Chào ngày mới 18 tháng 7

 Nelson Mandela-2008 (edit).jpg

CNM365 Chào ngày mới 18 tháng 7 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc tế Nelson Mandela; ngày Hiến pháp tại UruguayNăm 912 – Dĩnh vương Chu Hữu Khuê đem quân vào tẩm điện sát hại cha là Hậu Lương Thái Tổ, sau đó kế vị hoàng đế Hậu Lương. Năm 1925Adolf Hitler phát hành bản tuyên ngôn cá nhân của mình là Mein Kampf (hình), trình bày về cương lĩnh và tư tưởng. Năm 1942 – Máy bay quân sự Me 262 của Đức tiến hành chuyến bay đầu tiên với động cơ phản lực, đây là loại máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên trên thế giới. Năm 1947 – Các đảo từng thuộc Ủy thác Nam Dương của Đế quốc Nhật Bản được Liên Hiệp Quốc ủy thác cho Hoa Kỳ quản lý.

Nelson Mandela

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nelson Mandela
Nelson Mandela-2008 (edit).jpg
Mandela vào năm 2008
Chức vụ
Nhiệm kỳ 10 tháng 5 năm 1994 – 14 tháng 6 năm 1999
Tiền nhiệm Frederik Willem de Klerk
Vai trò Tổng thống Nam Phi
Kế nhiệm Thabo Mbeki
Nhiệm kỳ 3 tháng 9 năm 1998 – 14 tháng 6 năm 1999
Tiền nhiệm Andrés Pastrana Arango
Kế nhiệm Thabo Mbeki
Thông tin chung
Đảng Đại hội Quốc gia châu Phi
Sinh 18 tháng 7, 1918 (95 tuổi)
Mvezo, Liên hiệp Nam Phi
Mất 05 tháng 12, 2013 (95 tuổi)
Nơi ở Điền trang Houghton, Nam Phi
Alma mater Đại học Fort Hare
Đại học London External System
Đại học Nam Phi
Đại học Witwatersrand
Tôn giáo Tin Lành
Trang web Quỹ Mandela
Chữ ký Nelson Mandela Signature.svg
Binh nghiệp

Nelson Rolihlahla Mandela (IPA: [xoˈliɬaɬa manˈdeːla]), 18 tháng 7, 19185 tháng 12, 2013)[1]Tổng thống Nam Phi từ năm 1994 đến 1999, và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu. Trước khi trở thành tổng thống, Mandela là nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid (chủ nghĩa phân biệt chủng tộc), và là người đứng đầu Umkhonto we Sizwe, phái vũ trang của Đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC). Vào năm 1962 ông bị bắt giữ và bị buộc tội phá hoại chính trị cùng các tội danh khác, và bị tuyên án tù chung thân. Mandela đã trải qua 27 năm trong lao tù, phần lớn thời gian là ở tại Đảo Robben. Sau khi được trả tự do vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, Mandela đã lãnh đạo đảng của ông trong cuộc thương nghị để tiến tới một nền dân chủ đa sắc tộc vào năm 1994. Trong nhiệm kỳ tổng thống của mình từ năm 1994 đến 1999, Mandela thường ưu tiên cho vấn đề hòa giải dân tộc.
Tại Nam Phi, Mandela còn được biết tới với tên gọi Madiba, một tước hiệu danh dự mà bộ lạc của ông thường trao cho những già làng.
Mandela đã nhận hơn 250 giải thưởng trong hơn bốn thập niên, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993.

Thơ ấu

Nelson Mandela vào khoảng 1937[2]

Nelson Mandela thuộc chi nhỏ nhất của dòng họ phong kiến Thembu, trị vì các lãnh thổ Transkei thuộc tỉnh Cape của Nam Phi.[3] Ông sinh ra tại Mvezo, một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Umtata, thủ phủ của Transkei.[3] Ông cố ruột Ngubengcuka của ông (mất năm 1832) đã trị vì với danh hiệu Inkosi Enkhulu, tức là vua của người Thembu.[4] Một trong những con trai của nhà vua, có tên là Mandela, chính là ông nội của Nelson và đây chính là nguồn gốc họ Mandela của ông. Tuy nhiên, vì ông là con trai của Inkosi với một người vợ thuộc bộ tộc Ixhiba (gọi là “Tả gia”[5]), các con cháu thuộc chi này tuy vẫn thuộc Hoàng gia nhưng không bao giờ được thừa kế ngai vàng Thembu.
Cha của Nelson Mandela, Gadla Henry Mphakanyiswa, là người đứng đầu bộ lạc ở thị trấn Mvezo.[6][[]][liên kết hỏng] Tuy vậy, do không được chính quyền thuộc địa vừa lòng, Mphakanyiswa bị tước chức và cả gia đình bị chuyển đến Qunu. Dù vậy, Mphakanyiswa vẫn là thành viên Hội đồng Cơ mật của Inkosi, và đóng vai trò là người hỗ trợ cho Jongintaba Dalindyebo lên ngôi quốc vương Thembu. Dalindyebo sau này đã trả ơn ông bằng cách nhận nuôi Mandela sau khi Mphakanyiswa chết.[7] Cha của Mandela có bốn bà vợ, sinh tổng cộng 13 người con (bốn trai, chín gái).[7] Mandela là con của bà vợ thứ ba, Nosekeni Fanny. Fanny là con của Nkedama thuộc bộ tộc Mpemvu Xhosa, thuộc về nhà Hữu gia, là vùng đất nơi Mandela đã trải qua phần lớn thời thơ ấu.[8] Tên của ông Rolihlahla có nghĩa là “kéo cành cây”, hay một cách thông tục, có nghĩa là “kẻ gây rối”.[9][10]
Rolihlahla Mandela là người đầu tiên trong gia đình được đi học, tại đó cô giáo Mdingane đã đặt cho ông một cái tên tiếng Anh là “Nelson”.[11]
Lúc Mandela lên chín, cha ông qua đời vì bệnh lao phổi, quan nhiếp chính Jongintaba trở thành người giám hộ hợp pháp của ông.[7] Mandela đi học trường truyền giáo thuộc Hội Giám lý nằm kế bên lâu đài của quan nhiếp chính. Theo phong tục của người Thembu, ông được thụ giáo lúc 16 tuổi, rồi đi học Học viện Clarkebury Boarding.[12] Mandela đã hoàn tất Bằng sơ trung học chỉ trong vòng hai năm, thay vì ba năm như thông thường.[12] Để chuẩn bị thừa kế vị trí thành viên Hội đồng Cơ mật của cha mình, năm 1937, Mandela chuyển đến trường Healdtown, ngôi trường tại Fort Beaufort, nơi hầu hết con cháu hoàng tộc Thembu đều đi học.[13] Vào lúc 19 tuổi, ông bắt đầu quan tâm đến bộ môn quyền anh và chạy bộ tại trường.[8]
Sau đó, ông đậu vào học bằng Cử nhân tại Trường Đại học Fort Hare, nơi ông đã gặp Oliver Tambo. Tambo và Mandela sau này là những người bạn và đồng nghiệp thân thiết. Mandela cũng kết bạn với người bà con Kaiser (“K.D.”) Matanzima, người thuộc dòng trực hệ của Hữu gia của người Thembu, là người thừa kế ngai vàng Transkei[5], vì vai trò mà sau đó đã đưa ông đến với chính sách Bantustan. Chính sự ủng hộ chính sách này của ông và Mandela đã khiến hai người trở thành phe chính trị đối lập.[8] Cuối năm thứ nhất, Mandela tham gia vào vụ tẩy chay của Hội sinh viên nhằm chống lại quy định của trường đại học, và bị buộc phải rời trường Fort Hare không được trở lại chừng nào ông chưa chấp nhận cuộc bầu cử của vào Hội.[14] Sau này, lúc ở trong tù, Mandela đã học bằng Cử nhân luật của Chương trình đào tọa từ xa của Đại học Luân Đôn.
Một thời gian ngắn sau khi rời Fort Hare, Jongintaba đã thông báo với Mandela và Justice (con của quan nhiếp chính và là người thừa kế ngai vàng) rằng ông đã sắp xếp đám cưới cho cả hai người. Những thanh niên trẻ không vừa lòng với sự sắp đặt này, và quyết định chuyển đến sống ở Johannesburg.[15] Khi đến Johannesburg, Mandela xin một chân canh gác tại một khu mỏ.[16] Tuy nhiên, ông chủ lập tức đuổi việc Mandela khi hay rằng ông là con nuôi đang chạy trốn của Quan nhiếp chính. Mandela chuyển sang làm tập sự ở một công ty luật ở Johannesburg, Witkin, Sidelsky và Edelman, nhờ quen biết với một người bạn và người hướng dẫn, nhân viên địa ốc Walter Sisulu.[16] Khi làm việc tại hãng Witkin, Sidelsky và Edelman, Mandela đã hoàn tất tấm bằng Cử nhân hàm thụ của Trường Đại học Nam Phi, sau đó ông học luật tại Trường Đại học Witwatersrand, tại đó ông kết bạn tới bạn học và sau này là đồng chí chống chủ nghĩa apartheid của ông Joe Slovo, Harry SchwarzRuth First. Slovo sau này là Bộ trưởng Bộ cư trú, còn Schwarz là Đại sứ Nam Phi tại Hoa Kỳ. Trong thời gian này, ông sống tại thành phố ngoại ô Alexandra, phía bắc Johannesburg.[17]

Hoạt động chính trị

Sau chiến thắng của Đảng Quốc gia, ủng hộ chính sách phân biệt chủng tộc apartheid[18] của những người Afrikaner, Mandela bắt đầu tham gia tích cực vào hoạt động chính trị. Ông đã lãnh đạo rất thành công trong Chiến dịch Phản đối của ANC năm 1952 và Đại hội Nhân dân năm 1955, từ đó thông qua Hiến chương Tự do là nền tảng cơ bản cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa apartheid.[19][20] Trong thời gian này, Mandela và luật sư đồng nghiệp Oliver Tambo điều hành một công ty luật có tên là Mandela và Tambo, nhận bào chữa miễn phí hoặc giá rẻ cho nhiều người da đen thiếu luật sư đại diện.[21]
Mahatma Gandhi có ảnh hưởng lớn đến cách thức đấu tranh của Mandela, và cả phương pháp dành thắng lợi của các nhà hoạt động chống chủ nghĩa apartheid các thế hệ sau.[22][23] Mandela đã từng tham dự một hội nghị diễn ra tại New Delhi từ ngày 29-30 tháng 1 năm 2007 đánh dấu 100 năm ngày Gandhi đưa ra thuyết satyagraha (phản kháng bất bạo động) tại Nam Phi.[24]
Ban đầu, khi kiên trì đường lối đấu tranh bất bạo động, Mandela và 150 người khác bị bắt giam vào ngày 5 tháng 12 năm 1956 và bị buộc tội phản quốc. Sau quá trình xét xử kéo dài từ năm 1956-1961, tất cả các bị cáo đều được tuyên trắng án.[25] Từ năm 1952–1959, xuất hiện một lực lượng các nhà hoạt động da đen mới được gọi là những người Toàn Phi đã cản trở các hoạt động của ANC ở khu vực thành phố của người da đen, lực lượng này đòi hỏi phải có các biện pháp quyết liệt hơn nhằm chống lại chế độ của Đảng Quốc gia.[26] Những nhà lãnh đạo ANC lúc bấy giờ là Albert Luthuli, Oliver TamboWalter Sisulu không những cho rằng những người Toàn Phi đang đi quá đà mà còn cảm thấy quyền lãnh đạo của họ đang bị đe dọa.[26] Vì thế cánh lãnh đạo của ANC đã củng cố vị thế của mình bằng cách liên minh với các đảng phái chính trị nhỏ của những người Da trắng, Da màu, lẫn Da đỏ nhằm tranh thủ lôi kéo rộng rãi số người ủng hộ hơn phái Toàn Phi.[26] Những người Toàn Phi nhạo báng Hiến chương Tự do trong Hội nghị tại Kliptown năm 1955 vì đảng ANC với số lượng thành viên áp đảo 100.000 người mà chỉ có được một phiếu trong liên minh Đại hội. Bốn trong năm tổng thư ký của các đảng phái tham gia đại hội đều đã ngầm tham gia Đảng Cộng sản Nam Phi (SACP) tái cơ cấu, gắn liền với chính sách của Moskva.[27][28] Đến năm 2003 Blade Nzimande, Tổng thư ký SACP, tiết lộ rằng Walter Sisulu, Tổng thư ký của đảng ANC, cũng đã bí mật gia nhập SACP vào năm 1955[29] có nghĩa là cả năm Tổng thư ký đều là người của SACP và do đó giải thích lý do tại sao Sisulu quyết định đưa vai trò của ANC từ vai trò chi phối xuống thành một trong năm bên ngang vai nhau.
Trong năm 1959, ANC mất phần lớn sự ủng hộ từ lực lượng chiến đấu khi phần lớn những người Toàn Phi, với sự hỗ trợ tài chính từ Ghana và chính trị từ những người Sotho tại tỉnh Transvaal, đã ly khai để thành lập Đại hội Toàn Phi (PAC) dưới sự lãnh đạo của Robert SobukwePotlako Leballo.[30]

Hoạt động chống Chủ nghĩa Apartheid

Vào năm 1961, Mandela trở thành người đồng sáng lập và là lãnh đạo cánh vũ trang của ANC, Umkhonto we Sizwe (tạm dịch Cây giáo của Quốc gia, cũng viết tắt là MK).[31] Ông điều hành các chiến dịch phá hoại chống lại các mục tiêu quân sự và của chính quyền, lên kế hoạch cho một cuộc chiến tranh du kích nếu phương cách phá hoại vẫn không chấm dứt được chế độ apartheid.[32] Mandela cũng quyên tiền cho MK ở nước ngoài và sắp xếp các buổi huấn luyện bán quân sự cho nhóm.[32]
Người đồng chí trong đảng ANC Wolfie Kadesh giải thích chiến dịch đánh bom do Mandela dẫn dắt như sau: “Khi chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ bắt đầu vào ngày 16 tháng 12 năm 1961, nhằm làm nổ tung những vị trí là biểu tượng của chủ nghĩa apartheid, như văn phòng giấy thông hành, tòa án địa phương, và những nơi tương tự… bưu điện và… các văn phòng chính phủ. Nhưng chúng tôi dự định thực hiện điều đó sao cho không có ai bị thương vong.”[33] Mandela đã nói về Wolfie: “Kiến thức về chiến tranh và kinh nghiệm trận mạc của ông là cực kỳ hữu ích đối với tôi.”[10]
Mandela đã xem bước chuyển sang đấu tranh vũ trang là phương kế cuối cùng; nhiều năm trời với chính sách đàn áp và bạo lực ngày càng tăng của chính quyền đã cho ông thấy sự phản kháng bất bạo động chống chủ nghĩa apartheid nhiều năm qua đã không và cũng không thể thu được tiến triển nào.[10][34]
Sau này, chủ yếu vào thập niên 1980, MK đã tiến hành chiến tranh du kích chống lại chế độ apartheid với nhiều thương vong là dân thường.[32] Mandela sau này thừa nhận rằng ANC, trong cuộc chiến đấu chống lại apartheid, cũng vi phạm quyền con người, chỉ trích thẳng thừng những đảng viên trong đảng ông cố gắng đưa những câu chữ phản ánh sự thật ra khỏi báo cáo của Ủy ban Sự thật và Hòa giải.[35]
Cho đến tận tháng 7 năm 2008, Mandela và các đảng viên ANC vẫn bị hạn chế đi đến Hoa Kỳ – ngoại trừ trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Manhattan — nếu không có giấy phép cho phép đặc biệt của Ngoại trưởng Hoa Kỳ, vì họ bị quy là khủng bố trong thời kỳ chế độ apartheid ở Nam Phi.[36][37]

Bị bắt giữ và phiên tòa Rivonia

Ngày 5 tháng 8 năm 1962 Mandela bị bắt sau khi ẩn náu được 17 tháng, và giam giữ tại Pháo đài Johannesburg.[38] Vụ bắt giữ này xảy ra do Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) đã tiết lộ nơi ẩn náu và nhân dạng giả của Mandela cho an ninh.[39][40][41] Ba ngày sau đó, người ta đã đọc lời buộc tội ông chủ mưu kêu gọi công nhân đình công vào năm 1961 và vượt biên bất hợp pháp tại tòa. Ngày 25 tháng 10 năm 1962, Mandela bị tuyên án 5 năm tù giam. Hai năm sau vào ngày 11 tháng 6 năm 1964, ông lại phải ra tòa một lần nữa vì những hoạt động trong Hội đồng Quốc gia châu Phi (ANC).[42]
Trong lúc Mandela đang trong tù, cảnh sát đã bắt giữ nhiều lãnh đạo cốt cán của ANC vào ngày 11 tháng 7 năm 1963, tại Liliesleaf Farm, Rivonia, phía bắc Johannesburg. Mandela được ghép vào xét xử chung, và tại Phiên tòa Rivonia, họ bị chánh án, Tiến sĩ Percy Yutar, cáo buộc nhiều tội danh trong đó chủ yếu là phá hoại (Mandela thừa nhận tội này) và các tội tương đương với phản quốc, nhưng chính quyền dễ chứng minh hơn.[43] Lời buộc tội thứ hai cáo buộc các bị cáo âm mưu một cuộc xâm lược của ngoại quốc vào Nam Phi, Mandela phủ nhận tội danh này.[43]
Trong lời phát biểu tại ghế bị cáo mở đầu phiên biện hộ trong phiên tòa ngày 20 tháng 4 năm 1964 tại Tòa án Tối cao Pretoria, Mandela đã nói rằng việc ANC lựa chọn sử dụng vũ lực chỉ là một sách lược mà thôi.[44] Lời phát biểu của ông đã mô tả ANC đã sử dụng các biện pháp hòa bình như thế nào để chống lại chủ nghĩa apartheid trong nhiều năm trời cho đến khi xảy ra vụ Thảm sát Sharpeville.[45] Sự kiện đó đi kèm với cuộc trưng cầu dân ý để thành lập Cộng hòa Nam Phi và sự tuyên bố tình trạng khẩn cấp cùng với việc cấm chỉ hoạt động của ANC đã khiến cho Mandela và các đồng chí của ông thấy rằng lựa chọn duy nhất của họ chỉ có thể thông qua các hành động phá hoại, nếu không chẳng khác nào một sự đầu hàng vô điều kiện.[45] Mandela tiếp tục giải thích cách họ hình thành Tuyên ngôn Umkhonto we Sizwe vào ngày 16 tháng 12 năm 1961 dự kiến sẽ phô bày sự thất bại của các chính sách của Đảng Quốc gia sau khi nền kinh tế bị đe dọa cho những người ngoại quốc không còn sẵn lòng đầu tư vào đất nước nữa.[46] Ông kết thúc bài phát biểu bằng những lời sau đây: “Tôi cống hiến cả đời tôi cho sự nghiệp đấu tranh của người dân châu Phi. Tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da trắng, và tôi cũng chiến đấu chống lại sự thống trị của người da đen. Tôi yêu mến lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do trong đó mọi người dân sống với nhau hòa thuận và bình đẳng. Đó là lý tưởng mà tôi hy vọng sẽ sống vì nó và đạt được nó. Nhưng nếu cần, tôi cũng sẵn sàng chết vì lý tưởng đó.”[34]
Bram Fischer, Vernon Berrange, Harry Schwarz, Joel Joffe, Arthur ChaskalsonGeorge Bizos là các luật sự bảo vệ cho bên bị.[47] Harold Hanson cũng được bổ sung vào cuối phiên tòa để giúp giảm nhẹ tội danh.[48] Tất cả mọi người trừ Rusty Bernstein đều bị tuyên là có tội, nhưng họ thoát khỏi án treo cổ mà bị tuyên tù chung thân vào ngày 12 tháng 6 năm 1964.[48] Lời buộc tội gồm có tham gia lên kế hoạch hành động vũ trang, cụ thể là bốn cáo buộc phá hoại, mà Mandela thừa nhận, và một âm mưu chính trị trợ giúp nước ngoài xâm lược Nam Phi, tội này bị Mandela phủ nhận.[48]

Thời gian trong tù

Một khoảnh sân tù ở Đảo Robben

Phòng giam của Nelson Mandela trên Đảo Robben

Nelson Mandela bị giam giữ tại Đảo Robben và đã ở đấy 18 năm trong tổng số 27 năm trong tù của ông.[49] Khi ở trong tù, ông dần dần trở nên nổi tiếng với vai trò là nhà lãnh đạo da đen đáng chú ý nhất tại Nam Phi.[1] Ở trên đảo, ông và các tù nhân khác phải lao động khổ sai ở một mỏ đá vôi.[50] Điều kiện sống trong tù rất cơ bản. Tù nhân cũng bị phân chia theo sắc tộc và tù nhân da đen là những người nhận được lượng thực phẩm ít nhất.[51] Tù chính trị được giam giữ riêng biệt với thường phạm và được hưởng ít quyền lợi hơn.[52] Mandela đã mô tả rằng, do bị xếp vào tù nhân nhóm D (hạng thấp nhất) ông chỉ được phép có một người khách viếng thăm và nhận một lá thư mỗi sáu tháng.[53] Những lá thư thường bị trễ khá lâu và rất khó đọc do chế độ kiểm duyệt trong nhà tù.[10]
Lúc ở trong tù Mandela đã tham gia khóa học từ xa của Đại học Luân Đôn và nhận bằng Cử nhân Luật.[54] Ông sau đó được đề cử làm Hiệu trưởng danh dự của Đại học Luân Đôn trong cuộc bình chọn năm 1981, nhưng vị trí này đã thuộc về Công chúa Anne.[54]
Trong cuốn hồi ký Inside BOSS xuất bản năm 1981[55] điệp viên Gordon Winter đã kể về việc ông này tham gia kế hoạch giải cứu Mandela vào năm 1969: kế hoạch này bị Winter tiết lộ thay mặt cho cơ quan tình báo Nam Phi, họ muốn Mandela trốn thoát để họ có thể xử bắn ông khi tìm bắt lại. Kế hoạch này đã bị Cơ quan Tình báo Anh chặn đứng.[55]
Vào tháng 3 năm 1982 Mandela được chuyển từ Đảo Robben sang Nhà tù Pollsmoor, cùng với các nhà lãnh đạo ANC khác như Walter Sisulu, Andrew Mlangeni, Ahmed KathradaRaymond Mhlaba.[53] Đã có suy đoán rằng đây là cách để xóa bỏ sức ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo cấp cao này đối với thế hệ những nhà hoạt động da đen trẻ đang bị giam tại Đảo Robben, cái gọi là “Trường Đại học Mandela”.[56] Tuy nhiên, Thủ tướng Kobie Coetsee thuộc Đảng Quốc gia nói rằng việc chuyển trại này giúp cho việc liên hệ giữa họ và chính quyền Nam Phi được thuận tiện hơn.[57]
Tháng 2 năm 1985 Tổng thống P.W. Botha đề nghị trả tự do cho Mandela với điều kiện ông phải ‘từ bỏ phương cách đấu tranh chính trị bằng bạo lực một cách vô điều kiện’.[58] Coetsee và các bộ trưởng khác phản đối đề xuất của Botha, cho rằng Mandela sẽ không bao giờ yêu cầu tổ chức của ông từ bỏ đấu tranh vũ trang để đổi lấy sự tự do cho cá nhân mình.[59] Đúng là Mandela đã bác bỏ đề xuất và đưa ra lời tuyên bố thông qua cô con gái Zindzi trong đó nói rằng “Thứ tự do đang được đề nghị cho tôi là cái gì trong khi tổ chức của nhân dân vẫn bị cấm đoán? Chỉ có những người tự do mới có thể thương lượng mà thôi. Một tù nhân không thể tham gia vào một thỏa hiệp nào hết.”[57]
Cuộc gặp đầu tiên giữa Mandela và chính quyền Đảng Quốc gia diễn ra vào tháng 11 năm 1985, khi Kobie Coetsee gặp gỡ Mandela tại Bệnh viện Volks Hospital ở Cape Town nơi Mandela đang tịnh dưỡng sau cuộc phẫu thuật tuyến tiền liệt.[60] Trong bốn năm sau đó, một loạt các cuộc gặp mang tính thăm dò đã diễn ra, làm nền tảng cho các cuộc tiếp xúc và thương lượng về sau, nhưng tiến bộ thực sự thì không nhiều.[57]
Vào năm 1988 Mandela được chuyển đến Nhà tù Victor Verster và ở đó cho đến khi ông được phóng thích. Người ta đã dỡ bỏ nhiều hạn chế đối với ông và những người như Harry Schwarz đã có thể tự do thăm viếng ông. Schwarz, một người bạn của Mandela, biết ông từ khi họ học chung lớp luật ở trường đại học. Ông này cũng là luật sư biện hộ cho Mandela tại Phiên tòa Rivonia và sau này là đại sứ tại Washington khi Mandela làm tổng thống.
Trong suốt thời kỳ Mandela bị giam giữ, đã có nhiều áp lực ở trong cũng như ngoài nước đòi chính quyền Nam Phi phải trả tự do cho ông, với khẩu hiệu nổi tiếng Free Nelson Mandela! (Hãy thả Nelson Mandela)[61] Đến năm 1989, Nam Phi có sự chuyển biến khi Botha bị đột quỵ và Frederik Willem de Klerk thay thế vào vị trí tổng thống.[62] De Klerk tuyên bố thả tự do cho Mandela vào tháng 2 năm 1990.[63]
Mandela đã được Ủy hội Chữ thập đỏ Quốc tế viếng thăm vài lần khi ông còn ở Đảo Robben và sau này ở nhà tù Pollsmoor. Mandela đã nói về những chuyến thăm viếng như sau: “với cá nhân tôi, và với những ai đã từng trải qua thời gian là tù chính trị, Hội chữ thập đỏ là một tia sáng nhân đạo trong thế giới tăm tối thiếu nhân tính của nhà tù chính trị.”[64][65]

Trả tự do

Mandela và Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton năm 1993

Ngày 2 tháng 2 năm 1990, Tổng thống Quốc gia F.W. de Klerk đã hủy lệnh cấm hoạt động đối với Đảng ANC và các tổ chức chống chủ nghĩa apartheid khác, đồng thời thông báo Mandela sẽ sớm được trả tự do.[66] Mandela được trả tự do từ Nhà tù Victor VersterPaarl vào ngày 11 tháng 2 năm 1990. Sự kiện này được phát hình trực tiếp trên khắp thế giới.[67]
Vào ngày được phóng thích, Mandela đã có một bài diễn văn gửi đến toàn quốc.[68] Ông tuyên bố cam kết hòa bình và hòa giải với những người da trắng thiểu số trong nước, nhưng nói rõ rằng cuộc đấu tranh vũ trang của ANC vẫn chưa chấm dứt khi ông nói “phương sách đấu tranh vũ trang vào năm 1960 khi chúng tôi hình thành phái quân sự trong ANC (Umkhonto we Sizwe) đơn thuần là hành động tự vệ chống lại sự tàn bạo của chủ nghĩa apartheid. Các yếu tố đưa đến cuộc đấu tranh vũ trang đến nay vẫn hiển diện. Chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tiếp tục. Chúng tôi bày tỏ hy vọng một không khí có lợi cho một cuộc thương lượng sẽ sớm được tạo ra, để nhu cầu đấu tranh vũ trang không còn nữa.”
Ông cũng nói rằng tập trung chính của ông là mang lại hòa bình cho những người da đen đa số và cho họ quyền bỏ phiếu trong những cuộc bầu cử cấp quốc gia lẫn địa phương.[68]

Thương thuyết

Tổng thống de Klerk và Mandela trong Đại hội Kinh tế Thế giới tại Davos năm 1992

Sau khi được trả tự do, Mandela trở lại làm lãnh đạo ANC, rồi từ năm 1990 đến 1994, ông lãnh đạo đảng này trong cuộc thương lượng đa đảng dẫn tới cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên trong nước.[69]
Năm 1991, ANC tổ chức hội nghị toàn quốc đầu tiên của mình ở Nam Phi sau khi được dỡ bỏ lệnh cấm, hội nghị đã bầu Mandela làm Chủ tịch (President) của tổ chức. Người bạn và người đồng nghiệp lâu năm của ông, Oliver Tambo, người lãnh đạo tổ chức lưu vong khi Mandela còn ở trong tù, trở thành Chủ tịch Quốc gia (National Chairperson).[70]
Vai trò lãnh đạo của Mandela trong cuộc thương thuyết, cũng như mối quan hệ của ông với Tổng thống F.W. de Klerk, đã được thừa nhận khi họ cùng được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1993. Tuy nhiên, mối quan hệ này thỉnh thoảng trở nên căng thẳng, cụ thể như trong một phát biểu nảy lửa vào năm 1991 khi ông nói De Klerk là người cầm đầu một “chế độ không hợp pháp, mất uy tín, gồm toàn những người thiểu số”. Cuộc thương thuyết có lần đã đổ vỡ do vụ thảm sát Boipatong tháng 6 năm 1992, khi đó Mandela cùng đoàn đại biểu của ANC bước ra khỏi cuộc thương thuyết, cáo buộc chính quyền De Klerk đồng lõa với các vụ giết chóc.[71] Tuy nhiên, những cuộc hội đàm đã được tiếp diễn sau vụ thảm sát Bisho tháng 9 năm 1992, khi bóng ma bạo lực khiến cho người ta nhận thấy hội đàm là cách duy nhất để tiến tới một giải pháp.[10]
Sau vụ ám sát nhà lãnh đạo ANC Chris Hani tháng 4 năm 1993, lại dấy lên sự sợ hãi đất nước sẽ lại tan vỡ trong bạo lực.[72] Mandela đã gửi thông điệp toàn quốc yêu cầu mọi người bình tĩnh, trong bài phát biểu với vai trò ‘tổng thống’ dù khi đó ông chưa phải là tổng thống thực sự. Mandela nói rằng “tối nay tôi đang nói với từng người Nam Phi, cả đen lẫn trắng, những lời nói xuất phát từ sâu thẳm lòng mình. Một người da trắng đầy thành kiến và căm giận đã đến đất nước chúng ta và thực hiện một hành vi sai lầm đến mức khiến cả nước phải đối mặt với vực thẳm khủng hoảng. Một người phụ nữ da trắng, gốc Afrikan, đã liều mạng sống của bà để chúng ta có thể biết đến, và mang lại sự công bằng cho vụ ám sát này. Vụ giết người máu lạnh nhằm vào Chris Hani đã tạo một làn sóng rung chuyển đất nước và thế giới… Giờ đây đã đến lúc mọi người dân Nam Phi sát cánh cùng nhau để chống lại bất cứ hành vi nào nhằm phá hủy những gì Chris Hani đã cống hiến cả đời ông cho nó – sự tự do cho tất cả chúng ta”.[73] Dù đã có một số vụ bạo loạn xảy ra sau vụ ám sát, các bên thương lượng vẫn tích cực hành động, và sớm thỏa thuận một cuộc bầu cử dân chủ diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 1994, chỉ hơn một năm sau vụ ám sát Hani.[57]

Thời kỳ làm Tổng thống Nam Phi

Cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên ở Nam Phi với quyền bỏ phiếu được trao cho tất cả mọi người đã diễn ra vào ngày 27 tháng 4 năm 1994. ANC giành được 62% số phiếu bầu, và Mandela, với vai trò là lãnh đạo ANC, đã nhậm chức làm Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi vào ngày 10 tháng 5 năm 1994, de Klerk của Đảng Quốc gia là phó tổng thống thứ nhất và Thabo Mbeki là phó tổng thống thứ hai trong Chính phủ Thống nhất Quốc gia.[74] Với vị trí là Tổng thống từ tháng 5 năm 1994 cho đến tháng 6 năm 1999, Mandela đã chủ trì sự chuyển giao từ quyền lực của thiểu số và chủ nghĩa apartheid, giành được sự tôn trọng của quốc tế đối với những nỗ lực hòa giải quốc gia và thế giới của ông.[75] Mandela đã khích lệ những người Nam Phi da đen ủng hộ cho đội Springbok (đội tuyển rugby quốc gia Nam Phi) trước đây bị dân chúng ghét bỏ khi Nam Phi tổ chức Cúp Rugby Thế giới 1995.[76] Sau khi Springbok giành chiến thắng trong trận chung kết trước New Zealand, Mandela đã trao cúp vô địch cho đội trưởng Francois Pienaar, một người Afrikan, trên người mặc chiếc áo đấu Springbok với con số 6 của Pienaar sau lưng. Hành động này được xem là bước tiến lớn của sự hòa giải giữa người Nam Phi da trắng và da đen.[77]
Sau khi nhậm chức tổng thống, một trong những dấu hiệu đặc trưng của Mandela là chiếc áo Batik của ông, còn được biết đến với cái tên “Áo Madiba“, kể cả trong những sự kiện long trọng.[78] Trong hành động quân sự đầu tiên sau thời kỳ apartheid của Nam Phi, Mandela đã ra lệnh cho quân đội xâm nhập lãnh thổ Lesotho vào tháng 9 năm 1998 để bảo vệ chính quyền của Thủ tướng Pakalitha Mosisili. Vụ việc này diễn ra sau một cuộc bỏ phiếu gây tranh cãi trong đó lực lượng phản đối đã đe dọa đến chính quyền thiếu ổn định này.[79] Những nhà bình luận và phê bình trong đó có cả các nhà hoạt động vì AIDS như Edwin Cameron đã chỉ trích Mandela vì sự thiếu hiệu quả của chính quyền ông trong việc ngăn chặn cuộc khủng hoảng AIDS.[80][81] Sau khi nghỉ hưu, Mandela thừa nhận rằng ông đã thất bại vì đã không chú ý nhiều hơn đến bệnh dịch HIV/AIDS.[82][83] Mandela từ đó đã có một số bài phát biểu chống lại bệnh dịch AIDS.[84][85]

Vụ xử Lockerbie

Tổng thống Mandela có sự quan tâm đặc biệt trong việc giúp đỡ giải quyết tranh cãi kéo dài giữa một bên là quốc gia Lybia dưới thời Gaddafi, còn bên kia là Hoa Kỳ và Anh, đối với việc mang ra xét xử hai người Lybia bị truy tố vào tháng 11 năm 1991 và bị buộc tội phá hoại Chuyến bay 103 của Pan Am, khiến nó rơi tại thị trấn Lockerbie của Scotland ngày 21 tháng 12 năm 1988, làm cho 270 người thiệt mạng.[86] Từ đầu năm 1992, Mandela đã có lời đề nghị không chính thức gửi tới Tổng thống George H.W. Bush yêu cầu xét xử hai nghi phạm Lybia tại quốc gia thứ ba. Bush tỏ ra tán thành đề nghị này, cả Tổng thống François Mitterrand của Pháp và Vua Juan Carlos I của Tây Ban Nha cũng vậy.[87] Vào tháng 11 năm 1994 – sáu tháng sau khi ông đắc cử tổng thống – Mandela chính thức đề nghị Nam Phi nên là nơi diễn ra phiên toàn xét xử vụ đánh bom Chuyến bay 103 của Pan Am.[88]
Tuy nhiên, Thủ tướng Anh John Major thẳng thừng từ chối ý tưởng này nói rằng chính phủ Anh không tin tưởng vào tòa án nước ngoài.[89] Đến ba năm sau, Mandela một lần nữa lại gửi lời đề nghị đến người kế nhiệm Major, Tony Blair, khi ông có chuyến viếng thăm Luân Đôn vào tháng 7 năm 1997. Cuối năm đó, tại Cuộc họp những người đứng đầu chính phủ của khối Thịnh vượng chung năm 1997 tại Edinburgh tháng 10 năm 1997, Mandela đã cảnh báo:

“Không thể có một quốc gia vừa là nguyên cáo, vừa là bên nguyên lẫn quan tòa.”

Cuối cùng đã có một thỏa hiệp để tổ chức phiên tòa ở Trại quân sự Zeist ở Hà Lan, xét xử theo Luật Scotland, và Tổng thống Mandela bắt đầu thương thuyết với Đại tá Gaddafi để dẫn độ hai bị cáo (MegrahiFhimah) vào tháng 4 năm 1999.[90] Sau phiên tòa kéo dài 9 tháng, phán quyết đã được công bố vào ngày 31 tháng 1 năm 2001. Fhimah được tuyên trắng án, nhưng Megrahi bị buộc tội và phải lãnh 27 năm tù trong một nhà tù ở Scotland. Kháng cáo lần đầu của Megrahi đã bị bác vào tháng 3 năm 2002, và cựu tổng thống Mandela đã đến thăm người này tại nhà tù Barlinnie vào ngày 10 tháng 6 năm 2002.

‘Megrahi hoàn toàn cô độc’, Mandela nói trong cuộc họp báo nhỏ trong phòng thăm viếng của nhà tù. ‘Anh ta không có ai để nói chuyện cả. Đây là sự hành hạ về tâm lý mà một người đàn ông phải chịu đựng trong suốt thời gian dài chịu án hoàn toàn một mình. Sẽ công bằng hơn nếu anh ta được chuyển đến một quốc gia Hồi giáo — và có nhiều quốc gia Hồi giáo mà phương Tây tin tưởng. Nó sẽ giúp gia đình anh dễ viếng thăm anh hơn nếu anh ở một nơi như vương quốc Maroc, Tunisia hay Ai Cập.’[91]

Megrahi sau đó được chuyển đến nhà tù Greenock và không còn bị biệt giam nữa.[92] Tháng 8 năm 2009, Megrahi, sau khi được chẩn đoán bị ung thư và chỉ còn sống được 3 tháng, đã được trả tự do trong một đợt ân xá và được phép trở về Libya. Quỹ Nelson Mandela đã ủng hộ quyết định ân xá cho Megrahi trong một bức thư gửi tới Chính quyền Scotland thay mặt cho Mandela.[93]

Hôn nhân và gia đình

Mandela đã kết hôn ba lần, và có 6 con, 20 đứa cháu và số chắt thì ngày càng tăng. Ông là ông nội của Tù trưởng Mandla Mandela.[94]

Cuộc hôn nhân đầu tiên

Cuộc hôn nhân đầu tiên của Mandela là kết hôn với Evelyn Ntoko Mase người cũng như Mandela, xuất thân từ nơi về sau gọi là vùng Transkei của Nam Phi, mặc dù thực ra họ gặp nhau tại Johannesburg.[95] Hai người chia tay vào năm 1957 sau 13 năm chung sống, ly dị vì sự căng thẳng do ông thường xuyên vắng nhà, dành quá nhiều thời gian cho công cuộc cách mạng, và một phần do bà là tín đồ Chứng nhân Jehovah, một tôn giáo đòi hỏi một sự trung lập về chính trị.[96] Evelyn Mase chết năm 2004.[97] Hai người có với nhau hai con trai, Madiba Thembekile (Thembi) (1946–1969) và Makgatho Mandela (1950–2005), và hai con gái, cả hai đều có tên Makaziwe Mandela (được biết đến với tên Maki; sinh 1947 và 1953). Đứa con gái đầu chết lúc 9 tháng tuổi, và họ đặt tên đứa con gái thứ hai theo tên cô con gái đầu lòng.[98] Các con của họ đều đi học Trường Thế giới Thống nhấtWaterford Kamhlaba.[99] Thembi chết trong tai nạn xe hơi năm 1969 ở tuổi 25, khi Mandela đang bị giam giữ tại Đảo Robben, và Mandela không được phép tham dự lễ tang.[100] Makgatho chết vì bệnh AIDS năm 2005, khi 54 tuổi.[101]

Cuộc hôn nhân thứ hai

Người vợ thứ hai của Mandela, Winnie Madikizela-Mandela, cũng xuất thân từ vùng Transkei, mặc dù hai người cũng gặp nhau tại Johannesburg, nơi bà là công chức da đen đầu tiên của thành phố.[102] Họ có hai con gái, Zenani (Zeni), sinh ngày 4 tháng 2 năm 1958 và Zindziswa (Zindzi) Mandela-Hlongwane, sinh năm 1960.[102] Zindzi chỉ mới 18 tháng tuổi khi cha cô bị giam tại nhà tù Đảo Robben. Sau này, Winnie phải chịu mối bất hòa trong gia đình, phản ảnh cuộc xung đột chính trị của đất nước; khi chồng bà đang chịu án chung thân ở Đảo Robben, còn cha bà lại làm bộ trưởng nông nghiệp ở Transkei.[102] Cuộc hôn nhân kết thúc bằng một cuộc ly thân rồi ly dị, được kích thêm từ mối bất hòa về chính trị.[103]
Mandela vẫn mòn mỏi trong tù khi con gái ông Zenani kết hôn với Hoàng thân Thumbumuzi Dlamini năm 1973, anh trai của Vua Mswati III của Swaziland.[104] Mặc dù bà có ấn tượng sâu sắc về cha mình, nhà chức trách Nam Phi không cho phép bà thăm ông từ khi bà 4 tuổi cho đến lúc bà 16 tuổi.[105] Hai vợ chồng Dlamini sinh sống và kinh doanh tại Boston.[106] Một trong hai đứa con trai của họ, Hoàng tử Cedza Dlamini (sinh năm 1976), được giáo dục tại Hoa Kỳ, đã đi theo bước chân của ông ngoại làm một người ủng hộ cho quyền con người và trợ giúp nhân đạo.[106]
Zindzi Mandela-Hlongwane đã làm nên lịch sử trên toàn thế giới khi bà đọc bài diễn văn của Mandela từ chối lời đề nghị tha bổng có điều kiện vào năm 1985. Bà là nữ doanh nhân tại Nam Phi với ba con, đứa đầu lòng là con trai, Zondwa Gadaffi Mandela.[107]

Cuộc hôn nhân thứ ba

Mandela đã tái giá vào sinh nhật lần thứ 80 của ông năm 1998, với Graça Machel nhũ danh Simbine, góa phụ của Samora Machel, cựu tổng thống Mozambique và là đồng minh của ANC bị chết trong vụ rơi máy bay 12 năm trước đó.[108] Cuộc hôn nhân là kết quả của hàng tháng trời thương thảo ở cấp quốc tế để đặt ra đồ sính lễ chưa từng có trong lịch sử để được rút khỏi bộ tộc của Machel. Một thỏa thuận miệng đã được thực hiện bởi nhà vua truyền thống đại diện cho Mandela, Vua Buyelekhaya Zwelibanzi Dalindyebo.[109] Ông nội của thủ lĩnh tối cao là quan nhiếp chính Jongintaba Dalindyebo, người đã sắp xếp cuộc hôn nhân cho Mandela, đã lảng tránh bằng cách trốn sang Johannesburg vào năm 1940.[15]
Mandela hiện vẫn còn ngôi nhà tại Qunu do đứa cháu trai nối dõi của ông quản lý, hiện ông vẫn trả tiền học phí và giữ quyền ủy viên hội đồng.[110]

Nghỉ hưu

Mandela là Tổng thống đắc cử lớn tuổi nhất của Nam Phi khi ông nhậm chức ở tuổi 75 vào năm 1994. Ông đã quyết định không cầm quyền nhiệm kỳ thứ hai và nghỉ hưu vào năm 1999, người kế nhiệm ông là Thabo Mbeki.
Sau khi rời ghế Tổng thống, Mandela tiếp tục đóng vai trò tích cực trong nhiều tổ chức xã hội và vì quyền con người. Ông biểu lộ sự ủng hộ phong trào Make Poverty History (Biến đói nghèo thành dĩ vãng) mà trong đó Chiến dịch ONE là một bộ phận.[111] Giải golf gây quỹ Khách mời Nelson Mandela, do Gary Player chủ trì, đã thu được hơn 20 triệu rand cho các quỹ vì trẻ em từ lúc bắt đầu năm 2000.[112]
Mandela cũng là người ủng hộ cho Làng trẻ em SOS, tổ chức chuyên quyên tiền giúp đỡ trẻ em mồ côi và bị bỏ rơi lớn nhất thế giới.[113] Mandela cũng xuất hiện trong một đoạn quảng cáo cho Thế vận hội mùa đông 2006, và đã được trích dẫn trong chiến dịch Chúc mừng nhân loại của Ủy ban Olympic Quốc tế:[114]

For seventeen days, they are roommates. For seventeen days, they are soulmates. And for twenty-two seconds, they are competitors. Seventeen days as equals. Twenty-two seconds as adversaries. What a wonderful world that would be. That’s the hope I see in the Olympic Games.

Tạm dịch:

Trong mười bảy ngày, chúng ta là bạn hữu. Trong mười bảy ngày, chúng ta là tâm giao. Và trong mười hai giây, chúng ta là đối thủ. Mười bảy ngày bình đẳng. Mười hai giây đối địch. Thế giới như thế mới tuyệt vời làm sao. Đó là niềm hy vọng mà tôi thấy được trong Thế vận hội.

Sức khỏe

Tháng 7 năm 2001 Mandela được chẩn đoán bệnh ung thư tuyến tiền liệt và tiến hành chữa trị. Ông được xạ trị trong 7 tuần.[115] Năm 2003, Mandela bị CNN thông báo nhầm là đã chết khi bản cáo phó viết sẵn của ông (cùng với vài yếu nhân khác) do sơ xuất đã hiển thị trên website của CNN vì lỗi bảo vệ mật khẩu.[116] Vào năm 2007, một nhóm cánh tả không chính thống đã phổ biến email và tin nhắn SMS giả mạo nói rằng nhà chức trách đang giấu giếm cái chết của Mandela và những người Nam Phi da trắng sẽ bị tàn sát sau tang lễ của ông. Mandela lúc đó đang đi nghỉ tại Mozambique.[117]
Tháng 6 năm 2004, ở tuổi 85, Mandela thông báo rằng ông sẽ không tham gia các hoạt động công cộng nữa. Sức khỏe của ông dần giảm sút, và ông muốn có nhiều thời gian hơn với gia đình. Mandela nói rằng không định cách ly hoàn toàn khỏi công chúng, nhưng muốn mình ở vị thế “sẽ gọi cho các bạn để hỏi xem tôi có được chào đón hay không, chứ không phải được mời làm các thứ và tham dự các sự kiện nữa. Lời thỉnh cầu của tôi là: Đừng gọi cho tôi, tôi sẽ gọi cho các bạn.”[118] Từ năm 2003, ông ít xuất hiện trước công chúng hơn và ít phát ngôn trước các vấn đề.[119] Tóc ông bạc trắng và ông di chuyển chậm chạp với sự hỗ trợ của gậy. Cũng có báo cáo là ông đang bị chứng mất trí nhớ của người già.[120]
Sinh nhật lần thứ 90 của Mandela đã được tổ chức ở nhiều nơi khắp đất nước ngày 18 tháng 7 năm 2008, lễ mừng chính được tổ chức tại quê nhà Qunu của ông.[121] Một buổi hòa nhạc vinh danh ông cũng được tổ chức tại Hyde Park, Luân Đôn.[122] Trong buổi diễn văn kỷ niệm sinh nhật của mình, Mandela kêu gọi những người giàu hãy giúp đỡ người nghèo trên khắp thế giới.[121] Mặc dù vẫn ít xuất hiện trong suốt kỳ World Cup 2010 tại Nam Phi, Mandela cũng xuất hiện tại buổi bế mạc, tại đó ông đã được “chào đón nhiệt liệt”.[123]

The Elders

Ngày 18 tháng 7 năm 2007, Nelson Mandela, Graça Machel, và Desmond Tutu tụ họp một nhóm các nhà lãnh đạo thế giới tại Johannesburg để đóng góp sự hiểu biết và khả năng lãnh đạo độc lập để giải quyết các vấn đề khó khăn nhất trên thế giới. Nelson Mandela thông báo lập nên một nhóm mới, The Elders, trong một bài diễn văn nhân sinh nhật lần thứ 89 của mình.[124]
Tổng giám mục Tutu làm chủ tịch của The Elders. Các thành viên sáng lập nhóm bao gồm Graça Machel, Kofi Annan, Ela Bhatt, Gro Harlem Brundtland, Jimmy Carter, Lý Triệu Tinh, Mary RobinsonMuhammad Yunus.[125]
“Nhóm này có tiếng nói tự do và khẳng khái, hoạt động công khai lẫn hậu trường về bất cứ hành động nào cần thực hiện”, Mandela nói. “Cùng với nhau chúng tôi sẽ hoạt động để ủng hộ lòng can đảm tại nơi có sợ hãi, nuôi dưỡng thỏa thuận tại nơi có tranh chấp, và truyền hy vọng tại nơi tuyệt vọng.”[126]

Chống AIDS

Sau khi về hưu, một trong những sự quan tâm chính của Mandela là đấu tranh chống lại bệnh dịch AIDS. Ông đã có bài phát biểu bế mạc Hội nghị về AIDS Quốc tế lần thứ XIII năm 2000, tại Durban, Nam Phi.[127] Vào năm 2003, ông hỗ trợ bằng cách cho phép chiến dịch gây quỹ chống AIDS 46664 sử dụng số hiệu tù nhân của ông.[128] Tháng 7 năm 2004, ông bay tới Bangkok để phát biểu tại Hội nghị về AIDS Quốc tế lần thứ XV.[129] Con trai ông, Makgatho Mandela, chết vì bệnh AIDS vào ngày 6 tháng 1 năm 2005.[130]

Phê phán chính sách ngoại giao của Mỹ và Anh

Nelson Mandela phản đối mạnh mẽ vụ can thiệp của NATO tại Kosovo năm 1999 và gọi đó là nỗ lực của các cường quốc nhằm kiểm soát thế giới.[131] Năm 2002 và 2003, Mandela chỉ trích chính sách ngoại giao của chính quyền Tổng thống Mỹ George W. Bush trong nhiều bài phát biểu.[132][133] Phê phán về việc thiếu sự tham gia của Liên Hiệp Quốc trong quyết định bắt đầu Chiến tranh Iraq, ông nói, “Đó là một bi kịch, những gì đang xảy ra, những gì Bush đang làm. Nhưng Bush giờ đây đang làm xói mòn Liên Hiệp Quốc.” Mandela cho rằng ông chỉ ủng hộ hành động chống lại Iraq nếu đó là do Liên Hiệp Quốc ra lệnh. Mandela cũng nói bóng gió đến việc Liên Hiệp Quốc có lẽ đã bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt chủng tộc vì đã không tuân theo ý kiến của Liên Hiệp Quốc và tổng thư ký Kofi Annan về vấn đề chiến tranh. “Có phải vì tổng thư ký Liên Hiệp Quốc hiện tại là một người da đen hay không? Họ không bao giờ làm vậy khi tổng thư ký là người da trắng”.[134]
Ông kêu gọi nhân dân Mỹ tham gia vào các cuộc biểu tình lớn chống lại Bush và kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới, đặc biệt là những nước có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, phản đối Bush.[135] “Điều tôi lên án ở đây là chỉ một cường quốc, với một vị tổng thống không có óc chiến lược, người không thể nghĩ cho đúng đắn, giờ đang muốn đẩy thế giới vào một cuộc tàn sát.” Ông tấn công Hoa Kỳ vì các thành tích xấu về nhân quyền và đã thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới II. “Nếu có một quốc gia có hành động tàn ác đến mức không thể diễn tả được bằng lời, đó là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Họ bất cần.”[134] Nelson Mandela cũng chê trách nặng nề Thủ tướng Anh Tony Blair và gọi ông là “ngoại trưởng của Mỹ.”[136]

Tranh chấp với Ismail Ayob

Ismail Ayob từng là một người bạn tin cậy và là luật sư riêng của Mandela trong hơn 30 năm. Vào tháng 5 năm 2005, Ayob được Mandela yêu cầu dừng bán các ấn phẩm có chữ ký của Mandela và tính toán lại lợi nhuận thu được từ việc bán chúng. Tranh chấp này đã khiến Mandela đệ đơn lên Tòa án Tối cao Nam Phi vào năm đó.[137] Ayob cho rằng mình không làm điều gì sai trái,[138] và nói rằng ông là nạn nhân của một chiến dịch bôi nhọ do các cố vấn của Mandela, mà cụ thể là luật sư George Bizos, dựng lên.[139]
Vào năm 2005 và 2006, Ayob và vợ con của ông trở thành đối tượng chỉ trích của các cố vấn của Mandela. Vụ tranh chấp này được truyền thông rộng rãi, với Ayob được mô tả ở vị thế phản diện, cao điểm là khi Mandela đệ đơn lên Tòa án Tối cao. Đã có những cuộc họp công khai trong đó những người thân cận của Mandela chỉ trích Ayob và công chúng còn kêu gọi tẩy chay Ayob và gia đình ông.[140] Lời biện hộ của Ismail và Zamila Ayob (vợ ông, và cũng là bị cáo liên quan) đưa ra các văn bản do Mandela ký và được các thư ký của ông làm chứng, từ đó bác bỏ nhiều lý lẽ của Nelson Mandela và các cố vấn.[141]
Tranh chấp này một lần nữa lại xuất hiện trên mặt báo vào tháng 2 năm 2007 khi trong một phiên tòa tại Tòa án Tối cao Johannesburg, Ayob hứa sẽ trả 700.000 rand cho Mandela, chuyển qua các quỹ vì trẻ em của Mandela, và gửi lời xin lỗi,[142] [143] mặc dù sau đó ông cho rằng ông là nạn nhân của “Sự trả thù” từ Mandela.[144] Một số nhà bình luận bày tỏ sự cảm thông cho vị thế của Ayob, nói rằng vị trí biểu tượng của Mandela khiến cho Ayob khó mà được đối xử một cách công bằng.[139]

Lý lẽ

Ayob, George Bizos và Wim Trengove là những người được ủy thác của Quỹ Ủy thác Nelson Mandela, được thành lập để cất giữ hàng triệu rand do các nhân vật kinh doanh nổi tiếng, trong đó có gia đình Oppenheimer, tặng cho Nelson Mandela vì lợi ích của con và cháu của ông.[145] Ayob sau này rút lui của Quỹ ủy thác. Vào năm 2006, hai người được ủy thác còn lại của Nelson Mandela Trust đã tố cáo Ayob đã chi tiêu tiền từ quỹ ủy thác mà không báo cho họ biết.[146] Ayob tuyên bố rằng số tiền này là để trả cho Dịch vụ Doanh thu Nam Phi, cho con và cháu của Mandela, cho chính Mandela, và trả cho bốn năm làm việc của công ty kế toán.[143]
Bizos và Trengrove từ chối thông qua việc chi trả cho con cháu của Nelson Mandela và tiền trả cho công ty kế toán. Phiên tòa đã thỏa thuận rằng Ismail Ayob phải trả số tiền này, tổng cộng hơn 700.000 rand, cho quỹ ủy thác vì lẽ Ayob đã chưa được sự đồng ý của hai ủy thác viên khác trước khi dùng tiền.[147] Người ta cũng khẳng định là Ayob đã có những nhận xét phỉ báng Mandela trong bản khai, vì thế tòa cũng yêu cầu Ayob xin lỗi.[148] Người ta đã cho thấy các nhận xét này, tập trung vào các tài khoản ở nước ngoài của Nelson Mandela và việc không trả thuế cho các tài khoản này, không xuất phát từ lời khai của Ayob mà là từ chính lời khai của Nelson Mandela và George Bizos.[149]

Tranh cãi về Kim cương máu

Trong một bài viết trong báo The New Republic tháng 12 năm 2006, Nelson Mandela bị chỉ trích vì một số lời nhận xét tốt đẹp về ngành công nghiệp kim cương. Người ta lo ngại là điều này sẽ làm lợi cho những nhà cung cấp kim cương máu.[150] Trong bức thư gửi tới Edward Zwick, đạo diễn của bộ phim Kim cương máu, Mandela nói rằng:

…sẽ cực kỳ đáng tiếc nếu bộ phim này vô tình sai sự thật, và kết quả là, khiến cho thế giới tin rằng cần phải có hành động thích hợp để ngưng việc mua kim cương được khai thác từ châu Phi…. Chúng tôi hy vọng rằng khát khao được kể một câu chuyện lịch sử về câu chuyện có thật hấp dẫn và quan trọng sẽ không dẫn đến sự mất ổn định tại các quốc gia sản xuất kim cương ở châu Phi, và cuối cùng là nhân dân các nước đó.[151]

Bài báo trên New Republic nói rằng lời bình luận này, cũng như các sáng kiến và phát biểu trong cuộc đời ông và trong thời gian làm tổng thống Nam Phi, bị ảnh hưởng từ cả tình bạn với Harry Oppenheimer, cựu chủ tịch De Beers, lẫn từ quan điểm ‘quyền lợi quốc gia hẹp hòi’ của Nam Phi (là nhà sản xuất kim cương chính).[152]

Zimbabwe và Robert Mugabe

Robert Mugabe, tổng thống Zimbabwe, người đã lãnh đạo đất nước này từ khi độc lập năm 1980, đã nhận được nhiều lời chỉ trích trên thế giới vì trận đánh giết chết khoảng 3000 người vào thập niên 1980 cũng như tham nhũng, quản lý yếu kém, đàn áp chính trị và theo gia đình trị dẫn đến nền kinh tế nước này sụp đổ.[153][154]
Mặc dù cùng xuất thân là những nhà hoạt động vì tự do quốc gia, Mandela và Mugabe ít khi được xem là gần gũi. Mandela chỉ trích Mugabe vào năm 2000, nhắc tới những nhà lãnh đạo châu Phi đã giải phóng đất nước họ nhưng khư khư giữ ghế quá lâu.[155][156] Khi về hưu, Mandela ít nhắc đến Zimbabwe và các vấn đề đối nội đối ngoại hơn,[119] đôi khi đưa đến chỉ trích là không biết sử dụng ảnh hưởng của mình để khuyến khích giảm bớt chính sách của mình.[157] Luật sư của ông George Bizos tiết lộ rằng Mandela đã được khuyên để giữ gìn sức khỏe ông phải tránh tham gia vào các hoạt động nhiều áp lực như các tranh cãi về chính trị.[158] Tuy nhiên, vào năm 2007, Mandela đã nỗ lực thuyết phục Mugabe rời chức “sớm hơn”, với “chút ít chân giá trị còn lại”, trước khi ông bị săn đuổi như Augusto Pinochet. Mugabe không phản ứng gì trước lời phát biểu này.[159] Vào tháng 6 năm 2008, ở cao trào khủng hoảng trong cuộc bầu cử tổng thống Zimbabwe, Mandela lên án “sự thất bại thảm hại của quyền lãnh đạo” tại Zimbabwe.[160]

Tôn vinh

Chiến sĩ giải phóng Nam Phi Nelson Mandela trên con tem kỷ niệm của Liên Xô năm 1988

Theo một bài viết trên tạp chí Newsweek, “Mandela đã có được một vị trí bất khả xâm phạm khi nhắc đến Nam Phi. Ông là nhà giải phóng dân tộc, vị cứu tinh, là WashingtonLincoln hòa lại làm một”.[161]
Tháng 11 năm 2009, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông báo ngày sinh của Mandela, 18 tháng 7, sẽ được gọi là “Ngày Mandela” để ghi nhớ sự đóng góp của ông vào nền tự do của thế giới.[162]

Huân huy chương

Mandela đã nhận được nhiều giải thưởng của Nam Phi, nước ngoài và quốc tế, trong đó có Giải Nobel Hòa bình năm 1993 (cùng với Frederik Willem de Klerk),[163] được Nữ hoàng Elizabeth II trao Huân chương Công lao và Baliff Grand Cross của Huân chương Thánh John, Huân chương Tự do Tổng thống của George W. Bush.[164]Bản mẫu:Failed verification[165] Tháng 7 năm 2004, thành phố Johannesburg trao tặng danh hiệu cao nhất cho Mandela sự tự do của thành phố tại buổi lễ ở Orlando, Soweto.[166]
Ông cũng thường nhận được sự tán dương khi đi ra nước ngoài. Trong chuyến thăm Canada năm 1998, 45.000 học sinh đã chào đón ông khi ông có bài phát biểu tại SkyDome, Toronto.[167] Vào năm 2001, ông là người còn sống đầu tiên trở thành Công dân danh dự của Canada (người nhận danh hiệu duy nhất trước đó là Raoul Wallenberg sau khi đã mất).[168] Khi còn ở Canada, ông cũng nhận Huân chương Canada, là một trong số ít người nước ngoài nhận được huân chương này.[169]
Năm 1981, ông đư5ơc trao Giải Bruno Kreisky. Năm 1988, ông đoạt Giải thưởng Sakharov của Nghị viện châu ÂuGiải Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Năm 1990 ông nhận được Giải thưởng Bharat Ratna của chính phủ Ấn Độ và là người cuối cùng nhận được Giải thưởng Hòa bình Lenin của Liên Xô.[170] Vào năm 1992 ông được nhận Giải thưởng Hòa bình Atatürk của Thổ Nhĩ Kỳ. Ông đã từ chối giải thưởng vì cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ lúc đó đang vi phạm nhân quyền,[171] nhưng đến năm 1999 thì chấp nhận giải thưởng[172] Vào năm 1992 ông nhận được Nishan-e-Pakistan, giải thưởng phục vụ cộng đồng cao nhất của Pakistan.[173] Năm 2004, ông được trao Giải Ý thức toàn cầu của Câu lạc bộ Budapest.

Bài hát ca ngợi

Nhiều nghệ sĩ đã viết bài hát và nhạc về Mandela. Một trong những nhóm nổi tiếng nhất là The Specials đã thu âm bài hát “Free Nelson Mandela” vào năm 1983. Stevie Wonder viết bài hát đã đoạt giải OscarI Just Called to Say I Love You” cho Mandela, dẫn đến bài này bị Hãng thông tấn Nam Phi cấm lưu hành.[174] Vào năm 1985, album Nelson Mandela của Youssou N’Dour là bản phát hành đầu tiên tại Mỹ của ca sĩ người Senegal này.
Năm 1988, một buổi hòa nhạc Kỷ niệm ngày sinh lần thứ 70 của Mandela đã diễn ra tại Sân vận động Wembley ở Luân Đôn là trung tâm của phong trào chống chủ nghĩa apartheid, tại đó nhiều ca sĩ đã góp tiếng nói ủng hộ Mandela.[175] Jerry Dammers, tác giả của bài hát Nelson Mandela, là một thành viên trong ban tổ chức.[175] Simple Minds đã thu âm bài hát “Mandela Day” dành cho buổi hòa nhạc,[175] Santana đã thu âm bản giao hưởng “Mandela”,[175] Tracy Chapman trình diễn bài “Freedom Now”, dành tặng cho Mandela và phát hành album Crossroads,[175] Salif Keita đến từ Mali, có chơi ở buổi hòa nhạc, sau này có đến thăm Nam Phi và năm 1995 thu âm bài hát “Mandela” trong album Folon.[175]
Tại Nam Phi, “Asimbonanga (Mandela)” (“Chúng tôi chưa thấy ông”) trở thành một trong những bài hát nổi tiếng nhất của Johnny Clegg, xuất hiện trong album Third World Child năm 1987.[176] Hugh Masekela, khi đó đang lưu vong ở Anh, đã hát bài “Bring Him Back Home (Nelson Mandela)” vào năm 1987.[177] Bài hát “Black President” vào năm 1989 của Brenda Fassie, cũng dành tặng Mandela, trở nên cực kỳ nổi tiếng dù nó bị cấm tại Nam Phi.[178] Nhạc sĩ nhạc reggae người Nigeria Majek Fashek đã phát hành đĩa đơn, “Free Mandela” vào năm 1992, đưa ông thành một trong nhiều nghệ sĩ Nigeria phát hành bài hát liên quan đến phong trào chống chủ nghĩa apartheid và đến Mandela.
Vào năm 1990, ban nhạc rock ở Hồng Kông Beyond đã ra mắt bài hát tiếng Quảng Đông nổi tiếng, “Days of Glory”. Bài hát với chủ đề chống chủ nghĩa apartheid đã nhắc đến cuộc đấu tranh anh hùng của Mandela vì sự công bằng sắc tộc.[179] Nhóm Ladysmith Black Mambazo đã đi cùng với Mandela tới buổi trao Giải Nobel Hòa bình tại Oslo, Na Uy vào năm 1993, và trình diễn trong buổi nhậm chức năm 1994. Vào năm 2003, Mandela đồng ý đưa tên tuổi của ông vào chiến dịch 46664 chống lại căn bệnh AIDS, đặt theo số tù của ông. Nhiều nhạc sĩ nổi tiếng đã trình diễn trong các buổi hòa nhạc.[180]
Sơ lược tiểu sử của Mandela đã được chiếu trong bản video nhạc “If Everyone Cared” của Nickelback vào năm 2006.[181] Bài hát “Turn This World Around” của Raffi dựa trên bài diễn văn của Mandela khi ông giải thích thế giới cần phải “xoay vòng, vì những đứa trẻ”.[182] Một buổi hòa nhạc kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Mandela đã diễn ra tại Hyde Park, Luân Đôn ngày 27 tháng 6 năm 2008.[183]

Sách tiểu sử đã xuất bản

Tự truyện của Mandela, Long Walk to Freedom, được xuất bản vào năm 1994. Mandela đã bắt đầu viết cuốn sách này một cách bí mật khi ở trong tù.[184] Trong quyển sách này Mandela không tiết lộ điều gì về sự đồng lõa của F. W. de Klerk trong những vụ bạo lực xảy ra vào thập niên 80 và 90, hay vai trò của bà vợ cũ Winnie Mandela trong những vụ tắm máu đó. Tuy nhiên, ông sau này có cộng tác cùng với bạn ông, nhà báo Anthony Sampson bàn luận về các vấn đề này trong Mandela: The Authorised Biography.[185] Một chi tiết khác mà Mandela đã bỏ qua là cuốn sách có phần giả mạo Goodbye Bafana.[186] Tác giả của nó, cai ngục James Gregory trên đảo Robben, nhận mình là bạn tâm tình của Mandela trong tù và đã xuất bản những chi tiết về những vụ yêu đương trong gia đình của người tù.[186] Sampson luôn nói rằng Mandela không biết rõ Gregory lắm, nhưng có thể Gregory đã kiểm duyệt những bức thư gửi cho Mandela nên khám phá ra những chi tiết về đời tư của Mandela. Sampson cũng quả quyết rằng các cai ngục khác nghi ngờ Gregory là mật thám của chính phủ và Mandela đang xem xét việc kiện Gregory.[187]

Điện ảnh và truyền hình

Bộ phim Mandela and De Klerk kể lại câu chuyện phóng thích Mandela.[188] Mandela do Sidney Poitier đóng vai. Goodbye Bafana, một bộ phim phóng sự nói về cuộc đời của Mandela, ra mắt tại liên hoan phim Berlin ngày 11 tháng 2 năm 2007. Bộ phim có diễn viên Dennis Haysbert đóng vai Mandela và diễn tả tình bạn trong tù giữa Mandela và James Gregory.[189]
Trong loạt chương trình truyền hình Mỹ The Cosby Show cháu nội của Cliff và Claire Huxtable được đặt theo tên của Nelson và Winnie để tôn vinh Mandela và bà vợ khi đó của ông Winnie.
Trong cảnh cuối năm 1992 bộ phim Malcolm X, Mandela – vừa được phóng thích sau 27 năm ở tù – đóng vai thầy giáo trong một lớp học Soweto.[190] Ông nhắc lại một phần bài diễn văn nổi tiếng nhất của Malcolm X, trong đó có câu: “Chúng ta sinh ra trên Trái Đất với quyền làm người, phải được tôn trọng như một con người, được trao những quyền của một con người trong xã hội này, trên Trái Đất này, vào ngày này, điều chúng ta muốn đưa thành hiện thực…” Đoạn cuối nổi tiếng của câu đó là “bằng bất cứ giá nào.”[191] Mandela đã thông báo với đạo diễn Spike Lee rằng ông không thể đọc câu này trước máy quay vì sợ chính quyền apartheid sẽ dùng nó chống lại ông. Lee đã rất biết ơn, và những giây cuối cùng của bộ phim là đoạn phim trắng đen của chính Malcolm X đọc câu này.[191]
Mandela và đội trưởng Springboks, Francois Pienaar, là chủ đề của cuốn sách năm 2008 của John Carlin, Playing the Enemy: Nelson Mandela and the Game that Made a Nation,[192] trong đó nhấn mạnh vai trò của chiến thắng trong Giải rugby vô địch thế giới 1995 tại Nam Phi thời hậu apartheid. Carlin bán quyền làm phim cho Morgan Freeman.[193] Bộ phim này, có tên Invictus,[194] được đạo diễn bởi Clint Eastwood, trong đó Freeman đóng vai Nelson Mandela và Matt Damon vai Pienaar.[193]

Tượng đài

Vật tưởng niệm Nelson Mandela
Tượng Mandela ở Quảng trường Nghị viện, Luân Đôn.
Khu vườn Nelson Mandela ở Leeds
Cầu Nelson Mandela ở Johannesburg

Vào ngày 30 tháng 4 năm 2001, Khu vườn Nelson Mandela ở Quảng trường Thiên niên kỷ, Leeds đã chính thức khai trương và Nelson Mandela được tặng giải sự tự do của thành phố và được tặng một ‘con cú vàng’ (biểu tượng của Leeds) làm kỷ niệm. Trong bài phát biểu bên ngoài Đại sảnh Leeds trước 5000 người, Mandela đã cảm ơn nhầm ‘nhân dân Liverpool vì sự hào phóng của các bạn’.[195]
Vào ngày 31 tháng 3 năm 2004, Quảng trường Sandton ở Johannesburg được đổi tên thành Quảng trường Nelson Mandela, sau khi người ta dựng bức tượng Nelson Mandela cao 6 mét ở quảng trường để vinh danh nguyên thủ Nam Phi của mình.[196]
Vào ngày 29 tháng 8 năm 2007, một bức tượng Nelson Mandela được khánh thành tại Quảng trường Nghị viện ở Luân Đôn bởi Richard Attenborough, Ken Livingstone, Wendy Woods, và Gordon Brown.[197] Chiến dịch dựng tượng bắt đầu vào năm 2000 bởi Donald Woods, một nhà báo Nam Phi lưu vong vì tham gia phong trào chống chủ nghĩa apartheid. Mandela nói rằng nó đại diện cho không chỉ ông, mà còn cho những ai đang chống lại áp bức, đặc biệt tại Nam Phi.[198] Ông nói thêm: “Lịch sử đấu tranh tại Nam Phi đầy những câu chuyện về các nam nữ anh hùng, một số họ là nhà lãnh đạo, một số là người ủng hộ. Tất cả họ đều xứng đáng được ghi nhớ.”[199]
Vào ngày 27 tháng 8 năm 2008, một bức tượng của Nelson Mandela được khánh thành tại Trại cải tạo Drakenstein Groot giữa Paarl và Franshhoek trên đường R301, gần Cape Town. Trước đây có tên Victor Verster, đây là nơi Mandela trải qua những năm cuối cùng trong thời gian 27 năm ở tù, khi ông và các đồng chí ở ANC đã thương thảo với chính quyền apartheid về những điều khoản để ông được tự do và bản chất của nước Nam Phi mới. Bức tượng được đặt ngay nơi Mandela bước bước đi đầu tiên với tư thế một người tự do. Ngay bên ngoài cổng tù – đỉnh điểm của Long Walk to Freedom – tên tự truyện của Mandela.[200][201]
Sau Trận động đất Loma Prieta năm 1989 phá hủy phần Cầu cạn đường Cypress của Xa lộ Nimitz tại Oakland, California, thành phố đã đổi tên con đường này và đặt tên là Mandela Parkway.
Tại Leicester, nước Anh, có một Công viên Nelson Mandela với khẩu hiệu “Nam Phi thuộc về tất cả những ai sống tại đó, dù Trắng hay Đen”.

Các câu nói

Về Thể thao

  • “Thể thao là phương tiện hữu hiệu có khả năng làm thay đổi cục diện thế giới, là công cụ hữu ích cho tương quan thân hữu và nền hòa bình của thế giới…” [3]

Chú thích

  1. ^ a ă “Nelson Mandela – Biography”. Nobelprize.org. The Nobel Foundation. 1993. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2009.
  2. ^ Mandela 1996, trang 16, 17
  3. ^ a ă “South Africa: Celebrating Mandela At 90”. AllAfrica.com. 17 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  4. ^ Kopkind, Andrew (16 tháng 3 năm 1990). “Book Review – Higher than Hope. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  5. ^ a ă Mafela, Munzhedzi James (tháng 10 năm 2008). “The revelation of African culture in Long Walk to Freedom”. Indigenous Biography and Autobiography. Australian National University. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009.
  6. ^ “President of South Africa: Nelson Mandela”. Chalre Associates. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.[[]][liên kết hỏng]
  7. ^ a ă â Aikman (2003), pp 70–71
  8. ^ a ă â Mandela, Nelson (2006). Mandela: The Authorized Portrait. Kansas City, Mo.: Andrews McMeel Pub. tr. 13. ISBN 0-7407-5572-2. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  9. ^ Mandela 1996, p.7
  10. ^ a ă â b c Mandela, Nelson (1994). Long Walk to Freedom. Little, Brown and Company.
  11. ^ Mandela 1996, p. 9. “Không ai trong gia đình tôi đi học cả […] Trong ngày nhập học, cô giáo của tôi, cô Mdingane, đặt cho mỗi đứa một cái tên tiếng Anh. Hồi đó đây là thông lệ của người châu Phi và rõ ràng nó thể hiện xu hướng thiên về tiếng Anh trong nền giáo dục mà chúng tôi thụ hưởng. Hôm đó, cô Mdingane bảo với tôi tên mới của tôi sẽ là Nelson. Tại sao cô lại đặt cho tôi tên này, tôi cũng không biết nữa.”
  12. ^ a ă “Mandela celebrates 90th birthday”. BBC. 17 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  13. ^ “Healdtown Comprehensive School”. Historic Schools Project: South Africa. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  14. ^ Mandela 1996, pp. 18-19.
  15. ^ a ă Mandela 1996, pp. 10, 20.
  16. ^ a ă “Nelson Mandela Biography – Early Years”. Nelson Mandela Foundation. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  17. ^ “Nelson Mandela Children’s Fund – Organise”. Nelson Mandela Children’s Fund. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  18. ^ “The 1948 election and the National Party Victory”. South African History Online. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  19. ^ “The Defiance Campaign”. African National Congress. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  20. ^ “Congress of the People, 1955”. African National Congress. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  21. ^ Callinicos, Luli (2004). Oliver Tambo: Beyond the Engeli Mountains. New Africa Books. tr. 173. ISBN 0864866666.
  22. ^ Mandela, Nelson (3 tháng 1 năm 2000). “The Sacred Warrior”. Time 100: The Most Important People of the Century. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  23. ^ Bhana, Surendra; Vahed, Goolam (2005). The Making of a Political Reformer: Gandhi in South Africa, 1893–1914. tr. 149.
  24. ^ Bhalla, Nita (29 tháng 1 năm 2007). “Mandela calls for Gandhi’s non-violence approach”. Reuters. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  25. ^ “Nelson Mandela’s Testimony at the Treason Trial 1956-60”. African National Congress. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  26. ^ a ă â “ANC – Statement to the Truth and Reconciliation Commission”. African National Congress. Tháng 8 năm 1996. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  27. ^ Shillington, Kevin (2005). Encyclopedia of African History. CRC Press. tr. 1449. ISBN 1579582451.
  28. ^ “The Freedom Charter”. African National Congress. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  29. ^ SACP Salutes Walter Sisulu
  30. ^ Leeman, Bernard (1996). Trong Alexander, Peter; Hutchison, Ruth; Schreuder, Deryck. The PAC of Azania in Africa Today. The Humanities Research Centre, The Australian National University Canberra: The Australian National University Canberra. ISBN 07315 24918.
  31. ^ “Umkhonto is Born”. African National Congress. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  32. ^ a ă â Whittaker, David J. (2003). The Terrorism Reader . Routledge. tr. 244. ISBN 0415301017.
  33. ^ “Tell me about the bomb at the brickworks – Frontline The Long Walk of Nelson Mandela”. PBS.
  34. ^ a ă Mandela, Nelson (20 tháng 4 năm 1964). “”I am Prepared to Die” — Nelson Mandela’s statement from the dock at the opening of the defence case in the Rivonia Trial”. African National Congress. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  35. ^ “Mandela admits ANC violated rights, too”. Financial Times. 2 tháng 11 năm 1998.
  36. ^ “BBC News: US shamed by Mandela terror link”. 10 tháng 4 năm 2008.
  37. ^ “Mandela taken off US terror list”. BBC News. 1 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2008.
  38. ^ “5 August – This day in history”. The History Channel. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  39. ^ Blum, William. “How the CIA sent Nelson Mandela to prison for 28 years”. Third World Traveller. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  40. ^ Stein, Jeff (14 tháng 11 năm 1996). “Our Man in South Africa”. Salon.com. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  41. ^ Weiner, Tim (2007). Legacy of Ashes. Penguin Group. tr. 362. ISBN 978-1-846-14046-4.
  42. ^ Katwala, Sunder (11 tháng 2 năm 2001). “The Rivonia Trial”. The Guardian. London. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  43. ^ a ă “ANC Lilliesleaf Farm arrests”. South African History Online. 11 tháng 7 năm 1963. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  44. ^ Mandela, Nelson (20 tháng 4 năm 1964). “An ideal for which I am prepared to die”. The Guardian. London. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  45. ^ a ă “The Sharpeville Massacre”. TIME. 4 tháng 4 năm 1960. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  46. ^ “Manifesto of Umkhonto we Sizwe”. African National Congress. 16 tháng 12 năm 1961. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  47. ^ “Rivonia Trial Papers”. Aluka. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  48. ^ a ă â “Toward Robben Island: The Rivonia Trial”. African National Congress. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  49. ^ “Mandela’s jail overrun by rabbits”. BBC. 15 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  50. ^ “A monument to Mandela: the Robben Island years”. The Independent (London: Independent Print Limited). 2 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  51. ^ “Political prisoner recalls time on Robben Island”. The Michigan Daily. 17 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2010.
  52. ^ Holmes, Steven A. (22 tháng 6 năm 1994). “Robben Island Journal; South Africa Ponders Fate of Apartheid’s Bastille”. NY Times. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  53. ^ a ă Kathrada, Ahmed; Mandela, Nelson (2004). Memoirs. Zebra. tr. 246. ISBN 1868729184.
  54. ^ a ă “The Big Read: Nelson Mandela: a living legend”. Daily Observer. 25 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  55. ^ a ă Winter, Gordon (1981). Inside BOSS. Penguin Books.
  56. ^ Hallengren, Anders (11 tháng 9 năm 2001). “Nelson Mandela and the Rainbow of Culture”. Nobelprize.org. The Nobel Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  57. ^ a ă â b Sparks, Allister (1994). Tomorrow is Another Country. Struik.
  58. ^ Cowell, Alan (1 tháng 2 năm 1985). “South Africa hints at conditional release for jailed black leaders”. NY Times. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  59. ^ “Mandela’s response to being offered freedom”. ANC. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  60. ^ “Key Dates in South African History”. Nelson Mandela Children’s Fund. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  61. ^ “Free Nelson Mandela”. ANC. Tháng 7 năm 1988. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  62. ^ “PW Botha, unrepentant defender of apartheid, dies aged 90”. The Independent (London: Independent Print Limited). 1 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  63. ^ Malam, John (2002). The Release of Nelson Mandela: 11 February 1990. Cherrytree Books. ISBN 1842341030.
  64. ^ http://icrc.org/web/eng/siteeng0.nsf/html/south-africa-feature-020709 South Africa: commemorating 150 years since the battle of Solferino
  65. ^ http://icrc.org/web/eng/siteeng0.nsf/htmlall/5pkj9a Nelson Mandela: Red Cross a “beacon of humanity” for political prisoners
  66. ^ “1990: Freedom for Nelson Mandela”. BBC. 11 tháng 2 năm 1990. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  67. ^ Ormond, Roger (12 tháng 2 năm 1990). “Mandela free after 27 years”. The Guardian. London. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  68. ^ a ă “Nelson Mandela’s address to Rally in Cape Town on his Release from Prison”. ANC. 11 tháng 2 năm 1990. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  69. ^ “A Crime Against Humanity – Analysing the Repression of the Apartheid State”. South African History Online. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  70. ^ “Profile of Nelson Rolihlahla Mandela”. African National Congress. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2007.
  71. ^ “Boipatong Massacre”. African National Congress. 18 tháng 6 năm 1992. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  72. ^ “Chris Hani assassinated. (Obituary)”. Social Justice. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  73. ^ “Statement of the President of the ANC, Nelson Mandela on the assassination of Martin Chris Hani”. 10 tháng 4 năm 1993. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  74. ^ “Mandela becomes SA’s first black president”. BBC. 10 tháng 5 năm 1994. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  75. ^ “The Nobel Peace Prize 1993 – Presentation Speech”. Nobelprize.org. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  76. ^ “Mandela rallies Springboks”. BBC Sport. 6 tháng 10 năm 2003. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  77. ^ Carlin, John (19 tháng 10 năm 2007). “How Nelson Mandela won the rugby World Cup”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  78. ^ Khumalo, Fred (5 tháng 8 năm 2004). “How Mandela changed SA fashion”. BBC. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  79. ^ Thai, Bethuel (4 tháng 10 năm 1998). “Lesotho to hold re-elections within 15 to 18 months”. Lesotho News Online. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  80. ^ Sampson, Anthony (6 tháng 7 năm 2003). “Mandela at 85”. The Observer. London. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  81. ^ Robinson, Simon (11 tháng 4 năm 2007). “The Lion In Winter”. Time. Time Inc. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  82. ^ “Can Mandela’s AIDS Message Pierce the Walls of Shame?”. Peninsula Peace and Justice Center. 9 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  83. ^ Quist-Arcton, Ofeibea (19 tháng 7 năm 2003). “South Africa: Mandela Deluged With Tributes as He Turns 85”. AllAfrica.com. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  84. ^ “Mandela’s stark Aids warning”. BBC News. 1 tháng 12 năm 2000. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  85. ^ Wines, Michael (7 tháng 1 năm 2005). “Mandela, Anti-AIDS Crusader, Says Son Died of Disease”. NY Times. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  86. ^ Brown, Derek (31 tháng 1 năm 2001). “Lockerbie trial: what happened when”. The Guardian. London. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  87. ^ McGreal, Chris (11 tháng 5 năm 1999). “Mandela shies away from global role in retirement”. The Guardian. London. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  88. ^ “Families say SA trial site acceptable”. Dispatch. 27 tháng 10 năm 1997. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  89. ^ “Mandela’s parting shot at Major over Lockerbie”. The Guardian. 11 tháng 5 năm 1999. tr. 13.
  90. ^ “Analysis: Lockerbie’s long road”. BBC. 31 tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  91. ^ “Mandela appeals on behalf of Lockerbie bomber”. London: guardian.co.uk. 10 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  92. ^ “Lockerbie bomber ‘leaves solitary confinement’”. The Daily Telegraph (London). 25 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  93. ^ “Mandela backs Lockerbie decision”. bbc online. 30 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2009. Đã bỏ qua tham số không rõ |publish date= (trợ giúp)
  94. ^ Soszynski, Henry. “Genealogical Gleanings”. University of Queensland. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  95. ^ “Nelson Mandela – Timeline”. Nelson Mandela Foundation. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  96. ^ “Mandela’s life and times”. BBC. 16 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  97. ^ “Madiba bids final farewell to his first wife”. Independent Online. Independent News & Media. 8 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  98. ^ “Nelson Mandela Biography – Black History”. Biography.com. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  99. ^ “UWC – Presidents and Patrons”. United World Colleges. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  100. ^ Smith, Charlene; Tutu, Desmond (2004). Mandela: In Celebration of a Great Life. Struik. tr. 41. ISBN 1868728285.
  101. ^ Timberg, Craig (7 tháng 1 năm 2005). “Mandela Says AIDS Led to Death of Son”. The Washington Post (The Washington Post Company). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  102. ^ a ă â “Winnie Mandela”. ANC. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  103. ^ “Nelson and Winnie Mandela divorce; Winnie fails to win $5 million settlement.”. Jet. 8 tháng 4 năm 1996. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  104. ^ “Swaziland prince and princess attend Boston University”. WGBH Boston. 13 tháng 5 năm 1987. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  105. ^ “Daddy Stayed In Jail. That Was His Job’; Zenani Mandela’s Life Without Father”. The Washington Post. The Washington Post Company. 8 tháng 11 năm 1987. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  106. ^ a ă “AILA International Fellows Program”. Center for Strategic & International Studies. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  107. ^ “Zondwa Gadaffi Mandela”. Aurora Empowerment Systems. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  108. ^ “Mandela gets married on 80th birthday”. CNN. 18 tháng 7 năm 1998. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  109. ^ Ngcukana, Lubabalo. “andela, Kaunda honour king”. Daily Dispatch. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  110. ^ de Bruyne, Marnix. “Zuidelijk Afrika”. Netherlands Institute for Southern Africa. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessdtieeps tuate= (trợ giúp)
  111. ^ “2005: The year of Make Poverty History”. Make Poverty History. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007.
  112. ^ “SA’s best to join international stars for charity”. Nelson Mandela Invitational. 5 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  113. ^ “Nelson Mandela”. SOS Children’s Villages. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2008.
  114. ^ “Celebrate Humanity 2004” (PDF). International Olympic Committee. 2004. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007.
  115. ^ “Mandela ‘responding well to treatment’”. BBC. 15 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  116. ^ “The Smoking Gun: Archive”. The Smoking Gun. 2003. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2007.
  117. ^ Groenewald, Yolandi; Joubert, Pearlie (2 tháng 3 năm 2007). “Not yet uhuru”. Mail & Guardian.
  118. ^ “”I’ll call you””. SouthAfrica.info. 2 tháng 6 năm 2004. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  119. ^ a ă Carroll, Rory (18 tháng 7 năm 2006). “Mandela keeps his opinions to himself as a nation marks its idol’s birthday”. The Guardian (London). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  120. ^ “Is Nelson Mandela Losing His Memory?”. Who2.com. 7 tháng 12 năm 2009.
  121. ^ a ă “Nelson Mandela Celebrates 90th Birthday by Urging Rich to Help Poor”. Fox News. 18 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  122. ^ Bingham, John (6 tháng 5 năm 2008). “Hyde Park concert to mark Mandela’s 90th”. The Independent. London: Independent Print Limited. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  123. ^ http://www.guardian.co.uk/world/2010/jul/11/nelson-mandela-world-cup-final
  124. ^ “Mandela joins ‘Elders’ on turning 89”. MSNBC. 20 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  125. ^ “Mandela launches The Elders”. SAinfo. 19 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  126. ^ “Nelson Mandela announces The Elders”. The Elders. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  127. ^ Paul Tebas, MD, “Closing Ceremony,” http://www.thebody.com/content/art16140.html
  128. ^ “About 46664”. 46664.com. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  129. ^ “XV International AIDS Conference – Daily Coverage”. Kaisernetwork. 15 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  130. ^ “Mandela’s eldest son dies of Aids”. BBC. 6 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  131. ^ [1]
  132. ^ “Mandela warns Bush over Iraq”. BBC. 1 tháng 9 năm 2002. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  133. ^ Cornwell, Rupert (31 tháng 1 năm 2003). “Mandela lambastes ‘arrogant’ Bush over Iraq”. The Independent. London: Independent Print Limited. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  134. ^ a ă Fenton, Tom (30 tháng 1 năm 2003). “Mandela Slams Bush On Iraq”. CBS. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  135. ^ “Mandela Slams Bush On Iraq”. CBS News. 30 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  136. ^ [2]
  137. ^ Chanda, Abhik Kumar (10 tháng 5 năm 2005). “Mandela sues over forged sketches”. Mail & Guardian. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  138. ^ Mabuza, Ernest (13 tháng 7 năm 2005). “Ayob denies gain from Mandela art”. Business Day. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  139. ^ a ă Moya, Fikile-Notsikelelo (5 tháng 8 năm 2005). “Poor Ismail Ayob”. Mail & Guardian. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  140. ^ Keet, Jacques (21 tháng 7 năm 2005). “Courts ‘have final word on Mandela-Ayob clash’”. Business Day. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  141. ^ Mabuza, Ernest (18 tháng 7 năm 2005). “Bizos behind vicious campaign to discredit, defame me — Ayob”. Business Day. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2008.
  142. ^ “Ayob to pay back Mandela money”. News24. 27 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  143. ^ a ă Gordin, Jeremy (4 tháng 3 năm 2007). “What caused the Ayob, Mandela spat?”. Sunday Independent (Independent News & Media). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  144. ^ Schmidt, Michael (3 tháng 3 năm 2007). “Mandela waging a vendetta – Ayob”. Pretoria News.
  145. ^ “Mandela’s lawyers take Ismail to court over money”. Mail & Guardian. 25 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  146. ^ Sefara, Makhudu; Mapiloko, Jackie (3 tháng 3 năm 2007). “Madiba set me up, says Ayob”. News24. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  147. ^ Adams, Sheena (8 tháng 7 năm 2006). “’Ayob tried to cover up unlawful spending’”. IOL. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  148. ^ Mkhwanazi, Siyabonga (28 tháng 2 năm 2007). “Lawyer to pay back R800000 to Mandela trust”. Pretoria News (South Africa). Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  149. ^ Mabuza, Ernest (10 tháng 3 năm 2007). “Ayob Runs Out of Cash But Accuses Mandela Again”. Business Day. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  150. ^ Bates, Rob (22 tháng 6 năm 2006). “Nelson Mandela to speak out for diamond industry”. Jewelers’ Circular Keystone. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  151. ^ “Half Nelson – Mandela, diamond shill”. The New Republic. 8 tháng 12 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  152. ^ Snead, Elizabeth (15 tháng 6 năm 2006). “Mandela to defend De Beers from bad “Blood””. LA Times. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2008.
  153. ^ Chimuka, Garikai (14 tháng 5 năm 2008). “Gukurahundi and current wave of violence similar”. The Zimbabwe Times. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  154. ^ Winter, Joseph (13 tháng 3 năm 2002). “Mugabe’s descent into dictatorship”. BBC. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  155. ^ “Mandela expresses anger at Mugabe”. The Namibian. 8 tháng 5 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  156. ^ “Mandela repudiates Mbeki on AIDS stance”. CNN. 29 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  157. ^ Hentoff, Matt (23 tháng 5 năm 2003). “Where is Nelson Mandela?”. The Village Voice. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  158. ^ Trapido, Michael (10 tháng 6 năm 2008). “Why has Nelson Mandela remained silent on Zimbabwe?”. Thought Leader. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2008.
  159. ^ “Mugabe snubs Mandela”. News24. 5 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  160. ^ “Failure of leadership in Zim – Mandela”. News24. 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  161. ^ Father Disfigure by Eve Fairbanks, Newsweek Magazine, 27 August 2009
  162. ^ “UN gives backing to ‘Mandela Day’”. BBC News. 11 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009.
  163. ^ “The Nobel Peace Prize 1993”. Nobelprize.org. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  164. ^ “The Order of Merit”. Royal Insight. Tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.Bản mẫu:Failed verification
  165. ^ “President Honors Recipients of the Presidential Medal of Freedom”. The White House. 9 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  166. ^ “Madiba conferred freedom of Johannesburg”. Gauteng Provincial Government. 27 tháng 7 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  167. ^ “Mandela and the Children”. Rooney Productions. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  168. ^ “Mandela to be honoured with Canadian citizenship”. CBC News. 19 tháng 11 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  169. ^ “Order of Canada – Nelson Mandela, C.C.”. Governor General of Canada. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  170. ^ “Bharat Ratna Award”. National Portal of India. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  171. ^ “Statement on the Ataturk Award given to Nelson Mandela”. African National Congress. 12 tháng 4 năm 1992. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2007.
  172. ^ “Mandela changes his mind”. Turkish Press Review. 7 tháng 1 năm 1999. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2007.
  173. ^ “Mandela in Pakistan”. The Independent (London: Independent Print Limited). 3 tháng 10 năm 1992. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  174. ^ “Stevie Wonder Music Banned in South Africa”. The New York Times. 27 tháng 3 năm 1985. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  175. ^ a ă â b c d Ketchum, Mike. “The Mandela Concert, Wembley 1988”. African National Congress. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  176. ^ Drewett, Michael; Cloonan, Martin (2006). Popular Music Censorship in Africa. Ashgate Publishing. tr. 30. ISBN 0754652912.
  177. ^ Guernsey, Otis L.; Sweet, Jeffrey; Kronenberger, Louis (21 tháng 5 năm 2008). The Best Plays. University of Michigan. tr. 347. ISBN 1557830401.
  178. ^ “Brenda Fassie dies”. BBC. 2004. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  179. ^ Lee, Carmen (16 tháng 6 năm 2003). “20 Years Ago Today”. Time. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008.
  180. ^ Sherrod, Lonnie R. (2006). Youth Activism: An International Encyclopedia. Greenwood Press. tr. 62. ISBN 0313328129.
  181. ^ Lamb, Bill. “Nickelback – If Everyone Cared”. About. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  182. ^ Trussell, Jeff. “Freedom Hero: Nelson Mandela”. The My Hero Project. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  183. ^ “Mandela’s 90th birthday year celebrates diversity of ideas”. Nelson Mandela Foundation. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  184. ^ Mandela 1996, p. 144-148.
  185. ^ Ann, Talbot (5 tháng 8 năm 1999). “Biography falls short of penetrating myth surrounding ANC leader”. International Committee of the Fourth International (ICFI). Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  186. ^ a ă Gilbey, Ryan (14 tháng 5 năm 2007). “Whitewashed and watered down”. New Statesman. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  187. ^ Sampson, Anthony (1999). Mandela: The Authorised Biography. HarperCollins. tr. 217.
  188. ^ Keller, Bill. Mandela and de Klerk (1997)”. The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  189. ^ Goodbye Bafana – Sypnosis”. Goodbye Bafana – Official site. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  190. ^ Cunningham, Matthew (3 tháng 6 năm 2004). “Creme cameos”. The Guardian. London. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
  191. ^ a ă Guerrero, Ed (1993). Framing Blackness: The African American Image in Film. Temple University Press. tr. 202. ISBN 1566391261.
  192. ^ Carlin, John (2008). Playing the Enemy: Nelson Mandela and the Game that Made a Nation. New York: Penguin Press. ISBN 978-1-59420-174-5
  193. ^ a ă Keller, Bill. – “Entering the Scrum”. – The New York Times Book Review. – 17 August 2008.
  194. ^ “The cast of the World Cup film revealed!”. Planet Rugby. 24 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009.
  195. ^ Ian Herbert North (1 tháng 5 năm 2001). “Mandela vindicates ‘loony left’ of Leeds for honouring struggle”. The Independent (London: Independent Print Limited). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2008.
  196. ^ “S. Africa renames Sandton Square as Nelson Mandela Square”. Xinhua News Agency. 31 tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2008.
  197. ^ “Nelson Mandela statue is unveiled”. BBC News. 29 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  198. ^ “Broad Parliamentary Support for Trafalgar Square Mandela statue”. London. 21 tháng 5 năm 2003. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  199. ^ “Mandela salutes apartheid heroes”. News24. 29 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008.
  200. ^ Stern, Jennifer (27 tháng 8 năm 2008). “Long walk immortalised in bronze”. Media Club South Africa. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009.
  201. ^ “Nelson Mandela statue unveiled in Cape Town”. Nelson Mandela Foundation. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009.
  • Aikman, David (2003). Great Souls: Six Who Changed a Century. Lexington Books. ISBN 0739104381. Đã bỏ qua tham số không rõ |authorlnk= (trợ giúp)
  • Mandela, Nelson (1996). The Illustrated Long Walk to Freedom. Paul Duncan (abridgement and picture editing). Boston: Little, Brown and Company. ISBN 0316880205.

Đọc thêm

Liên kết ngoài


Uruguay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
República Oriental del Uruguay
Cộng hòa Đông Uruguay
Oriental Republic of Uruguay
Flag of Uruguay.svg Coat of arms of Uruguay.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Uruguay
Khẩu hiệu
Libertad o Muerte
(tiếng Tây Ban Nha: “Tự do hoặc Chết”)
Quốc ca
Orientales, la Patria o la tumba
Hành chính
Chính phủ Cộng hoà dân chủ
Tổng thống
Phó tổng thống
José Mujica
Danilo Astori
Ngôn ngữ chính thức tiếng Tây Ban Nha
Thủ đô Montevideo
34°53′N, 56°10′T
Thành phố lớn nhất Montevideo
Địa lý
Diện tích 176.220 km² (hạng 90)
Diện tích nước 1,5% %
Múi giờ UTC-3; mùa hè: – (UTC-2)
Lịch sử
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 3.431.932 người (hạng 131)
Dân số (2002) 3.399.237 người
Mật độ 19 người/km² (hạng 156)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 54,58 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,840 cao (hạng 46)
Đơn vị tiền tệ Peso Uruguay (UYU)
Thông tin khác
Tên miền Internet .uy

Uruguay (tiếng Tây Ban Nha: República Oriental del Uruguay, Hán-Việt: Ô Lạp Khuê hay Ô Lạp Khuê ĐÔng phương Cộng hòa quốc) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Nước này tiếp giáp với Brasil ở phía bắc, Argentina ở phía tây (qua sông Uruguay) và tây nam qua Río de la Plata, với Đại Tây Dương ở phía đông nam. Đây là quốc gia độc lập có diện tích nhỏ thứ hai ở Nam Mỹ sau Suriname.
Colonia del Sacramento, một trong số những khu định cư châu Âu lâu đời nhất ở Uruguay được thành lập bởi Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha chiếm Montevideo vào đầu thế kỉ 18 và họ dựng lên thành phố ở đó. Uruguay nổi dậy dành độc lập vào những năm 1811–1828 từ ba nước Tây Ban Nha, Argentina, Brasil. Đó là một nền dân chủ lập hiến, nơi tổng thống giữ cả hai vai trò đứng đầu nhà nướcchính phủ.
Uruguay là một trong số những nền kinh tế phát triển ở Nam Mĩ, với GDP cao, đứng hàng thứ 50 về chất lượng sống tên thế giới. Nền kinh tế dựa vào nông nghiệp (chiếm 10% GDP và đứng thứ nhất về xuất khẩu).Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Uruguay là nước ít tham nhũng nhất châu Mĩ Latin (cùng với Chile).[1]
Năm 2007, Uruguay là nước đầu tiên ở châu Mĩ Latin thực hiện kết hợp dân sự giữa những người đồng tính.

bản đồ Uruguay

hình ảnh Uruguay nhìn từ vệ tinh

Từ nguyên

Từ tiếng Tây Ban Nha República Oriental del Uruguay dịch sang tiếng Việt là Cộng hoà Đông Uruguay. Đó là do nước này có vị trí địa lí ở phía đông sông Uruguay. Từ Uruguay trong tiếng Guaraní nghĩa là con sông nơi mà loài chim đang sống.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Uruguay

Sự thực dân hóa

River Plate Indians with Boleadoras (Hendrick Ottsen, 1603)

Người Tây Ban Nha khám phá ra Uruguay vào đầu thế kỷ 16 nhưng gặp phải sự kháng cự của thổ dân rồi lại bị người Bồ Đào Nha gây khó dễ khiến Uruguay trở thành chiến trường giữa hai đế quốc, Bồ Đào NhaTây Ban Nha. Trong những năm 16691671, Bồ Đào Nha lập đồn lũy ở Colonia del Sacramento hầu kiểm soát khu vực này. Trong khi đó Tây Ban Nha cũng tìm đưa dân đến lập nghiệp, chống lại dân Bồ Đào Nha từ Brasil lấn xuống.
Triều đình Tây Ban Nha cho thành lập Montevideo vào đầu thế kỷ 18 làm căn cứ quân sự rồi sau thị trấn này phát triển thành một hải cảng quan trọng cạnh tranh với Buenos Aires bên Argentina. Vào những năm 18061807, trong khi bên Âu châu Anh và Pháp lâm chiến thì ở Nam Mỹ cuộc chiến chống Napoleon cũng cuốn Anh, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vào vòng binh lửa nhằm khống chế hai thị trấn chính là MontevideoBuenos Aires. Quân Anh chiếm được Montevideo vào năm 1807 nhưng không bao lâu thì quân Tây Ban Nha tái chiếm được.

Đấu tranh giành độc lập khỏi Tây Ban Nha những năm 1811-1814

Năm 1811, José Gervasio Artigas, anh hùng dân tộc của Uruguay, đứng đầu một cuộc cách mạng chống lại Tây Ban Nha, đánh bại họ vào ngày 18 tháng 5 tại trận Las Piedras và ông tuyên bố thành lập liên bang Liga vào năm 1814.

Liên bang Liga 1814-1820

Từ năm 1815 – 1820, Uruguay là trung tâm chính trị của Liên bang Liga hay Liên bang của những người tự do. Tuy nhiên, sự tăng trưởng và uy tín của nó làm cho Đế quốc Bồ Đào Nha ở Brasil sợ hãi (vì chính thể cộng hòa của nó). Tháng 8 năm 1816, Bồ Đào Nha tấn công các tỉnh miền Đông (Uruguay) với ý định tiêu diệt nền cộng hòa ở đây. Nhờ ưu thế về quân sự, quân Bồ Đào Nha chiếm Montevideo vào ngày 20 tháng 1 năm 1817. Quân của Artigas rút về đấu tranh ở nông thôn đấu tranh trong ba năm tiếp theo. Cuối cùng, quân Bồ Đào Nha đánh bại Artigas trong trận Tacuarembó.

Sự chiếm đóng của Brasil 1821 – 1830

Năm 1821, các tỉnh miền Đông (Uruguay) bị sáp nhập vào Brasil (như là một phần của Vương quốc Bồ Đào Nha). Đế chế Brasil được độc lập từ 1822. Ba năm sau, ba mươi ba tỉnh do Juan Antonio Lavalleja đứng đầu tuyên bố độc lập ngày 25 tháng 8 năm 1825 dưới sự bảo trợ của Liên hiệp các tỉnh Rio de la Plata (nay là Argentina).
Điều này đã dẫn đến cuộc chiến tranh Brasil-Argentina kéo dài 500 ngày. Nhưng không bên nào đạt được thế thượng phong, do vậy, hai nước Brasil, Argentina kí kết Hiệp ước Montevideo theo đó công nhận nhà nước Uruguay độc lập. Hiến pháp đầu tiên được thông qua ngày 18 tháng 7 năm 1830.

“Guerra Grande” 1839–1852

Quang cảnh chính trị ở Uruguay đã trở thành phân chia giữa hai bên, các bảo thủ Blancos (“da trắng”) và các tự do Colorados (“Quỷ đỏ”). Các Colorados được dẫn đầu bởi Fructuoso Rivera và đại diện lợi ích kinh doanh của Montevideo; các Blancos đã được lãnh đạo bởi Manuel Oribe, người chăm sóc lợi ích của nông nghiệp nông thôn và thúc đẩy bảo hộ. Hai nhóm lấy tên của họ từ màu sắc của các băng tay mà họ mặc. Các bên Uruguay đã trở thành gắn liền với chiến tranh phe phái chính trị tại nước láng giềng Argentina. Các Colorados ủng hộ tự do lưu vong Argentina Unitarios, nhiều người đã lấy tị nạn tại Montevideo, trong khi tổng thống Blanco Manuel Oribe là một người bạn thân của người cai trị Argentina Manuel de Rosas. Oribe đã phía Rosas khi hải quân Pháp phong tỏa Buenos Aires năm 1838. Điều này dẫn các Colorados và Unitarios lưu vong để tìm kiếm sự ủng hộ của Pháp chống lại Oribe, và vào ngày ngày 15 Tháng Sáu 1838, một đội quân dẫn đầu là Rivera Colorado lãnh đạo lật đổ tổng thống, người đã bỏ chạy tới Argentina. Các Unitarians Argentina đã thành lập một chính phủ lưu vong tại Montevideo và, với sự khuyến khích Pháp bí mật, Rivera tuyên chiến Rosas năm 1839. Cuộc xung đột kéo mười ba năm và trở thành được gọi là “Grande Guerra” (“Đại chiến”). Trong năm 1840, một đội quân Unitarios lưu vong đã cố gắng xâm lược miền bắc Argentina từ Uruguay, nhưng họ đã thành công rất ít. Trong tháng 12 năm 1842, Tổng thống Joaquín Suárez chính thức bãi bỏ chế độ nô lệ. Hai tháng sau, một đội quân người Argentina đã trượt khỏi Uruguay thay mặt của Oribe. Họ tịch thu nhất của đất nước nhưng không có vốn. Các cuộc bao vây của Montevideo, bắt đầu từ tháng 2 năm 1843, sẽ chín cuối năm và chụp thế giới tưởng tượng của các. Alexandre Dumas so sánh nó với một mới Trojan War. Những người Uruguay bao vây kêu gọi người nước ngoài cư trú để được giúp đỡ và một quân đoàn Pháp và một người Ý đã được hình thành. thứ hai là do lưu vong Giuseppe Garibaldi, người đã làm việc như một giáo viên toán học tại Montevideo khi chiến tranh nổ ra.
Garibaldi cũng làm người đứng đầu của hải quân Uruguay. Ông đã tham gia vào nhiều hành động nổi tiếng trong chiến tranh, đặc biệt là trong trận San Antonio, trong đó giành cho ông một danh tiếng trên toàn thế giới như là một nhà lãnh đạo du kích dữ dội. Cuộc phong tỏa của Argentina với Montevideo không hiệu quả như Rosas thường cố gắng không can thiệp với vận chuyển quốc tế về mảng sông. Nhưng năm 1845, khi vào Paraguay đã bị chặn, Anh và Pháp liên minh chống lại Rosas, thu giữ hạm đội của mình và bắt đầu một cuộc phong tỏa của Buenos Aires, trong khi Brasil tham gia chống lại Argentina.

Rosas đạt thỏa thuận hòa bình với Anh và Pháp vào năm 1849 và 1850. Người Pháp đã đồng ý rút quân đoàn của mình nếu Rosas di tản quân đội Argentina từ Uruguay. Oribe vẫn duy trì một cuộc bao vây lỏng lẻo với thủ đô. Năm 1851, những người Argentina Caudillo Justo José de Urquiza quay lưng lại với Rosas và ký kết một hiệp ước với Unitarios lưu đày, các Colorados Uruguay và Brazil chống lại ông. Urquiza vượt qua thành Uruguay, đánh bại Oribe và dỡ bỏ cuộc bao vây với Montevideo. Ông sau đó đã lật đổ Rosas ở trận Caseros ngày 3 tháng hai năm 1852. Với thất bại này, Rosas sống lưu vong, Guarra Grande cuối cùng đã kết thúc.

Chiến tranh giữa liên minh Triple

Năm 1855, cuộc xung đột mới nổ ra giữa các bên. Nó đạt đỉnh cao trong thời gian chiến tranh của Liên minh Triple. Năm 1863, Colorado chung Venancio Flores tổ chức một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại tổng thống Blanco, Bernardo Prudencio Berro. Flores đã giành sự ủng hộ từ Brasil và, thời gian này, Argentina đã cung cấp ông với quân đội và vũ khí, trong khi Berro thực hiện một liên minh với các nhà lãnh đạo Paraguay Francisco Solano López. Khi chính phủ của Berro bị lật đổ trong năm 1864 với sự giúp đỡ của Brazil, López sử dụng nó như là một lý do để tuyên chiến với Uruguay. Kết quả là cuộc chiến tranh của Liên minh Triple, một cuộc xung đột năm năm, trong đó Uruguay, quân đội Brasil và Argentina, Paraguay đã chiến đấu, và đó Flores cuối cùng thắng, nhưng chỉ ở mức giá của sự mất 95% quân của riêng mình. Flores đã không tận hưởng của mình chiến thắng Pyrrhic cho lâu dài. Năm 1868, ông bị giết trong cùng một ngày như là đối thủ của ông Berro.
Cả hai bên đã mệt mỏi của sự hỗn loạn này. Năm 1870, họ đã đi đến một thỏa thuận để xác định các lĩnh vực ảnh hưởng: các Colorados sẽ kiểm soát Montevideo và khu vực ven biển, các Blancos sẽ cai trị nội địa với bất động sản nông nghiệp của mình. Ngoài ra, Blancos đã được trả nửa triệu đô la để bồi thường cho họ mất cổ phần của họ ở Montevideo. Nhưng Caudillo tâm lý rất khó để xóa từ Uruguay và tiếp tục hoạt động chính trị mà đỉnh cao là cuộc cách mạng của Lances (Revolución de las Lanzas) (1870-1872), và sau này với các cuộc nổi dậy của Aparicio Saravia, người đã bị thương tại trận Masoller (1904).

Xã hội và sự phát triển kinh tế đến năm 1890

Sau khi kết thúc Guerra Grande có một sự gia tăng mạnh số lượng người nhập cư, nhiều nhất là từ Italy và Tây Ban Nha. Số lượng người nhập cư đã tăng từ 48% dân số trong 1860 lên 68% năm 1868. Trong thập niên 1870, một 100,000 người châu Âu tiếp tục đến, để đến năm 1879 khoảng 438.000 người đã sống ở Uruguay, một phần tư trong số họ trong Montevideo. Năm 1857, ngân hàng đầu tiên đã được mở cửa, ba năm sau đó, một hệ thống kênh đào đã được bắt đầu xây dựng, dòng điện tín đầu tiên được thành lập, và các liên kết đường sắt được xây dựng giữa các thành phố và nông thôn.
Nền kinh tế nhìn thấy sự tăng trưởng mạnh sau khi “Guerra Grande” kết thúc, trên tất cả trong chăn nuôi và xuất khẩu. Giữa năm 1860 và 1868, số lượng cừu tăng 3-17.000.000. Lý do cho sự gia tăng này nằm ở trên tất cả trong các phương pháp cải tiến chăn nuôi của những người nhập cư châu Âu.
Montevideo đã trở thành một trung tâm kinh tế lớn của khu vực. Nhờ bến cảng tự nhiên của nó, nó trở thành một nơi trung chuyển hàng hóa từ Argentina, BrasilParaguay. Các thị xã PaysandúSalto, cả trên sông Uruguay, cũng có kinh nghiệm phát triển tương tự.

Thế kỉ 20

Uruguay phát triển tăng tốc trong phần sau của thế kỷ 19 cũng như số ngày càng tăng của người nhập cư thành lập doanh nghiệp và mua đất. Một phần thông qua nỗ lực của họ, cừu đã được giới thiệu để gặm cỏ cùng với gia súc, trang trại được rào, và những con bò và cừu được nhập khẩu để cải thiện chăn nuôi. Thu nhập từ len (mà đã trở thành việc xuất khẩu hàng đầu vào năm 1884), da, và thịt bò khô khuyến khích người Anh đầu tư xây dựng đường sắt và cũng đã giúp hiện đại hóa Montevideo, đáng chú ý trong các tiện ích công cộng và hệ thống giao thông vận tải, mà qua đó khuyến khích nhập cư bổ sung.

Năm 1876, các lực lượng vũ trang Uruguay đã qua của chính phủ, và hỗ trợ bởi thông tin liên lạc được cải thiện, bắt đầu thiết lập vững chắc hơn trong kiểm soát đất nước. Tuy nhiên, công cuộc hỗ trợ cho chế độ dần dần phai nhạt vì sự tàn bạotham nhũng của một số nhà lãnh đạo của nó, và một chính phủ dân sự Colorado trở lại cầm quyền vào năm 1890.
Blanco nhu cầu của một vai trò lớn hơn trong chính phủ leo thang thành cuộc Cách mạng năm 1897, do Aparicio Saravia, kết thúc khi tổng thống Colorado, Juan Idiarte Borda, đã bị giết bởi một sát thủ không liên kết với các Blancos. Mặc dù các cuộc xung đột giữa Colorados và Blancos vẫn tiếp tục cản trở sự phát triển kinh tế, theo dân số của Uruguay năm 1900 đã lên đến một triệu tăng 13 lần so với mức của năm 1830. Các nhà lãnh đạo Colorado José Batlle y Ordóñez được bầu làm tổng thống năm 1903. Năm sau các Blancos đã dẫn đầu một cuộc nổi dậy nông thôn, và tám tháng chiến đấu đẫm máu xảy ra sau đó trước khi Saravia bị giết chết trong trận chiến và lực lượng chính phủ đã nổi lên giành chiến thắng. Năm 1905 các Colorados thắng cuộc bầu cử lập pháp lần đầu tiên trong suốt phần lớn trong 30 năm qua, và sự ổn định trong nước cuối cùng đã đạt được.
Batlle, người đã trở thành một anh hùng Colorado, đã dùng sự ổn định của quốc gia và phát triển thịnh vượng kinh tế để viện cải cách lớn, bao gồm gia tăng sự can thiệp của nhà nước trong các vấn đề kinh tế. Chính quyền của ông đã giúp mở rộng chăn thả gia súc, giảm sự phụ thuộc của quốc gia nhập khẩu và vốn nước ngoài, cải thiện điều kiện lao động thông qua những cải cách sâu rộng đến xã hội, và mở rộng giáo dục. Ngoài ra Batlle bãi bỏ án tử hình, cho phép phụ nữ để tiến hành thủ tục ly dị, tăng cường các quyền của trẻ em sinh ra ngoài giá thú, và giảm các ảnh hưởng chính trị của Giáo hội Công giáo La Mã, phản ánh xu hướng phát triển theo hướng tự do hóa xã hội và thế tục tại Uruguay.
Batlle đã có hai nhiệm kỳ (1903-1907 và 1911-1915), trong đó để bắt đầu chính sách của ông, nhưng ông nhận ra rằng chương trình của mình có thể bị đảo ngược bởi một tổng thống trong tương lai hoặc độc tài, ông đã thúc đẩy một cuộc cải cách hiến pháp để kết thúc nhiệm kỳ tổng thống và thay thế bằng một số nhiều điều hành, các colegiado. kế hoạch táo bạo của Batlle chia Colorados và hồi sinh Blanco phe đối lập, và năm 1916 các colegiado bị đánh bại trong cuộc bầu cử đầu tiên của nước bằng cách bỏ phiếu kín. Batlle giữ lại một số lượng đáng kể uy tín và hỗ trợ, tuy nhiên, trong đó cho phép ông ta tấn công một thỏa hiệp là một phần giải cứu các colegiado, do đó, trong hiến pháp ban hành vào năm 1918, trách nhiệm điều hành được phân chia giữa tổng thống và một Hội đồng Hành chính Quốc gia.
Một chính quyền đồng thuận nổi lên với các chính sách đã được thận trọng hơn so với sáng tạo, ngoại trừ trong pháp luật về xã hội. mức sống cao hơn được hỗ trợ bởi một nền kinh tế nông trại đó đã ngừng phát triển, một tiến thoái lưỡng nan ẩn do giá xuất khẩu cao của cuối thập niên 1920. Năm 1930, Uruguay được chọn là nơi tổ chức đầu tiên của bóng đá World Cup. Mặc dù qui mô của giải nhỏ hơn rất nhiều so với các cuộc thi của ngày hôm nay, sự kiện cung cấp niềm tự hào quốc gia khi đội chủ nhà đã giành giải đấu trên nước láng giềng Argentina.
Trong cuối thập niên 1950, một phần vì làm giảm nhu cầu tại các thị trường thế giới cho các sản phẩm nông nghiệp, Uruguay đã bắt đầu gặp phải vấn đề kinh tế, bao gồm lạm phát, thất nghiệp hàng loạt, và dốc thả một trong mức sống cho người lao động Uruguay. Điều này dẫn đến tình trạng bất ổn quân sự cho sinh viên và lao động.
Năm 1950 cũng chứng kiến Uruguay giành chiến thắng thứ hai World Cup, đánh bại Brazil 2-1 trong trận chung kết của cuộc thi để có vị trí trong nhóm vô địch, một sự kiện được gọi là Maracanazo. Một phong trào du kích đô thị được gọi là Tupamaros hình thành trong đầu những năm 1960, lần đầu tiên tham gia vào các hoạt động phản đối Robin Hood loại, như cướp ngân hàng và phân phối tiền cho người nghèo, và cố gắng đối thoại chính trị. Theo chính quyền cấm hoạt động chính trị của họ và cảnh sát trở nên ngột ngạt, các Tupamaros đã lên công khai đấu tranh vũ trang, tham gia vào cuộc xung đột trực tiếp với cảnh sát và bắt cóc các quan chức tham nhũng và nhận thức kẻ thù. [11] Hoa Kỳ Văn phòng An Toàn Công Cộng (OPS) đã bắt đầu hoạt động tại Uruguay vào năm 1965. Văn phòng Mỹ An Toàn Công Cộng cảnh sát Uruguay đào tạo và thông minh trong lập chính sách và kỹ thuật interrogration.
Tổng thống Jorge Pacheco tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào năm 1968, tiếp theo là tiếp tục đình chỉ quyền tự do dân sự vào năm 1972 bởi người kế nhiệm ông, Tổng thống Juan María Bordaberry, người mang trong quân đội để chống lại các du kích MLN, do Raúl Sendic. Sau khi đánh bại các Tupamaros, việc thu giữ quyền lực quân sự năm 1973. Một nhà nước quân luật được hiệu quả sử dụng để tiêu diệt các MLN (Phong trào giải phóng quốc gia). Thủ trưởng MLN đã bị cô lập trong nhà tù. Bordaberry cuối cùng đã được gỡ bỏ từ chủ tịch phụ trách “của mình” trong năm 1976. Ông là thành công đầu tiên của Alberto Demicheli. Sau đó một hội đồng quốc gia được lựa chọn bởi chính phủ quân sự được bầu Aparicio Méndez.
Năm 1980, lực lượng quân đội đề xuất một sự thay đổi trong hiến pháp sẽ được thông qua với một trưng cầu dân ý. Các “Không” cho những cải cách hiến pháp đã giành được bỏ phiếu với 57,2% số phiếu, hiển thị các unpopularity của chính phủ trên thực tế, mà sau này được tăng tốc bởi một cuộc khủng hoảng kinh tế. Năm 1981, Tổng Gregorio Álvarez nắm chức tổng thống.
Năm 1984, cuộc biểu tình lớn chống lại quyền quân sự nổ ra. Sau một cuộc tổng đình công 24 giờ, cuộc đàm phán đã bắt đầu và lực lượng vũ trang công bố một kế hoạch quay trở lại quy luật dân sự. cuộc bầu cử quốc gia đã được tổ chức vào năm 1984; Colorado Đảng lãnh đạo Julio María Sanguinetti thắng cử tổng thống và, sau khi tạm ngắn gọn của Tổng thống Rafael Addiego Bruno, phục vụ 1985-1990. Các Sanguinetti đầu tiên chính quyền triển khai thực hiện cải cách kinh tế và dân chủ hợp nhất các năm tiếp theo của đất nước dưới sự cai trị quân sự. Tuy nhiên, Sanguinetti không bao giờ ủng hộ những tuyên bố nhân quyền, và chính phủ của ông đã không truy tố các phiến quân, khủng bố, các nhà lãnh đạo quân sự hoặc những người đã bị buộc tội giết người và tra tấn. Thay vào đó, ông chọn cho một lựa chọn hòa bình hơn, ký kết một hiệp ước ân xá gọi là tiếng Tây Ban Nha “Ley de Amnistia”.

Kỉ nguyên hiện đại

Sanguinetti cải cách kinh tế, tập trung vào việc thu hút thương mại và vốn nước ngoài, đạt được một số thành công và ổn định nền kinh tế. Để thúc đẩy hòa giải dân tộc và tạo điều kiện cho sự trở lại của luật dân sự dân chủ, bảo đảm Sanguinetti phê duyệt công cộng bằng phổ thông đầu phiếu của một cuộc đại xá gây tranh cãi cho các nhà lãnh đạo quân sự bị cáo buộc vi phạm nhân quyền dưới chế độ quân sự và tăng tốc việc phát hành các cựu du kích.
Đảng Quốc gia của Luis Alberto Lacalle thắng cuộc bầu cử tổng thống năm 1989 và phục vụ 1990-1995. Tổng thống Lacalle thực hiện kết cấu chính và cải cách kinh tế theo đuổi tự do hóa hơn nữa các chế độ thương mại, bao gồm bao gồm nội dung của Uruguay trong Khối thị trường chung Nam Mỹ(MERCOSUR) trong năm 1991. Mặc dù tăng trưởng kinh tế trong nhiệm kỳ của Lacalle, điều chỉnh và nỗ lực tư nhân kích động chống đối chính trị, và một số cải cách đã được đảo ngược bằng cách trưng cầu dân ý.

Plaza Independencia (quảng trường Independence)

Trong cuộc bầu cử năm 1994, cựu Tổng thống Sanguinetti giành một thuật ngữ mới, mà chạy từ năm 1995 đến tháng 3 năm 2000. Vì không có đảng duy nhất có đa số tại Đại hội, Đảng Quốc gia đã tham gia với Sanguinetti của Đảng Colorado trong một chính phủ liên minh. Chính phủ tiếp tục cải cách kinh tế Sanguinetti của Uruguay và hội nhập MERCOSUR. cải cách quan trọng khác là nhằm cải thiện hệ thống bầu cử, an sinh xã hội, giáo dục, và an toàn công cộng. Nền kinh tế tăng trưởng ổn định cho hầu hết các kỳ hạn của Sanguinetti cho đến khi giá cả hàng hóa thấp và khó khăn kinh tế tại các thị trường xuất khẩu chính của nó gây ra một cuộc suy thoái vào năm 1999, trong đó có tiếp tục vào năm 2002. Các cuộc bầu cử quốc gia năm 1999 đã được tổ chức theo một hệ thống bầu cử mới được thành lập theo một sửa đổi hiến pháp năm 1996. Bầu cử sơ bộ trong tháng tư đã quyết định ứng cử viên tổng thống duy nhất cho mỗi bên, và cuộc bầu cử quốc gia ngày 31 tháng 10 xác định đại diện trong cơ quan lập pháp. Vì không có ứng cử viên tổng thống đã nhận được một đa số trong cuộc bầu cử tháng mười, một dòng chảy đã được tổ chức trong tháng mười một. Trong dòng chảy này, ứng cử viên Đảng Colorado Jorge Batlle, hỗ trợ bởi sự hỗ trợ của Đảng Quốc gia, đánh bại Mặt trận Rộng ứng cử viên Tabare Vázquez.
Các Colorado và Quốc gia thành viên liên minh tiếp tục lập pháp của họ, không bên nào giành tự như nhiều chỗ ngồi là 40% của mỗi nhà giành chiến thắng liên minh Mặt trận rộng. Các liên minh chính thức kết thúc vào tháng mười một năm 2002, khi Bộ trưởng Blancos rút khỏi nội các, mặc dù Blancos tiếp tục hỗ trợ trên hầu hết các vấn đề Colorados.

Tabaré Vázquez, cựu tổng thống Uruguay và tổng thống Brasil Luiz Inácio Lula da Silva

Các năm nhiệm kỳ của Batlle được đánh dấu bởi tình trạng suy thoái kinh tế và sự không chắc chắn, đầu tiên với sự mất giá năm 1999 của Brazil thực sự, sau đó với các dịch lở mồm long móng (aftosa) trong thịt bò khu vực trọng điểm của Uruguay vào năm 2001, và cuối cùng với các chính trị và kinh tế sụp đổ của Argentina. Thất nghiệp tăng lên gần hai mươi phần trăm, tiền lương thực giảm, đồng peso đã mất giá và tỷ lệ đói nghèo của Uruguay đạt gần bốn mươi phần trăm. Những điều kiện kinh tế xấu đi góp phần vào chuyển ý kiến công chúng đối với thị trường tự do đã thông qua chính sách kinh tế của chính quyền và người tiền nhiệm của nó Batlle, dẫn đến từ chối phổ biến thông qua các đề xuất để tư nhân hoá của công ty dầu khí nhà nước trong năm 2003 và của công ty nhà nước trong nước năm 2004.
Năm 2004 Uruguayans được bầu làm tổng thống Tabaré Vázquez, trong khi cho Mặt trận Rộng (liên minh của chủ nghĩa xã hội, cộng sản, Tupamaros, cựu cộng sản và dân chủ xã hội) một đa số tại cả hai viện của Quốc hội. Chính phủ mới được bầu, trong khi cam kết tiếp tục thanh toán nợ nước ngoài của Uruguay, cũng đã hứa sẽ thực hiện một vụ tai nạn công ăn việc làm chương trình để tấn công những vấn đề phổ biến rộng rãi của nghèo đói và thất nghiệp. Trong thời chính quyền cựu Tổng thống Vazquez Juan Maria Bordaberry và Tổng Gregorio Alzarez sẽ được tống giam đối với vi phạm nhân quyền cam kết trong thập niên 1970 ‘. Điều tra bắt đầu sau khi xuất bản cuốn sách “Los Años Oscuros 1967-1987” của Northamerican sử Scott Myers.
Trong năm 2009 Mặt trận Rộng giành cho cuộc bầu cử lần thứ hai. Còn lại liên minh duy trì phần lớn trong cả hai ngôi nhà của Nghị viện và José Mujica nổi lên làm Tổng thống mới của Uruguay. Được gọi là “El Pepe”, (sinh ngày 20 tháng năm 1935) Mujica là một chính trị gia Uruguay và cựu du kích chiến đấu, một thành viên của Mặt trận Rộng (liên minh cánh tả) và Tổng thống Uruguay hiện hành. Ông đã sống khắc khổ trên một trang trại ở ngoại ô Montevideo, thủ đô của đất nước. Mujica đã được Bộ trưởng Bộ Chăn nuôi, Nông nghiệp, Thủy sản và 2005-2008 và một Thượng nghị sĩ sau đó. Ông đã giành được cuộc bầu cử tổng thống và nhậm chức làm Tổng thống vào ngày 01 tháng 3 năm 2010.

Địa lí

Bài chi tiết: Địa lí Uruguay

Lãnh thổ của Uruguay bao gồm 176.220 km 2 diện tích đất liền và 142.999 km 2 diện tích sông, biển, và các đảo có thẩm quyền tài phán. Uruguay là nước độc lập có diện tích nhỏ thứ hai ở Nam Mỹ sau Suriname. Địa hình chủ yếu là đồng bằng, đồi thấp. Điểm cao nhất ở trong nước là Cerro Catedral cao 514 m trong phạm vi đồi Sierra Carapé.

Khí hậu

Bài chi tiết: Khí hậu Uruguay

Khí hậu của Uruguay là khí hậu ôn đới có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nó nhận không khí địa cực vào mùa đông, không khí nhiệt đới từ Brasil vào mùa hè. Do vậy, nếu không có núi che chở như một rào cản thì thời tiết dễ bị thay đổi đột ngột.

Tỉnh thành

Bài chi tiết: Tỉnh của Uruguay

Uruguay bao gồm 19 sở. Các sở đầu tiên được thành lập từ năm 1816 và gần đây nhất Flores được thành lập vào năm 1885.

Bản đồ các tỉnh thành của Uruguay theo thứ tự chữ cái.

Sở Diện tích (km2) Dân số Thủ phủ
– 1Artigas 11,928 79,317 Artigas
– 2Canelones 4,536 509,095 Canelones
– 3Cerro Largo 13,648 89,383 Melo
– 4Colonia 6,106 120,855 Colonia del Sacramento  
– 5Durazno 11,643 60,926 Durazno
– 6Flores 5,144 25,609 Trinidad
– 7Florida 10,417 69,968 Florida
– 8Lavalleja 10,016 61,883 Minas
-9 Maldonado 4,793 147,391 Maldonado
– 10Montevideo 530 1,342,474 Montevideo
-11 Paysandú 13,922 115,623 Paysandú
-12 Río Negro 9,282 55,657 Fray Bentos
– 13Rivera 9,370 109,267 Rivera
-14 Rocha 10,551 70,614 Rocha
-15 Salto 14,163 126,745 Salto
-16 San José 4,992 107,644 San José de Mayo
-17 Soriano 9,008 87,073 Mercedes
-18 Tacuarembó 15,438 94,613 Tacuarembó
-19 Treinta y Tres   9,676 49,769 Treinta y Tres
* 2007

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Uruguay

Uruguay là nền kinh tế chủ yếu dựa vào thương mại, đặc biệt là xuất khẩu nông sản, khiến cho trong nước dễ bị biến động giá cả hàng hóa.
Chăn nuôi bò, cừu trở thành ngành kinh tế chủ yếu thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp chế biến để xuất khẩu (len, hàng dệt, thịt và ngành da thú). Ngành trồng trọt gồm có: ngũ cốc, mía, cây ăn quả.
Kinh tế gặp nhiều khó khăn do nợ nước ngoài chồng chất. Là nước thành viên của tổ chức Mercosur, Uruguay bị lấn át bởi hai nước láng giềng khổng lồ BrasilArgentina. Thâm hụt cán cân mậu dịch gia tăng.
Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm 9% GDP, nhưng nông phẩm chiếm hơn 50% hàng xuất khẩu. Urugoay đứng đầu Mỹ Latinh và thứ 6 thế giới về xuất khẩu lúa gạo. Công nghiệp chủ yếu là chế biến nông sản (thịt, sản phẩm da thuộc, len…). Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ 20, Urugoay theo mô hình kinh tế tự do mới, giảm được lạm phátthâm hụt ngân sách, cân đối xuất nhập khẩu. Urugoay là một trong những nước có điều kiện và chính sách lao động tự do nhất ở châu Mỹ.
Từ năm 1999, kinh tế Urugoay suy thoái, một nguyên nhân lớn là do tác động của việc phá giá tiền tệ của Brasil làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá Urugoay và ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Argentina. Tháng 6 năm 2002, chính phủ quyết định thả nổi đồng pê xô, đồng đô la Mỹ tăng giá 60% so với nội tệ, giúp cho hàng hoá xuất khẩu của Urugoay tăng sức cạnh tranh nhưng cũng gây ra đổ vỡ tín dụng, khủng hoảng hệ thống ngân hàng, làm giảm sức mua của người tiêu dùng và tăng lạm phát từ 4% (2001) lên tới 26% (2002).
Urugoay có môi trường đầu tư tốt, hệ thống pháp lý mạnh và thị trường tài chính mở cửa. Chiến lược của chính phủ hiện nay là kích thích tăng trưởng dựa trên việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước bạn hàng truyền thống trong khối Mercosur, EUBắc Mỹ. Với châu Á, Urugoay có quan hệ thương mại với Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, MalaysiaIndonesia… Urugoay xuất hàng truyền thống như thịt bò, lúa gạo, len, , da thuộc và đồ da; nhập khẩu máy móc, hoá chất, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, quần áo…

Nông nghiệp

Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Uruguay. Hiện nay, nông nghiệp đóng góp 11% GDP của Uruguay và là nguồn thu ngoại hối chính, đưa Uruguay lên ngang tầm các nước có số lượng nông sản xuất khẩu khác như Brasil, Argentina, New Zealand.

Chính trị

Uruguay là một nền cộng hòa dân chủ. Tổng thống giữ cả hai vai trò đứng đầu nhà nước và chính phủ. Tổng thống giữ quyền hành pháp. Quốc hội, gòm thượng việnhạ viện giữ quyền lập pháp. Bộ tư pháp nắm quyền tư pháp.

Tổng thống Uruguay José Mujica

Đảng Colorado và các bên khác đã đấu tranh giành quyền lực trong suốt phần lớn lịch sử Uruguay. Tuy nhiên, vào cuộc bầu cử năm 2004, một mặt trận rộng đã được thành lập gồm liên minh của Tupamaros, cộng sản, Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong số những người được bầu vào quốc hội. Tabare Vazquez được bầu làm Tổng thống.
Hiến pháp đầu tiên của Uruguay được thông qua vào năm 1830, sau Hiệp ước Montevideo theo đó thành lập nhà nước Uruguay.
Uruguay là nước đứng thứ 25 trong Chỉ số nhận thức tham nhũng.
Hiến pháp Uruguay cho phép sử dụng trưng cầu dân ý để thay đổi luật pháp và hiến pháp.

Giao thông vận tải

Bài chi tiết: Giao thông Uruguay

Đường bộ

Đường quốc lộ kết nối Montevideo và các thành phố lớn khác trong nước. Đường cao tốc chính dẫn tới những vùng biên giới. Những con đường nhỏ khác không được trải nhựa nối các trang trại và thị trấn nhỏ. Đường sá phát triển mạnh sau khi Khối thị trường chung Nam Mỹ được thành lập vào những năm 1990. Hầu hết hàng hóa vận chuyển trong nước được chuyên chở bằng đường bộ chứ không phải đường sắt.

Đường sắt

Mạng lưới đường sắt hầu hết đều đã cũ (mua của Anh từ Chiến tranh thế giới thứ nhất) trừ một đường nhỏ chạy từ Montevideo đi San José, qua các thành phố Las PiedrasCanelones.

Đường thủy

Cảng biển chủ yếu ở Montevideo, Tàu thuyền di chuyển trong nội địa có các kích thước khác nhau, một dịch vụ tàu cánh ngầm kết nối Buenos Aires với MontevideoColonia del Sacramento qua Rio de Plata.

Hàng không

Một sân bay quốc tế nằm gần khu nghỉ mát bãi biển Carrasco một khoảng 21 km từ trung tâm thành phố Montevideo. Các hãng hàng không thuộc sở hữu của chính phủ, Primeras Líneas Uruguayas de Navegación Aérea (PLUNA), liên kết các điểm đến Montevideo với một số sân bay quốc tế.

Tôn giáo

Vương Cung Thánh Đường Nhà thờ Florida ở Montevideo, tức nhà thờ chính tòa tổng giáo phận Montevideo

Uruguay không có tôn giáo chính thức của nhà nước, nhà thờ và nhà nước được chính thức tách ra, và tự do tôn giáo được đảm bảo.[2] Một cuộc khảo sát năm 2008 của Viện Nacional de Estadística của Uruguay cho thấy Công giáo Rôma là tôn giáo chính, với 45,7% dân số tin theo, 9,0% là Kitô hữu khác ngoài Công giáo, 0,6% là Thuyết duy linh hoặc Umbandists (một tôn giáo bản địa), và 0,4% là người Do Thái giáo, 30,1% cho biết họ có tin tưởng vào một vị thần, nhưng không thuộc tôn giáo nào, trong khi 14% là người vô thần hoặc bất khả tri.[3]
Giới quan sát chính trị xem Uruguay quốc gia thế tục nhất ở châu Mỹ.[4] Uruguay thế tục hóa bắt đầu với vai trò tương đối nhỏ của nhà thờ trong thời kỳ thuộc địa, so với các bộ phận khác của đế quốc Tây Ban Nha. Sau khi độc lập, ý tưởng chống đối ảnh hưởng của tôn giáo đối với chính quyền lan rộng tới Uruguay, đặc biệt là từ Pháp, tiếp tục làm xói mòn ảnh hưởng của nhà thờ đối với chính phủ.[5] Năm 1837, hôn nhân dân sự đã được công nhận và năm 1861 nhà nước tiếp quản các hoạt động của các nghĩa trang nhân dân vốn do nhà thờ đảm trách. Trong năm 1907, ly hôn đã được hợp pháp hóa và năm 1909, tất cả các chương trình giáo dục giảng dạy tôn giáo đã bị cấm tại tất cả các trường công lập nhà nước. Dưới ảnh hưởng của các cải cách tự do, do nhà lãnh đạo Colorado José Batlle y Ordóñez (1903-1911) đề xướng, một bản Hiến pháp mới đã được ban hành năm 1997 đã tách hoàn toàn ảnh hưởng của nhà thờ đối với nhà nước.[6]
Theo khảo sát chính thức gần đây nhất khoảng 58,1% dân số Uruguay xác định mình là Kitô giáo (47% Công giáo La Mã, Tin Lành 11,1%), và khoảng 40,89% dân số không xưng tôn giáo (23,2% “tin vào Thiên Chúa nhưng không có tôn giáo”, 17,2% là người vô thần), 0,6% là tín đồ của các tôn giáo châu Phi khác, 0,5% là người Do Thái giáo, và 0,4% theo tôn giáo khác.[7]
Có khoảng 2,3 triệu người Công giáo Rôma trong cả nước. Có 9 giáo phận trực thuộc tổng giáo phận Montevideo; Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Uruguay hiện nay lag Tổng giám mục Nicolas Cotugno Fanizzi, người được bổ nhiệm vào tháng 12 năm 1998. Các vị thánh bảo trợ của Uruguay là Maria, hiện được tôn kính tại Vương Cung Thánh Đường Nhà thờ Florida.[8]
Hồi giáo ở Uruguay ước tính có từ 300 đến 400 người, đại diện cho 0,01 phần trăm dân số. Có hai trung tâm Hồi giáo, tại Montevideo.[9]
Hiện nay, có từ 20.000-25.000 người Do Thái giáo sống ở Uruguay, với 95% cư trú tại Montevideo. Có một cộng đồng nhỏ ở Paysandú. Khoảng 75% trong số đó là nhánh Do Thái giáo Ashkenazi và 11% thuộc nhánh Sephardi. Đến năm 2003, có 20 giáo đường Do Thái, nhưng chỉ có sáu trong số đó tổ chức các buổi lễ Shabbat hàng tuần.
Đức tin Bahá’í được truyền bá đến Uruguay bởi Abdu’l-Baha, một trong những người đứng đầu tôn giáo này trong năm 1916.[10] Hội đồng tin thần Bahá’í địa phương đầu tiên tại Montevideo được bầu vào năm 1942. Năm 1961, Hội đồng tinh thần Bahá’í Uruguay được thiết lập và tới năm 1963 đã có ba Hội đồng tinh thần Bahá’í địa phương. Năm 2001 có khoảng 4.000 tín đồ Baha’is tại Uruguay và đến năm 2005, đã tăng lên 7.300 người.[11]

Externi liên kết

Tham khảo


Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con
 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s