (HK) Ltd. tr. 46–47. ISBN 962-593-470-7.
  13. ^ S. Suporno (1979). “The Image of Majapahit in late Javanese and Indonesian Writing”. Trong A. Reid and D. Marr. Perceptions of the Past. Southeast Asia publications 4. Singapore: Heinemann Books for the Asian Studies Association of Australia. tr. 180.
  14. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o “Malaysia”. United States State Department. 14 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
  15. ^ Kent, Jonathan (3 tháng 3 năm 2005). “Chinese diaspora: Malaysia”. BBC News. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010.
  16. ^ Luscombe, Stephen. “The Map Room: South East Asia: Malaya”. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  17. ^ “The Encyclopædia Britannica: a dictionary of arts, sciences, literature and general information”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010.
  18. ^ Kuar, Amarjit. “International Migration and Governance in Malaysia: Policy and Performance”. University of New England. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2011.
  19. ^ J. M. Gullick (1967). Malaysia and Its Neighbours, The World studies series. Taylor & Francis. tr. 148–149. ISBN 9780710041418. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2013Bản mẫu:Inconsistent citations
  20. ^ Luscombe, Stephen. “The Map Room: South East Asia: North Borneo”. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2011.
  21. ^ Hock, David Koh Wee (2007). Legacies of World War II in South and East Asia. Institute of Southeast Asian Studies, Singapore. tr. 48. ISBN 978-981-230-457-5.
  22. ^ Mahathir Mohamad (31 tháng 5 năm 1999). “Our Region, Ourselves”. Time magazine. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  23. ^ “MALAYA: Token Citizenship”. Time magazine. 19 tháng 5 năm 1952. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  24. ^ “The Malayan Emergency: 1948-1960”. Australian Government Department of Veteran Affairs. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2011.
  25. ^ “Malaysia: Tunku Yes, Sukarno No”. Time magazine. 6 tháng 9 năm 1963. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010.
  26. ^ “Proclamation on Singapore”. Singapore Attorney-General. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010.
  27. ^ “Malaysia: The Art of Dispelling Anxiety”. Time magazine. 27 tháng 8 năm 1965. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  28. ^ “Race War in Malaysia”. Time magazine. 23 tháng 5 năm 1969. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  29. ^ a ă Jomo Kwame Sundaram (1 tháng 9 năm 2004). “The New Economic Policy and Interethnic Relations in Malaysia”. UNRISD. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010.
  30. ^ Spaeth, Anthony (9 tháng 12 năm 1996). “Bound for Glory”. Time magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011.
  31. ^ Lee Poh Ping; Tham Siew Yean. “Malaysia Ten Years After The Asian Financial Crisis”. Thammasat University. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
  32. ^ “Federal Territories and State Governments”. Malaysian government. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  33. ^ “Malaysia Districts”. Statoids. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  34. ^ “NRD: ‘H’ indicates holder is a Sabahan”. Daily Express. 5 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
  35. ^ a ă “Malaysia Information”. Federation of International Trade Associations. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010.
  36. ^ a ă â b “Malaysia country brief”. Australian Government Department of Foreign Affairs and Trade. 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2011.
  37. ^ “Background”. Parlimen Malaysia. 3 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
  38. ^ The management of secondary cities in southeast Asia. United Nations Centre for Human Settlements. 1996. tr. 120. ISBN 92-1-131313-9.
  39. ^ “Malaysia (Dewan Rakyat)”. Inter-Parliamentary Union. 29 tháng 9 năm 2008.
  40. ^ “Attacks on Justice – Malaysia”. International Commission of Jurists. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2011.
  41. ^ “Malaysian criminal court system”. Association of Commonwealth Criminal Lawyers. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2010.
  42. ^ “Malaysia rejects Christian appeal”. BBC News. 30 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
  43. ^ England, Vaudine (9 tháng 7 năm 2010). “Malaysian groups welcome first Islamic women judges”. BBC News. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
  44. ^ “The Death Penalty in Malaysia”. Government of the United Kingdom. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  45. ^ “Dasar Ekonomi Baru”. Pusat Maklumat Rakyat. 14 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010.
  46. ^ Jomo Kwame Sundaram (1 tháng 9 năm 2004). “The New Economic Policy and Interethnic Relations in Malaysia”. United Nations Research Institute for Social Development. ISSN 8194 1020 8194. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2011.
  47. ^ “Overview”. Association of Southeast Asian Nations. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2007.
  48. ^ “Islamic Affairs (OIC) and D8 Division”. Malaysian Ministry of Foreign Affairs. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010.
  49. ^ “List of Member States”. United Nations. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2007.
  50. ^ “Member Economies”. Asia-Pacific Economic Cooperation. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011.
  51. ^ “The Non-Aligned Movement: Member States”. Non-Aligned Movement. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010.
  52. ^ “Member States”. Commonwealth Secretariat. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  53. ^ a ă â “Malaysia Foreign Relations”. New Zealand Ministry of Foreign Affairs and Trade. 4 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  54. ^ a ă “Malaysia’s Foreign Policy”. Ministry of Foreign Affairs (Malaysia). Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010.
  55. ^ “Malaysia’s policy towards its 1963–2008 territorial disputes”. Academic Journals. 7 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
  56. ^ “Disputed – International”. CIA. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  57. ^ “Malaysia: Anti-Semitism without Jews”. Jerusalem Center for Public Affairs. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010.
  58. ^ “Malaysia can be Muslim ‘thought leader’ – Clinton”. New Straits Times. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010.
  59. ^ “Peacekeeping in Lebanon: A Necessary but Insufficient Risk”. Real Instituto Elcano. 10 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013. “Bangladesh has offered 1,500; Indonesia, 1,000; Malaysia, 1,000; and Nepal, 850. Israel is reluctant to accept the first three because they are Muslim countries that have not formally recognised the Jewish state, making their participation uncertain.”
  60. ^ “Malaysia – Permanent Missions to the United Nations”. United Nations. 12 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  61. ^ “Malaysian Military statistics”. NationMaster. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
  62. ^ “Australia says major military exercise underway in Malaysia”. My Sinchew. 26 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
  63. ^ “Indonesia-Malaysia military exercises must continue – defence minister”. ANTARA News. 13 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
  64. ^ “Malaysia, Philippines committed to enhancing border security”. My Sinchew. 9 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  65. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Malaysia”. CIA. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  66. ^ “To Reduce Conflicts, Indonesia and Malaysia Should Meet Intensively”. Universitas Gadjah Mada. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  67. ^ Prescott, John Robert Victor; Schofield, Clive H (2001). Undelimited maritime boundaries of the Asian Rim in the Pacific Ocean. International Boundaries Research Unit. tr. 53. ISBN 1-897643-43-8.
  68. ^ “Brunei”. CIA. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2011.
  69. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô World and Its Peoples: Malaysia, Philippines, Singapore, and Brunei. Marshall Cavendish Corporation. 2008. tr. 1160, 1166–1171, 1218–1222. ISBN 978-0-7614-7642-9.
  70. ^ Leow Cheah Wei (3 tháng 7 năm 2007). “Travel Times”. New Straits Times. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  71. ^ Schuman, Michael (22 tháng 4 năm 2009). “Waterway To the World – Summer Journey”. Time magazine. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2011.
  72. ^ a ă â b Saw, Swee-Hock (2007). The population of Peninsular Malaysia. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 1–2. ISBN 978-981-230-730-9.
  73. ^ Stevens, Alan M. (2004). Kamus Lengkap Indonesia Inggris. Ohio University Press. tr. 89. ISBN 979-433-387-5.
  74. ^ a ă “Main Range (mountains, Malaysia)”. Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
  75. ^ Richmond, Simon (2010). Malaysia, Singapore & Brunei. Lonely Planet. tr. 366. ISBN 978-1-74104-887-2.
  76. ^ “Mount Kinabalu – revered abode of the dead”. Ecology Asia. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2010.
  77. ^ T. Daw (tháng 4 năm 2004). Reef Fish Aggregations in Sabah, East Malaysia. Western Pacific Fisher Survey series 5. Society for the Conservation of Reef Fish Aggregations. tr. 17.
  78. ^ “List of Parties”. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2012.
  79. ^ “Malaysia’s National Policy on Biological Diversity”. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  80. ^ “Biodiversity Theme Report”. Australian Government Department of the Environment, Water, Heritage and the Arts. 2001. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2009.
  81. ^ Alexander, James (2006). Malaysia Brunei & Singapore. New Holland Publishers. tr. 46–50. ISBN 1-86011-309-5.
  82. ^ Boulton, WilliaM; Pecht, Michael; Tucker, William; Wennberg, Sam (tháng 5 năm 1997). “Electronics Manufacturing in the Pacific Rim, World Technology Evaluation Center, Chapter 4: Malaysia”. The World Technology Evaluation Center, Inc. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010.
  83. ^ “Malaysia, A Statist Economy”. Infernalramblings. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010.
  84. ^ “Country Comparison:: GDP (Purchasing Power Parity)”. CIA. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2011.
  85. ^ Mahathir Bin Mohamad (17 tháng 11 năm 2008). “The Way Forward”. Prime Minister’s Office.
  86. ^ Herdaru Purnomo (4 tháng 7 năm 2013). “5 Tahun Lagi Malaysia Pede Jadi Negara Maju, RI Kapan Ya?” (bằng Indonesian). Detik Finance. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  87. ^ H. Osman-Rani, Kin Woon Toh, Anuwar Ali (1986). Effective mechanisms for the enhancement of technology and skills in Malaysia. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 1. ISBN 978-9971-988-34-0.
  88. ^ Bożyk, Paweł (2006). “Newly Industrialized Countries”. Globalization and the Transformation of Foreign Economic Policy. Ashgate Publishing Ltd. tr. 164. ISBN 0-7546-4638-6.
  89. ^ Mankiw, N. Gregory (2007). Principles of Economics (ấn bản 4). ISBN 0-324-22472-9.
  90. ^ Chau, Amy. “Minority rule, majority hate”. Asia Times. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2010.
  91. ^ “The Security of The Straits of Malacca and Its Implications to The South East Asia Regional Security”. Office of The Prime Minister of Malaysia. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2010.
  92. ^ “BNM National Summary Data Page”. Bank Negara Malaysia. 30 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2010.
  93. ^ Schuman, Michael (22 tháng 4 năm 2009). “How to Defeat Pirates: Success in the Strait”. Time.
  94. ^ “TED Case Studies: Tin Mining In Malaysia – Present And Future”. American University. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  95. ^ “BNM National Summary Data Page”. Bank Negara Malaysia. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010.
  96. ^ a ă “WHO Western Pacific Region – 2006 – Malaysia – Political and socioeconomic situation”. WHO. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010.
  97. ^ Clover, Charles (10 tháng 6 năm 2007). “Malaysia defends palm oil production”. The Telegraph. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010.
  98. ^ Heidi, Munan; Yee, Foo Yuk (2001). Malaysia. Benchmark Books. tr. 28, 36–37. ISBN 0-7614-1351-0.
  99. ^ T. Avineshwaran (8 tháng 1 năm 2014). “M’sia listed as 3rd best place to retire”. Jakarta Post. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2014.
  100. ^ Gooch, Liz (tháng 9 năm 2010). “A Path to Financial Equality in Malaysia”. International Herald Tribune (The New York Times Company). Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
  101. ^ Pike, John. “Malaysia Defence Industry”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
  102. ^ Agensi Angkasa Negara. “About Us – Our Organization”. Government of Malaysia, National Space Agency (ANGKASA). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2011.
  103. ^ Kent, Jonathan (28 tháng 8 năm 2005). “Malaysia has high hoped for moon”. BBC News. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
  104. ^ “Malaysian astronaut to fly to ISS in 2007”. Ria Novosti. 19 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010.
  105. ^ “RM200mil for RazakSAT-2 satellite programme”. 9 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2013.
  106. ^ “Why Malaysia”. Malaysia Industrial Development Authority. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011.
  107. ^ “Malaysian Telecommunications Overview”. American University. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011.
  108. ^ “Telephones – mobile celluar”. CIA world factbook. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011.
  109. ^ a ă Guidebook on Expatriate Living in Malaysia. Malaysia Industrial Development Authority. Tháng 5 năm 2009. tr. 8–9, 69.
  110. ^ “Infrastructure and Rural Development in Malaysia”. Centre on Integrated Rural Development for Asia and the Pacific. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2011.
  111. ^ Mody, Ashoka (1997). Infrastructure strategies in East Asia: the untold story. The World Bank. tr. 35. ISBN 0-8213-4027-1.
  112. ^ Richmond, Simon; Cambon, Marie; Harper, Damian (2004). Malaysia, Singapore & Brunei. Lonely Planet. tr. 10. ISBN 978-1-74059-357-1.
  113. ^ a ă Salsuwanda Selamat and Che Zulzikrami Azner Abidin. “Renewable Energy and Kyoto Protocol: Adoption in Malaysia”. Universiti Malaysia Perlis. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  114. ^ a ă “National Energy Grid of Malaysia – National Electricity Transmission Grid of Malaysia”. Global Energy Network Institute. 28 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010.
  115. ^ “Malaysia”. United States Energy Information Administration. 3 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  116. ^ a ă “Population Distribution and Basic Demographic Characteristic Report 2010 (Ethnic composition)”. Department of Statistics Malaysia. 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2013.
  117. ^ Robin Brant (4 tháng 3 năm 2008). “Malaysia’s lingering ethnic divide”. BBC News. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2013.
  118. ^ Gomes, Alberto G. (2007). Modernity and Malaysia: settling the Menraq forest nomads. Taylor & Francis Group. tr. 10. ISBN 0-203-96075-0.
  119. ^ “PM asked to clarify mixed-race bumiputra status”. The Star. 4 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  120. ^ Baradan Kuppusamy (24 tháng 3 năm 2006). “Racism alive and well in Malaysia”. Asia Times. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010.
  121. ^ West, Barbara A. (2009). Encyclopedia of the Peoples of Asia and Oceania, Volume 1. Facts on File inc. tr. 486. ISBN 0-8160-7109-8.
  122. ^ “Malaysia: Citizenship laws, including methods by which a person may obtain citizenship; whether dual citizenship is recognized and if so, how it is acquired; process for renouncing citizenship and related documentation; grounds for revoking citizenship”. Immigration and Refugee Board of Canada. 16 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
  123. ^ Leow Yong May (30 tháng 8 năm 2007). “More than just a card”. The Star. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2010.
  124. ^ M. Nozawa, C. Wing, S. Chaiyasook (2011). Secondary Education Regional Information Base: Country Profile – Malaysia (PDF). Bangkok: UNESCO. tr. 4 (12). ISBN 978-92-9223-374-7Bản mẫu:Inconsistent citations
  125. ^ Mustafa, Shazwan (22 tháng 8 năm 2010). “Malay groups want vernacular schools abolished”. The Malaysian Insider. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  126. ^ “Secondary School Education”. Malaysian Government. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  127. ^ Saw, Swee-Hock; Kesavapany, K. (2006). Malaysia: recent trends and challenges. Institute of Southeast Asian Studies. tr. 259. ISBN 981-230-339-1.
  128. ^ “Malaysia – Statistics”. UNICEF. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011.
  129. ^ “Mission, Vision & Background”. Ministry of Health Malaysia. 3 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2010.
  130. ^ Hassan, Asan Ali Golam (2004). Growth, structural change, and regional inequality in Malaysia. Ashgate Publishing Ltd. tr. 12. ISBN 0-7546-4332-8.
  131. ^ “Tourism Malaysia Corporate Website”. Tourism Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  132. ^ “Vision & Goals of Kuala Lumpur”. Portal Rasmi Dewan Bandaraya Kuala Lumpur. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  133. ^ “Putrajaya – Federal Administrative Capital”. Malaysian Government. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  134. ^ Ho, Chin Siong (2006). “Putrajaya – Administrative Centre of Malaysia – Planning Concept and Implementation”. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2010.
  135. ^ Permatasari, Soraya (13 tháng 7 năm 2009). “As Malaysia deports illegal workers, employers run short”. New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  136. ^ Kent, Jonathan (29 tháng 10 năm 2004). “Illegal workers leave Malaysia”. BBC News. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2010.
  137. ^ “Malaysia: largest cities and towns and statistics of their population”. World Gazetteer. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2010.
  138. ^ a ă â “Malaysia – Religion”. Asian Studies Center – Michigan State University. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011.
  139. ^ Chapter 1: Religious Affiliation retrieved 4 September 2013
  140. ^ Peletz, Michael G. (2002). Islamic modern: religious courts and cultural politics in Malaysia. Princeton University Press. tr. 84–85. ISBN 0-691-09508-6.
  141. ^ Mahathir, Marina (17 tháng 8 năm 2010). “Malaysia moving forward in matters of Islam and women by Marina Mahathir”. Common Ground News Service. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
  142. ^ “Malay, Standard”. Ethnologue. 2009. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
  143. ^ Andaya, Barbara Watson; Andaya, Leonard Y. (1982). A History of Malaysia. MacMillan Press Ltd. tr. 26–28, 61, 151–152, 242–243, 254–256, 274, 278. ISBN 0-333-27672-8.
  144. ^ a ă National Language Act 1967
  145. ^ “PAGE hands in second memorandum”. The Star. 9 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2010. “Deputy Prime Minister Tan Sri Muhyiddin Yassin announced last year that the policy of Teaching of Mathematics and Science in English (known by its Malay acronym, PPSMI) would be scrapped from 2012.”
  146. ^ “Malaysia Ends Use of English in Science and Math Teaching”. The New York Times. 8 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  147. ^ Zimmer, Benjamin (5 tháng 10 năm 2006). “Language Log: Malaysia cracks down on “salad language””. University of Pennsylvania. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010.
  148. ^ “Dewan Bahasa champions use of BM in ads”. New Straits Times. 14 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013.
  149. ^ “Ethnologue report for Malaysia”. Ethnologue. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010.
  150. ^ “Ethnologue report for Malaysia (Peninsular)”. Ethnologue. Bản gốc lưu trữ 2010. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2010.
  151. ^ Adelaar, Alexander; Himmelmann, Nikolaus P. (2005). The Austronesian languages of Asia and Madagascar. Taylor and Francis Group. tr. 56, 397. ISBN 0-7007-1286-0.
  152. ^ Hancock, I. F. (1975). “Malaysian Creole Portuguese: Asian, African or European?”. Anthropological Linguistics (University of Texas) 17 (5): 211–236. JSTOR 30027570.
  153. ^ Michaelis, Susanne (2008). Roots of Creole structures. John Benjamins Publishing Co. tr. 279. ISBN 978-90-272-5255-5.
  154. ^ R. Raghavan (1977 (No. 4)). “Ethno-racial marginality in West Malaysia: The case of the Peranakan Hindu Melaka or Malaccan Chitty community”. Bijdragen tot de Taal-, Land- en Volkenkunde 133 (Royal Netherlands Institute of Southeast Asian and Caribbean Studies). tr. 438–458. ISSN 0006-2294. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2010.
  155. ^ a ă “Cultural Tourism Promotion and policy in Malaysia”. School of Housing, Building and Planning. 22 tháng 10 năm 1992. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  156. ^ a ă Van der Heide, William (2002). Malaysian cinema, Asian film: border crossings and national cultures. Amsterdam University Press. tr. 98–99. ISBN 90-5356-580-9.
  157. ^ a ă Schonhardt, Sara (3 tháng 10 năm 2009). “Indonesia cut from a different cloth”. Asia Times. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  158. ^ “Indonesia, Malaysia agree to cool tension on cultural heritage dispute”. People Daily. 17 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  159. ^ George Dunford (2006). Southeast Asia on a Shoestring. Lonely Planet. tr. 419–. ISBN 978-1-74104-444-7.
  160. ^ a ă â Miller, Terry E.; Williams, Sean (2008). The Garland handbook of Southeast Asian music. Taylor and Francis Group. tr. 223–224. ISBN 0-203-93144-0.
  161. ^ a ă â Gateway to Malay culture. Asiapac Books Ptd Ltd. 2003. tr. 110. ISBN 981-229-326-4.
  162. ^ a ă Matusky, Patricia Ann; Sooi Beng Tan (2004). The Music of Malaysia: The Classical, Folk, and Syncretic Traditions. Ashgate Publishing Ltd. tr. 177–187. ISBN 978-0-7546-0831-8. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010.
  163. ^ “Lipton urges Malaysians to take pride in teh tarik, our national beverage”. New Sabah Times. 7 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013.
  164. ^ Dwayne A. Rules (7 tháng 4 năm 2011). “Nasi lemak, our ‘national dish’”. The Star. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2013.
  165. ^ a ă â Mohd Taib Osman. “Languages and Literature”. The Encyclopedia of Malaysia. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  166. ^ Eckhardt, Robyn (1 tháng 6 năm 2008). Kuala Lumpur Melaka & Penang. Lonely Planet. tr. 42. ISBN 978-1-74104-485-0.
  167. ^ Jarvis, Alice-Azania (13 tháng 10 năm 2010). “Far Eastern cuisine: Fancy a Malaysian? – Features, Food & Drink”. The Independent. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  168. ^ a ă Richmond, Simon (2010). Malaysia, Singapore & Brunei. Lonely Planet. tr. 70, 72. ISBN 978-1-74104-887-2.
  169. ^ Ahmad, Razak (5 tháng 2 năm 2010). “Malaysian media shapes battleground in Anwar trial”. Reuters. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  170. ^ “Malaysian opposition media banned”. BBC News. 23 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  171. ^ a ă “The East-West divide of Malaysian media”. Malaysian Mirror. 9 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  172. ^ “Comment: Anwar blames Malaysian media”. The Jakarta Post. 28 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010.
  173. ^ Yeng Ai Chun (19 tháng 10 năm 2009). “Malaysia Day now a public holiday, says PM”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2011.
  174. ^ “Batu Caves, Selangor”. Tourism Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  175. ^ Hutton, Wendy (1997). East Malaysia and Brunei. Periplus Editions (HK) Ltd. tr. 169. ISBN 962-593-180-5.
  176. ^ “’Asean to bid for 2034 FIFA World Cup’”. The Brunei Times. 16 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  177. ^ “History of Badminton”. SportsKnowHow.com. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2011.
  178. ^ “Malaysia Lawn Bowls Federation”. 88DB.com. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.
  179. ^ John Nauright; Charles Parrish (2012). Sports Around the World: History, Culture, and Practice. ABC-CLIO. tr. 250–. ISBN 978-1-59884-300-2.
  180. ^ “History of SRAM”. a Racquets Association of Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  181. ^ “FIH Men’s World Rankings – 25 November 2013”. International Hockey Federation. 25 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.
  182. ^ “History of Hockey World Cup”. Times of India. 27 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010.
  183. ^ Novikov, Andrew. “Formula One Grand Prix Circuits”. All Formula One Info. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
  184. ^ “Olympic Games – History”. The Olympic Council of Malaysia. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.
  185. ^ “Previous Olympic Games Medal Tally”. Olympic Council of Malaysia. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2013.
  186. ^ Rueben Dudley (13 tháng 9 năm 2010). “Doing Malaysia proud”. The Sun Daily. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  187. ^ “Commonwealth Games Federation, History and Tradition of Commonwealth Games, Edinburgh, Bendigo, Pune”. Commonwealth Youth Games 2008. 14 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2010.

Liên kết ngoài

Chính phủ
Thông tin chung
Du lịch
Giáo dục


Trinidad và Tobago

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hòa Trinidad và Tobago
Flag of Trinidad and Tobago.svg Coat of arms of Trinidad and Tobago.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Trinidad và Tobago
Khẩu hiệu
“Together we aspire, together we achieve”
Quốc ca
Forged From The Love of Liberty
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa Nghị viện
Tổng thống George Maxwell Richards
Thủ tướng Kamla Persad-Bissessar
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Anh (chính thức), Tây Ban Nha (tình trạng đặc biệt)[1]
Thủ đô Port of Spain
10°40′B, 61°31′T
thị trấn Chaguanas [1]
Địa lý
Diện tích 5.128 km²
1.979 mi² (hạng 172)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ UTC-4
Lịch sử
31 tháng 8 năm 1962 từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Dân cư
Tên dân tộc Trinidadian, Tobagonian
Dân số ước lượng (Tháng 7 2005) 1.305.000 người (hạng 152)
Mật độ (hạng 47th)538.6 người/mi²
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: $18.352 billion (hạng 113th)
Bình quân đầu người: $19.700 (hạng 46th)
HDI (2007) Green Arrow Up Darker.svg 0.814 cao (hạng 59th)
Đơn vị tiền tệ Đôla Trinidad và Tobago (TTD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .tt
Mã điện thoại 1-868

Trinidad và Tobago, tên chính thức Cộng hoà Trinidad và Tobago, là một nước nằm ở phía nam Biển Caribe, 11 km (7 dặm) ngoài khơi bờ biển Venezuela. Nó nằm trong khoảng 10°2′-11°12′ Bắc và 60°30′-61°56′ Tây.
Nước này là một đảo quốc[1] gồm hai đảo chính, TrinidadTobago, và 21 đảo nhỏ với tổng diện tích 5.128 km² hay 1.864 mi². Ước tính dân số vào tháng 7 năm 2006 là 1.065.842 người. Chiều dài trung bình của Trinidad là 80 km và chiều rộng trung bình là 59 km. Tobago là 41 km dài và 12 km ở điểm rộng nhất.
Đảo lớn và đông dân hơn là Trinidad (nghĩa là “Hòn đảo của Thiên Chúa Ba Ngôi” – Trinity), trong khi Tobago nhỏ hơn (303 km² hay 116 mi²; khoảng 6% tổng diện tích) và dân cư thưa thớt hơn (50.000 người; hay 5% tổng dân số). Các công dân chính thức được gọi là “người Trinidad” hay “người Tobago” hay “công dân của Trinidad và Tobago”, nhưng người Trinidad thường để chỉ người Trinis còn cả người Trinidad và người Tobago thường được gọi là Trinbagonians.
Không giống hầu hết các nước nói tiếng Anh ở vùng Caribbe, Trinidad và Tobago là một nước chủ yếu công nghiệp hóa với nền kinh tế dựa vào dầu mỏhóa dầu. Những con cháu của người Châu Phi và người Ấn Độ chiếm tới 80% dân số, phần còn lại chủ yếu là những người nhiều dòng máu với một số lượng nhỏ người châu Âu, người Hoangười Ả Rập Saudingười Syriangười Liban. Trinidad và Tobago nổi tiếng về Lễ hội Carnival tiền-Lenten và là nơi ra đời của nhạc cụ steelpan, điệu nhạc calypso và lối khiêu vũ limbo.
Thủ đô Port-of-Spain, với dân số vùng đô thị khoảng 350.000 người, hiện là ứng cử viên hàng đầu để trở thành nơi đóng trụ sở của Ban thư ký thường trực Vùng thương mại tự do Châu Mỹ (FTAA-ALCA).

Lịch sử

Cả Trinidad và Tobago đều đã từng là nơi cư trú của người da đỏ có nguồn gốc Nam Mỹ. Ít nhất, ở thời kỳ tiền nông nghiệp Archaic đã có người sinh sống tại Trinidad từ 7.000 năm trước, biến nó trở thành phần lục địa Caribbean có người sinh sống sớm nhất. Những dân tộc nông nghiệp sử dụng đồ gốm đã định cư tại Trinidad khoảng năm 250 TCN và sau đó di chuyển tới dãy Lesser Antilles. Khi người châu Âu tới đây, Trinidad là lãnh thổ của nhiều bộ tộc sử dụng các ngôn ngữ ArawakanCariban gồm Nepoya, Suppoya và Yao; trong khi Tobago thuộc quyền kiểm soát của Đảo CaribsGalibi. Tên gọi Trinidad của người da đỏ là Kairi hay Iere thường được dịch thành “Vùng đất của loài Chim ruồi“, dù nhiều người khác cho rằng nó chỉ đơn giản có nghĩa là “hòn đảo”. Cristoforo Colombo đã tới đảo Trinidad vào ngày 31 tháng 7 năm 1498 và đặt tên nó theo Chúa ba ngôi (Trinity). Colpmbo cũng đã nhìn thấy Tobago, mà ông gọi là Bella Forma, nhưng ông không đổ bộ lên đảo này. Cái tên Tobago có lẽ bắt nguồn từ chữ tobacco (thuốc lá).
Buổi đầu người Tây Ban Nha thiết lập cơ sở tại Trinidad, nhưng vì thiếu dân tới định cư nên cuối cùng họ cho phép tất cả mọi người châu Âu theo Cơ đốc giáo định cư trên hòn đảo, dẫn tới những cuộc di cư từ Pháp và các nước khác. Trong lúc đó, Tobago hết thuộc quyền cai trị của Anh đến Pháp đến Hà LanCourland. Anh đã củng cố quyền lực của mình trên cả hai hòn đảo trong thời gian Chiến tranh Napoléon, và họ gộp chúng vào thành thuộc địa Trinidad và Tobago năm 1889. Vì những cuộc tranh giành thuộc địa đó, những tên địa điểm theo tiếng của thổ dân châu Mỹ, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháptiếng Anh rất phổ biến tại quốc gia này. Những người nô lệ châu Phi, người Ấn Độ, Trung Quốc, Bồ Đào Nha và những người lao động tự do từ châu Phi đã tới đây bổ sung vào lực lượng lao động trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Những cuộc di cư từ BarbadosLesser Antilles, VenezuelaSyriaLiban cũng đã mang lại ảnh hưởng về mặt chủng tộc trên đất nước này.
Dù ban đầu là một thuộc địa với míacacao là hai sản phẩm chủ lực của nền kinh tế ở thời điểm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sau sự giảm sút sản lượng cacao (vì bệnh dịch và cuộc Đại khủng hoảng) dầu mỏ dần chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng và sự gia tăng thị phần dầu mỏ trong nền kinh tế dẫn tới những thay đổi trong cấu trúc xã hội.
Sự hiện diện của những căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại ChaguaramasCumuto ở Trinidad trong Thế chiến thứ hai đã làm thay đổi căn bản tính chất xã hội. Trong giai đoạn hậu chiến, làn sóng giải thực diễn ra khắp Đế quốc Anh dẫn tới sự thành lập Liên bang Tây Ấn năm 1958 như bước đầu tiên giành lại độc lập. Chaguaramas được đề xuất trở thành thủ đô của liên bang. Liên bang đã giải thể sau khi Jamaica rút lui, và Trinidad và Tobago đã lựa chọn độc lập năm 1962.
Năm 1970, một số sinh viên đã tụ tập trước sứ quán Canada để phản đối khoản lệ phí visa cho sinh viên, ở thời ấy là kiểu bắt chước làn sóng nhân quyền thập niên 1960 tại Bắc Mỹ. Kết quả là cái mà ngày nay chúng ta gọi là Những cuộc nổi loạn quyền lực đen năm 1970[cần dẫn nguồn].
Năm 1976 nước này chấm dứt các quan hệ với chế độ quân chủ Anh và trở thành một nước cộng hoà bên trong Khối thịnh vượng chung Anh.
Năm 1990, 114 người thuộc Jamaat al Muslimeen, do Yasin Abu Bakr (trước đó thường được gọi là Lennox Phillip) lãnh đạo, đã xông vào Nghị viện Trinidad & Tobago tại Nhà Đỏ, và đài truyền hình duy nhất đất nước ở thời điểm đó, giữ chính phủ làm con tin trong sáu ngày. Vụ này đã được giải quyết và từ đó đất nước hoàn toàn thanh bình.
Dầu mỏ, hóa dầu và khí tự nhiên tiếp tục là xương sống của nền kinh tế quốc gia. Du lịch cũng là một nhân tố chủ chốt của kinh tế Tobago, và hòn đảo này vẫn là điểm đến ưa thích của nhiều khách du lịch châu Âu. Trinidad và Tobago là một trong những quốc gia thịnh vượng nhất vùng Caribbean, dù đã có sút kém so với thời “bùng nổ dầu mỏ” trong khoảng giữa 19731983.
Năm 1991, Patrick Manning được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Trong nhiều năm, giới lãnh đạo phải đương đầu với các cuộc nổi dậy của nhân dân phát sinh từ những khó khăn kinh tế và những đối kháng của thành phần cấp tiến. Tình trạng thất nghiệp và dư thừa nhân công là một trong những vấn đề dai dẳng ở đảo quốc này vàphần lớn nhân dân đòi Chính phủ quốc hữu hóa các ngành công nghiệp sản xuất đườngdầu mỏ hiện đang thuộc quyền kiểm soát của các công ty nước ngoài.

Chính trị

Trinidad và Tobago là một quốc gia theo chính thể dân chủ tự do với một hệ thống lưỡng đảng và hệ thống quốc hội lưỡng viện dựa trên Hệ thống Westminster. Quốc trưởng của Trinidad và Tobago là Tổng thống, hiện nay là Giáo sư danh dự George Maxwell Richards. Lãnh đạo chính phủThủ tướng. Tổng thống được bầu ra bởi một Ủy ban bầu cử gồm toàn bộ các thành viên của hai viện Nghị viện. Thủ tướng được Tổng thống chỉ định. Tổng thống buộc phải chỉ định lãnh đạo của đảng nào mà ông cho là được nhiều thành viên trong nghị viện ủng hộ nhất vào chức vụ đó; thường đó là lãnh đạo đảng giành được số ghế nhiều nhất trong cuộc bầu cử trước đó (trừ trường hợp cuộc Tổng tuyển cử năm 2001).
Nghị viện gồm hai cấp, Thượng viện (31 thành viên) và Hạ viện (36 thành viên, sẽ tăng lên thành 41 thành viên kể từ cuộc bầu cử sau). Các thành viên thượng nghị viện do tổng thống chỉ định. Mười sáu Thượng nghị sĩ Chính phủ được chỉ định theo sự gợi ý của Thủ tướng, sáu Thượng nghị sĩ Đối lập được chỉ định theo sự gợi ý của Lãnh đạo phe đối lập và chín Thượng nghị sĩ độc lập được chỉ định bởi Tổng thống để đại diện cho những lĩnh vực dân sự xã hội khác. 36 thành viên của Hạ nghị viện do nhân dâu bầu ra với nhiệm kỳ tối đa 5 năm.
Từ 24 tháng 12 năm 2001, đảng cầm quyền là Phong trào nhân dân quốc gia do Patrick Manning lãnh đạo; đảng Đối lậpĐại hội quốc gia thống nhất do Kamala Persad-Bissessar lãnh đạo (Lãnh đạo đối lập) và Winston Dookeran (UNC lãnh đạo chính trị).
Trinidad và Tobago là một thành viên tích cực của Cộng đồng Caribbean (CARICOM)Khối kinh tế, thị trường chung CARICOM (CSME).

Địa lý

Bản đồ Trinidad và Tobago – Click để xem ảnh kích thước lớn

Nước này gồm hai hòn đảo chính, TrinidadTobago, và 21 hòn đảo nhỏ hơn, các hòn đảo lớn nhất gồm Chacachacare, Monos, Huevos, Gaspar Grande (hay Gasparee), Little TobagoSt. Giles Is. Lãnh thổ đảo là hỗn hợp giữa các đồng bằng và các vùng núi. Điểm cao nhất nước nằm tại Dãy phía BắcEl Cerro del Aripo với độ cao 940 mét (3.085 foot) trên mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới. Một năm có hai mùa: mùa khô trong sáu tháng đầu năm, và mùa mưa ở nửa cuối năm. Gió thường tới từ hướng đông bắc và thường bị ảnh hưởng bởi gió mậu dịch Đông Bắc. Không giống như hầu hết các hòn đảo khác ở vùng Caribbean, Trinidad và Tobago không bị ảnh hưởng bởi các cơn bão mạnh có sức tàn phá lớn như Bão Ivan, trận bão mạnh nhất đi qua gần hòn đảo này trong giai đoạn gần đây vào tháng 12, 2004.
Đa số dân cư sống trên hòn đảo Trinidad, đây là nơi có nhiều thành phố và khu thị tứ lớn. Trinidad có ba vùng đô thị: Port of Spain, thủ đô, San Fernando, và Chaguanas. Trong số ba vùng đó, Chaguanas có tốc độ phát triển nhanh nhất. Thành phố lớn nhất tại Tobago là Scarborough.
Trinidad được tạo nên từ nhiều kiểu nền đất khác nhau, đa phần là cát mịn và đất sét nặng. Các châu thổ đất bồi của Dãy phía bắc và vùng đất “Hành lang Đông Tây” là màu mỡ nhất.
Dãy phía Bắc gồm phần lớn là những núi đá Thượng JurassicCretaceous, đa số là andesiteđá phiến. Những vùng đất thấp phía bắc (Hành lang Đông TâyĐồng bằng Caroni) gồm các kiến tạo từ thời Pleistocene hay cát và đất sét trẻ hơn với các con sông nhiều sỏi và đầm lầy đất bồi. Phía nam vùng này, Dãy Trung tâm là một nếp lồi phay nghịch gồm đá từ kỷ Cretaceous và Eocene, với các thành tạo theo thể Miocene dọc theo các sườn phía đông và phía nam. Đồng bằng NaparimaĐầm lầy Nariva tạo thành bộ phận phía nam của phay nghịc này. Các vùng đất thấp phía nam gồm cát thể Miocene và Pliocene, đất sét và sỏi. Chúng che giấu bên dưới các trầm tích dầu mỏkhí tự nhiên, đặc biệt phía bắc Phay Los Bajos. Dãy phía Nam tạo thành phay nghịch nếp lồi thứ ba. Nó gồm nhiều dãy đồi, phần nổi tiếng nhất là Đồi Ba ngôi. Đá là đá sa thạch, đá phiến sétvà đá phù sa và đất sét đã được tạo thành từ thời Miocene và được đẩy lên cao trong kỷ Pleistocene. Cát dầu và các núi lửa bùn hiện diện đặc biệt nhiều ở vùng này.
Dù chỉ nằm ngay ngoài khơi bờ biển Nam Mỹ, Trinidad và Tobago thường được coi là một phần của lục địa Bắc Mỹ vì nó có tính chất của một quốc gia vùng Caribbean. Xem Các quốc gia liên lục địa.

Kinh tế

Trinidad và Tobago nổi tiếng là một địa điểm đầu tư tuyệt vời cho giới doanh nhân quốc tế. Một lĩnh vực phát triển hàng đầu trong bốn năm qua là khí tự nhiên. Du lịch là lĩnh vực đang phát triển, dù không chiếm tỷ trọng cao như nhiều hòn đảo vùng Caribbean khác. Nền kinh tế nước này có lợi thế nhờ lạm phát thấp và thặng dư thương mại. Năm 2002 được đánh dấu bởi sự phát triển vững chắc của khu vực dầu khí, bù lại một phần cho tình trạng không ổn định chính trị trong nước.
Đặc điểm khí hậu ở đảo quốc này giúp phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các đồn điền mía với sản lượng 129.000 tấn đường mỗi năm (1994). Các loại nông sản khác gồm: ca cao, cà phê, chuối, cam quýt, cơm dừa. Ngành chăn nuôi cũng rất phát triển.
Công nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác hyđrocacbon. Hồ Pitch ở phía Tây Nam đảo Trinidad, được khai thác từ thế kỉ 16, hiện nay cung cấp 108.000 tấn bitum (dùng làm nhựa rải đường) và phần lớn được xuất khẩu. Các vỉa dầu phần lớn ở miền Nam Trinidad cung cấp hơn 7 triệu tấn/năm (1994). Khai thác khí đốt cũng trên đà gia tăng. Dầu mỏ được xuất khẩu sang Hoa KỳVương quốc Anh. Phần lớn giếng dầu và các nhà máy lọc dầu đều nằm trong tay các công ti của Hoa Kỳ. Sản lượng hyđrocacbon chiếm 80% tổng giá trị các loại sản phẩm xuất khẩu. Khí hậu ôn hòa, phong cảnh thiên nhiên đẹp và mạng lưới giao thông vận tải tốt giúp cho ngành du lịch mang lại một nguồn thu nhập đáng kể.

Nhân khẩu

Thành phần dân tộc của Trinidad và Tobago phản ánh một lịch sử chinh phục và di cư. Hai nhóm dân tộc chính – người Trinidad gốc Ấn (Indo-Trinidadian) và người Trinidad gốc Phi – chiếm tới 80% dân số, trong khi những người dân đa chủng tộc, con cháu của người Trinidad gốc Âu/người châu Âu, người Trinidad gốc Trung Quốc/người Hoa và người Trinidad gốc Ả Rập/người Syriangười Liban chiếm đa phần số còn lại. Theo cuộc điều tra dân số năm 1990, người Trinidad gốc Ấn chiếm 40,3% dân số, người Trinidad gốc Phi chiếm 39,5%, người đa chủng 18,4%, người Trinidad gốc Âu 0,6% và người Hoa, người Syria và các sắc tộc khác 1,2%. Người Trinidad gốc Âu, đặc biệt là hậu duệ của tầng lớp chủ đất cũ, thường được gọi là người Pháp Creole, thậm chí nếu tổ tiên họ là người di cư đến từ Tây Ban Nha, Anh, Bồ Đào Nha [2] hay Đức. Nhóm người Cocoa Payol đa chủng là con cháu của người định cư Tây Ban Nha và những người nhập cư đến từ Venezuela. Dân Trini Bồ Đào Nha gồm cả người da trắng và người lai. Nhóm thiểu số da đỏ châu Mỹ phần lớn là đa chủng – nhóm thiểu số rất nhỏ Carib, hậu duệ của những thổ dân bản địa, được tổ chức xung quanh Cộng đồng Santa Rosa Carib.
Sự di cư ra khỏi Trinidad và Tobago, cũng như đối với các nước Caribbean khác, đạt mức độ cao trong lịch sử; đa số họ tới Hoa Kỳ, còn CanadaAnh tiếp nhận hầu hết số còn lại. Sự di cư này vẫn đang tiếp diễn, dù ở mức độ thấp hơn, thậm chí tỷ lệ sinh đã giảm mạnh tới mức tương đương với các nước phát triển.
Nhiều tôn giáo hiện diện ở Trinidad và Tobago. Hai tôn giáo lớn nhất là Công giáo La Mãđạo Hindu; Anh giáo, Hồi giáo, Presbyterian, Methodist là những tôn giáo nhỏ hơn. Hai đức tin đa tạp Afro-CaribbeanShouter (hay Spiritual Baptist) và Orisha (trước kia được gọi là Shango, ít mang ý nghĩa ca tụng hơn) nằm trong những nhóm tôn giáo phát triển nhanh nhất, cũng như các nhà thờ của EvangelicalFundamentalist theo kiểu Mỹ thường được đa số người Trinidad coi gộp vào với nhau thành “Pentecostal” (dù cách định danh này thường không chính xác). Nhà thờ Mormon đã mở rộng sự hiện diện của họ tại quốc gia này từ giữa thập niên 1980.
Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của quốc gia, nhưng tiếng Bhojpuri, ở trong nước thường được gọi là tiếng Hindi, cũng được sử dụng bởi một số người Trinidad gốc Ấn và hiện diện nhiều trong âm nhạc bình dân. Ngôn ngữ chính, tiếng Anh-Trinidad vừa được xếp hạng là một thổ ngữ vừa là một biến thể của tiếng Anh hay một kiểu tiếng Anh lai Trinidad (Trinidadian Creole English). Ngôn ngữ được sử dụng nhiều ở Tobago là tiếng Anh lai Tobago (Tobagonian Creole English). Cả hai ngôn ngữ đều chứa đựng các yếu tố châu Phi; tuy nhiên, tiếng Anh Trinidad bị ảnh hưởng nhiều từ tiếng Pháptiếng Pháp lai cũng như tiếng Bhojpuri/Hindi. Các ngôn ngữ châu Mỹ và các thứ tiếng địa phương thường chỉ được sử dụng trong những dịp không chính thức, và cho tới nay vẫn chưa có một hệ thống chuẩn hóa cách viết (giống như trong tiếng Anh tiêu chuẩn). Những vị du khách tới đây trong một thời gian ngắn không cần phải lo ngại về việc học tiếng địa phương/tiếng châu Mỹ, vì hầu như mọi người đều nói và hiểu được tiếng Anh. Tuy nhiên, thường thì người dân sử dụng tiếng địa phương/tiếng châu Mỹ để nói chuyện với nhau. Dù tiếng địa phương (một loại tiếng Pháp lai) từng là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trên hòn đảo này (và tại vùng bờ biển Paria Venezuela), nhưng hiện nay đã không còn giữ được vị trí đó nữa.
Vì vị trí của Trinidad nằm trên bờ biển Nam Mỹ, nước này không phát triển nhiều quan hệ với các dân tộc nói tiếng Tây Ban Nha, vì thế cho tới năm 2004 chỉ có 1.500 trên tổng số 1,3 triệu dân Trinidad nói tiếng Tây Ban Nha.2. ^  Năm 2004 chính phủ đã đưa ra sáng kiến “Tiếng Tây Ban Nha – Ngoại ngữ số một (SAFFL)” [3], và công bố rộng rãi vào tháng 3 năm 2005. Các quy định của chính phủ hiện nay buộc các trường cao học phải dạy tiếng Tây Ban Nha cho sinh viên, trong khi 30% công chức sẽ phải có khả năng sử dụng ngôn ngữ này trong 5 năm tới. Người Venezuela thường tới Trinidad và Tobago để học tiếng Anh, và nhiều trường tiếng Anh đã mở rộng cả việc giảng dạy tiếng Tây Ban Nha.

Văn hoá

Hoa Chaconia (Warszewiczia coccinea) là loại hoa biểu tượng quốc gia của Trinidad và Tobago

Trinidad và Tobago nổi tiếng về các lễ hội tuần chay của họ. Nước này cũng là nơi sản sinh ra âm nhạc calypso và nhạc cụ steelpan, được nhiều người công nhận là nhạc cụ duy nhất được phát minh ra trong thế kỷ 20. Nền văn hóa và tôn giáo đa dạng khiến nước này có nhiều lễ hội trong suốt năm. Các loại nghệ thuật bản xứ khác gồm âm nhạc Soca (một âm nhạc bắt nguồn từ calypso), Parang (âm nhạc Giáng sinh ảnh hưởng từ Venezuela), âm nhạc chutney, và pichakaree (các hình thức âm nhạc pha trộn giữa âm nhạc Caribbean và Ấn Độ) và điệu nhảy limbo nổi tiếng.
Nghệ thuật ở nơi đây cũng sôi động. Trinidad và Tobago có hai tác giả đã đoạt giải Nobel về văn học, V. S. NaipaulDerek Walcott sinh tại Saint Lucia. Nhà thiết kế thương hiệu Mas Peter Minshall không chỉ nổi tiếng về các trang phục dành cho lễ hội mà còn về vai trò của ông trong lễ khai mạc Thế vận hội Mùa hè 1992, Giải vô địch bóng đá thế giới 1994, Thế vận hội Mùa hè 1996Thế vận hội Mùa đông 2002, và ông đã đoạt một Giải Emmy.
Trinidad và Tobago cũng đã đoạt hai giải Hoa hậu hoàn vũ, với Penny Commisiong năm 1977, và Wendy Fitzwilliams năm 1998.

Thể thao

Xem thêm Trinidad và Tobago tại các kỳ Olympics

All-Fours thỉnh thoảng được miêu tả là “Môn thể thao không chính thức của quốc gia”[cần dẫn nguồn].

Các ngày nghỉ lễ

Các ngày lễ ở Trinidad và Tobago.

Ngày Tên Ghi chú
1 tháng 1 Năm mới
Tùy thuộc Carnival Thứ hai và Thứ ba ngay tiếp sau Thứ tư tuần chay. Dù nhiều công sở và trường học đóng cửa cho Lễ Carnival Thứ hai và Thứ ba, chúng không chính thức là ngày nghỉ lễ.
Tùy thuộc Eid-ul-Fitr Kết thúc tháng Ramadan. Đây là lễ duy nhất ở Trinidad và Tobago của Đạo Hồi. Dù nó là ngày lễ quan trọng nhất theo Lịch Hồi giáo nó không phải là ngày lễ Hồi giáo nổi tiếng và có nhiều người tham gia nhất đất nước.
Tùy thuộc Phục sinh Thứ sáu tuần thánh và Thứ hai Phục sinh
30 tháng 3 Spiritual Baptist/Shouter Liberation Day Quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận Lễ rửa tội là một ngày nghỉ lễ quốc gia
Tùy thuộc Corpus Christi
30 tháng 5 Ngày tới nơi của người Ấn Độ Quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận sự giao kèo Đông-Ấn.
19 tháng 6 Ngày Lao động
1 tháng 8 Ngày giải phóng Quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận Ngày giải phóng
31 tháng 8 Ngày độc lập
24 tháng 9 Ngày cộng hoà
Tùy thuộc Divali Lễ hội Hindu của ánh sáng và ngày lễ duy nhất của tín ngưỡng Hindu.
25 tháng 12 Giáng sinh
26 tháng 12 Ngày tặng quà

Xem thêm

Bản mẫu:Các chủ đề về Trinidad và Tobago

Ghi chú

1. ^  Archipelagic Waters and Exclusive Economic Zone Act No 24 of 1986 2. ^  The Independent, 31 August 2005, “Hola! Trinidad drops English and learns to speak Spanish”.

Tham khảo

  • Besson, Gérard & Brereton, Bridget. 1992. The Book of Trinidad. 2nd ed. Port of Spain: Paria Publishing Co. Ltd. ISBN 976-8054-36-0.
  • Mendes, John. 1986. Cote ce Cote la: Trinidad & Tobago Dictionary. Arima, Trinidad.
  • Saith, Radhica and Lyndersay, Mark. 1993. Why Not a Woman? Port of Spain: Paria Publishing Co. Ltd. ISBN 976-8054-42-5.

Liên kết ngoài

Kyrgyzstan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Kyrgyzstan
Кыргыз Республикасы (tiếng Kyrgyz)
Kyrgyz Respublikasy (tiếng Kyrgyz)
Кыргызская республика (tiếng Nga)
Kyrgyzskaya respublika (tiếng Nga)
Flag of Kyrgyzstan.svg National emblem of Kyrgyzstan.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Kyrgyzstan
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Quốc ca của Kyrgyzstan
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện
Tổng thống
Thủ tướng
Roza Otunbayeva(quyền)
Ngôn ngữ chính thức tiếng Kyrgyz, tiếng Nga
Thủ đô Bishkek
42°52′B, 74°36′Đ
Thành phố lớn nhất Bishkek
Địa lý
Diện tích 198.500 km² (hạng 85)
Diện tích nước 3,6% %
Múi giờ KGT (UTC+5); mùa hè: KGST (UTC+6)
Lịch sử
Ngày thành lập Từ Nga
31 tháng 8 năm 1991
tháng 12 năm 1991
Dân cư
Dân số ước lượng 5.146.281 người (hạng 111)
Dân số (1999) 4.896.100 người
Mật độ 25 người/km² (hạng 147)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 9.324 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,702 trung bình (hạng 109)
Đơn vị tiền tệ Som Kyrgyzstan (KGS)
Thông tin khác
Tên miền Internet .kg

Kyrgyzstan (phiên âm tiếng Việt: Cư-rơ-gư-dơ-xtan hoặc Cư-rơ-gư-xtan; tiếng Kyrgyz: Кыргызстан; tiếng Nga: Киргизия, tuỳ từng trường hợp còn được dịch thành Kirgizia hay Kirghizia) (đánh vần theo IPA: /ˈkəːgɪztan/), tên chính thức Cộng hoà Kyrgyzstan, là một quốc gia tại Trung Á. Nằm kín trong lục địa và nhiều đồi núi, nước này giáp biên giới với Kazakhstan ở phía bắc, Uzbekistan ở phía tây, Tajikistan ở phía tây nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ở phía đông nam.
Theo những con số ước tính tháng 7 năm 2005, dân số nước này là 5.264.000 người với đa số (76,1 phần trăm) là tín đồ Hồi giáo.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Kyrgyzstan

Buổi đầu lịch sử

Theo những khám phá lịch sử gần đây, lịch sử Kyrgyz bắt đầu từ năm 201 trước Công Nguyên. Ban đầu người Kyrgyz sống ở vùng thượng châu thổ Sông Yenisey, trung tâm Siberia. Sự khám phá những nền văn hóa PazyrykTashtyk cho thấy chúng có pha trộn các yếu tố văn hóa từ các bộ lạc du mục Turkic và Iran. Các văn bản Trung Quốc và Hồi giáo giai đoạn thế kỷ 7–12 Công nguyên miêu tả người Kyrgyz là giống người tóc đỏ với nước da sáng và mắt xanh lá cây hay xanh nước biển.
Mặt khác nguồn gốc người Kyrgyz từ dân bản địa Siberia đã được xác nhận sau những cuộc nghiên cứu di truyền học gần đây[1]. Đáng chú ý, 63% đàn ông Kyrgyz hiện đại có chung Haplogroup R1a1 (Y-DNA) với người Tajik (64%), người Ukraine (54%), người Ba Lan (56%) và thậm chí người Iceland (25%). Haplogroup R1a1 (Y-DNA) được cho là tín hiệu của những người nói các ngôn ngữ Proto-Indo-European.
Quốc gia Kyrgyz mở rộng nhất sau khi đánh bại Vương quốc Khan Uighur năm 840 Công Nguyên. Sau đó Kyrgyz nhanh chóng tiến xa tới tận dãy Tian Shan và tiếp tục duy trì ảnh hưởng của họ trên vùng đất này trong khoảng 200 năm. Tuy nhiên, ở thế kỷ 12, ảnh hưởng của Kyrgyz chỉ còn tới Dãy AltayNúi Sayan vì sự mở rộng của Đế quốc Mông Cổ đang trên đà hình thành. Với sự xuất hiện của Đế quốc Mông Cổ ở thế kỷ 13, người Kyrgyz đã di cư về phía nam.
Nhiều sắc tộc Turkic đã cai trị họ cho tới năm 1685, khi họ rơi vào quyền kiểm soát của Kalmyks (Oirats, Dzungars).

Ảnh hưởng của Nga

Đầu thế kỷ 19, vùng phía nam của Kyrgyzstan ngày nay rơi vào vòng kiểm soát của Vương quốc Khan Kokand. Lãnh thổ này, khi ấy được người Nga gọi là “Kirgizia”, đã được chính thức sáp nhập vào Đế chế Nga năm 1876. Người Nga phải đối mặt với nhiều cuộc nổi dậy chống chính quyền Sa Hoàng, và nhiều người Kyrgyz đã lựa chọn di cư tới Pamirs và Afghanistan. Ngoài ra, sự đàn áp cuộc nổi dậy năm 1916 tại Trung Á đã khiến nhiều người Kyrgyz phải di cư tới Trung Quốc. Bởi nhiều nhóm sắc tộc trong vùng này đã (và vẫn đang) sống trên lãnh thổ của nhiều quốc gia láng giềng, ở thời điểm khi các biên giới còn chưa được phân định rõ ràng, nên việc di chuyên tới lui giữa các vùng núi, phụ thuộc vào địa điểm nào họ cho là thích hợp nhất với cuộc sống của mình; có nghĩa là nơi có nhiều mưa cho mùa màng hay sự quản lý của chính phủ dễ dàng hơn, là điều rất thông thường.

Thời kỳ Xô viết

Lần đầu tiên quyền lực Xô viết được thiết lập ở vùng này là vào năm 1919 và Vùng tự trị Kara-Kyrgyz được thành lập bên trong nước Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga (thuật ngữ Kara-Kirghiz đã được người Nga sử dụng cho tới giữa những năm 1920 để phân biệt họ với người Kazakhs, những người cũng được gọi là Kirghiz). Ngày 5 tháng 12 năm 1936, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kyrgyz được thành lập với tư cách một nước cộng hòa đầy đủ của Liên bang Xô viết.
Trong thập niên 1920, Kyrgyzstan đã có bước phát triển đáng kể về văn hoá, giáo dục và đời sống xã hội. Tỷ lệ biết chữ gia tăng mạnh, và một tiêu chuẩn về biết chữ được đưa ra. Phát triển kinh tế và xã hội cũng đạt thành quả lớn. Nhiều lĩnh vực văn hóa quốc gia Kyrgyz vẫn được duy trì dù có sự đàn áp các hoạt động quốc gia thời Stalin, và vì thế, những căng thẳng với tất cả các cơ quan liên bang liên tục diễn ra.
Những năm đầu thời kỳ cải tổ không mang lại thay đổi nhiều trong đời sống chính trị Kyrgyzstan. Tuy nhiên, báo chí tại nước cộng hòa này được cho phép có quan điểm tự do hơn và được thành lập một cơ quan xuất bản mới, Literaturny Kirghizstan, của Liên minh Nhà văn. Các nhóm chính trị không chính thức bị cấm đoán, nhưng nhiều nhóm vẫn xuất hiện năm 1989 để đương đầu với cuộc khủng hoảng sâu sắc về nhà ở được phép hoạt động.
Tháng 6 năm 1990, căng thẳng sắc tộc giữa người Uzbek và người Kyrgyz xuất hiện tại Vùng Osh, nơi người Uzbek chiếm đa số. Bạo lực nhanh chóng diễn ra, và tình trạng khẩn cấp cùng lệnh giới nghiêm được ban hành. Trật tự chỉ được tái lập vào tháng 8 năm 1990.
Đầu thập niên 1990 nhiều thay đổi to lớn đã diễn ra tại Kyrgyzstan. Tới thời điểm ấy, Phong trào Dân chủ Kyrgyzstan (KDM) đã phát triển thành một lực lượng chính trị khá mạnh trong nghị viện. Trong một thắng lợi gây tranh cãi, Askar Akayev, vị chủ tịch theo đường lối tự do của Viện hàn lâm Kyrgyz, đã lên giữ chức tổng thống tháng 10 năm 1990. Tháng 1 năm sau đó, Akayev đưa ra các cơ cấu chính phủ mới và chỉ định một chính phủ gồm chủ yếu những chính trị gia trẻ, có khuynh hướng cải cách.
Tháng 12 năm 1990, Xô viết Tối cao bỏ phiếu thay đổi tên nhà nước cộng hòa thành Cộng hoà Kyrgyzstan. (Năm 1993, nước này đổi tên thành Cộng hoà Kyrgyz.) Tháng 2 năm 1991, tên thủ đô, Frunze, được đổi lại theo cái tên trước đó là Bishkek. Dù có những động thái theo hướng độc lập, những thực tế kinh tế dường như vẫn chống lại sự ly khai khỏi Liên bang Xô viết. Trong một cuộc trưng cầu dân ý về việc duy trì nhà nước Xô viết tháng 3 năm 1991, 88.7% cử tri đã bỏ phiếu ủng hộ duy trì Liên bang Xô viết dưới hình thức một “Liên bang mới.”
Ngày 19 tháng 8 năm 1991, khi Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước nắm quyền lực tại Moskva, đã có nỗ lực nhằm hạ bệ Akayev tại Kyrgyzstan. Sau khi vụ đảo chính bị tiêu diệt một tuần sau đó, Akayev và Phó tổng thống German Kuznetsov thông báo việc rút lui khỏi Đảng Cộng sản Liên bang Xô viết (CPSU), và toàn thể ủy ban cũng như các thư ký cơ cấu đảng đều từ chức. Sau đó Xô viết Tối cao bỏ phiếu tuyên bố độc lập khỏi Liên bang Xô viết ngày 31 tháng 8 năm 1991.

Độc lập

Tháng 10 năm 1991, Akayev là ứng cử viên duy nhất tranh cử và chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống của nước Cộng hòa mới qua bỏ phiếu trực tiếp, với 95% phiếu bầu. Cùng với các đại biểu của 7 nước cộng hòa khác, cũng trong tháng 10, ông ký kết Hiệp ước Cộng đồng Kinh tế Mới. Cuối cùng, ngày 21 tháng 12 năm 1991, Kyrgyzstan cùng bốn nước cộng hòa khác vùng Trung Á chính thức gia nhập Cộng đồng các quốc gia độc lập mới được thành lập. Năm 1992, Kyrgyzstan gia nhập Liên hiệp quốcTổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu (CSCE).
Cuộc “Cách mạng Tulip,” sau cuộc bầu cử nghị viện tháng 3 năm 2005, đã buộc Tổng thống Akayev phải từ chức ngày 4 tháng 4 năm 2005. Các lãnh đạo phe đối lập đã thành lập một liên minh và một chính phủ mới dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Kurmanbek Bakiyev và Thủ tướng Feliks Kulov.
Tuy nhiên, sự ổn định chính trị dường như còn mong manh, bởi nhiều nhóm và phe phái được cho là có liên quan tới tội phạm có tổ chức đang gắng sức giành quyền lực. Ba trong 75 thành viên Nghị viện được bầu tháng 3 năm 2005 đã bị ám sát, và một thành viên khác bị ám sát ngày 10 tháng 5 năm 2006 một thời gian ngắn sau khi trúng cử chiếc ghế trống của anh mình đã bị ám sát trước đó. Tất cả bốn người đều bị cho là có liên quan trực tiếp tới các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp.
Những vấn đề hiện nay ở Kyrgyzstan gồm: tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, mở rộng dân chủ và tự do chính trị, quan hệ sắc tộc và chủ nghĩa khủng bố.

Chính trị

Bài chi tiết: Chính trị Kyrgyzstan

Cựu Tổng thống Kurmanbek Bakiyev

Hiến pháp năm 1993 quy định hình thức chính phủ là cộng hòa dân chủ. Nhánh hành pháp gồm một tổng thống và thủ tướng. Nghị viện hiện tại theo chế độ đơn viện. Nhánh tư pháp gồm một Tòa án tối cao, một Tòa án Hiến pháp, các tòa án địa phương, và một Trưởng Công tố.
Tháng 3 năm 2002, tại quận phía nam Aksy, năm người phản đối việc tùy tiện bắt giữ một chính trị gia đối lập đã bị cảnh sát bắn chết, gây ra những cuộc phản kháng rộng rãi trên khắp cả nước. Tổng thống Akayev đã đề xuất một quá trình cải cách hiến pháp ban đầu gồm sự tham gia của một ủy ban đại diện chính phủ, dân sự và xã hội rộng lớn hơn trong một cuộc thảo luận mở, dẫn tới cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 2 năm 2003, không thành công bởi những gian lận. Những sử đổi hiến pháp được phê chuẩn theo cuộc trưng cầu dân ý dẫn tới quyền kiểm soát mạnh hơn cho tổng thống và giảm quyền lực của Nghị viện cùng Tòa án Hiến pháp. Cuộc bầu cử nghị viện mới với 75 ghế được tổ chức từ ngày 27 tháng 2 đến 13 tháng 3 năm 2005, nhưng bị đa số các nhà quan sát cho là có gian lận. Những cuộc biểu tình phản kháng sau đó đã dẫn tới một cuộc đảo chính hòa bình ngày 24 tháng 3, sau sự kiện này Akayev đã chạy trốn khỏi đất nước và được thay thế bởi tổng thống lâm thời Kurmanbek Bakiyev. (xem: Cách mạng Tulip).
Các lãnh đạo chính phủ lâm thời đang phát triển một cơ cấu chính phủ mới cho đất nước và làm việc để giải quyết các vấn đề nổi cộm về hiến pháp. Ngày 10 tháng 7 năm 2005, tổng thống lâm thời Bakiyev chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống với thắng lợi vang dội, đạt 88.9% số phiếu, và chính thức nhậm chức ngày 14 tháng 8. Tuy nhiên, sự ủng hộ ban đầu của công chúng cho ban lãnh đạo mới sau mấy tháng đã sụt giảm vì họ không thể giải quyết các vấn đề tham nhũng đã từng là tai họa của đất nước từ khi độc lập khỏi Liên bang Xô viết, cùng với những vụ ám sát các thành viên nghị viện. Những vụ tuần hành đông đảo phản đối tổng thống Bakyiev đã diễn ra tại Bishkek trong tháng 4 và tháng 11 năm 2006, các lãnh đạo phe đối lập buộc tội tổng thống không thể thực hiện các lời hứa khi tranh cử như cải cách hiến pháp và chuyển giao một số quyền lực cho nghị viện. [1]

Phân chia hành chính

Kyrgyzstan được chia thành 7 tỉnh (số ít oblast (область), số nhiều oblasttar (областтар)) được quản lý bởi các thống đốc do chỉ định. Thủ đô, Bishkek, về mặt hành chính là một thành phố độc lập (shaar) với vị thế tương đương một tỉnh.

Bản đồ phân chia hành chính Kyrgyzstan.

Các tỉnh, thành phố thủ đô, như sau:

  1. Bishkek
  2. Batken (Batken)
  3. Chui (Chui-Tokmok)
  4. Jalal-Abad (Jalal-Abad)
  5. Naryn (Naryn)
  6. Osh (Osh)
  7. Talas (Talas)
  8. Issyk-Kul (Karakol)

Mỗi tỉnh gồm một số quận (raion), được quản lý bởi các quan chức do chính phủ chỉ định (akim). Các cộng đồng nông nghiệp (ayıl ökmötü), gồm tới hai mươi khu định cư nhỏ, có thị trưởng riêng do họ tự bầu và các hội đồng địa phương.

Địa lý

Bản đồ Kyrgyzstan

Phong cảnh Ala Archa phía ngoài Bishkek
Bài chi tiết: Địa lý Kyrgyzstan

Kyrgyzstan là một nước nằm kín trong lục địa tại Trung Á, giáp biên giới với Kazakhstan, Trung Quốc, TajikistanUzbekistan. Vùng núi non Tian Shan bao phủ 80% đất nước (vì thế Kyrgyzstan thỉnh thoảng cũng được gọi là “Thụy Sĩ vùng Trung Á” [2].), phần diện tích còn lại gồm các thung lũng và châu thổ. Hồ Issyk-Kul ở tây bắc Tian Shan là hồ lớn nhất tại Kyrgyzstan và là hồ trên núi lớn thứ hai trên thế giới sau Titicaca. Những đỉnh cao nhất nằm trên rặng Kakshaal-Too, hình thành nên biên giới với Trung Quốc. Đỉnh Jengish Chokusu, độ cao 7.439 m (24.400 feet), là điểm cao nhất và được các nhà địa chất (dù không phải là các nhà leo núi) coi là đỉnh nằm xa nhất phía bắc thế giới. Mùa đông với những trận tuyết rơi dày mang tới những trận lụt vào mùa xuâ và thường gây thiệt hại lớn phía hạ nguồn. Những dòng nước chảy từ trên cao cũng là tiềm năng lớn cho thủy điện.
Khí hậu khác biệt theo từng vùng. Thung lũng Fergana phía tây nam thuộc kiểu khí hậu cận nhiệt đới và rất nóng vào mùa hè, với nhiệt độ đạt tới 40 °C (104 °F.) Các vùng đồi phía bắc thuộc khí hậu ôn hoà và Tian Shan từ kiểu khí hậu lục địa khô tới khí hậu cực, tùy thuộc độ cao. Tại các vùng lạnh nhất nhiệt độ ở mức dưới không trong khoảng 40 ngày mùa đông, và thậm chí tại một số vùng sa mạc còn có tuyết rơi thường xuyên trong thời kỳ này.
Kyrgyzstan có nguồn khoáng sản kim loại khá lớn gồm vàngkim loại hiếm. Vì địa hình đất nước này chủ yếu là đồi núi, chưa tới 8% diện tích có thể canh tác, và tập trung tại các vùng đất thấp phía bắc và các rìa Thung lũng Fergana.
Bishkek ở phía bắc là thủ đô và thành phố lớn nhất, với xấp xỉ 900.000 nghìn dân (thời điểm năm 2005). Thành phố đứng thứ hai là thị trấn cổ Osh, nằm tại Thung lũng Fergana gần biên giới với Uzbekistan. Con sông chính là Naryn, chảy về phía tây xuyên qua Thung lũng Fergana vào Uzbekistan, nơi nó hợp lưu với dòng sông chính khác của Kyrgyzstan, sông Kara Darya, hình thành nên Syr Darya cuối cùng chảy vào Biển Aral — dù một lượng lớn nước đã bị khai thác cho tưới tiêu tại các cánh đồng bông của Uzbekistan khiến con sông khô cạn trước khi nó tới được biển này. sông Chu cũng có một đoạn ngắn chảy qua Kyrgyzstan trước khi vào Kazakhstan.

Những vùng đất bị quốc gia khác bao quanh và những vùng đất tách khỏi mẫu quốc

Có một vùng đất tách khỏi mẫu quốc, đó là ngôi làng nhỏ Barak, Kyrgyzstan [3], (dân số 627 người) tại thung lũng Fergana. Làng này bị lãnh thổ Uzbek bao quanh và nằm giữa các thị trấn Margilan và Fergana.
Có bốn vùng đất Uzbekistan nằm trong lãnh thổ Kyrgyzstan. Hai trong số đó là các thị trấn Sokh (diện tích 325 km²/125 dặm vuông với dân số 42.800 người năm 1993, dù một số ước tính cho rằng con số này có thể lên tới 70.000 người; 99% là người Tajik, số còn lại là người Uzbek), và Shakhrimardan (cũng được gọi là Shakirmardon hay Shah-i-Mardan, diện tích 90 km²/35 dặm vuông và dân số 5.100 năm 1993; 91% là người Uzbek, số còn lại là người Kyrgyz); hai vùng lãnh thổ nhỏ khác là Chuy-Kara (hay Kalacha, dài khoảng 3 km và rộng 1 km hay 2 dặm nhân 0.6 dặm) và Dzhangail (một chấm đất nhỏ chỉ có chiều ngang 2 hay 3 km). Chuy-Kara nằm trên sông Sokh, giữa biên giới Uzbek và khu lãnh thổ tách khỏi mẫu quốc Sokh.
Có hai vùng lãnh thổ của Tajikistan nằm gọn trong Kyrgyzstan: Vorukh (diện tích khoảng 95 và 130 km² [37–50 dặm vuông], dân số được ước lượng trong khoảng 23.000 và 29.000, 95% người Tajik và 5% Kyrgyz, sống tại 17 ngôi làng), nằm cách 45 kilômét (28 dặm) phía nam Isfara trên bờ phải sông Karafshin, và một khu định cư nhỏ gần ga đường sắt Kyrgyz Kairagach.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Kyrgyzstan
Kirgisien pferdewagen.jpg

Dù có sự giúp đỡ của các nhà tài trợ lớn phương Tây, gồm cả Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giớiNgân hàng phát triển Châu Á, Cộng hoà Kyrgyz vẫn phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế từ sau độc lập. Ban đầu, đó là hậu quả của sự tan vỡ khối thương mại Xô viết dẫn tới mất thị trường, cản trở sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tự do của nước này. Chính phủ đã giảm chi tiêu, chấm dứt đa số các khoản trợ giá, và đưa ra áp dụng thuế giá trị gia tăng. Nói chung, chính phủ có vẻ kiên quyết chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường. Thông qua biện pháp cải cách và ổn định, chính phủ muốn thiết lập những nền tảng cho một sự phát triển kinh tế lâu dài và bền vững. Các biện pháp cải cách đã giúp Cộng hòa Kyrgyz gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày 20 tháng 12 năm 1998.
Kinh tế Cộng hòa Kyrgyz đã bị ảnh hưởng nặng nề sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết và sự biến mất của một thị trường rộng lớn. Năm 1990, khoảng 98% xuất khẩu Kyrgyz là tới những khu vực khác thuộc Liên bang Xô viết. Vì thế, tình hình nền kinh tế quốc gia đầu những năm 1990 ở đây tồi tệ hơn bất kỳ một nước cộng hòa nào khác thuộc Liên bang Xô viết cũ ngoại trừ các quốc gia bị ảnh hưởng bởi những cuộc chiến tranh: Armenia, Azerbaijan, và Tajikistan, khi các nhà máy, các hợp tác xã nông nghiệp sụp đổ cùng sự biến mất của các thị trường truyền thống. Tuy tình hình kinh tế đã có cải thiện đáng kể trong vài năm qua, và đặc biệt từ năm 1998, nhiều vấn đề vẫn tồn tại như nhu cầu về các khoản thu thích ứng từ thuế và tạo lập được một mạng lưới an sinh xã hội thích hợp.
Nông nghiệp là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Cộng hòa Kyrgyz; xem Nông nghiệp Kyrgyzstan. Tới đầu thập niên 1990, lĩnh vực nông nghiệp tư nhân chiếm khoảng một phần ba tới một nửa sản lượng thu hoạch. Năm 2002 nông nghiệp chiếm 35.6% GDP và khoảng một nửa lực lượng lao động. Lãnh thổ Cộng hoà Kyrgyz chủ yếu là đồi núi, thích hợp cho chăn nuôi, hoạt động nông nghiệp lớn nhất, với những sản phẩm chính là len, thịt, và các sản phẩm sữa. Cây trồng chủ chốt gồm lúa mì, củ cải đường, khoai tây, bông, thuốc lá, rau, và quả. Bởi giá nhập khẩu các sản phẩm hóa chất nông nghiệpdầu mỏ tăng cao, đa số các hoạt động nông nghiệp được thực hiện bằng tay hay bằng sức ngựa, như hàng thế hệ trước. Chế biến sản phẩm nông nghiệp là một yếu tố then chốt của kinh tế công nghiệp, cũng như là một trong những lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất.
Cộng hoà Kyrgyz sở hữu nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản nhưng có trữ lượng dầu mỏkhí tự nhiên thấp; nước này phải nhập khẩu dầu mỏ và khí gas. Trong số các nguồn tài nguyên khoáng sản có than, vàng, uranium, antimony, và các kim loại hiếm khác. Luyện kim là một ngành công nghiệp quan trọng, và chính phủ hy vọng đây sẽ là lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài mạnh. Chính phủ đã khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khai thác và chế biến vàng. Các nguồn tài nguyên nước phong phú của Cộng hòa Kyrgyz và địa hình đồi núi cho phép nước này sản xuất và xuất khẩu một lượng lớn năng lượng thủy điện.
Ở mức độ địa phương, kinh tế chủ yếu là kinh doanh nhỏ. Một lượng lớn giao dịch thương mại địa phương diễn ra tại các chợ và kiốt ở các làng. Hàng hóa tiêu dùng như khí đốt (nhiên liệu) thường được bán ven đường trong các thùng chứa. Một lượng đáng kể thương mại diễn ra ngoài tầm kiểm soát của nhà nước. Tại các làng hẻo lánh tình trạng thiếu thốn hàng hóa tiêu dùng cũng thường xảy ra. Vì thế phần đông các gia đình đều có khả năng tự cung tự cấp về lương thực. Có sự khác biệt rất lớn giữa kinh tế thành thị và nông thôn.
Các mặt hàng xuát khẩu chính là các loại kim loại màu và khoáng sản, sản phẩm len cùng các sản phẩm nông nghiệp, năng lượng điện, và một số sản phẩm cơ khí. Nhập khẩu gồm dầu mỏ và khí gas, kim loại màu, hóa chất, đa số các loại máy móc, len và các sản phẩm giấy cùng một số loại thực phẩm và vật liệu xây dựng. Các đối tác thương mại chính của nước này là Đức, Nga, và các nước láng giềng Trung Quốc, KazakhstanUzbekistan.

Nhân khẩu

Bài chi tiết: Nhân khẩu Kyrgyzstan

The World Almanac 2005 báo cáo rằng dân số Kyrgyzstan hơi lớn hơn 5 triệu người, được ước tính khoảng 5.081.429. Trong số đó, 34.4% dưới 15 tuổi và 6.2% trên 65 tuổi. Đây là một quốc gia nông thôn; chỉ khoảng một phần ba (33.9%) dân số Kyrgyzstan sống tại các vùng đô thị. Mật độ dân số trung bình 29 người trên km² (69 người trên dặm vuông).

Các ngôi mộ truyền thống

Nhóm sắc tộc lớn nhất nước là Kyrgyz, một dân tộc Turkic. Người Kyrgyz chiếm 69.5% dân số và trong lịch sử từng là những người chăn nuôi bán du mục, sống trong những chiếc lều tròn được gọi là yurt và nuôi cừu, ngựabò Tây Tạng. Truyền thống du mục này còn tiếp tục diễn ra theo mùa (xem Chuyển gia súc lên núi) khi các gia đình chăn nuôi quay trở về từ các đồng cỏ (hay jailoo) trên núi cao vào mùa hè. Việc bảo tồn di sản du mục này cũng như những tư tưởng tự do của nó vẫn có ảnh hưởng lớn tới không khí chính trị trong nước. Cái tên Kyrgyz, sử dụng cho cả người dân và quốc gia, được cho rằng có nghĩa “bốn mươi cô gái”, một sự ám chỉ tới Manas (sử thi) dân gian về việc thống nhất bốn mươi bộ tộc chống lại người Mông Cổ.
Các nhóm sắc tộc khác gồm người Nga (9.0%) tập trung ở phía Bắc và người Uzbek (14.5%) sống ở phía nam. Các cộng đồng nhỏ nhưng cũng đáng chú ý khác gồm Tatars (1.9), Uyghurs (1.1%), Kazakhs (0.7%) và Ukraina (0.5%). Cộng đồng Đức Volga từng khá đông đúc trước kia, đã bị Stalin trục xuất tới đây từ nhà cửa của họ tại nước Cộng hòa Đức Volga, đa số họ đã quay trở về Đức, và chỉ còn sót lại vài nhóm nhỏ. Một số nhỏ dân số là người Triều Tiên Xô viết, có nghĩa hậu duệ của những cư dân Triều Tiên trước kia tại Vladivostok, Những người đã bị Stalin trục xuất tại Trung Á (và vùng Caucasus) trong Thế chiến thứ hai.

Một chiếc Yurt gia đình
Pyramide Kirghizistan.PNG

Ngôn ngữ

Kyrgyzstan là một trong hai trong số năm nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở Trung Á còn giữ tiếng Nga là một ngôn ngữ chính thức (tiếng Kazakhstan là ngôn ngữ kia). Nước này đã thêm tiếng Kyrgyz để trở thành quốc gia có hai ngôn ngữ chính thức vào tháng 9 năm 1991. Đây là một tín hiệu rõ ràng cho những người Nga sinh sống ở Kyrgyzstan rằng họ được chào đón trong nước cộng hòa mới, trong một nỗ lực nhằm tránh tình trạng chảy máu chất xám. Tiếng Kyrgyz là một thành viên thuộc nhóm ngôn ngữ Turkic và được viết bằng ký tự Ả Rập cho đến tận thế kỷ 20. Ký tự Latinh đã được đưa ra và chấp nhận năm 1928, và sau đó đã được thay thế bởi ký tự Kirin năm 1941.
Nói chung, tất cả mọi người trong nước đều hiểu và nói tiếng Nga, ngoại trừ tại một số vùng xa xôi hẻo lánh. Tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ của đa số dân cư Bishkek, và hầu hết các giao dịch thương mại cũng như chính trị đều được tiến hành bằng ngôn ngữ này. Cho tới gần đây, tiếng Kyrgyz vẫn là ngôn ngữ được sử dụng tại gia đình, và hiếm khi được dùng trong các cuộc gặp gỡ hay các sự kiện khác. Tuy nhiên, đa số các cuộc họp nghị viện hiện nay được tiến hành bằng tiếng Kyrgyz, với phiên dịch đồng thời cho những người không nói tiếng Kyrgyz.

Văn hoá

Bài chi tiết: Văn hoá Kyrgyzstan

Nhạc công

Truyền thống

Một hành động đã bị cấm đoán nhưng vẫn thường diễn là truyền thống bắt cóc cô dâu [5].
Hiện đang có tranh cãi về việc liệu hành động bắt cóc cô dâu có thực sự là một truyền thống hay không. Một số lý lẽ xung đột có thể xuất phát từ việc các cuộc hôn nhân có sắp xếp là một hành động truyền thống, và một trong những cách thoát khỏi những cuộc hôn nhân có sắp xếp đó là tổ chức một cuộc “bắt cóc.” Xem Báo cáo của Human Rights Watch “Cam chịu Bạo lực: Nhà nước không thể ngăn chặn những vụ lạm dụng và bắt cóc phụ nữ tại Kyrgyzstan” xuất bản tháng 9 năm 2006, Vol. 18, No.9.

Tôn giáo

Thánh đường Hồi giáo Karakol Dungan
  • Kyrgyzstan là một quốc gia thế tục. Trong thời Xô viết, quốc gia vô thần được khuyến khích.
  • Các truyền thống duy linh vẫn tồn tại, và là những ảnh hưởng từ Phật giáo như hành động treo cờ phướn trên những cây thiêng.

Cờ

Mặt trời tỏa 40 tia nắng vàng ở trung tâm lá cờ thể hiện 40 chiến binh của người anh hùng thần thoại Manas. Các đường bên trong mặt trời thể hiện ngôi vua hay tunduk (Kyrgyz түндүк) của một yurt, một biểu tượng được lặp lại trên nhiều công trình kiến trúc Kyrgyz. Phần màu đỏ trên lá cờ biểu hiện hòa bình và sự cởi mở của Kyrgyzstan.

Giáo dục

Các định chế giáo dục tại Kyrgyzstan gồm:

Cưỡi ngựa

Các môn thể thao truyền thống quốc gia phản ánh tầm quan trọng của hành động cưỡi ngựa trong văn hoá Kyrgyz. Rất phổ thông, như tại tất cả các quốc gia Trung Á khác, là Kok Boru (có nghĩa “sói xanh”), một môn thể thao đồng đội giống như polorugby trên lưng ngựa, theo đó hai đội tìm cách mang xác một con dê không đầu vượt qua vạch gôn đội đối thủ, hay theo kiểu thường được chơi ngày nay, vào trong gôn đội đối thủ, một chiếc bình lớn hay một vòng đánh dấu trên mặt đất. Trong trận đấu các đấu thủ tìm cách giật xác dê từ tay đối thủ.
Các môn thể thao phổ thông trên lưng ngựa khác gồm Tyiyn hay Tenghe Enish (nhặt một đồng xu trên mặt đất trong khi đang phi ngựa), Kyz Kuumai (đuổi một cô gái để thắng một cái hôn của cô ta, khi cô đang phi ngựa chạy và có thể đánh kẻ đuổi theo bằng chiếc roi da của mình), Oodarysh (vật trên lưng ngựa), những cuộc đua ngựa đường trường trên 15, 20 hay thậm chí 50 và 100 km, và các môn thể thao khác.

Vận tải

Bài chi tiết: Vận tải Kyrgyzstan

Vận tải Kyrgyzstan ở tình trạng kém phát triển vì kiểu địa hình đồi núi của nước này. Các con đường phải chạy ngoằn nghèo theo các thung lũng, vượt qua những con đèo có độ cao tới 3.000 mét (9.000 feet) hoặc hơn nữa, và thường bị lở đất hay lở tuyết. Đường xá vào mùa đông có thể bị đóng hoặc không thể đi lại ở nhiều vùng xa xôi và có độ cao lớn. Ngoài các vấn đề về đường bộ, các tuyến đường sắt được xây dựng thời Xô viết hiện đã bị ngăn cách bởi nhiều biên giới quốc tế, đòi hỏi thời gian hoàn thành các thủ tục cần thiết để vượt qua khi chúng còn ở tình trạng hoạt động được. Cũng cần chú ý rằng ngựa vẫn là phương tiện vận tải được lựa chọn nhiều, đặc biệt tại các vùng nông thôn và không có đường giao thông, bởi nó không phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu.

Sân bay

Cuối thời kỳ Xô viết có khoảng 50 sân bay và đường băng tại Kyrgyzstan, nhiều trong số chúng được xây dựng chủ yếu phục vụ cho các mục đích quân sự tại vùng biên giới giáp Trung Quốc này. Chỉ một vài sân bay hiện vẫn hoạt động.

  • Sân bay Manas gần Bishkek là cảng hàng không quốc tế chính, với các đường bay tới Moskva, Tashkent, Dushanbe, Istanbul, Baku, và Luân Đôn.
  • Sân bay Osh là cảng hàng không chính ở phía Nam, với các chuyến bay hàng ngày tới Bishkek.
  • Sân bay Jalal-Abad được nối với Bishkek bởi hai chuyến bay mỗi tuần.
  • Các cơ sở khác xây dựng thời Xô viết hoặc đã đóng cửa hoặc chỉ được sử dụng thỉnh thoảng hay dành riêng cho quân sự (ví dụ, căn cứ không quân Kant, hiện là căn cứ không quân của Nga gần Bishkek

Đường sắt

Thung lũng Chui ở phía bắc và thung lũng Ferghana ở phía nam là các điểm kết thúc của hệ thống đường sắt Liên bang Xô viết ở Trung Á. Sau khi các quốc gia độc lập xuất hiện thời hậu Xô viết, các tuyến đường sắt được xây dựng trước kia đã bị các biên giới hành chính cắt ngang, và vì thế ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động giao thông. Những đoạn đường sắt ngắn bên trong Kyrgyzstan, tổng cộng khoảng 370 km (khổ 1.520 mm), có ít giá trị kinh tế vì thiếu hàng hóa vận chuyển trên khoảng cách xa cũng như đi và tới các trung tâm như Tashkent, Almaty và các thành phố của Nga.
Hiện có những kế hoạch bước đầu để mở rộng các tuyến đường sắt từ Balykchy ở phía bắc và/hay từ Osh ở phía nam tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhưng chi phí cho việc này rất lớn.

Những tuyến đường sắt nối với các quốc gia lân cận

Đường cao tốc

Một con đường tại Osh

Với sự hỗ trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á, một đường chính nối từ phía bắc tới tây nam từ Bishkek tới Osh gần đây đã hoàn thành. Công trình này giúp việc liên lạc giữa hai trung tâm dân cư chính trong nước—Thung lũng Chui ở phía bắc và Thung lũng Fergana ở phía nam trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Một phần của con đường này vượt qua một con đèo cao 3.500 dẫn vào Thung lũng Talas ở phía tây bắc. Nhiều kế hoạch đang được đưa ra nhằm xây dựng một con đường chính từ Osh tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Tổng cộng: 30.300 km (gồm 140 km đường cao tốc)
đường trải nhựa: 22.600 km (gồm cả một số đoạn trải sỏi)
không trải nhựa: 7.700 km (những con đường này làm bằng đất không lu và rất khó đi lại trong điều kiện thời tiết xấu) (1990)

Đường ống

Khí tự nhiên 200 km

Đường thuỷ

Các tuyến đường thủy chỉ hoạt động trên Hồ Issyk Kul, và đã thu hẹp nhiều từ sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ.

Cảng

Balykchy (Ysyk-Kol hay Rybach’ye), trên Hồ Issyk Kul.

Các chủ đề khác

KyrgyzAlatauMtns Kyrgyzstan.jpg

Đọc thêm

  • Historical Dictionary of Kyrgyzstan của Rafis Abazov
  • Kyrgyzstan: Central Asia’s Island of Democracy? của John Anderson
  • Kyrgyzstan: The Growth and Influence of Islam in the Nations of Asia and Central Asia của Daniel E. Harmon
  • Lonely Planet Guide: Central Asia của Paul Clammer, Michael Kohn và Bradley Mayhew
  • Odyssey Guide: Kyrgyz Republic của Ceri Fairclough, Rowan Stewart và Susie Weldon
  • “Silk Road to Ruin: Is Central Asia the New Middle East?” của Ted Rall
  • “Kyrgyzstan: Traditions of Nomads,” của V. Kadyrov, Rarity Ltd., Bishkek, 2005 ISBN 9967-424-42-7

Ghi chú

Liên kết ngoài

Chính phủ

Tổng quan

Tin tức

Liên kết khác


Chào ngày mới 30 tháng 8

 Vị trí của Kazakhstan

CNM365 Chào ngày mới 30 tháng 8. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Hiến pháp tại Kazakhstan, ngày Quốc tế người mất tích. Năm 1835 – Một nhóm người định cư gốc châu Âu thành lập một khu định cư là tiền thân của Melbourne (hình) bên bờ sông Yarra. Năm 1917 – Lính khố xanh người Việt tại Thái Nguyên, Đông Dương thuộc Pháp do Trịnh Văn Cấn chỉ huy bắt đầu tiến hành nổi dậy chống lại chính quyền thực dân. Năm 1984Chương trình tàu con thoi: Tàu con thoi Discovery khởi hành chuyến đi đầu tiên của nó từ Trung tâm vũ trụ Kennedy, Florida. Năm 1992 – Tay đua người Đức Michael Schumacher giành chiến thắng trong cuộc đua công thức 1 đầu tiên của ông tại giải Grand Prix Bỉ.

Kazakhstan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Kazakhstan
Қазақстан Республикасы (tiếng Kazakh)
Qazaqstan Respublïkası (tiếng Kazakh)
Республика Казахстан (tiếng Nga)
Respublika Kazakhstan
Flag of Kazakhstan.svg Emblem of Kazakhstan.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Kazakhstan
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Kazakhstan của tôi
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa bán tổng thống
Tổng thống
Thủ tướng
Nursultan Nazarbayev
Daniyal Akhmetov
Ngôn ngữ chính thức tiếng Kazakh, tiếng Nga
Thủ đô Astana
51°10′B, 71°30′Đ
Thành phố lớn nhất Almaty
Địa lý
Diện tích 2.725.047 km² (hạng 9)
Diện tích nước 1,7% %
Múi giờ UTC từ +5 đến +6; mùa hè: UTC từ +5 đến +6
Lịch sử
Ngày thành lập Từ Nga
16 tháng 12 năm 1991
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 15.185.844 người (hạng 61)
Mật độ 5,6 người/km² (hạng 215)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: $132,7 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,761 trung bình (hạng 80)
Đơn vị tiền tệ Tenge (KZT)
Thông tin khác
Tên miền Internet .kz

Cộng hoà Kazakhstan (phiên âm tiếng Việt: Ca-dắc-xtan; tiếng Kazakh: Қазақстан Республикасы, Qazaqstan Respublïkası; tiếng Nga: Республика Казахстан, Respublika Kazakhstan) là một quốc gia trải rộng trên phần phía bắc và trung tâm của lục địa Á-Âu. Diện tích của Kazakhstan là 2.725.047 km², rộng lớn hơn cả Tây Âu. Kazakhstan là quốc gia có diện tích đứng hàng thứ chín thế giới. Nước này có một phần nhỏ lãnh thổ nằm ở bờ phía tây sông Ural, thuộc phần châu Âu.
Kazakhstan giáp Nga về phía bắc, Trung Quốc về phía đông nam, hai nước Trung ÁUzbekistanKyrgyzstan về phía nam. Kazakhstan cũng có đường bờ biển với 2 biển là biển Aralbiển Caspia.
Kazakhstan là quốc gia rộng thứ chín trên thế giới, nhưng về dân số chỉ xếp thứ 62 cho nên Kazakhstan là một trong những quốc gia có mật độ dân cư thưa thớt nhất trên thế giới: trung bình 6 người/km². Dân số theo thống kê năm 2006 của Kazakhstan là 15.300.000 người, giảm xuống từ 16.464.000 người vào năm 1989 do sự di cư của cộng đồng người Ngangười Đức Volga. Đại bộ phần địa hình của Kazakhstan là bán hoang mạc.
Trong hầu hết lịch sử lãnh thổ của Kazakhstan hiện đại từng là nơi sinh sống của các bộ tộc du mục. Tới thế kỷ 16 người Kazakh xuất hiện như một nhóm riêng biệt, được phân chia thành ba hãn quốc. Người Nga bắt đầu tiến vào thảo nguyên Kazakhthế kỷ 18, và tới giữa thế kỷ 19 toàn bộ Kazakhstan là một phần của Đế chế Nga. Sau cuộc cách mạng tháng 10 Nga năm 1917, và cuộc nội chiến sau đó, lãnh thổ Kazakhstan được tổ chức lại nhiều lần trở thành Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakh năm 1936, một phần của Liên bang Xô viết. Trong thế kỷ 20, Kazakhstan là nơi diễn ra nhiều dự án lớn của Liên xô, gồm cả chiến dịch Đất chưa Khai phá của Khrushchev, Sân bay vũ trụ Baikonur, và Semipalatinsk “Polygon”, địa điểm thử nghiệm vũ khí hạt nhân chính của Liên xô.
Kazakhstan tuyên bố độc lập ngày 16 tháng 12 năm 1991, nước cộng hoà cuối cùng của Liên xô thực hiện điều này. Lãnh đạo thời cộng sản của họ, Nursultan Nazarbayev, trở thành tổng thống mới. Từ khi độc lập, Kazakhstan đã theo đuổi một chính sách đối ngoại cân bằng và nỗ lực phát triển nền kinh tế, đặc biệt là công nghiệp hydrocarbon. Tuy triển vọng kinh tế đang được cải thiện, Tổng thống Nazarbayev vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ với nền chính trị trong nước. Tuy vậy, danh tiếng quốc gia của Kazakhstan vẫn đang được tạo lập.[1] Hiện Kazakhstan được coi là quốc gia có ưu thế tại vùng Trung Á.[2] Nước này là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, gồm cả Liên hiệp quốc, Đối tác vì hoà bình của NATO, Cộng đồng các quốc gia độc lập, và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Năm 2010, Kazakhstan làm chủ tịch Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu.
Kazakhstan đa dạng về sắc tộc và văn hoá, một phần bởi những cuộc trục xuất hàng loạt nhiều nhóm sắc tộc tới nước này trong thời kỳ cầm quyền của Stalin. Người Kazakh là nhóm lớn nhất. Kazakhstan cho phép tự do tôn giáo, và nhiều đức tin khác nhau có hiện diện tại nước này. Hồi giáo là tôn giáo chính. Tiếng Kazakh là ngôn ngữ quốc gia, trong khi tiếng Nga cũng được chính thức sử dụng như một ngôn ngữ “tương đương” (với tiếng Kazakh) trong các định chế của Kazakhstan.[3][4]

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Kazakhstan

Thời kỳ cổ-trung đại

Taraz cổ xưa.

Kazakhstan bắt đầu có dân cư từ thời kỳ đồ đá, điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp đã tạo điều kiện cho những người dân du mục đến đây sinh sống. Vào thập niên 1000 TCN, có một tộc du mục chăn cừu là người Scythia đến định cư tại xứ Kazakhstan. Từ “người Scythia” chỉ một dân tộc sinh sống trong một vùng đất rộng lớn, trong số đó có những phần đất của xứ Ukraina ngày nay ở phía bắc Hắc Hải, phía đông đến dãy Altai. Một nhà sử học dùng gọi người Scythia ở phía đông là người Saka, và trong số đó có cả người Scythia xứ Kazakhstan. Tuy nhiên, theo những nguồn khác thì các từ “người Saka” và “người Scythia” có thể được thay cho nhau, tức Scythia là theo tiếng Hy Lạp còn Saka là theo tiếng Ba Tư. Người Saka dùng ngựa vừa để làm phương tiện đi lại mà vừa để làm thức ăn.[5]
Những tộc người khác cũng nói tiếng Đông Iran như người Scythia, và cũng giống y chang như người Scythia là người Sarmatianngười Massagetae, dù nhiều nhà sử học xem đây là những dân tộc khác. Người Massagetae trở nên nổi tiếng tại xứ Kazakhstan và một số nơi khác ở vùng Trung Á vì những chiến công của Nữ vương Tomyris. Theo sử cũ, sau khi vua Cyrus Đại Đế xua đại quân tinh nhuệ Ba Tư đánh tan tác người Massagetae và giết chết con trai của Nữ vương Tomyris là Spargapises, bà đã trả thù qua việc xua quân đập tan quân Ba Tư (530 TCN),[6] và chặt đầu vua Cyrus Đại Đế. Không những thế bà còn bỏ cái đầu ông vào một chiếc túi da chứa đầy máu người, để ông được tha hồ uống máu – một việc mà ông luôn thèm khát. Chiến thắng của Nữ vương Tomyris trước quân Ba Tư trở thành một khoảnh khắc huy hoàng trong lịch sử xứ Kazakhstan.[7] Do đó, nhiều nhà hàng ở xứ Kazakhstan có tên là “Tomyris”.[8]
Vị vua kế tục nổi tiếng nhất của Cyrus Đại Đế là Darius I cầm binh đi đánh người Scythia ở phía đông Kazakhstan vào năm 519 TCN.[9] Một vị vua tàn bạo của xứ MacedoniaHy LạpAlexandros Đại Đế lên nối ngôi vào năm 336 TCN, diệt được Đế quốc Ba Tư, và mở rộng Vương quốc Macedonia đến tận Kazakhstan và Pakistan ở phía đông. Vào năm 329 TCN, ông kéo quân đến sông Jaxartes ở biên giới phía bắc của Ba Tư (nay là sông Syr Darya tại các xứ Kazakhstan, UzbekistanTadzhikistan). Trong một trận đánh tại đây, ông đại phá tộc người hùng mạnh Scythia và đánh đuổi họ về phía bắc.[10][11] Cùng với sự xâm chiếm của đế chế Mông Cổ vào đầu thế kỉ 13, cấc quận hành chính đầu tiên đã được thành lập dưới đế chế Mông Cổ, thậm chí về sau trở thành các lãnh thổ độc lập của Khả hãn quốc Kazakh (hay còn gọi là Ak Horde). Những thành thị trung cổ đầu tiên là Alie-Ata và Turkestan đã được phát hiện phía bắc con đường tơ lụa nổi tiếng, nơi ngày nay chính là Kazakhstan.
Cuộc sống du mục truyền thống trên các thảo nguyên rộng lớn và bán hoang mạc đã tạo nên những cuộc tìm kiếm không ngớt các đồng cỏ có giá trị vô cùng to lớn đối vời nền kinh tế dựa trên chăn nuôi. Dân tộc Kazakh hình thành trên cơ sở nhiều bộ lạc sống trong khu vực vào khoảng thế kỉ 15. Khoảng giữa thế kỉ 16, người Kazakh bắt đầ phát triển ngôn ngữ, văn hóa và nền kinh tế riêng của đất nước mình. Đầu thế kỉ 17, Khả hãn quốc Kazakh phân rã thành ba cộng đồng Lớn, Vừa và Nhỏ, liên kết trên cơ sở mối quan hệ huyết thống. Tuy nhiên những bất hòa về chính trị, sự liên kết lỏng lẻo về kinh tế và những cuộc chiến giữa các cộng đồng với nhau đã nhanh chóng làm suy sụp Khả hãn quốc Kazakh. Những cuộc chiến tranh giành lãnh thổ giữa các tiểu vương Kazakh và vua Ba Tư đã nổ ra trong nhiều thế kỉ.

Thời kỳ cận đại

Abay Qunanbayuli, nhà thơ, nhà soạn nhạc và nhà triết học người Kazakh

Đầu thế kỉ 19, đế chế Nga bắt đầu mở rộng tới vùng Trung Á. Đế chế Nga đã xây dựng hệ thống hành chính, quân đội và các pháo đài tại vùng Trung Á để tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng với đế chế Anh trong Trò chơi lớn (tiếng Anh: Great Game) tại vùng Trung Á. Tiếng Nga trở thành thứ tiếng chính thức tại mọi trường học và các cấp chính quyền. Người Nga nỗ lực áp đặt hệ thống chính quyền của mình lên trên sự giận dữ của người Kazakh. Những cuộc vận động dân tộc của người Kazakh đã nổ ra vào những năm 1860 kêu gọi bảo vệ văn hóa và truyền thống dân tộc trước sự Nga hóa của người Nga. Từ thập kỉ 1890, một bộ phận người Slavơ đến Trung Á đã thành lập thuộc địa tại vùng đất ngày nay là Kazakhstan. Họ đã xây dựng tuyến đường sắt xuyên dãy Ural từ Orenburg đến Tashkent, hoàn thành vào năm 1906. Tuyến đường sắt được giám sát và nhận được sự ủng hộ đặc biệt từ phía Chính quyền Nhập cư ở St. Petersburg. Cuộc chiến tranh giành đất đai và nguồn nước giữa người Kazakh và những người Slavơ mới đến đã nổ ra. Sự oán giận của người Kazakh dưới ách áp bức bóc lột của chế độ Nga hoàng đã làm bùng nổ cuộc Khởi nghĩa Trung Á năm 1916.

Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakh

Almaty, thủ đô Kazakhstan thời Liên xô.

Đế chế Nga sụp đổ vào năm 1917 đã tạo điều kiện cho Kazakhstan có một thời gian độc lập. Tuy nhiên người Kazakh vẫn quyết định gia nhập Liên Xô. Năm 1920, Kazakhstan trở thành một nước cộng hòa tự trị, và năm 1936 là một nước cộng hòa Xô viết nằm trong lãnh thổ Liên Xô.
Nền nông nghiệp tập thể hóa cuối những năm 1920-1930 đã gây ra nạn đói trầm trọng ở Kazakhstan. Nhưng chính quyền Xô viết đã xây dựng một hệ thống chính quyền cộng sản vững mạnh để hội nhập Kazakhstan vào Liên bang Xô viết. Thập kỉ 1930, rất nhiều người dân đến từ các vùng khác của Liên Xô đã đến Kazakhstan.
Giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai đã đánh dấu giai đoạn công nghiệp hóa ở Kazkahstan, nhưng chủ yếu tập trung khai thác khoáng sản để phục vụ cho chiến tranh. Đến khi Stalin qua đời, Kazakhstan vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu. Năm 1953, lãnh đạo Xô viết Nikita Khrushchev đã đề xướng kế hoạch Virgin Lands với mục tiêu biến những đồng cỏ ở Kazakhstan thành những vùng trồng cây lương thực cho Liên bang Xô viết. Chính sách Virgin Lands sau này được hiện đại hóa và phát triển dưới thời Leonid Brezhnev.
Tình trạng căng thẳng trong xã hội Xô viết đã dẫn tới những yêu cầu phải cải cách chính trị và kinh tế, lên tới đỉnh điểm vào những năm 1980. Tháng 12 năm 1986, những cuộc tuần hành lớn của các thanh niên sắc tộc Kazakh, sau này được gọi là cuộc nổi dậy Jeltoqsan, diễn ra ở Almaty để phản đối sự thay thế Thư ký thứ nhất của Đảng Cộng sản Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakh Dinmukhamed Konayev bằng Gennady Kolbin từ Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga. Quân đội chính phủ đàn áp cuộc biểu tình, nhiều người đã bị giết hại và bỏ tù. Trong những ngày cai trị cuối cùng của Liên xô, sự bất mãn tiếp tục gia tăng và được thể hiện nhờ chính sách glasnost của lãnh tụ Liên xô Mikhail Gorbachev.

Độc lập

Cùng với làn sóng các nước cộng hoà thuộc Liên xô tìm kiếm sự tự trị lớn hơn nữa, Kazakhstan tuyên bố chủ quyền như một nước cộng hoà bên trong Liên xô tháng 10 năm 1990. Sau cuộc đảo chính bất thành tại Moskva tháng 8 năm 1991 và sự giải tán Liên xô, Kazakhstan tuyên bố độc lập ngày 16 tháng 12 năm 1991. Đây là nước cộng hoà cuối cùng thuộc Liên xô tuyên bố độc lập.
Những năm sau độc lập được đánh dấu bởi những cải cách to lớn với nền kinh tế kiểu Xô viết và sự độc quyền quyền lực chính trị. Dưới sự cai trị của Nursultan Nazarbayev, người đã lên nắm quyền lực năm 1989 với tư cách lãnh đạo Đảng Cộng sản Kazakhstan và sau đó được bầu làm Tổng thống năm 1991, Kazakhstan đã có những bước tiến to lớn trong việc phát triển một nền kinh tế thị trường. Nước này đã có tăng trưởng kinh tế mạnh từ năm 2000, một phần nhờ các trữ lượng dầu mỏ, khí đốt, và khoáng sản to lớn.
Tuy nhiên dân chủ vẫn chưa được cải thiện nhiều từ năm 1991. “Tháng 6 năm 2007, nghị viện Kazakhstan đã thông qua một điều luật trao cho Tổng thống Nursultan Nazarbayev quyền lực và quyền ưu tiên trọn đời, gồm cả quyền tham vấn các tổng thống tương lai, miễn trừ bị truy tố, và ảnh hưởng với chính sách đối nội và đối ngoại. Những lời chỉ trích nói rằng trên thực tế ông đã trở thành “tổng thống trọn đời.”[12][13]
Trong mười năm nắm quyền, Nazarbayev đã liên tục kiểm duyệt báo chí thông qua việc sử dụng độc đoán các điều luật về “phỉ báng”,[14] ngăn cản truy cập vào các web site đối lập (9 tháng 11 năm 1999), cấm giáo phái tôn giáo Wahhabi (5 tháng 9 năm 1998), và từ chối yêu cầu đòi thống đốc của 14 tỉnh thuộc Kazakhstan phải được bầu lên chứ không phải do tổng thống chỉ định (7 tháng 4 năm 2000).”

Chính phủ và chính trị

Tổng thống Kazakhstan, Nursultan Nazarbayev

Hệ thống chính trị

Kazakhstan là một nước cộng hoà tổng thống. Tổng thống là Nursultan Nazarbayev. Tổng thống cũng là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và có quyền phủ quyết luật. Có ba phó thủ tướng và 16 bộ trưởng. Karim Massimov đã giữa chức thủ tướng từ ngày 10 tháng 1 năm 2007.
Kazakhstan có một Nghị viện lưỡng viện, gồm hạ viện (Majilis) và thượng viện (Thượng viện Kazakhstan). Các quận bầu cử riêng biệt bầu ra 67 ghế trong Majilis; cũng có 10 thành viên được bầu theo danh sách bầu cử đảng phái chứ không phải qua các quận bầu cử riêng biệt. Thượng viện có 39 thành viên. Hai thượng nghị sĩ được lựa chọn bởi mỗi nhóm bầu cử (Maslikhats) thuộc 16 đơn vị hành chính chính của Kazakhstan (14 tỉnh, cộng thêm hai thành phố Astana và Almaty). Tổng thống chỉ định bảy thượng nghị sĩ còn lại. Các đại biểu Majilis và chính phủ đều có quyền đề xuất luật pháp, dù chính phủ đề xuất hầu hết luật pháp được Nghị viện xem xét.

Bầu cử

Một dấu hiệu của Đảng Otan (Quê hương), đảng cầm quyền cũ của Kazakhstan

Cuộc bầu cử Majilis tháng 9 năm 2004 đã tạo ra một hạ viện với đa số thành viên ủng hộ chính phủ thuộc Đảng Otan, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nazarbayev. Hai đảng khác được coi là có thiện cảm với tổng thống, gồm khối nông nghiệp-công nghiệp AIST và Đảng Asar, do con gái của Tổng thống Nazarbayev lập ra, thắng hầu hết số ghế còn lại. Các đảng đối lập, đã chính thức đăng ký và tham gia vào cuộc bầu cử, chỉ giành được một ghế trong cuộc bầu cử mà Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu coi là không đạt các tiêu chuẩn quốc tế.
Năm 1999, Kazakhstan đã đề nghị tư cách quan sát viên tại Hội đồng Nghị viện châu Âu. Câu trả lời chính thức của Nghị viện là Kazakhstan chỉ có thể đề nghị tư cách thành viên đầy đủ, bởi họ nằm một phần ở châu Âu, nhưng họ sẽ không được trao bất kỳ một tư cách nào tại Hội đồng trừ khi các thành tích dân chủnhân quyền của nước này được cải thiện.
Ngày 4 tháng 12 năm 2005, Nursultan Nazarbayev tái cử với một chiến thắng long trời lở đất. Uỷ ban bầu cử thông báo rằng ông đã gi