Chào ngày mới 14 tháng 7

 Nhân dân Paris chiếm ngục Bastille

Ngày Quốc khánh Pháp (1789); ngày Cộng hòa tại Iraq (1958).  Năm 756Loạn An Sử: Đường Huyền Tông chạy khỏi kinh sư Trường An trong lúc quân An Lộc Sơn tiến gần đến thành. Năm 1789Cách mạng Pháp bắt đầu khi thị dân Paris nổi dậy chiếm ngục Bastille (hình), thả các tù nhân và tịch thu kho súng đạn lớn của nhà tù. Năm 1881 – Kẻ ngoài vòng pháp luật Billy the Kid bị bắn chết bởi Pat Garrett trước Pháo đài Sumner ở New Mexico, Hoa Kỳ. Năm 1988 – Tổng thống François Mitterrand thông báo quyết định xây dựng mới Thư viện Quốc gia Pháp với quy mô và mức độ hiện đại hàng đầu thế giới.

Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Pháp
République française (tiếng Pháp)
Flag of France.svg Armoiries république française.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Pháp
Khẩu hiệu
Liberté, Égalité, Fraternité
Tiếng Pháp: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”
Quốc ca
La Marseillaise

Trình đơn
0:00

Ngôn ngữ chính thức = Tiếng Pháp¹

Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
Tổng thống
Thủ tướng
François Hollande
Manuel Valls
Thủ đô Paris
48°51′B, 2°20′Đ
Thành phố lớn nhất Paris
Địa lý
Diện tích 674.843 km² (hạng 42)
Diện tích nước 0,26% %
Múi giờ UTC+1; mùa hè: UTC+2
Lịch sử
Ngày thành lập 843
14 tháng 7 năm 1789
5 tháng 10 năm 1958
Năm 843 Hiệp ước Verdun
Năm 1789 Cướp ngục Bastille
Năm 1958 Hiến pháp Đệ ngũ Cộng hòa Pháp
Dân cư
Dân số ước lượng (2012) 65.630.692[1] người (hạng 21)
Dân số 63.044.000 người
Mật độ 111 người/km² (hạng 93)
Kinh tế
GDP (PPP) (2003) Tổng số: 1.661 tỷ Mỹ kim
Đơn vị tiền tệ Euro, Franc CFP (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .fr
¹ Có nhiều ngôn ngữ địa phương
Fr-map.png

Pháp (tiếng Pháp: France), quốc danh hiện tại là Cộng hòa Pháp (République française), là một quốc gia nằm tại Tây Âu, có một số đảo và lãnh thổ nằm rải rác trên nhiều lục địa khác. Pháp có biên giới với Bỉ, Luxembourg, Đức, Thuỵ Sĩ, Ý, Monaco, AndorraTây Ban Nha. Tại một số lãnh thổ hải ngoại của mình, Pháp có chung biên giới trên bộ với Brasil, SurinameSint Maarten (Hà Lan). Pháp còn được nối với Anh Quốc qua Đường hầm Eo biển Manche, chạy dưới eo biển Manche.
Pháp là nước lớn nhất Tây Âu và lớn thứ ba ở châu Âu và có vùng đặc quyền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Những giá trị quan trọng của thể chế này được thể hiện trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 (Déclaration des Droits de l’Homme et du Citoyen). Trong hơn 500 năm qua, Pháp là một cường quốc có ảnh hưởng văn hóa, kinh tế, quân sự và chính trị mạnh mẽ ở châu Âu và trên toàn thế giới.[2] Từ thế kỷ 17 đến 20, Pháp lập nên đế quốc thực dân lớn thứ hai trên thế giới bao gồm những vùng đất rộng lớn ở Bắc, Tây và Trung Phi, Đông Nam Á và nhiều đảo ở Caribbe và Thái Bình Dương.
Pháp là một nước dân chủ theo thể chế cộng hòa bán tổng thống trung ương tập quyền (unitary semi-presidential republic). Quốc gia này là một nước công nghiệp và phát triển, có nền kinh tế lớn thứ năm trên thế giới tính theo GDP, thứ chín tính theo sức mua tương đương và lớn thứ hai ở châu Âu theo GDP danh nghĩa.[3] Pháp được Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá là “nước chăm sóc sức khỏe toàn thể” (“best overall health care”) tốt nhất thế giới[4] và là nước được nhiều người đến tham quan nhất thế giới với 79,5 triệu khách nước ngoài hằng năm.[5]
Pháp có ngân sách quốc phòng danh nghĩa lớn thứ năm trên thế giới[6] và ngân sách quốc phòng bình quân đầu người lớn nhất Liên minh châu Âu, lớn thứ ba trong NATO. Nước này sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba trên thế giới[7] với khoảng 300 đầu đạn hạt nhân hoạt động vào 25 tháng 5, 2010.
Là nước có mạng lưới quan hệ ngoại giao lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ),[8] Pháp là một trong những nước sáng lập Liên minh châu Âu, nằm trong khu vực đồng eurokhối Schengen. Pháp là một thành viên sáng lập các tổ chức NATOLiên Hiệp Quốc, và là một trong năm thành viên có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Ngoài ra Pháp được xem là nước đứng đầu danh sách những quốc gia ngủ nhiều nhất Thế giới. Trung bình một người ở Pháp ngủ 8,83 giờ một ngày, cao nhất trong các quốc gia phát triển, theo số liệu mới nhất từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)[9].

Nguồn gốc quốc hiệu

Danh xưng “Pháp” trong tiếng Việt là giản xưng của Pháp Lan Tây (Trung văn phồn thể: 法蘭西; giản thể: 法兰西), tên dịch theo lối dịch âm trong Trung văn của quốc hiệu nước Pháp.
Trong thư tịch Hán văn cổ của Việt Nam quốc hiệu nước Pháp còn được phiên âm là Pha Lang Sa (Hán văn: “坡郎沙” hoặc “葩郎沙”), Phú Lang Sa (“富郎沙” hoặc “富浪沙”. Do chữ “浪” còn có âm đọc khác là “lãng” nên một số người đọc “富浪沙” là “Phú Lãng Sa”), gọi tắt là Lang Sa.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Pháp

Lãnh thổ chính của Pháp nằm tại Tây Âu, nhưng nước Pháp còn bao gồm một số lãnh thổ ở Bắc Mỹ, Caribe, Nam Mỹ, Nam Ấn Độ Dương, Thái Bình DươngNam Cực[10] (chủ quyền tuyên bố tại Nam Cực tuân theo Hệ thống Hiệp ước Nam Cực). Các lãnh thổ này có nhiều hình thức chính phủ khác biệt từ Tỉnh hải ngoại tới “lãnh địa hải ngoại“.
Lãnh thổ chính của Pháp gồm nhiều vùng đặc điểm địa lý khác nhau, từ các đồng bằng ven biển ở phía bắc và phía tây cho đến những dãy núi phía đông nam (dãy An-pơ) và tây nam (dãy Pi-rê-nê). Điểm cao nhất Tây Âu nằm ở dãy Alps thuộc Pháp: đỉnh Mont Blanc cao 4.810 mét (15.781 ft)[11] trên mực nước biển. Có nhiều vùng độ cao lớn khác như Massif Central, Jura, VosgesArdennes là những nơi có nhiều đá và rừng cây. Pháp cũng có những hệ thống sông lớn như sông Loire, Rhone, Garonnesông Seine.
Với diện tích 674.843 kilômét vuông (260.558 mi²) [12], Pháp là nước rộng nhất Tây Âu và là nước rộng thứ 40 trên thế giới. Lãnh thổ chính của Pháp có diện tích 551.695 kilômét vuông (213.010 mi²), hơi rộng hơn YemenThái Lan, hơi nhỏ hơn Kenya và tiểu bang Texas của Mỹ và chiếm 81,8% diện tích nước Cộng hoà Pháp.
Nhờ những khu vực và lãnh thổ hải ngoại nằm rải rác trên tất cả các đại dương của hành tinh, Pháp sở hữu Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng thứ hai trên thế giới với diện tích 11.035.000 kilômét vuông (4.260.000 mi²), chỉ đứng sau Hoa Kỳ (11.351.000 km² / 4.383.000 mi²), nhưng trước Úc (8.232.000 km² / 3.178.000 mi²).[13] Vùng đặc quyền kinh tế Pháp chiếm gần 8% tổng diện tích mọi vùng đặc quyền kinh tế trên thế giới, trong khi diện tích đất liền Cộng hòa Pháp chỉ chiếm 0.45% tổng bề mặt Trái Đất.

Tương phản và đa dạng

Pháp nổi tiếng trên thế giới là quốc gia có sự đa dạng dân tộc, kiến trúc và phong cảnh. Khoảng 50% dân số Pháp có nguồn gốc nước ngoài[cần dẫn nguồn], biến Pháp trở thành một trong những nước đa dạng dân tộc nhất trên thế giới. Những người di cư tới Pháp trước kia và gần đây đến từ khắp năm châu (Châu Phi, Châu Á, Châu Úc, Châu Âu và Châu Mỹ). Trung QuốcAnh Quốc là những nước có số di dân tới Pháp lớn nhất trong năm 2005. Pháp cũng là nơi có điểm cao nhất Châu Âu (Mont-Blanc 4.810 m; 15.780 ft) và điểm thấp nhất Châu Âu, Đồng bằng Rhone, (-5 m; -15 ft). Pháp nhỏ hơn Brasil mười bốn lần và chỉ bằng một nửa Ontario.Tuy nhiên, phong cảnh Pháp rất đa dạng thay đổi theo từng vùng, từ Paris và những vùng ngoại ô của nó cho tới những vùng đất cao thuộc dãy Alps cùng các thị trấn du lịch biển.
Mặt khác, Pháp có nhiều công trình kiến trúc cổ như thành phố Paris hay Trung tâm Troyes. Luật Gia đình Pháp đã có 200 năm tuổi và được viết từ thời Napoléon. Pháp cũng là nước phát triển cao với mạng lưới đường cao tốc rộng lớn và dày đặc (ví dụ: Pháp hơi nhỏ hơn California nhưng mạng lưới đường cao tốc của nó có chiều dài gấp đôi bang này), 32.000 kilômét (20.000 mi) đường sắt (SNCF), cùng với các khu trượt tuyết hiện đại và các khu thương mại lớn. Pháp cũng là nước có mức tăng trưởng kết nối Internet nhanh chóng (ADSLcáp quang tại Paris), và vào năm 2004, lần thứ ba liên tiếp, hệ thống chăm sóc y tế Pháp được Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng thứ nhất thế giới.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Pháp

La Mã tới Cách mạng

Lâu đài Chambord

Các biên giới nước Pháp hiện đại gần tương tự như những biên giới của nước Gaule cổ, từng là nơi sinh sống của người Gaule Celt. Gaule bị La Mã của Julius Caesar chinh phục vào thế kỷ thứ nhất TCN, và người Gaule sau này đã chấp nhận ngôn ngữ Rôma (La tinh, đã du nhập vào ngôn ngữ Pháp) và văn hóa Rôma. Đạo Công giáo bắt đầu bén rễ tại đây từ thế kỷ thứ 2 và thứ 3 Công Nguyên, và bắt đầu có cơ sở vững chắc từ thế kỷ thứ tư và thứ năm tới mức St. Jerome đã viết rằng Gaule là vùng duy nhất “không dị giáo”. Ở Thời trung cổ, người Pháp đã chứng minh điều này khi tự gọi mình là “Vương quốc Pháp Công giáo nhất.”
Ở thế kỷ thứ 4 sau Công Nguyên, biên giới phía đông của Gaule dọc theo sông Rhine bị các bộ lạc Gécmanh, chủ yếu là người Frank, xâm chiếm, và đó chính là nguồn gốc cho chữ “Francie”. Cái tên “France” xuất phát từ tên một vương quốc phong kiến của các vị vua nhà Capetian nước Pháp xung quanh Paris. Vương quốc này tồn tại như một thực thể riêng biệt từ Hiệp ước Verdun (843), sau khi Charlemagne phân chia đế chế Carolingien thành Đông Francia, Trung FranciaTây Francia. Tây Francia chiếm vùng gần tương đương lãnh thổ nước Pháp hiện đại ngày nay.
Vương triều Carolingien cai trị Pháp cho tới năm 987, khi Hugues Capet, Công tước Pháp và Bá tước Paris, lên ngôi Vua Pháp. Những thế hệ sau của ông, các triều đại Capetian, ValoisBourbon dần thống nhất đất nước thông qua hàng loạt các cuộc chiến tranh và những vụ thừa kế đất đai. Chế độ phong kiến phát triển đỉnh điểm ở thế kỷ 17 thời vua Louis XIV. Ở giai đoạn này Pháp có dân số đông nhất Châu Âu (xem Nhân khẩu Pháp) và có ảnh hưởng to lớn tới chính trị, kinh tế và văn hóa Châu Âu. Trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm kinh hoàng (17561763), Pháp đánh nhau với nước Anh ở châu Âu và cả các thuộc địa tại Ấn Độchâu Mỹ để tranh giành bá quyền.[14] Vào năm 1759, quân Pháp đaị bại trong nhiều trận đánh ở Canada và mất thành phố Quebec về tay quân Anh.[15] Không những thế, vào năm 1757, bằng một đòn giáng sấm sét, những chiến binh tinh nhuệ Phổ, với tinh thần kỷ cương cao độ, đã đại phá tan nát liên quân Pháp – Áo trong trận huyết chiến tại Rossbach.[16][17] Tới cuối kỳ này, Pháp đóng vai trò quan trọng trong cuộc Cách mạng Mỹ khi cung cấp tiền và một số vũ khí cho những người khởi nghĩa chống Đế quốc Anh.

Từ quân chủ tới nước Pháp hiện đại

Chế độ quân chủ tồn tại cho tới khi cuộc Cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789. Vua Louis XVI và Hoàng hậu Marie Antoinette, bị giết cùng hàng nghìn công dân Pháp khác. Sau thời gian của một loạt những chính phủ tồn tại ngắn ngủi, Napoléon Bonaparte nắm quyền kiểm soát nền Cộng hòa năm 1799, tự phong mình làm Tổng tài, và sau này là Hoàng đế của cái hiện được gọi là Đế chế Pháp thứ nhất (1804–1814). Trong thời của các cuộc chiến tranh, ông đã chinh phục hầu hết lục địa Châu Âu và các thành viên gia đình Bonaparte được chỉ định làm vua tại các vương quốc mới được thành lập. Vào năm 1813, quân đội tinh nhuệ của Napoléon bị liên quân PhổNgaÁoThụy Điển đập cho tan nát trong trận đánh kịch liệt tại Leipzig.[18]
Sau khi Napoléon bị đánh bại năm 1815 tại Trận Waterloo, nền quân chủ cũ Pháp được tái lập. Năm 1830, một cuộc khởi nghĩa dân sự đã thành lập ra Quân chủ tháng 7 lập hiến, tồn tại tới năm 1848. Nền Cộng hòa thứ hai ngắn ngủi chấm dứt năm 1852 khi Louis-Napoléon Bonaparte tuyên bố thành lập Đế chế Pháp thứ hai. Louis-Napoléon bị hất cẳng sau khi đại bại trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870 và bị thay thế bởi nền Cộng hòa thứ ba. Pháp phải cống cho nước Phổ thắng trận một khoảng chiến phí lớn, lại còn bị kiệt quệ và suy thoái nghiêm trọng. Vào năm 1873, người lính Phổ cuối cùng đã rút khỏi đất Pháp.[19]

Eugène DelacroixLa Liberté guidant le peuple (“Thần tự do dẫn dắt Nhân dân”), một biểu tượng của Cách mạng Pháp 1830

Pháp sở hữu các thuộc địa dưới nhiều hình thức từ đầu thế kỷ 17 cho tới tận thập kỷ 1960. Trong thế kỷ 19 và 20, đế chế thuộc địa toàn cầu của họ lớn thứ hai thế giới chỉ sau Đế chế Anh. Thời đỉnh điểm, giữa năm 1919 và 1939, đế chế thuộc địa Pháp thứ hai vượt quá 12.347.000 kilômét vuông (4.767.000 sq. mi) đất liền. Gồm cả Mẫu quốc Pháp, tổng diện tích đất liền thuộc chủ quyền Pháp đạt tới 12.898.000 kilômét vuông (4.980.000 dặm vuông) trong thập kỷ 1920 và 1930, chiếm 8.6% diện tích đất liền thế giới.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, quân Đức tiêu diệt được biết bao lính Pháp, đến nỗi quân Pháp khó thể hồi phục phải dựa dẫm vào quân Anh.[20] Kết thúc Chiến tranh, Pháp giành chiến thắng kiểu Pyrros, phải chịu những tổn thất to lớn cả về con người và vật chất (nên chẳng khác gì chiến bại vậy[21]) khiến họ trở nên suy yếu trong những thập kỷ tiếp sau. Những năm 1930 được đánh dấu bởi nhiều cuộc cải cách xã hội do Chính phủ Mặt trận Bình dân đưa ra.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau một trận đánh ngắn, dữ dội và mang tính sai lầm chiến lược, Pháp đại bại[22] giới lãnh đạo Pháp đã quyết định đầu hàng người Đức vào năm 1940. Chính sách hợp tác với người Đức, một hành động khiến một số người phản đối, dẫn tới việc thành lập Các lực lượng Pháp Tự do bên ngoài nước Pháp và Kháng chiến Pháp ở bên trong. Pháp được quân Đồng Minh giải phóng năm 1944.
Nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và đấu tranh nhằm lấy lại vị thế kinh tế, chính trị của một cường quốc. Pháp đã nỗ lực giữ vững đế chế thuộc địa của mình nhưng nhanh chóng rơi vào khủng hoảng. Nỗ lực miễn cưỡng năm 1946 nhằm giành lại quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp dẫn tới cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, chấm dứt với thất bại và việc rút quân của họ năm 1954. Chỉ vài tháng sau, Pháp phải đối mặt với một cuộc xung đột mới và ác liệt hơn cuộc chiến tại nước thuộc địa chính và lâu đời nhất của họ, Algérie.
Cuộc tranh luận việc có nên giữ quyền kiểm soát Algeria hay không sau này đã khiến hơn 1 triệu người định cư Châu Âu tại đây trở về nước, gây ra sự bất đồng và hầu như đã dẫn tới nội chiến. Năm 1958, nền Đệ tứ Cộng hòa ốm yếu và bất ổn phải nhường chỗ cho nền Đệ Ngũ Cộng hoà, với việc mở rộng quyền lực tổng thống; trong vai trò này, Charles de Gaulle đã tìm cách củng cố đất nước và tiến hành những bước đi nhằm chấm dứt chiến tranh. Chiến tranh giành Độc lập Algeria chấm dứt với các cuộc đàm phán hòa bình năm 1962 với việc Algeria giành lại độc lập.
Trong những thập kỷ gần đây, sự hòa giải và hợp tác của Pháp với Đức đóng vai trò trung tâm của họ trong việc hội nhập chính trị và kinh tế của Liên minh Châu Âu, gồm việc phát hành đồng tiền chung Châu Âu euro tháng 1, 1999. Pháp luôn là nước đứng đầu trong số các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu tìm cách khai thác lợi thế của một đồng tiền chung nhằm tạo ra một Liên minh Châu Âu với quan điểm thống nhất, đồng nhất chính trị, quốc phòng và an ninh ở mức cao hơn. Tuy nhiên, cử tri Pháp bỏ phiếu phản đối Hiệp ước thành lập một Hiến pháp chung Châu Âu tháng 5 năm 2005.

Chính phủ và chính trị

Các nguyên tắc căn bản mà Cộng hòa Pháp phải tôn trọng được ghi trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789.

Bài chính về chính trị và chính quyền của France có thể tìm đọc tại Loạt bài về chính trị và chính quyền của France.

Hiến pháp của nền Đệ Ngũ Cộng hòa được thông qua sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 28 tháng 9, 1958. Hiến pháp mở rộng to lớn quyền lực hành pháp so với Nghị viện.
Theo hiến pháp, Tổng thống Cộng hòa Pháp được bầu cử theo quy tắc phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm (trước kia là 7 năm). Sự phân xử của Tổng thống đảm bảo hoạt động thường xuyên của các cơ cấu quyền lực công cộng và tính liên tục của quốc gia. Tổng thống đề cử Thủ tướng, là người cầm đầu nội các, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, và ký kết các hiệp ước.
Nghị viện Pháp (Parlement français) theo chế độ lưỡng viện gồm Quốc hội (Assemblée Nationale) và Thượng nghị viện (Sénat). Các nghị sĩ quốc hội được gọi là dân biểu (député) đại diện cho các khu vực bầu cử địa phương và được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội Pháp có quyền bãi miễn chính phủ, vì thế phe chiếm đa số trong Quốc hội sẽ quyết định sự lựa chọn chính phủ. Các thượng nghị sĩ (sénateur) được lựa chọn theo bầu cử với nhiệm kỳ 6 năm (trước kia là 9 năm), và một nửa số ghế được bầu lại sau mỗi ba năm bắt đầu từ tháng 9, 2008.[23]
Quyền lực lập pháp của Thượng nghị viện bị giới hạn: trong trường hợp có sự bất đồng giữa lưỡng viện, Quốc hội sẽ là bên có tiếng nói cuối cùng[24]. Chính phủ có ảnh hưởng lớn trong việc đưa ra chương trình nghị sự của Quốc hội và Thượng nghị viện.
Trong ba mươi năm qua, chính trị Pháp có đặc trưng bởi sự đối đầu chính trị giữa hai phe: cánh tả, tập trung quanh Đảng Xã hội chủ nghĩa Pháp (Parti socialiste), một đảng trung tảcánh hữu tập trung quanh Đảng Tập hợp vì nền Cộng hoà (RPR) và hậu duệ của nó là Union pour un Mouvement Populaire (UMP), một đảng trung hữu theo chủ nghĩa bảo thủ. Đảng Pháp cánh hữu đã có bước phát triển lớn đầu thập kỷ 1980 khi lợi dụng sự lo ngại của cử tri về sự thụt lùi của đất nước, sự ‘tan rã quốc gia’ kết quả của quá trình nhập cư và toàn cầu hóa hô hào ủng hộ những bộ luật nhập cư khắt khe hơn. Sau này số lượng cử tri ủng hộ họ dừng ở mức ổn định khoảng 16%.
Chính sách đối ngoại của Pháp được hình thành phần lớn với tư cách thành viên Liên minh Châu Âu. Ngày 29 tháng 5, 2005 cử tri Pháp đã bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý với khoảng 55% số phiếu phản đối phê chuẩn Hiệp ước thành lập Hiến pháp chung Châu Âu. Kết quả cuộc bầu cử được dư luận rộng rãi coi là mang tính quan trọng lớn với tương lai phát triển của Liên minh Châu Âu, cũng như khả năng giữ vai trò lãnh đạo của Pháp ở Châu Âu.
Pháp là thành viên của Văn phòng Cộng đồng Thái Bình Dương (SPC), Hiệp hội Ấn Độ Dương (COI), là thành viên liên kết của Hiệp hội Quốc gia Caribe (ACS) và là thành viên đứng đầu Tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp (OIF) với 51 nước sử dụng tiếng Pháp hoàn toàn hay một phần.
Pháp cũng là nơi đóng trụ sở của OECD, UNESCO, Interpol, và Văn phòng Trọng lượng và Đo lường Quốc tế chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn hệ mét.

Các khu vực hành chính

Pháp được chia thành 26 đại khu: 22 trong Pháp quốc bản thổ (21 ở bản thổ; 1 là “lãnh thổ tập thể” Corse, trên đảo Corse, thường được gọi là một “đại khu” theo cách nói thông thường), và 4 đại khu hải ngoại. Các vùng được chia tiếp thành 100 hành tỉnh. Các hành tỉnh được đánh số (chủ yếu theo bảng chữ cái) và số này được dùng làm mã bưu chính cũng như mã trên bảng số xe.
Các hành tỉnh lại được chia tiếp thành 341 chuyên khu, nhưng các chuyên khu không có hội đồng lập pháp theo bầu cử và chỉ là đơn vị hành chính của đất nước. Các chuyên khu được chia thành 4.032 hương, các hương này cũng chỉ có ý nghĩa hành chính. Cuối cùng, các hương được chia thành 36.682 công xã, đây là các chính quyền tự quản với hội đồng được bầu cử riêng biệt (hội đồng tự quản).
Đại khu, hành tỉnh và công xã đều là “lãnh thổ tập thể”, có nghĩa họ có một cơ quan hành pháp và lập pháp riêng biệt, trong khi các chuyên khu và hương chỉ đơn giản là các đơn vị hành chính. Tới tận năm 1940, các chuyên khu vẫn là các lãnh thổ tập thể với một cơ quan lập pháp bầu cử riêng biệt (hội đồng chuyên khu), nhưng dưới thời Vichy Pháp cơ quan này đã bị ngừng hoạt động và chính thức bị hủy bỏ bởi nền Đệ Tứ Cộng hòa Pháp năm 1946. Theo lịch sử, các hương cũng từng là các lãnh thổ chung với cơ quan lập pháp riêng biệt. Bốn hành tỉnh hải ngoại (cũng tức là bốn đại khu hải ngoại) là một phần trong tổng thể nước Pháp (và Liên minh Châu Âu) và vì thế có quy chế tương tự như các hành tỉnh thuộc bản thổ.
Ngoài 26 đại khu và 100 hành tỉnh, Cộng hòa Pháp còn gồm sáu khu vực hải ngoại, một “thực thể địa phương có địa vị đặc thù”(New Caledonia), một lãnh địa hải ngoại và một hòn đảo ở Thái Bình Dương. Các khu vực hải ngoại và lãnh địa hải ngoại là một phần hình thành nên Cộng hòa Pháp nhưng không hình thành nên Liên minh Châu Âu hay vùng tài chính của nó. Các lãnh thổ Thái Bình Dương tiếp tục sử dụng đồng franc Thái Bình Dương có giá trị ổn định với đồng euro. Trái lại, bốn đại khu (hành tỉnh) hải ngoại sử dụng đồng franc Pháp và hiện dùng đồng euro.
Pháp cũng vẫn giữ quyền kiểm soát một số hòn đảo nhỏ không thường xuyên có người ở tại Ấn Độ DươngThái Bình Dương: Bassas da India, Đảo Clipperton, Đảo Europa, Quần đảo Glorioso, Đảo Juan de Nova, Đảo Tromelin. Xem Các hòn đảo thuộc quyền kiểm soát của Pháp tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Vận tải

Bài chi tiết: Vận tải Pháp

Hệ thống đường sắt của Pháp dài 31,840 kilometres (19,784 mi), là hệ thống đường sắt lớn và bao quát nhất trong các nước Tây Âu. Hệ thống này được điều hành bởi SNCF, các loại tàu cao tốc bao gồm Thalys, EurostarTGV, đặc biệt loại tàu TGV có thể đạt vận tốc 320 km/h khi sử dụng vào mục đích thương mại. Trong khi đó Eurostar, cùng với Eurotunnel Shuttle, kết nối với vương quốc Anh thông qua Đường hầm eo biển Manche. Hệ thống đường sắt của Pháp kết nối với tất cả các quốc gia châu Âu, trừ Andorra. Hệ thống giao thông đô thị tại quốc gia cũng rất phát triển với các loại hình giao thông ngầm, tàu điện, xe bus kết hợp.
Ở Pháp có khoảng 893,300 kilometres (555,071 mi) đường, trong đó Paris được bao phủ bởi một hệ thống đường và đường quốc lộ dày đặc nối liền với mọi miền của đất nước. Các tuyến đường của Pháp cũng nối tới các quốc gia châu Âu láng giềng như Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Monaco, Đức, ÝAndorra. Ở Pháp không có thuế đường hàng năm; tuy nhiên, việc sử dụng đường xa lộ đòi hỏi thu thuế đi đường trừ các khu vực lân cận của các xã lớn. Thị trường ô tô tại Pháp bị thống trị bởi các hãng xe nội địa như Renault (27% xe bán ra năm 2003), Peugeot (20.1%) và Citroën (13.5%). Hơn 70% xe bán ra năm 2004 sử dụng động cơ diesel, vượt xa các loại xe sử dụng động cơ xăng hay khí hóa lỏng. Pháp sở hữu cây cầu cao nhất thế giới: cầu cạn Millau và đã xây dựng nhiều cây cầu quan trọng như Pont de Normandie.
Ở Pháp có 478 sân bay, bao gồm cả các cánh đồng dành cho máy bay hạ cánh. Sân bay quốc tế Charles de Gaulle nằm ở ngoại ô Paris là sân bay lớn và nhộn nhịp nhất nước Pháp, chịu trách nhiệm cho phần lớn giao thương của quốc gia và kết nối Paris với các địa điểm trên thế giới. Air France là hãng hàng không quốc gia của Pháp, ngoài ra ở Pháp còn có rất nhiều hãng hàng không tư nhân cung cấp dịch vụ cho các chuyến bay quốc tế và nội địa. Tại Pháp có 10 cảng lớn, trong đó lớn nhất là cảng ở Marseille, đây cũng là cảng biển lớn nhất giáp Địa Trung Hải. 14,932 kilometres (9,278 mi) đường sông chảy qua Pháp bao gồm Canal du Midi kết nối Địa Trung Hải với Đại Tây Dương thông qua sông Garonne.

Quân đội

Bài chi tiết: Quân đội Pháp

Các lực lượng vũ trang Pháp được chia thành bốn nhánh:

Độ tuổi quân sự là 17. Từ Chiến tranh giành độc lập Algeria, chế độ nghĩa vụ quân sự dần giảm bớt và chính phủ Jacques Chirac đã bãi bỏ nó năm 1996.
Trong số các nền kinh tế Liên minh Châu Âu, Pháp và Anh Quốc là những nước có tỷ lệ chi tiêu quân sự lớn: Pháp chiếm 2.6% GDP, Anh Quốc 2.4%, theo các con số năm 2003 của NATO. Hai nước này chiếm 40% chi tiêu quân sự của EU. Tại hầu hết các nước thuộc khối này, chi tiêu quân sự chỉ chưa tới 1.5% GDP. Khoảng 10% ngân sách quốc phòng Pháp chi cho force de frappe, hay vũ khí hạt nhân.

Kinh tế

Chiếc Airbus A380 đầu tiên hoàn thành tại buổi lễ “Giới thiệu A380” ở Toulouse ngày 18 tháng 1, 2005.

Bài chi tiết: Kinh tế Pháp

Kinh tế Pháp bao gồm số lượng lớn doanh nghiệp tư nhân (gần 2.5 triệu công ty đã đăng ký) với sự can thiệp đáng kể (dù đang giảm bớt) từ phía chính phủ (xem chính sách kinh tế chỉ huy). Chính phủ giữ ảnh hưởng khá lớn trên những lĩnh vực cơ sở hạ tầng quan trọng, sở hữu đa số vốn trong các ngành đường sắt, điện, hàng không và các công ty viễn thông. Nước này đã dần nới lỏng kiểm soát từ đầu thập kỷ 1990. Chính phủ dần bán ra các cổ phần đang nắm giữ trong France Télécom, Air France, cũng như trong các ngành bảo hiểm, ngân hàng và công nghiệp quốc phòng.
Là một thành viên nhóm các nước công nghiệp phát triển nhất thế giới G8, kinh tế Pháp xếp hàng thứ năm thế giới năm 2012, sau Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Cộng hòa Nhân dân Trung HoaAnh Quốc. Pháp là một trong 10 thành viên Liên minh Châu Âu đầu tiên sử dụng đồng Euro ngày 1 tháng 1, 1999, và các đồng tiền xu cũng như tiền giấy euro đã hoàn toàn thay thế đồng franc của Pháp đầu năm 2002.
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), trong năm 2004 Pháp là nhà xuất khẩu hàng hóa sản xuất đứng hàng thứ năm thế giới sau Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và đứng trước Anh Quốc. Nước này cũng đứng thứ tư thế giới về nhập khẩu hàng hóa sản xuất (sau Hoa Kỳ, Đức, và Trung Quốc, nhưng trước Anh Quốc và Nhật Bản). Năm 2003 Pháp là nước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng hàng thứ hai trong số các nước OECD ở mức 47 tỷ dollar, xếp sau Luxembourg (nơi nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là sự chuyển tiền tới các ngân hàng đóng trụ sở tại đó) nhưng trước Hoa Kỳ (39.9 tỷ dollar), Anh Quốc (14.6 tỷ dollar), Đức (12.9 tỷ dollar), hay Nhật Bản (6.3 tỷ dollar). Cùng trong năm này, các công ty Pháp đã đầu tư 57.3 tỷ dollar ra ngoài đất nước khiến Pháp trở thành nhà đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn thứ hai khối OECD, sau Hoa Kỳ (173.8 tỷ dollar), và trước Anh Quốc (55.3 tỷ dollar), Nhật Bản (28.8 tỷ dollar) và Đức (2.6 tỷ dollar).
Trong báo cáo OECD in Figures xuất bản năm 2005, OECD cũng ghi chú rằng Pháp hiện dẫn đầu các nước G7 về hiệu năng sản xuất (tính theo GDP trên giờ làm việc).[25] Năm 2004, GDP trên giờ lao động tại Pháp là $47.7, xếp hạng trên Hoa Kỳ ($46.3), Đức ($42.1), Anh Quốc ($39.6), hay Nhật Bản ($32.5).[26]
Dù có năng suất trên giờ làm việc cao hơn Hoa Kỳ, GDP trên đầu người của Pháp lại thấp hơn khá nhiều so với GDP trên đầu người Hoa Kỳ, trên thực tế chỉ tương đương mức GDP trên đầu người của các nước Châu Âu khác, trung bình thấp hơn 30% so với mức của Hoa Kỳ. Lý do giải thích vấn đề này là phần trăm dân số tham gia lao động của Pháp thấp hơn so với Mỹ, khiến GDP trên đầu người của Pháp ở mức thấp dù có năng suất lao động cao hơn. Trên thực tế, Pháp là một trong những nước có tỷ lệ người lao động trong độ tuổi 15-64 thấp nhất khối OECD. Năm 2004, 68.8% dân số Pháp trong độ tuổi 15-64 có việc làm, so với 80.0% tại Nhật Bản, 78.9% tại Anh Quốc, 77.2% tại Hoa Kỳ, và 71.0% tại Đức.[27] Hiện tượng này là kết quả của tình trạng thất nghiệp hầu như trong ba mươi năm liền tại Pháp, dẫn tới ba hậu quả làm giảm sút số lượng dân số lao động: khoảng 9% dân số ở độ tuổi lao động không có việc làm; sinh viên phải trì hoãn càng lâu càng tốt thời gian tham gia thị trường lao động của mình; và cuối cùng, chính phủ Pháp đã đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích người lao động nghỉ hưu sớm ngay từ độ tuổi 50, dù những biện pháp này đang được giảm bớt.
Như các nhà kinh tế đã từng nhắc đi nhắc lại trong những năm qua, vấn đề chính của nền kinh tế Pháp không phải là năng suất lao động. Theo họ, vấn đề chính là cải cách cơ cấu, nhằm tăng số lượng người lao động trên tổng dân số. Các nhà kinh tế theo lý thuyết Tự doKeynesian đưa ra những biện pháp khác nhau cho vấn đề này. Cánh hữu coi số giờ lao động thấp và việc miễn cưỡng cải cách thị trường lao động là những điểm yếu trong nền kinh tế Pháp, trong khi cánh tả coi việc thiếu những chính sách hỗ trợ công bằng xã hội của chính phủ là điều cần giải quyết. Những nỗ lực gần đây của chính phủ nhằm điều chỉnh thị trường lao động trẻ, chống thất nghiệp đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ.
Với hơn 75 triệu du khách nước ngoài năm 2003, Pháp được xếp hạng là điểm đến hàng đầu thế giới, trước Tây Ban Nha (52.5 triệu) và Hoa Kỳ (40.4 triệu). Khả năng thu hút du khách này nhờ có các thành phố với nhiều di sản văn hoá (đứng đầu là Paris), các bãi biển và các khu nghỉ dưỡng ven biển, các khu trượt tuyết, các vùng nông thôn đẹp và yên bình thích hợp với du lịch xanh.
Pháp sở hữu một ngành công nghiệp hàng không quan trọng đứng đầu là tổ hợp hàng không Châu Âu Airbus và là cường quốc Châu Âu duy nhất (ngoại trừ Nga) có sân bay vũ trụ (Centre Spatial Guyanais) riêng của mình. Pháp cũng là nước độc lập nhất về năng lượng ở phương Tây nhờ đã đầu tư lớn vào năng lượng nguyên tử, khiến nước này trở thành quốc gia gây phát sinh carbon dioxide thấp nhất trong số các nước công nghiệp phát triển trên thế giới. Nhờ những khoản đầu tư lớn vào kỹ thuật nguyên tử, khoảng 77% nhu cầu năng lượng của Pháp được cung cấp từ các nhà máy điện nguyên tử.
Với những vùng đất rộng rãi và màu mỡ, việc áp dụng kỹ thuật hiện đại cũng như các biện pháp hỗ trợ của EU khiến Pháp trở thành nước sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu Châu Âu. Lúa mì, gia cầm, sữa, thịt bò, thịt lợn cũng như các sản phẩm thức ăn và rượu vang Pháp nổi tiếng trên thế giới là các mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu của nước này. Tổng các khoản trợ cấp nông nghiệp của EU dành cho Pháp lên tới 14 tỷ dollar.
Từ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai chính phủ Pháp đã đưa ra những nỗ lực to lớn nhằm hợp tác ngày càng sâu với Đức, cả về mặt kinh tế và chính trị. Hiện nay, hai nước này thường được coi là những quốc gia “trung tâm” trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập sâu hơn nữa trong Liên minh Châu Âu.

Giao thông

Nhân khẩu

Thành phố Lyon

Bài chi tiết: Nhân khẩu Pháp

Từ thời tiền sử, Pháp đã là ngã tư đường của thương mại, di cư và các cuộc xâm chiếm. Bốn tộc người Châu Âu chính – tiền-Celtic, Celtic (Gallic và Breton), Latin, và Germanic (Franks, Visigoths, Burgundians, Vikings) – đã hòa trộn với nhau trong nhiều thế kỷ để tạo nên dân số hiện nay của Pháp. Bên cạnh các sắc tộc “lịch sử”, những sắc dân mới đã di cư tới Pháp từ thế kỷ 19: người Bỉ, người Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Rumani, Armenia, người Do Thái từ Đông Âu và Maghreb, người Ả rập và Berber từ Maghreb, người da đen Châu Phi và Caribe, người Hán Trung Quốc, là những sắc dân đông đảo nhất. Theo ước tính, hiện nay 40% dân số Pháp là hậu duệ của những người di cư đến đây, khiến Pháp trở thành một trong những quốc gia đa dạng sắc tộc nhất thế giới, dù vẫn là một đất nước Gallic. Tuy nhiên, những người nhập cư từ các nước Châu Âu khác có thời gian hòa nhập ngắn, trong khi những nhóm người không Châu Âu thường hòa nhập chậm chạp vào xã hội mới vì các khác biệt văn hóa cũng như phân biệt xã hội lớn hơn.

Dân số

Bắt đầu từ thế kỷ 19, lịch sử phát triển dân số Pháp bắt đầu trở nên khác biệt rõ nét so với Thế giới Phương Tây. Không như phần còn lại của Châu Âu, Pháp không trải qua thời kỳ phát triển dân số mạnh trong thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20. Trái lại, ở nửa sau thế kỷ 20 dân số nước này lại tăng nhanh hơn các nước Châu Âu khác và vì thế cũng ở mức cao hơn trong các thế kỷ trước.
Sau năm 1974, mức tăng dân số Pháp trở nên ổn định, và hạ xuống mức thấp nhất trong thập kỷ 1990 với mức tăng hàng năm 0.39%, tương tự với Châu Âu vốn đang ở giai đoạn giảm sút dân số. Tuy nhiên, những kết quả đầu tiên của cuộc điều tra dân số năm 2004 của Pháp đã làm các nhà nhân khẩu học ngạc nhiên lớn. Cuộc điều tra cho thấy mức tăng dân số đã lại tăng mạnh sau cuộc điều tra năm 1999, một điều không ai từng nghĩ tới trước đó. Từ năm 1999 đến năm 2003, mức tăng dân số hàng năm là 0.58%. Năm 2004, tốc độ tăng dân số ở mức 0.68%, hầu như tương đương với Bắc Mỹ. Năm 2004 cũng là năm tốc độ tăng dân số Pháp đạt mức cao nhất kể từ năm 1974. Mức tăng dân số của Pháp vượt xa các nước Châu Âu (ngoại trừ Cộng hòa Ireland). Năm 2003, tăng trưởng dân số tự nhiên Pháp (trừ nhập cư) hầu như chiếm toàn bộ mức tăng trưởng dân số tự nhiên Châu Âu: dân số Liên minh Châu Âu tăng 216.000 người (không tính nhập cư), trong số đó 211.000 là từ riêng nước Pháp, và 5.000 từ toàn bộ các nước khác cộng lại. Năm 2004 tăng trưởng dân số tự nhiên đạt 256.000, nhưng hiện ta chưa có con số cụ thể của các thành viên Liên minh Châu Âu khác.
Những kết quả không ngờ đó đưa lại những hậu quả lớn cho tương lai. Hiện tại, Pháp là nước có dân số đông thứ ba Châu Âu, sau NgaĐức. Trước kia, các nhà nhân khẩu học cho rằng tới năm 2050 dân số Mẫu quốc Pháp sẽ đạt mức 64 triệu người, nhưng hiện nay họ cho rằng ước tính đó quá thấp khi so sánh với mức độ tăng trưởng dân số thập kỷ 1990. Hiện nay các nhà nhân khẩu học ước tính, tới năm 2050 dân số Mẫu quốc Pháp sẽ là 75 triệu người, và lúc đó Pháp sẽ là nước đông dân nhất Liên minh Châu Âu, trên Đức (71 triệu), Anh Quốc (59 triệu), và Ý (43 triệu).
Năm 2005, tỷ lệ sinh và khả năng sinh sản tiếp tục tăng. Tỷ lệ sinh tự nhiên trên tỷ lệ tử tăng tới 270.100. Tỷ lệ sinh sản trong suốt cuộc đời tăng tới mức 1,94 năm 2005, từ mức 1,92 năm 2004. Số lượng nhập cư thực hơi giảm xuống còn 97.500 năm 2005. Tại Pháp, nhập cư chiếm một phần tư tổng tăng dân số—mức trung bình của toàn Châu Âu là 80%. [28][29] Nếu những ước tính đó là chính xác, nó có thể làm thay đổi toàn bộ sự cân bằng quyền lực tại Brussels. Đây sẽ là lần đầu tiên từ những năm 1860 Pháp trở thành quốc gia có dân số lớn nhất tại Châu Âu (ngoại trừ Nga). Vào giữa năm 2004 EU có 460 triệu dân, 13,6% trong số đó sống tại Pháp (gồm cả những khu vực hải ngoại). Tới năm 2050 ước tính dân số Liên minh Châu Âu (của 25 nước thành viên hiện tại) sẽ giảm xuống còn 445 triệu người, trong số đó 17,5% sẽ sống tại Pháp.
Theo Cao ủy Liên hiệp quốc về Người tị nạn (UNHCR), số lượng người đang xin tị nạn chính trị tại Pháp đã tăng khoảng 3% trong giai đoạn 2003 và 2004, trong khi ở cùng thời kỳ đó, số đơn xin tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ giảm khoảng 29%. Vì thế, Pháp đã thay thế Hoa Kỳ trở thành điểm đến hàng đầu cho những người tị nạn chính trị năm 2004.
Một vấn đề lo ngại chính trị dai dẳng chính là sự giảm sút dân số nông thôn. Trong giai đoạn 1960-1999 mười lăm khu vực nông nghiệp đã gặp phải vấn đề giảm sút dân số. Trường hợp nặng nề nhất, dân số Creuse đã giảm 24%.

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thức duy nhất của Pháp là tiếng Pháp, theo Điều 2 Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, tại Mẫu quốc Pháp nhiều ngôn ngữ địa phương như: các biến thể tiếng Đức miền cao (được gọi là tiếng AlsaceĐức Lorraine), Occitan (gồm GasconProvençal), các thổ ngữ Oïl (như PicardPoitevin-Saintongeais), Basque, Breton, Catalan, CorseFranco-Provençal. Cũng có một số ngôn ngữ thỉnh thoảng được sử dụng hay được hiểu khác, đa số bởi những người có tuổi. Tương tự, có nhiều ngôn ngữ được dùng tại các lãnh thổ và khu vực hải ngoại Pháp: các ngôn ngữ Créole, các ngôn ngữ thổ dân Châu Mỹ, các ngôn ngữ Đa Đảo, các ngôn ngữ Tân Calédonie, Comoria. Tuy nhiên, chính phủ Pháp và hệ thống trường công lập cho tới gần đây vẫn không khuyến khích sử dụng các ngôn ngữ đó. Hiện chúng được dạy tại một số trường, dù tiếng Pháp vần là ngôn ngữ chính thức duy nhất của chính phủ, địa phương hay quốc gia. Một số ngôn ngữ của những người nhập cư cũng được sử dụng tại Pháp, đặc biệt tại các thành phố lớn: tiếng Bồ Đào Nha, Ả rập Maghreb, nhiều ngôn ngữ Berber, nhiều loại ngôn ngữ Hạ Sahara Châu Phi, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, các biến thể nói tiếng Trung (nhiều nhất là Ngô ngữ, tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu, và Quan thoại), tiếng Việt, và tiếng Khmer cũng thường được sử dụng.
Nhiều người Pháp có thể sử dụng ít nhất một ngoại ngữ (45% có thể tham gia giao tiếp bằng một ngôn ngữ nước ngoài theo một nghiên cứu của Eurobarometer 62,4 [1] thực hiện năm 2005), đặc biệt tại các thành phố lớn và các vùng biên giới như Pyrénées, Alsace, hay Alps. Tiếng Anh (34%), tiếng Tây Ban Nha (10%), tiếng Đức (7%) và tiếng Ý được sử dụng theo nhiều mức độ thành thạo khác nhau và nhiều gia đình sống dọc biên giới sử dụng thành thạo cả hai thứ tiếng.

Thống kê

Trong cuộc điều tra dân số năm 1999, INSEE đã lựa chọn 380.000 người trưởng thành trên khắp Chính quốc Pháp và đặt các câu hỏi về tình trạng gia đình. Một trong những câu hỏi về ngôn ngữ mà cha mẹ họ sử dụng với họ trước khi lên 5 tuổi. Đây là lần đầu tiên những thống kê nghiêm túc về tỷ lệ ngôn ngữ mẹ đẻ được lưu trữ vào máy tính tại Pháp. Kết quả đã được công bố trong cuốn Enquête familiale, Insee, 1999.
Đây là danh sách 9 loại ngôn ngữ mẹ đẻ thông dụng nhất tại Pháp dựa trên Enquête familiale. Cần đọc phần các ghi chú tại phần Các ngôn ngữ trong bài viết về Pháp để hiểu chính xác nghĩa các con số.

Thứ tự Ngôn ngữ Số lượng người Tỷ lệ dân số trưởng thành Ghi chú
1 Tiếng Pháp 39.360.000 86% Con số thực sự đối với toàn bộ dân số xấp xỉ 90%, xem các ghi chú.
2 Tiếng Đứccác biến thể High German (Alsatian, Lorraine German…) 970.000 2.12% Alsatian (600.000; 1.44%), German chuẩn (210.000; 0.46%), Lorraine German (100.000; 0.22%)
3 Ả Rập (chủ yếu là Maghreb Ả Rập) 940.000 2.05%
4 các ngôn ngữ Oc (Languedocian, Gascon, Provençal…) 610.000 1.33% Khoảng 1.060.000 (2.32%) người khác cũng sử dụng ở một số mức độ.
5 Tiếng Bồ Đào Nha 580.000 1.27%
6 Các tiếng Oïl (Picard, Gallo, Poitevin-Saintongeais…) 570.000 1.25% Khoảng 850.000 (1.86%) cũng sử dụng ở một số mức độ
7 Tiếng Ý (và các thổ ngữ) 540.000 1.19%
8 Tiếng Armenia (và các thổ ngữ) 500.000 1.1%
9 Tiếng Tây Ban Nha 485.000 1.06%
10 Breton 280.000 0,61% Khoảng 405.000 (0,87%) người khác có sử dụng ở một số mức độ.
11 Khoảng 400 ngôn ngữ khác
(tiếng Ba Lan, các ngôn ngữ Berber, Đông Á, Catalan, Franco-Provençal, Corse, Basque…)
2.350.000 5,12% Trong số đó tiếng Anh: 115.000 (0,25% tổng dân số trưởng thành)
Tổng cộng 45.762.000 102% 46.680.000 gồm cả 2% số người có tiếng Pháp hay ngôn ngữ khác là tiếng mẹ đẻ được tính hai lần

Nếu thêm những người có tiếng mẹ đẻ và những người từng được sử dụng một ngôn ngữ trước 5 tuổi thì năm ngôn ngữ lớn nhất tại Chính quốc Pháp là (cần lưu ý phần trăm cộng vào lớn hơn 100%, bởi vì nhiều người được tính hai lần):

  • Pháp: 42.100.000 (92%)
  • Các ngôn ngữ Oc: 1.670.000 (3,65%)
  • Tiếng Đức và các phương ngữ Đức: 1.440.000 (3,15%)
  • Các ngôn ngữ Oïl: 1.420.000 (3,10%)
  • Ả Rập: 1.170.000 (2,55%)

Các thành phố

Các vùng đô thị Mẫu quốc có hơn 100.000 dân

Các thành phố lớn theo số dân gồm (ngoại trừ các thành phố vùng Île-de-France):

Aix-en-Provence, Ajaccio, Albi, Amiens, Angers, Angoulême, Annecy, Antibes, Arles, Avignon, Bastia, Beauvais, Belfort, Besançon, Béziers, Blois, Cahors, Bordeaux, Bourges, Brest, Brive-la-Gaillarde, Caen, Calais, Cannes, Carcassonne, Chalon-sur-Saône, Châlons-en-Champagne, Chambéry, Charleville-Mézières, Châteauroux, Cholet, Clermont-Ferrand, Colmar, Dijon, Dunkerque, Évreux, Fréjus, Grenoble, Hyères, La Rochelle, La Roche-sur-Yon, Le Havre, Le Mans, Lille, Limoges, Lorient, Lourdes, Lyon, Marseille, Metz, Montauban, Montpellier, Mulhouse, Nancy, Nantes, Narbonne, Nice, Nîmes, Niort, Orléans, Paris, Pau, Perpignan, Poitiers, Quimper, Reims, Rennes, Roubaix, Rouen, Saint-Brieuc, Saint-Étienne, Saint-Malo, Saint-Nazaire, Saint-Quentin, Strasbourg, Tarbes, Toulon, Toulouse, Tourcoing, Tours, Troyes, Valence, Vannes, Villeneuve-d’Ascq, and Villeurbanne.

Văn hoá

Bài chi tiết: Văn hóa Pháp

Giáo dục Pháp

Hệ thống giáo dục ở Pháp

Năm 1802, Napoléon Bonapart thành lập ra lyceé [30] (tức chế độ cấp 2 ở Pháp), và tất cả các học sinh từ 13 tuổi[31] đến 16 tuổi [32] ở Pháp đều phải đi học cấp 2.
Hiện nay, học sinh Pháp phải học qua 3 giai đoạn: tiểu học, trung học cơ sởđại học (không có trung học phổ thông). Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế, phối hợp với OECD, cho thấy hệ thống giáo dục của Pháp hiện đứng thứ 25, không cao cũng không thấp so với mức đánh giá trung bình của OECD.[33] Điều đó chứng tỏ giáo dục Pháp rất phát triển.

Thể thao Pháp

Ở Pháp, những môn thể thao phổ biến gồm bóng đá, judo và tennis [34]. Đã có nhiều sự kiện thể thao lớn diễn ra ở nước Pháp như là World Cup 1938World Cup 1998.[35]

Hàn lâm viện Pháp

Văn học Pháp

Bài chi tiết: Văn học Pháp

Nền văn học Pháp được nhiều người nhắc đến với những tên tuổi còn mãi với thời gian như Alexandre Dumas, Victor Hugo, Honoré de Balzac, Jules Verne, Guy de Maupassant, Hector Malot…..

Nghệ thuật Pháp

Danh sách nhân vật Pháp

Ẩm thực Pháp

Bài chi tiết: Ẩm thực Pháp

Pháp là một đất nước có nghệ thuật ẩm thực tinh tế và phong phú. Người Pháp rất sành ăn và xem trọng chuyện ăn uống. Đặc biệt là thiên đường bánh như: bánh mì mang một vị và một ấn tượng đặc biệt cho người thưởng thức bánh crepe với 2 vị mặn ngọt flan (caramem) làm từ trứng, sữa,… văn hóa ẩm thực đa dạng đã tạo nên một dấu ấn khó quên cho những người du lịch ở pháp.

Điện ảnh Pháp

Bài chi tiết: Điện ảnh Pháp

Điện ảnh Pháp là nền điện ảnh lâu đời nhất thế giới.

Âm nhạc Pháp

Những ngày lễ tại Pháp

Cơ cấu xã hội Pháp

Marianne

Marianne và mũ Phrygian

Bài chi tiết: Marianne

Marianne là một biểu tượng của Cộng hòa Pháp. Cô là một hình ảnh biểu tượng của tự do và Cộng hòa từng xuất hiện lần đầu tiên ở thời Cách mạng Pháp. Ban đầu Marianne là hình ảnh một phụ nữ đội một chiếc mũ lưỡi trai Phrygian. Những nguồn gốc dẫn tới cái tên Marianne hiện vẫn chưa được biết, nhưng Marie-Anne từng là một cái tên rất thông dụng hồi thế kỷ 18. Những kẻ phản cách mạng thời ấy gọi hình tượng này một cách nhạo báng là La Gueuse (Người Bình Dân).
Mọi người đồng ý rằng những người cách mạng ở phía nam nước Pháp đã chấp nhận chiếc mũ lưỡi trai Phrygian làm biểu tượng tự do của họ, loại mũ này từng được các nô lệ tự do ở cả Hy Lạp và Roma đội. Những ngư dân Địa Trung Hải và những người bị kết án tù làm việc trên tàu buồm cũng thường đội loại mũ này.
Thời Đệ Tam Cộng hoà, các pho tượng, đặc biệt là tượng bán thân Marianne bắt đầu tăng nhanh về số lượng, đặc biệt tại các tòa thị sảnh. Marianne được thể hiện theo rất nhiều phong cách, tùy thuộc vào việc nhấn mạnh ý nghĩa cách mạng hay sự “sáng suốt” của bà. Cùng với thời gian, chiếc mũ Phrygian được coi là mang quá nhiều ý nghĩa nổi loạn và được thay thế bởi một mũ miện hay một vương miện. Ở thời hiện đại, những nữ diễn viên nổi tiếng ở Pháp cũng được trao danh hiệu Marianne. Những người được trao gần đây nhất gồm Sophie Marceau, và Laetitia Casta. Hình tượng này cũng được thể hiện trên các đồ vật hàng ngày như tem và tiền xu.

Tôn giáo

Thánh đường Bayonne

Main article: Tôn giáo tại Pháp.

Là một quốc gia Công giáo truyền thống, Pháp từng được mệnh danh là “Trưởng nữ của Giáo hội Công giáo”. Tuy nhiên cùng với những tư tưởng chống thuyết giáo quyền mới du nhập gần đây, từ thập kỷ 1970 Pháp đã trở thành một nước thế tục. Quyền tự do tôn giáo được được quy định trong hiến pháp, theo tư tưởng từ Tuyên bố Dân quyền và Nhân quyền. Khái niệm căn bản về mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo là khái niệm laïcité, quy định rằng chính phủ và các thể chế chính phủ (như trường học) không được có bất kỳ một đặc trưng tôn giáo nào hay can thiệp vào giáo điều tôn giáo, và rằng tôn giáo không được can thiệp vào việc đưa ra chính sách của chính phủ. Những căng thẳng thỉnh thoảng phát sinh về cái gọi là sự phân biệt chống lại các cộng đồng thiểu số; xem Hồi giáo tại Pháp.
Chính phủ không tiến hành thống kê tôn giáo của nhân dân. Các thống kê từ một nguồn không chính thức trong CIA World Factbook như sau: Công giáo Rôma 83 tới 88%, Hồi giáo 5 tới 10%, Tin Lành 2%, Do Thái 1%. Tuy nhiên, trong một cuộc điều tra dư luận năm 2003, 41% cho rằng Chúa “không hiện hữu” hay “có lẽ không hiện hữu”.[36] 33% tuyên bố mình “vô thần” và cho rằng mình đảm bảo nghĩa vụ công dân, và 51% nói rằng họ là tín đồ “Công giáo”. Khi được hỏi về tôn giáo của họ, 62% trả lời là tín đồ Công giáo Rôma, 6% Hồi giáo, 2% Tin lành, 1% Do Thái, 2% “tôn giáo khác” (trừ Chính thống giáo Đông phương hay Phật giáo, có số lượng không đáng kể), 26% “vô thần” và 1% từ chối trả lời. Một cuộc điều tra của viện Gallup cho thấy 15% dân Pháp có tới những nơi thờ tự.
Trong một cuộc điều tra gần đây hơn của Eurostat “Eurobarometer”, năm 2005, 34% công dân Pháp trả lời “họ tin Chúa có hiện hữu”, trong khi 27% trả lời “họ tin có một hình thức linh hồn hay năng lượng cuộc sống” và 33% cho rằng “họ không tin có một hình thức linh hồn, Chúa hay năng lượng cuộc sống”. [37]

Y tế công cộng

Tương tự như tất cả các nước khác thuộc EU, Pháp tuân thủ một quy định của EU về việc giảm nước thải tại một số vùng nhạy cảm. Bởi hiện nay lượng nước thải của Pháp chỉ ở mức 40% so với chỉ thị đó nên họ là một trong những nước có thành tích cao nhất EU về tiêu chuẩn xử lý nước thải.[38]
Năm 2003 có khoảng 120.000 người dân Pháp chung sống với AIDS.[39]

Thư viện hình

Các chủ đề khác

Biểu tượng của nước Pháp, Tháp Eiffel

Palais des papes (Cung các Cha), Avignon

  • Miêu tả quốc kỳ: ba dải màu dọc (chiều kéo cờ), xanh nước biển, trắng và đỏ đã trở thành quốc kỳ thời Cách mạng Pháp và trở nên phổ biến nhờ Marquis de Lafayette; được gọi là drapeau tricolore (Cờ tam tài). Theo truyền thống ba màu theo thứ tự là: xanh, trắng, đỏ. (bleu, blanc, rouge); xanh và đỏ là màu của Paris; trắng là màu của nhà vua.
  • Nước Pháp được thành lập với tư cách một vương quốc từ năm 496 (vua Clovis I được rửa tội) bởi vì sự kiện đó được liệt kê cùng ba tính chất cốt yếu khác của đất nước: việc định nghĩa giới hạn lãnh thổ (tuy nhiên nhỏ hơn ngày nay rất nhiều), định nghĩa một quyền lực cai trị (sự truyền ngôi từ vị vua thứ nhất cho con trai), và sự định nghĩa một hệ thống xã hội (3 đặc trưng của nhân dân: các chiến binh, các linh mục và những người công nhân). Hiệp ước Verdun năm 843, phân chia Đế chế Frankish và lập ra vương quốc Francia Occidentalis (“Tây Frankland”), và đây là tiền thân của nước Pháp, thể hiện sự thành lập hợp pháp duy nhất của đất nước. Nhà nước Pháp đã tồn tại liên tục từ năm 843, một trong những nhà nước tồn tại lâu nhất thế giới, dù hình thức chính phủ của nó đã thay đổi từ vương quốc sang cộng hoà.
  • Từ năm 1880 ngày quốc khánh của Pháp là Fête Nationale, thông thường được gọi là le 14 juillet, chính thức kỷ niệm Fête de la Fédération (14 tháng 7, 1790) chứ không phải cuộc tấn công ngục Bastille (14 tháng 7, 1789) như mọi người thường nghĩ, thậm chí đối với đa số người dân Pháp, và là lý do giải thích tại sao ngày này thường được gọi là Ngày Bastille trong tiếng Anh. Nhân dịp Fête de la Fédération, được tổ chức đúng một năm sau cuộc tấn công Bastille, tất cả đại diện từ các tỉnh Pháp đã tụ tập với nhau tại Champ de MarsParis với sự hiện diện của vua Louis XVI và tuyên bố sự thống nhất của nước Pháp. Họ thề nguyện trung thành với “Quốc gia, Luật Pháp, Nhà Vua”.
  • Những người Cộng hòa Pháp coi đây là ngày sinh thật sự của nước Pháp: Pháp không còn là một đất nước được hình thành từ các tỉnh đã được nhà vua chinh phục, mà là một đất nước với các tỉnh và người dân tự nguyện hình thành nên một Nhà nước chung. Khái niệm Nhà nước này trái ngược với khái niệm Nhà nước dựa trên chủng tộc và dân tộc của Đức, và nó chính là nguyên nhân của đa số các cuộc xung đột giữa hai nước giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
  • Đức coi Alsace là một vùng đất của mình đã bị các vua Pháp chinh phục và sáp nhập, trong khi Pháp coi dù thực tế Alsce từng là một tỉnh bị chinh phục, nhưng họ đã tự nguyện và hợp pháp trở thành một phần của nước Pháp theo lời tuyên thệ ngày 14 tháng 7, 1790. Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi ngày 14 tháng 7 được tuyên bố làm Quốc khánh Pháp năm 1880, 9 năm sau khi Đức đã tách Alsace-Lorraine khỏi Pháp. Dù được gắn liền với Fête de la Fédération, ngày 14 tháng 7 là một kỷ niệm khó quên đối với những người theo chủ nghĩa quân chủ Pháp, đối với họ nó gợi lại cuộc tấn công đẫm máu vào ngục Bastille. Họ thường đeo băng đen vào ngày 14 tháng 7 bất chấp đó là ngày Quốc khánh.

Xếp hạng quốc tế

Xem thêm

Ghi chú và tham khảo

  1. ^ Dân số các Quốc Gia trên Thế Giới, CIA World Factbook ước tính
  2. ^ “Great Powers – Encarta. MSN. 2008”. Webcitation.org. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012.
  3. ^ Field listing – GDP (official exchange rate), CIA World Factbook
  4. ^ “World Health Organization Assesses the World’s Health Systems”. Who.int. 8 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011.
  5. ^ “UNWTO Highlights” (PDF). United Nations World Tourism Organization. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2012.
  6. ^ SIPRI Yearbook 2012 – 15 countries with the highest military expenditure in 2011
  7. ^ “Federation of American Scientists: Status of World Nuclear Forces”. Fas.org. 26 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2010.
  8. ^ “France-Diplomatie”. Diplomatie.gouv.fr. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2011.
  9. ^ quốc gia ngủ nhiều nhất thế giới,Theo VnExress.
  10. ^ Sovereignty claims in Antarctica are governed by the Antarctic Treaty System
  11. ^ Mont Blanc shrinks by 45cm in two years
  12. ^ CIA – The World Factbook
  13. ^ Theo tính toán khác, trích dẫn bởi Trung tâm nghiên cứu Pew, vùng đặc quyền kinh tế của Pháp là 10.084.201 kilômét vuông (3.893.532 dặm vuông), vẫn sau Hoa Kỳ (12.174.629 km² / 4.700.651 mi²), và trước Úc (8.980.568 km² / 3.467.416 mi²) cùng Nga (7.566.673 km² / 2.921.508 mi²).
  14. ^ Nathan Ausubel, Voices of history, trang IX
  15. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 134
  16. ^ Nathan Ausubel, Superman: the life of Frederick the Great, trang 651
  17. ^ Theodor Schieder, Sabina Berkeley, Hamish M. Scott, Frederick the Great, trang 146
  18. ^ Digby Smith, 1813 Leipzig: Napoleon and the Battle of the Nations, Giới thiệu mở đầu
  19. ^ Sir Alistair Horne, The price of glory: Verdun 1916, trang 4
  20. ^ Alistair Horne, The price of glory: Verdun 1916, trang 331
  21. ^ Benjamin F. Martin, France in 1938, trang 17
  22. ^ Benjamin F. Martin, France in 1938, trang 213
  23. ^ (tiếng Pháp) French Senate (2006). “Rôle et fonctionnement du Sénat”. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.Page is in French without apparent English version available
  24. ^ “A quoi sert le Sénat ?”. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2011.
  25. ^ Organisation for Economic Co-operation and Development (2005). “Labour productivity 2003” (Microsoft Excel). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.
  26. ^ Organisation for Economic Co-operation and Development (2005). “Differentials in GDP per capita and their decomposition, 2004” (Microsoft Excel). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.
  27. ^ Organisation for Economic Co-operation and Development (2005). “OECD Employment Outlook 2005 – Statistical Annex” (PDF format). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2006.
  28. ^ Pape, E. (2006). “Unexpected Baby Boom. What can Europe learn from the ‘exception francaise’?”. Newsweek Inc. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.
  29. ^ (tiếng Pháp) Planchard, C. (2006). “Natalité: la nouvelle exception française ?”. L’Internaute. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.
  30. ^ lycee (education) – Britannica Online Encyclopedia
  31. ^ (French) 1881–1882: Lois Ferry Ecole publique gratuite, laïque et obligatoire. Assemblé Nationale
  32. ^ Obligation de scolarité et contrôle de l’obligation scolaire
  33. ^ http://www.oecd.org/dataoecd/42/8/39700724.pdf
  34. ^ (tiếng Pháp) Les licences sportives en France – Insee
  35. ^ “History of the World Cup Final Draw” (PDF). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2011.
  36. ^ (tiếng Pháp) Groupe CSA TMO (2003). “Les française et leurs croyances” (PDF format). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.Page is in French without apparent English version available
  37. ^ * Công giáo La Mã tại Pháp * Hồi giáo tại Pháp TNS Opinion & Social (2005). “Social values, Science and Technology” (PDF format). European Commission. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.
  38. ^ Link chết
  39. ^ France HIV/AIDS – people living with HIV/AIDS
  40. ^ French Ministry of Foreign Affairs. “The symbols of the Republic and Bastille Day”. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.

Liên kết ngoài

Chỉ dẫn

Du lịch, Lịch sử, Ẩm thực

Bản đồ, hướng dẫn du lịch


Cách mạng Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cách mạng Pháp
Anonymous - Prise de la Bastille.jpg
Đột chiếm ngục Bastille, 14 tháng 7 năm 1789
Địa điểm Pháp
Thời gian 1789–1799
Tham gia Xã hội Pháp
Hậu quả

Cách mạng Pháp (tiếng Pháp: Révolution française; 1789–1799), là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Pháp, diễn ra từ năm 1789 đến 1799, khi lực lượng dân chủcộng hòa đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế và cả Giáo hội Công giáo Rôma tại Pháp cũng đã phải trải qua nhiều thay đổi.[1] Tuy thể chế của Pháp đã trải qua các giai đoạn cộng hòa, đế quốc, và quân chủ trong 75 năm sau khi Đệ nhất Cộng hòa bị Napoléon Bonaparte đảo chính, cuộc cách mạng này đã kết thúc chế độ phong kiến trong xã hội Pháp. Nó được xem là quan trọng hơn các cuộc cách mạng khác tại Pháp sau này. Nó cũng làm giảm xu hướng chuyên chế và đề cao sức mạnh của nhân dân, biến họ từ thần dân thành công dân. Sức ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Pháp rất lớn lao, nhất là đối với các quốc gia theo chế độ phong kiến thời bấy giờ.
Trong khoảng thời gian từ năm 1760 tới năm 1840, vai trò của nước Pháp trên thế giới rất quan trọng. Ảnh hưởng của người Pháp đã tới các xứ Ái Nhĩ Lan, Ba Lan, Hà Lan, Ý và nhiều miền đất khác. Pháp đã là trung tâm của các phong trào trí thức trong thế kỷ 18. Khoa học của nước Pháp đã dẫn đầu thế giới. Phần lớn các tác phẩm văn hóa và chính trị đều được viết bằng tiếng Pháp được các nhà trí thức thuộc nhiều quốc gia tìm đọc và các ý tưởng, sáng kiến, phát minh của người Pháp được các dân tộc khác trên thế giới theo dõi và bắt chước. Tiếng Pháp đã là một ngôn ngữ quốc tế, dùng cho các nhà trí thức và giới quý tộc của nhiều quốc gia tại châu Âu.
Nước Pháp với dân số 24 triệu người vào giữa thế kỷ 18, là một miền đất giàu có nhất và đông dân nhất dưới quyền một chính phủ trung ương trong khi vào thời gian này, nước Đức còn bị chia rẽ, nước Nga chưa ổn định và dân số của cả nước AnhTô Cách Lan cộng lại mới được 10 triệu người. Thành phố Paris tuy nhỏ hơn so với thành phố Luân Đôn về diện tích nhưng lại rộng gấp hai lần các thành phố WienAmsterdam. Tiền vàng của nước Pháp được lưu hành khắp châu Âu và chiếm một nửa số lượng ngoại tệ giao dịch, và số lượng hàng hóa xuất cảng của nước Pháp qua các nước khác của châu Âu đã lớn hơn số lượng hàng hóa của nước Anh. Nhưng trong hoàn cảnh phát triển với ảnh hưởng rộng lớn như vậy, cuộc Cách Mạng Pháp đã bùng nổ, làm rung động cả châu Âu, đã lật đổ chế độ cũ bằng một thứ “xã hội mới” và là một khuôn mẫu mà các phong trào cách mạng sau này hướng vào, coi cuộc Cách Mang Pháp năm 1789 là một cách mạng đi trước.

Nguyên nhân

Sau cuộc Chiến tranh Bảy năm (17561763), nền quân chủ Pháp suy thoái nghiêm trọng, trong khi những liệt cường phía Đông là Nga, PhổÁo lại phát triển lớn mạnh.[2][3] Nhiều yếu tố dẫn tới cuộc cách mạng; về một số mặt chế độ cũ không còn chống đỡ nổi tính cứng nhắc của chính nó đối diện với một thế giới đang thay đổi; một số mặt khác, nó rơi vào những tham vọng của một tầng lớp trưởng giả đang nổi lên, cộng với sự lo lắng của những người nông dân, người làm công ăn lương, và các cá nhân ở mọi tầng lớp đang chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng của thời đại Khai sáng. Khi cách mạng diễn ra và khi quyền lực được trao từ tay triều đình cho các thể chế luật pháp, những xung đột quyền lợi của các nhóm liên minh ban đầu đó đã trở thành nguồn gốc của xung đột và đổ máu.
Chắc chắn, các nguyên nhân của cách mạng phải bao gồm tất cả những điều sau:

  • Sự oán giận đối với chế độ quân chủ chuyên chế đương thời.
  • Sự oán giận đối với hệ thống lãnh chúa từ phía những người nông dân, làm công ăn lương, và ở một mặt rộng hơn cả của tầng lớp trưởng giả.
  • Sự nổi lên của các tư tưởng của thời đại ánh sáng.
  • Nợ quốc gia không thể kiểm soát nổi, có nguyên nhân từ việc tăng thêm gánh nặng của một hệ thống thuế rất lớn.
  • Sự thiếu thốn thức ăn vào những tháng ngay trước khi cách mạng nổ ra.[4]
  • Sự oán giận đối với tầng lớp quý tộc đặc quyền và sự thống trị đối với cuộc sống công cộng từ phía những tầng lớp chuyên nghiệp đầy tham vọng.
  • Ảnh hưởng của Cách mạng Hoa Kỳ.

Tuyên ngôn quyền con người.

Hoạt động tiền cách mạng đã bắt đầu khi vua Louis XVI của Pháp (trị vì từ 17741792) đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính hoàng gia. Nhà vua Pháp, và về mặt tài chính cũng là quốc gia Pháp, có những món nợ rất lớn. Trong thời vua Louis XV (trị vì từ 17151774) và Louis XVI nhiều bộ trưởng, gồm cả Nam tước Turgot (Bộ trưởng Tài chính 1774–1776) và Jacques Necker (Bộ trưởng Tài chính 1777–1781), đều không thành công trong việc đưa ra cải cách nhằm biến hệ thống thuế của Pháp trở nên đồng đều hơn. Các biện pháp đó luôn bị phản đối từ phía “hội đồng nhà vua” (tòa án), dân “Quý tộc,” vốn tự coi mình là những người bảo vệ quốc gia chống lại chế độ chuyên quyền, cũng như khỏi các bè phái của triều đình, và cả các bộ trưởng mất chức. Charles Alexandre de Calonne, người đã trở thành Bộ trưởng Tài chính năm 1783, theo đuổi một chiến lược chi tiêu minh bạch, coi đó là phương tiện để thuyết phục những ông chủ nợ tiềm tàng về sự đáng tin cậy và ổn định của nền tài chính Pháp.
Tuy nhiên, Calonne, từ lâu đã theo dõi tình hình tài chính của Pháp, đã quyết định rằng nó vẫn có thể cứu vãn được và đưa ra một loại thuế đất đai thống nhất coi đó là phương tiện để đưa tài chính Pháp vào khuôn khổ về dài hạn. Trước mắt, ông hy vọng rằng một sự biểu thị ủng hộ từ phía Hội đồng quý tộc được chọn lọc kỹ lưỡng sẽ lấy lại được lòng tin vào tài chính Pháp, và cho phép vay mượn thêm cho tới khi thuế đất đai mang lại hiệu quả và cho phép bắt đầu trả nợ.
Mặc dù Calonne đã thuyết phục nhà vua về sự cần thiết của những cải cách của ông, Hội đồng quý tộc đã từ chối tán thành các biện pháp của ông, đòi hỏi rằng chỉ một chỉ một cơ cấu đại diện thực sự; tốt nhất là États Généraux (Hội nghị các Đẳng cấp) của vương quốc, mới có thể thông qua luật thuế mới. Nhà vua, thấy rằng chính Calonne là một trở ngại đã cách chức ông và thay bằng Étienne Charles de Loménie de Brienne, vị Tổng giám mục Toulouse, người sau này là lãnh đạo phe đối lập trong Quốc hội. Brienne lúc ấy đã có được vị trí mở rộng để tiến hành cải cách, trao cho dân chúng nhiều quyền dân sự (gồm cả tự do tôn giáo với phái Tin lành), và hứa hẹn triệu tập hội nghị đại diện các đẳng cấp trong năm năm, nhưng trong lúc ấy ông cũng cố gắng thúc đẩy các kế hoạch của Calonne. Khi các biện pháp này được đưa ra trước “Hội đồng Nhà vua” tại Paris (một phần cũng phải nhờ đến sự không lịch thiệp của nhà vua), Brienne phản đối, gắn sức giải tán toàn bộ Hội đồng và thu thêm các loại thuế mà không cần quan tâm tới họ. Điều này đã dẫn tới một sự phản ứng rộng lớn từ nhiều nơi trong đất Pháp, gồm cả “Ngày của những viên ngói” nổi tiếng ở Grenoble. Thậm chí quan trọng hơn, sự hỗn loạn khắp đất nước đã làm các nhà cho vay ngắn hạn, mà ngân khố Pháp phải phụ thuộc vào và từng ngày một phải thuyết phục họ ngừng rút các khoản nợ, đưa lại một tình trạng gần như phá sản buộc Louis và Brienne phải đầu hàng.
Ngày 8 tháng 8 năm 1788 nhà vua đồng ý triệu tập hội nghị bất thường États Généraux vào tháng 5 năm 1789 — lần đầu tiên kể từ 1614. Brienne từ chức vào ngày 25 tháng 8, 1788, và Necker một lần nữa lại gánh vác trọng trách tài chính quốc gia. Ông đã sử dụng vị trí của mình để đề xuất các cải cách mới, nhưng chỉ để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ của các đại diện quốc gia.

Hội nghị đại diện các Đẳng cấp năm 1789

Để có miêu tả chi tiết hơn về các sự kiện từ 8 tháng 8, 178817 tháng 6, 1789, xem Hội nghị các Đẳng cấp năm 1789.
Việc kêu gọi triệu tập Hội nghị các Đẳng cấp dẫn tới sự gia tăng lo ngại từ phía đối lập rằng chính phủ sẽ cố gắng triệu tập một hội nghị với thành phần có lợi cho họ. Nhằm tránh tình trạng này, “Hội đồng Nhà vua” của Paris, vốn đã trở về vai trò quyền lực tại thành phố trong thắng lợi, tuyên bố rằng Hội nghị phải được triệu tập theo những cách thức đã được tiến hành như ở lần Hội nghị trước. Mặc dầu có vẻ rằng các thành viên Hội đồng Paris không nhận thức đầy đủ về “những cách thức năm 1614” khi họ đưa ra quyết định này, nhưng nó đã gây nên một sự xáo động. Hội nghị năm 1614 bao gồm số lượng đại biểu ngang nhau từ mỗi đẳng cấp, và trật tự là, Đẳng cấp thứ nhất (tăng lữ), Đẳng cấp thứ hai (quý tộc), và Đẳng cấp thứ ba (bao gồm tầng lớp Đại tư sản, tư sản công thương, tiểu tư sản và các tầng lớp nhân dân nghèo) và mỗi đẳng cấp (toàn thể tất cả các đại biểu thuộc đẳng cấp đó) được bầu một phiếu.
Hầu như ngay lập tức “Ủy ban Ba mươi”, một tổ chức những người Paris tự do, đa số là quý tộc, bắt đầu kích động chống lại nó, đòi phải tăng gấp đôi Đẳng cấp thứ ba và bầu theo đầu phiếu (như đã từng được thực hiện ở nhiều hội đồng địa phương). Hội đồng Nhà vua tại Paris nhanh chóng phản công lại, tuyên bố rằng chỉ các quy trình bầu cử; những người được ủy quyền được bầu cử bởi những “Quan án quản hạt” và “hội đồng nhà vua” tại các địa phương chứ không phải bởi các tỉnh; mới cần được quyết định bởi kiểu năm 1614. Necker, thay mặt cho chính phủ, cuối cùng đi đến kết luận là Đẳng cấp thứ ba cần phải được tăng lên gấp đôi, nhưng vấn đề bầu theo đầu phiếu vẫn phải để lại cho Hội nghị tự giải quyết. Nhưng những sự oán giận từ cuộc tranh cãi đó vẫn còn rất lớn, và những cuốn sách mỏng, như của Abbé Sieyès Đẳng cấp thứ ba là gì, tuyên truyền rằng các đẳng cấp được ưu tiên là những kẻ ăn bám và rằng chính các đại biểu của Đẳng cấp thứ ba mới là đại diện quốc gia, làm cho những sự oán giận đó vẫn tồn tại.
Khi Hội nghị được triệu tập ở Versailles vào ngày 5 tháng 5 năm 1789, những bài phát biểu dài của Necker và Lamoignon, người giữ các con dấu, không hướng dẫn được gì nhiều cho các đại biểu, họ lại phải quay lại các cuộc họp nhóm để ủy nhiệm cho các thành viên của mình. Vấn đề bầu cử theo đầu phiếu hay theo đẳng cấp không được đặt ra, nhưng các đại biểu Đẳng cấp thứ ba lúc ấy yêu cầu lá phiếu của một đẳng cấp chỉ có giá trị khi đại diện cho toàn thể các đại biểu của đẳng cấp đó tại Hội nghị. Tuy nhiên, những cuộc thương lượng giữa các đại biểu tại Hội nghị của các đẳng cấp thứ nhất và thứ hai để hoàn thành việc này không mang lại kết quả, vì chỉ có một đa số không đáng kể tăng lữ và đa số lớn hơn các quý tộc tiếp tục ủng hộ việc bầu cử theo đẳng cấp.

Quốc hội

Vào 28 tháng 5 năm 1789, Tu viện trưởng Emmanuel Joseph Sieyès đề nghị rằng các đại biểu Đẳng cấp thứ ba, hiện đang hội họp như các “Nhóm bình dân” (Commons), tiến hành xác minh những quyền lực của chính mình và mời hai nhóm đại biểu của hai đẳng cấp kia tham gia, nhưng không phải chờ đợi họ. Họ đã tiến hành như vậy, hoàn thành quá trình vào 17 tháng 6[5]. Sau đó họ bỏ phiếu ủng hộ một biện pháp cơ bản hơn, tuyên bố họ là Quốc hội, một cơ quan đại diện không phải là của các đẳng cấp mà là của “nhân dân”. Đạo luật đầu tiên của quốc hội là Tuyên bố Dân quyền và Nhân quyền. Họ đã mời các đại biểu của các đẳng cấp trên tham gia cùng họ, nhưng nói rõ rằng họ có ý định tiến hành các công việc quốc gia dù có hay không có sự tham gia của các đại biểu kia.
Louis XVI đóng cửa Phòng quốc gia nơi Quốc hội họp. Quốc hội chuyển những cuộc bàn cãi của mình ra ngoài sân Jeu de Paume của vua, nơi họ tiến hành Lời tuyên thệ Jeu de Paume (20 tháng 6, 1789), theo đó họ đồng ý không trở về cho tới khi lập ra được một hiến pháp cho nước Pháp. Đa số các đại diện của giới tăng lữ nhanh chóng gia nhập với họ, cùng với bốn bảy thành viên giới quý tộc. Tới 27 tháng 6 phe hoàng gia đã công khai nhượng bộ, mặc dù quân đội bắt đầu kéo tới với số lượng đông đảo quanh Paris và Versailles. Các thông điệp ủng hộ Quốc hội bay tới từ Paris và các thành phố khác của Pháp. Ngày 9 tháng 7, Quốc hội tự tổ chức lại thành Quốc hội lập hiến.
Ở Paris, Cung điện hoàng gia và những khoảng đất của nó đã trở thành nơi tụ họp của nhiều cuộc tụ tập liên tục. Một số quân đội quay sang phía chính nghĩa của dân chúng.

Quốc hội lập hiến

Đột chiếm ngục Bastille

Vào ngày 11 tháng 7, 1789, vua Louis, dưới ảnh hưởng của các quý tộc bảo thủ trong Hội đồng Cơ mật, cũng như của vợ ông, Marie Antoinette, và em trai, Quận công Artois, trục xuất vị bộ trưởng cải cách Necker và tái cơ cấu lại tất cả các bộ. Đa phần Paris coi đó là sự khởi đầu của cuộc đảo chính của hoàng gia, đã nổi loạn. Một số lực lượng quân đội tham gia vào đám đông dân chúng; một số khác thì đứng trung lập.

Đột chiếm ngục Bastille, 14 tháng 7 1789

Ngày 14 tháng 7, 1789, sau bốn giờ xung đột, quân khởi nghĩa chiếm được ngục Bastille. Mặc dù có lệnh ngừng chiến để tránh sự tàn sát lẫn nhau, vị quan giám ngục ở đó là Hầu tước Bernard de Launay và nhiều lính gác vẫn bị giết. Đám đông đem đầu quan giám ngục cắm cọc mang đi diễu hành quanh thành phố. Tuy những người Paris chỉ giải thoát cho bảy tù nhân (bốn kẻ lừa đảo, hai công tử quý tộc bị giam do đạo đức xấu, và một nghi phạm giết người) nhưng Bastille vẫn được coi là một biểu tượng hùng hồn của tất cả những gì bị căm ghét của “chế độ cũ”. Quay trở về Tòa thị chính, đám đông buộc tội vị prévôt des marchands (tương đương chức thị trưởng) Jacques de Flesselles là kẻ phản bội; ông bị giết ngay trên đường đến một nơi có vẻ là một tòa án ở Cung điện hoàng gia Palais Royal.
Nhà vua và những kẻ ủng hộ trong quân đội lùi bước, ít nhất là ở thời điểm đó. Hầu tước Lafayette đảm nhiệm chỉ huy Cảnh vệ quốc gia ở Paris; Jean-Sylvain Bailly — chủ tịch Quốc hội vào lúc đó của Lời tuyên thệ Jeu de Paume — trở thành thị trưởng thành phố dưới một cơ cấu chính quyền mới được gọi là “công xã” (thay cho Hội đồng Nhà vua tại Paris). Nhà vua tới Paris, nơi mà vào ngày 27 tháng 7, ông chấp nhận một phù hiệu tam tài (ba màu) giữa lúc dân chúng hô “Quốc gia muôn năm” thay vì “Đức vua muôn năm”.
Tuy nhiên, sau cuộc bạo lực này, các quý tộc; vẫn được đảm bảo chút ít bởi sự hòa giải tạm thời, giữa nhà vua và người dân; đã bắt đầu giải phóng đất nước khỏi những kẻ “nhập cư“, một số họ bắt đầu âm mưu tiến hành nội chiến bên trong vương quốc và xúi giục liên minh châu Âu chống lại nước Pháp.
Necker được gọi trở lại nắm quyền, nhưng thắng lợi của ông chóng tàn. Là một nhà tài chính khôn ngoan hơn là một chính trị gia khôn khéo, ông đã quá nhấn mạnh vai trò của mình bằng cách yêu cầu và giành được một sự ân xá chung, đánh mất phần lớn sự ủng hộ của nhân dân. Ông còn cho rằng mình có thể tự cứu nước Pháp.
Giới quý tộc không yên tâm với sự hòa giải bề ngoài giữa nhà vua và dân chúng. Họ bắt đầu chạy ra nước ngoài, một số bắt đầu âm mưu nội chiến và kêu gọi một liên minh châu Âu chống Pháp.
Đến cuối tháng 7, khởi nghĩa và tinh thần chủ quyền nhân dân lan ra khắp nước Pháp. Tại các vùng nông thôn, rất nhiều người có hành động quá mức: một số đốt các chứng từ nợ và đốt phá không ít các lâu đài, coi chúng là một phần của một cuộc tổng khởi nghĩa nông dân được gọi là La Grande Peur (Sự sợ hãi vĩ đại). Thêm vào đó, âm mưu tại triều đình Versailles và số lượng lớn người lang thang do thất nghiệp đã dẫn đến các tin đồn bừa bãi và sự hoang tưởng (đặc biệt ở nông thôn), gây ra sự lo sợ và rối loạn trong nước, góp phần vào La Grande Peur (Hibbert, 93).

Bãi bỏ chế độ phong kiến

Để có thêm chi tiết, xem Cách mạng Pháp từ sự bãi bỏ chủ nghĩa phong kiến đến Hiến pháp dân sự của giới tăng lữ#Sự bãi bỏ chế độ phong kiến

Ngày 4 tháng 8 năm 1789, Quốc hội bãi bỏ chế độ phong kiến, dẹp bỏ cả các quyền của lãnh chúa của Đẳng cấp thứ hai và các loại thuế thập phân của Đẳng cấp thứ nhất. Trong vòng vài giờ, các quý tộc, tăng lữ, các thị trấn, tỉnh lỵ, các công ty và các thành thị mất đi quyền ưu tiên của mình.

Bớt ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo Rôma

Cuộc cách mạng đã đem lại sự chuyển dịch quyền lực lớn từ Giáo hội Công giáo La Mã sang Nhà nước. Luật ban hành năm 1790 bao gồm cả việc bãi bỏ quyền đánh thuế trên vụ mùa (còn được gọi là “dîme”) của Giáo hội, việc xóa bỏ những đặc quyền của giới giáo sỹ, và sung công tài sản Giáo hội, người sau đó sở hữu nhiều đất đai nhất trên toàn quốc. Đi cùng với cuộc cách mạng là cú phản đòn dữ dội về phe giáo chức mà kèm theo đó là bắt bớ và thảm sát các linh mục trên toàn đất Pháp. Điều ước năm 1801 giữa Quốc hội và Giáo hội đã chấm dứt thời kỳ bài Công giáo và thiết lập nên những luật lệ cho mối quan hệ giữa Giáo hội Công giáo và Nhà nước Pháp. Điều ước này tồn tại cho đến khi bị hủy bỏ bởi nền Đệ Tam Cộng hòa nước Pháp để tách biệt giữa Giáo hội và nhà cầm quyền vào ngày 11 tháng 12 năm 1905.

Sự hình thành các đảng phái

Các bè phái trong Quốc hội bắt đầu lộ rõ hơn. Quý tộc Jacques Antoine Marie de Cazalès và đức cha Jean-Sifrein Maury dẫn đầu một phe sau này được gọi là cánh hữu, chống lại cách mạng. Những nhà “dân chủ bảo hoàng” hay còn gọi là monarchiens, liên kết với Necker lại thiên về tổ chức một nước Pháp tương tự như mô hình nước Anh Quân chủ lập hiến. Họ bao gồm Jean Joseph Mounier, Bá tước Lally-Tollendal, Bá tước Clermont-TonnerrePierre Victor Malouet, Bá tước của Virieu. Đảng Quốc Gia, đại diện cho thành phần trung hữu của Quốc hội, bao gồm Honoré Mirabeau, La Lafayette và Bailly; trong khi Adrien Duport, Antoine BarnaveAlexander Lameth đại diện cho quan điểm cực hữu hơn. Hầu như đơn độc với thuyết cấp tiến bên cánh tả là luật sư Maximilien Robespierre.
Cha Emmanuel Joseph Sieyès đi đầu trong đề xuất lập pháp trong giai đoạn này và đã đôi lúc thành công trong việc đem lại sự đồng lòng giữa thành phần trung lập và cánh tả.
Ở Paris, nhiều hội đồng, thị trưởng, hội đồng đại biểu và các quận riêng biệt đều đòi hỏi quyền độc lập lẫn nhau. Tầng lớp trung lưu đang trên đà phát triển. Đội Cảnh vệ Quốc Gia dưới sự dẫn dắt của La Lafayette từ từ nổi lên như một thế lực chính trị độc lập tương tự như các hội nhóm tự phát khác.
Trên cơ sở tham khảo Bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng 8 năm 1789, Quốc hội ban hành Tuyên ngôn về nhân quyền và quyền công dân. Tương tự như tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, bản tuyên ngôn này chỉ bao gồm những tuyên bố nguyên tắc hơn là một bản hiến pháp có hiệu lực thực thụ.

Đến một hiến pháp

Xem thêm chi tiết tại Tiến đến một hiến pháp

Quốc hội lập hiến không chỉ hoạt động như một cơ quan lập pháp mà còn như một thực thể thống nhất để soạn thảo một hiến pháp mới.
Necker, Mounier, Lally-Tollendal đã đầu tranh để thành lập một thượng viện nhưng không thành công. Thượng viện do họ đề nghị gồm những thành viên được chọn bởi hoàng gia từ những người được nhân dân đề cử. Giới quý tộc đòi hỏi phải có một Thượng viện được bầu cử từ những người có dòng dõi. Nhưng chính đảng được yêu chuộng nhất mới giành được lợi thế: nước Pháp sẽ có một Quốc hội với một viện duy nhất. Trong đó nhà vua chỉ có quyền “phủ quyết tạm thời”: có thể hoãn việc đưa một dự luật vào thi hành, nhưng không thể phủ quyết hoàn toàn.
Nhân dân Paris đã đánh bại mọi nỗ lực của phe bảo hoàng nhằm chống lại trật tự xã hội mới: họ đã tuần hành trên đại lộ Versailles ngày 5 tháng 10 năm 1789. Sau vài cuộc ẩu đả, nhà vua và hoàng tộc đã chấp thuận sự dẫn độ từ Versailles về Paris.
Quốc hội đã thay thế Các tỉnh của Pháp với tám mươi ba phân khu (département), được điều hành giống như nhau và giống nhau về quy mô và dân số.
Lúc đầu chỉ được hình thành để đối phó với một cuộc khủng hoảng tài chính, tới lúc này Quốc hội lại chủ trọng đến những vấn đề khác và làm sự thiếu hụt càng trở nên trầm trọng. Mirabeau dẫn đầu trong vụ việc này, trong Quốc hội giao cho Necker quyền lực tuyệt đối về tài chính.

Tiến đến Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ

Xem chi tiết ở trang Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ

Nhằm đối phó với khủng hoảng kinh tế, Quốc hội đã thông qua bộ luật ngày 2 tháng 12 năm 1789 cho phép chuyển toàn bộ tài sản của Giáo hội cho chính quyền quốc gia, với điều kiện chính quyền phải chịu mọi chi phí cho các hoạt động của Giáo hội. Nhằm nhanh chóng tiền tệ hóa một lượng của cải khổng lồ đến như vậy, Chính phủ đã phát hành một loại tiền giấy mới, assignat, được đảm bảo giá trị bằng số đất tịch thu của Giáo hội.
Việc ban hành thêm bộ luật ngày 13 tháng 2 năm 1790 đã bãi bỏ lời thề của nhà tu hành. Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ được thông qua ngày 12 tháng 7 năm 1790 (mặc dù đến ngày 26 tháng 12 năm 1790 mới được nhà vua ký), đã biến các giáo sĩ còn lại trở thành người làm công cho nhà nước và yêu cầu họ phải tuyên thệ tuyệt đối trung thành với Hiến pháp. Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ còn biến giáo hội Công giáo thành một lực lượng của nhà nước thế tục.
Phản ứng lại bộ luật này, Tổng giám mục của giáo phận Aix và giám mục của giáo phận Clermont đã tổ chức và lãnh đạo cuộc đình công của các giáo sĩ ở Quốc hội lập hiến. Giáo hoàng không chấp nhận sự sắp đặt này, và điều đó đã dẫn đến sự phân hóa các giáo sĩ thành hai phái: “những người tuyên thệ” (juror hay “giáo hội lập hiến”), gồm những người đã lập lời thề chấp nhận sự sắp đặt mới; và “những người không tuyên thệ” (non-juror hay “những thầy tu bướng bỉnh” – refractory priests), gồm những người không chịu chấp nhận theo sự sắp đặt của chính quyền.

Từ sự kiện kỷ niệm ngày phá ngục Bastille đến cái chết của Mirabeau

Thảo luận chi tiết về sự kiện ngày 14 tháng 7 năm 1790ngày 30 tháng 9 năm 1791, xem Từ sự kiện kỷ niệm ngày phá ngục Bastille đến cái chết của Mirabeau

Quốc hội đã bãi bỏ những đặc trưng của “chế độ cũ” — quốc hiệu, chế phục (quần áo của người hầu các nhà quyền quý), v.v.. việc này đã cô lập hơn nữa tầng lớp quý tộc bảo thủ và làm gia tăng đội ngũ những kẻ lưu vong. Vào ngày 14 tháng 7 năm 1790 và trong nhiều ngày tiếp theo, những đám đông ở quảng trường Champ de Mars đã kỷ niệm 1 năm ngày phá ngục Bastille; những người tham gia đã lập lời thề “trung thành với đất nước, với pháp luật, và với đức vua”; đích thân vua và hoàng tộc cũng tham dự.
Các cử tri trước đó đã bầu ra chính quyền tối cao để nắm quyền trong năm đầu, nhưng nhờ Lời thề Jeu de Paume Công xã Paris vẫn được quyền tổ chức những cuộc họp thường kỳ liên tục cho đến khi Hiến pháp được ban hành. Phe cánh hữu giờ đây đòi hỏi một cuộc bầu cử mới, nhưng Mirabeau đã thành công khi khẳng định cơ cấu Quốc hội cơ bản đã được thay đổi, và do đó không cần thêm bất cứ cuộc bầu cử nào khác trước khi Hiến pháp hoàn thành.
Những năm cuối của thập niên 1790 là thời kỳ bùng nổ của nhiều cuộc phản cách mạng quy mô nhỏ với nỗ lực huy động toàn bộ hay một bộ phận quân đội nhằm đối phó với cách mạng. Tuy nhiên, những cuộc nổi dậy này đều chung một kết cục là thất bại. Hoàng gia, theo nhận xét của François Mignet, “ủng hộ mọi nỗ lực phản cách mạng nhưng không thừa nhận trong bất cứ trường hợp nào”.[6]
Quân đội phải đối mặt với tình trạng rối loạn nội bộ nghiêm trọng: Đại tướng Bouillé, với thành tích đàn áp được một số cuộc nổi dậy yếu thế, càng được những người phản cách mạng kính trọng và ngưỡng mộ.
Theo luật mới trong quân đội, những chiến sĩ có thâm niên và thực lực sẽ được coi trọng và tiến cử chứ không còn quan trọng người đó thuộc đẳng cấp hay giai cấp nào. Luật lệ mới này đã làm cho nhiều hạ sĩ, sĩ quan hiện thời bất mãn, không lâu sau đó họ đã đào ngũ và tham gia phản cách mạng.
Trong thời kỳ này, nổi bật là sự xuất hiện ngày càng nhiều của của các “phái hội” trong giới chính trị Pháp, tiêu biểu là phái Jacobin (phiên âm “Gia-cô-banh”): Theo Bách khoa toàn thư Britannica 1911, tính đến ngày 10 tháng 8 năm 1790 đã có 152 phái hội liên kết với Jacobin. Khi phái Jacobin bắt đầu vang danh khắp nơi, một số những người đồng sáng lập đã rời bỏ nó để thành lập phái ’89. Những người bảo thủ đã thành lập phái Impartiaux và sau đó là phái Quân chủ (Monarchique). Các phái này tổ chức phân phát bánh mì với mong muốn nhận được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân nhưng đã không thành công, trái lại họ còn thường xuyên bị chống đối và thậm chí trở thành mục tiêu phá hoại. Cuối cùng chính quyền thành phố Paris đã giải tán phái Quân chủ vào tháng 1 năm 1791.
Giữa tình hình này, Quốc hội vẫn tiếp tục công việc của mình để hoàn thành bản Hiến pháp mới. Theo đó, một tòa án mới sẽ được bổ nhiệm, mang tính chất tạm thời và các thẩm phán được quyền hoạt động độc lập với nhà vua. Bãi bỏ hình thức bổ nhiệm kiểu “cha truyền con nối” ở mọi cơ quan nhà nước, trừ chính quyền Quân chủ. Nhà vua vẫn có quyền lực tuyệt đối nếu muốn gây chiến, nhưng cơ quan lập pháp mới được quyền quyết định có nên tuyên bố chiến tranh hay không. Ngoài ra, Quốc hội còn bãi bỏ mọi hàng rào thương mại trong nước; cấm mở phường hội, xưởng dạy nghề và các tổ chức của công nhân; bất cứ cá nhân nào cũng phải có giấy phép hành nghề (môn bài) mới được hành nghề và buôn bán; đình công trở thành việc bất hợp pháp.
Mùa đông năm 1791, lần đầu tiên Quốc hội lưu tâm về vấn đề quý tộc bỏ đi di tản (émigrés). Trong phiên họp của Quốc hội về việc ban hành luật mới cấm di tản, sự an toàn của đất nước được đặt ra trước quyền tự do xuất cảnh của mỗi người. Mirabeau đã giành phần thắng với cách giải quyết mà ông cho là “xứng đáng được dùng trong bộ luật tàn bạo của Draco“.[6]
Không may, Mirabeau đã qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1791. Mignet nhận xét, “Không ai có thể sánh với quyền lực và sự nổi tiếng của Mirabeau”, và trong vòng năm đó, Quốc hội mới đã thông qua điều luật “tàn bạo” của Mirabeau.

Chuyến đi đến Varennes

Thảo luận chi tiết tại Chuyến đi đến Varennes

Dù phải vất vả chống đỡ với cuộc Cách mạng trong nước, vua Louis XVI vẫn từ chối mọi lời đề nghị giúp đỡ đầy mưu toan và không đáng tin cậy của các quốc vương khác ở châu Âu mà bắt tay với Đại tướng Bouillé, người luôn đối đầu với Quốc hội và lên án gay gắt tình trạng quý tộc di tản. Bouillé hứa cho vua Louis ẩn náu ở Montmedy để âm thầm ủng hộ ông.

Hành quyết Vua Louis XVI

Đêm 20 tháng 6 năm 1791, Hoàng gia vội vã rời bỏ Tuileries. Tuy vậy, vì quá tự tin dẫn đến khinh suất, ngay trong ngày hôm sau vua Louis đã để lộ sơ hở và bị phát hiện và bắt giữ tại Varennes (tại phân khu Meuse). Chiều ngày 21 tháng 6, vua bị đưa về Paris trong sự canh giữ cẩn mật của Quốc hội.
Pétion, Latour-MaubourgAntoine Pierre Joseph Marie Barnave, đại diện cho Quốc hội, đã tiếp kiến Hoàng gia tại Épernay và cùng đi với họ. Kể từ lúc này, Barnave trở thành cố vấn và người ủng hộ Hoàng gia.
Khi họ đến Paris, quần chúng nhân dân đã im hơi lặng tiếng. Quốc hội lâm thời đã tước quyền lực của vua Louis. Vua và hoàng hậu Marie Antoinette bị giam giữ dưới sự canh phòng nghiêm ngặt.

Những ngày cuối cùng của Quốc hội lập hiến

Thảo luận chi tiết tại Những ngày cuối cùng của Quốc hội lập hiến

Với đa số đại biểu trong Quốc hội vẫn còn ủng hộ chế độ Quân chủ lập hiến hơn là chế độ Cộng hoà, các phe phái đã đi đến thỏa thuận cho vua Louis làm một đấng quân vương bù nhìn: nhà vua phải lập một lời thề trong Hiến pháp và ban sắc lệnh để tuyên bố rằng nếu ngài chống lại lời thề đó, chỉ huy quân đội với mục đích gây chiến tranh với Quốc gia, hay cho phép ai làm điều đó nhân danh ông thì ông sẽ phải thoái vị.
Jacques Pierre Brissot đã thảo một bản kiến nghị, nhấn mạnh rằng dù sao dưới con mắt của Quốc hội thì Louis XVI đã bị phế truất kể từ chuyến du hành đến Varennes. Một đám đông khổng lồ đã tụ tập ở Quảng trường Champ-de-Mars để ký vào bản kiến nghị này. Georges DantonCamille Desmoulins đọc một bài diễn văn sôi nổi. Quốc hội đã phải huy động chính quyền thành phố để bảo vệ “trật tự công cộng”. Lực lượng Vệ binh Quốc gia dưới sự chỉ huy của La Lafayette đã đứng ra đương đầu với đám đông. Các vệ binh phải bắn chỉ thiên để cảnh cáo sau những loạt đá được ném ra từ đám đông; nhưng nhận thấy đám đông vẫn lấn tới không chút e dè, tướng Lafayette ra lệnh bắn thẳng vào đoàn người tiến tới, làm khoảng 50 người chết.
Tiếp theo sau vụ thảm sát này, chính quyền địa phương đã đóng cửa nhiều hội ái quốc và những tờ báo cấp tiến như L’Ami du Peuple của Jean-Paul Marat. Danton vội vã trốn đến Anh, Desmoulins và Marat thì giấu mình ẩn nấp.
Trong lúc đó, nỗi lo ngoại xâm lại bắt đầu đe dọa: Hoàng đế La Mã Thần thánh là Leopold II – anh vợ vua Louis XVI, vua nước Phổ là Friedrich Wilhelm II, và em trai vua Louis XVI là Charles-Phillipe, Bá tước của Artois đã ban hành Tuyên bố Pilnitz, yêu cầu trao trả tự do cho vua Louis XVI và giải tán Quốc hội, nếu chính quyền Cách mạng không đáp ứng những điều kiện này thì họ sẽ tiến đánh nước Pháp. Vô hình trung bản tuyên bố này càng đẩy vua Louis vào tình thế hiểm nghèo. Người Pháp thì chẳng hề để ý đến, còn những lời đe dọa dùng vũ lực trên chỉ đơn thuần là chiến sự ở ngoài vùng biên giới.
Ngay từ trước chuyến đi ở Varennes, các thành viên của Quốc hội Lập hiến đã quyết định quyền lập pháp sẽ do Quốc hội mới (Quốc hội lập pháp) tiếp tục. Giờ đây Quốc hội (Quốc hội Lập hiến) thu thập và chọn lựa nhiều điều luật khác nhau trong Hiến pháp mà trước đây họ đã thông qua để viết thành một bản Hiến pháp mới, cho thấy sự dũng cảm đáng nể khi không lợi dụng cơ hội này để sửa lại một số điều quan trọng, rồi trình nó lên cho vua Louis XVI vừa được trao trả ngôi vị. Nhà vua chấp nhận Hiến pháp và viết rằng “Trẫm cam kết sẽ duy trì Hiến pháp này tại Tổ quốc, bảo vệ nó khỏi mọi sự công kích từ nước ngoài, và phê chuẩn thực thi Hiến pháp này bằng mọi cách mà ta tùy ý sử dụng”. Nhà vua đã có một buổi diễn thuyết trước Quốc hội và nhận được những tràng pháo tay nhiệt tình từ khán giả và các thành viên trong Quốc hội. Quốc hội tuyên bố chấm dứt nhiệm kỳ vào ngày 29 tháng 9 năm 1791.
Mignet đã viết, “Hiến pháp năm 1791… là công trình của giai cấp tư sản và sau đó trở thành giai cấp có quyền lực nhất; bởi vì, theo lẽ thường, thế lực chiếm ưu thế hơn bao giờ cũng giành được quyền kiểm soát trong thể chế… Trong bản Hiến pháp này, con người là nguồn gốc của mọi quyền lực, nhưng nó đã không được sử dụng”.
[2]

Quốc hội lập pháp và sự sụp đổ của nền Quân chủ

Xem chi tiết về sự kiện ngày 11 tháng 10 năm 1791 – ngày 19 tháng 9 năm 1792, xem bài chính Quốc hội lập pháp và sự sụp đổ của nền Quân chủ ở Pháp.

Quốc hội

Với Hiến pháp 1791, nước Pháp vẫn theo chế độ Quân chủ lập hiến. Nhà vua phải chia sẻ quyền lực với Quốc hội được bầu ra, nhưng nhà vua vẫn được sử dụng quyền phủ quyết và quyền lựa chọn bộ trưởng.
Quốc hội mới họp phiên đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1791 và bắt đầu tan rã, lộn xộn trong vòng không đến một năm sau đó. Theo nhận xét của Britanica 1911: “Quốc hội đã thất bại trong nỗ lực cầm quyền, để lại đằng sau là ngân khố trống rỗng, lực lượng quân đội và hải quân vô kỷ luật, và một dân tộc trụy lạc, chơi bời trác táng trong an bình và thành công”.
Quốc hội bao gồm khoảng 165 người trong Hoàng gia Feuillant theo Quân chủ lập hiến bên cánh hữu, khoảng 330 người theo phe Cộng hòa tự do thuộc phái Girondin (phiên âm Gi-rông-đanh) bên cánh tả, và khoảng 250 đại biểu trung lập.
Ban đầu, nhà vua bác bỏ bản án tử hình đối với di dân và ra sắc lệnh bắt buộc các giáo sĩ chưa tuyên thệ trong vòng 8 ngày phải lập lời tuyên thệ do Hiến pháp Công dân của Giới Tăng lữ quy định trước đây. Sau một năm, những bất đồng trong đường lối cầm quyền đã dẫn đến khủng hoảng.

Chiến tranh

Tình hình chính trị của thời kỳ này đã đưa đến kết quả tất yếu là đẩy nước Pháp vào cuộc chiến với đế quốc Áo và các nước Đồng minh. Nhà vua, Hoàng gia Feuillant và phái Girondin háo hức lao vào gây chiến. Nhà vua cùng nhiều thành viên Feuillant cho rằng chiến tranh là cách quảng bá rộng rãi hình ảnh và quyền lực của mình; vua còn lập cả một kế hoạch khai thác bóc lột các quốc gia bại trận. Dù bất cứ kết quả nào xảy ra đều có thể củng cố thế lực cho nhà vua. Phái Girondin thì lại muốn mở rộng phạm vi Cách mạng bao trùm cả châu Âu. Chỉ một số thành viên cấp tiến trong phái Jacobin đứng ra phản đối chiến tranh với lý do nên củng cố và mở rộng Cách mạng trong nước. Hoàng đế La Mã Thần thánh Leopold II, anh trai Hoàng hậu Marie Antoinette, có lẽ cũng không mong muốn chiến tranh xảy ra, nhưng đã qua đời ngày 1 tháng 3 năm 1792.
Nước Pháp khai chiến với Đế quốc Áo ngày 20 tháng 4 năm 1792Vương quốc Phổ liên minh với phe Áo vài tuần sau đó. Chiến tranh Cách mạng Pháp đã bắt đầu.
Trận chiến có ý nghĩa quan trọng đầu tiên là trận đánh giữa PhápPhổ tại Valmy ngày 20 tháng 9 năm 1792. Trời mưa tầm tã nhưng hỏa lực của pháo binh Pháp vẫn tỏ ra đầy uy lực. Vào thời gian ấy, nước Pháp chìm trong sự hỗn loạn và chế độ phong kiến giờ chỉ còn là quá khứ.

Nền lập hiến bị khủng hoảng

Bài chính: 8 tháng 10 (Cách mạng Pháp), Vụ thảm sát tháng 9

Đêm 10 tháng 8 năm 1792, quân khởi nghĩa với sự ủng hộ của nhà lãnh đạo cách mạng mới, Công xã Paris, đã tấn công Tuileries. Vua và hoàng hậu trở thành các tù nhân, những người còn lại trong Quốc hội, gồm khoảng hơn một phần ba nghị sĩ có mặt lúc đó, phần lớn thuộc phái Jacobin, đã đình chỉ quyền lực của triều đình.

10 tháng 8 1792 Công xã Paris – Bạo loạn tại cung Tuileries

Phần còn lại của chính phủ phụ thuộc vào sự ủng hộ của Công xã Cách mạng. Khi Công xã đưa những toán sát thủ vào tù để xét xử một cách tùy ý và giết gần 1.400 người, và gửi giấy thông báo qua khắp các thành phố khác của Pháp để kêu gọi noi theo, Quốc hội chỉ có thể chống đỡ một cách yếu ớt. Tình hình này cứ kéo dài đến khi Quốc ước họp ngày 20 tháng 9 năm 1792 với nhiệm vụ soạn thảo Hiến pháp mới và trên thực tế đã trở thành chính quyền mới của Pháp. Ngày hôm sau, chính quyền tuyên bố chấm dứt chế độ Quân chủ và lập ra nền Cộng hoà. Ngày này được chọn là ngày bắt đầu của năm đầu tiên trong Lịch Cách mạng Pháp.

Quốc ước

Xem chi tiết về sự kiện ngày 20 tháng 9 năm 179226 tháng 9 năm 1795 tại Quốc ước.
Với chế độ Cộng hòa mới, quyền lập pháp thuộc về Quốc ước và quyền hành pháp thuộc về Ủy ban An ninh Toàn quốc. Phái Girondin trở thành đảng phái có thế lực nhất trong Quốc ước và trong Ủy ban.
Trong Bản Tuyên ngôn Brunswick, Quân đội Phổ dọa sẽ trả thù người Pháp nếu nước Pháp ngăn cản các nỗ lực của vua Phổ trong việc phục hồi chế độ Quân chủ trên nước này. Vào ngày 17 tháng 1 năm 1793, cựu vương LouisXVI bị kết án tử hình cùng tội danh âm mưu chống lại tự do nhân dân và an ninh chung với sự chấp thuận của một số ít thành viên trong Quốc ước. Buổi hành quyết ngày 21 tháng 1 đã làm nổ ra nhiều cuộc chiến với các quốc gia châu Âu khác. Hoàng hậu người Áo của cựu vương Louis XVI là Marie Antoinette, cũng theo gót Louis lên máy chém ngày 16 tháng 10.

Tranh biếm của George Cruikshank về thời kỳ Khủng bố dưới sự thống trị của Maximilien Robespierre

Khi cơn sốt chiến tranh lên cao, giá cả leo thang khiến các sans-culotte (lao công nghèo và các thành viên cấp tiến của phái Jacobin) nổi dậy: các hoạt động phản Cách mạng bắt đầu nổ ra ở vài vùng miền. Điều này càng tạo cơ hội cho phái Jacobin thâu tóm quyền lực. Chịu ảnh hưởng của quần chúng nhân dân do bất bình với bè phái Girondin và nhờ lợi dụng sức mạnh của các sans-culotte ở Paris, một cuộc đảo chính (coup d’état) đã diễn ra với sự tham gia của quân đội. Nhờ kết quả này, sự liên minh giữa phái Jacobin và các phần tử sans-culotte trở thành nòng cốt trong chính quyền mới. Các chính sách thể hiện sự cấp tiến rõ rệt.
Ủy ban An ninh Toàn quốc dưới sự quản lý của Maximilien Robespierre và phái Jacobin đã gây nên giai đọan Thời kì Khủng bố (tạm dịch từ Reign of Terror)(1793–1794). Ít nhất 1200 người đã phải bước lên máy chém vì bị quy vào tội phản Cách mạng. Chỉ cần là một ý nghĩ thoáng qua hay một biểu hiện nhỏ trong hành vi cũng bị nghi ngờ là phản Cách mạng (hay như trường hợp của Jacques Hébert chính vì quá nhiệt tình với Cách mạng hơn cả các nhà đương chức cầm quyền); và các phiên tòa bao giờ cũng chỉ xử một cách qua loa và kết tội là chủ yếu.

Hành hình nhà Độc tài Robespierre

Vào năm 1794 Robespierre đã xử tử các thành viên Jacobin cấp tiến thuộc phái Cực đoan và Ôn hoà; chính vì vậy, sự ủng hộ tích cực của quần chúng nhân dân đối với ông giảm đi rõ rệt. Vào ngày 27 tháng 7 năm 1794, người Pháp nổi dậy chống lại Triều đại Kinh hoàng với cuộc chính biến Thermido. Kết quả: những thành viên phái Ôn hòa trong Quốc ước đã phế truất và xử tử Robespierre cùng các đồng đội của ông trong ban lãnh đạo của Ủy ban An ninh Toàn quốc. “Hiến pháp năm thứ III” (theo lịch Cách mạng Pháp) được Quốc ước thông qua ngày 17 tháng 8 năm 1795; được dân chúng ủng hộ trong cuộc trưng cầu dân ý vào tháng 9 và có hiệu lực từ ngày 26 tháng 9 năm 1795.
Sau trận đánh tại Valmy, nước Phổ vẫn tiếp tục là thành viên chủ chốt của liên quân chống Pháp, thậm chí còn đánh tan tác quân Pháp tại Alsace và vùng Saar. Tuy nhiên, đầu óc của họ bị phân tâm bởi các vấn đề khác:[7] Họ ký riêng Hiệp định Basle với nước Pháp Cách mạng vào ngày 5 tháng 4 năm 1795.[8] Nước Phổ đạt nhiều lợi thế theo Hiệp định này,[9] nhưng từ đó họ đứng trung lập đối với cuộc Cách mạng Pháp.[10]

Chế độ Đốc chính

Xem chi tiết về sự kiện ngày 26 tháng 9 năm 17959 tháng 11 năm 1799 tại Hội đồng Đốc chính Pháp.
Hiến pháp mới đã lập ra Hội đồng Đốc chính (Directoire) và Lưỡng viện lập pháp đầu tiên trong lịch sử nước Pháp. Quốc hội bao gồm Hạ viện gồm 500 đại biểu (Conseil des Cinq-Cents – Hội đồng 500) và Thượng viện gồm 250 đại biểu (Conseil des Anciens). Quyền hành pháp nằm trong tay 5 đốc chính do Thượng viện bổ nhiệm hàng năm từ danh sách do Hạ viện đưa lên.

Napoleon trong chiến dịch ở miền Bắc nước Ý-1796

Với sự thành lập của chế độ Đốc chính, Cách mạng Pháp có vẻ đã kết thúc. Đất nước muốn nghỉ ngơi và chữa lành các vết thương. Những người muốn tái lập vua Louis XVIII cùng chế độ cũ, và những người muốn quay lại Thời kì khủng bố La Terreur chỉ chiếm số lượng không đáng kể. Khả năng can thiệp của nước ngoài đã tiêu tan cùng thất bại của Đệ nhất Liên minh (Première coalition). Tuy nhiên, 4 năm của chế độ Đốc chính đã là khoảng thời gian của một chính phủ chuyên quyền độc đoán và sự bất an thường xuyên. Những sự tàn bạo trong quá khứ đã làm cho lòng tin và thiện ý giữa các bên trở thành không thể được. Cũng bản năng tự bảo vệ mà đã dẫn các thành viên của Quốc ước chiếm phần lớn trong cơ quan lập pháp và toàn bộ Hội đồng Đốc chính buộc họ giữ ưu thế.
Khi đại đa số dân chúng Pháp muốn loại bỏ họ, họ đã chỉ có thể giữ được quyền lực của mình bằng những biện pháp bất thường. Họ đã từng bước lờ đi các điều khoản của hiến pháp, và dùng đến vũ khí khi kết quả bầu cử chống lại họ. Họ đã quyết tâm kéo dài chiến tranh – cách tốt nhất để kéo dài quyền lực của mình. Do đó, họ bị dẫn đến việc dựa vào quân đội – phe cũng muốn chiến tranh.
Chế độ mới vấp phải sự chống đối từ những người bảo hoàng và các phần tử Jacobin còn sót lại. Quân đội đàn áp các cuộc nổi dậy và các hoạt động phản cách mạng. Nhờ đó quân đội và vị thống lĩnh xuất sắc của họ, Napoleon Bonaparte càng có thế lực hơn.
Ngày 9 tháng 11 năm 1799 (ngày 18 tháng Sương mù của năm thứ 8 theo lịch Cách mạng Pháp), Napoléon tổ chức một cuộc đảo chính, lập nên chế độ tổng tài. Sự kiện Napoléon xưng Hoàng đế vào năm 1804 đã đặt dấu chấm hết cho giai đoạn Cộng hòa, thành quả tiêu biểu của Cách mạng Pháp.

Chú thích

  1. ^ “French Revolution”.
  2. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 257
  3. ^ Hamish M. Scott, The emergence of the Eastern powers, 1756-1775, trang 57
  4. ^ Do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino vào năm 1788-1789 làm mùa màng thất bát.Thêm vào đó, hiện tượng El Nino còn có ảnh hưởng tănh mạnh ở trong khoảng thời gian 1789-1793 tại châu Âu.Richard H. Grove, “Global Impact of the 1789–93 El Niño,” Tạp chí khoa học Nature 393 (1998), trang 318–319
  5. ^ John Hall Stewart. A Documentary Survey of the French Revolution. New York: Macmillan, 1951, trang 86.
  6. ^ a ă [1]
  7. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 289
  8. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 292
  9. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 293
  10. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 298

Đọc thêm

Thư viện Quốc gia Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thư viện Quốc gia Pháp
Bibliothèque nationale de France
Logo BnF.svg
France, Paris, Bibliothèque nationale de France, site Richelieu, salle ovale.jpg
Phòng đọc Ovale, địa điểm Richelieu của Thư viện Quốc gia Pháp.
Quốc gia Cờ Pháp Pháp
Loại hình Thư viện quốc gia
Thành lập 1368
Địa điểm Paris và các thành phố khác
Chi nhánh 5 địa điểm và 2 trung tâm bảo quản
Lưu trữ
Trữ lượng 13 triệu cuốn sách
30 triệu đơn vị lưu trữ
Lưu chiểu Từ 28 tháng 12 năm 1537
Hành chính
Ngân sách 280,6 triệu euro (2008)
Chủ tịch Bruno Racine
Nhân viên 2.662 người (2007)
Web

Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de France) là thư viện quan trọng nhất, đồng thời là cơ quan giữ chức năng lưu chiểu xuất bản phẩm của Pháp. Với vai trò thư viện quốc gia, đây cũng là nơi sưu tầm và lưu trữ những di sản thư tịch, đồng thời đảm nhiệm chức năng biên soạn, phát hành thư mục quốc gia. Thư viện Quốc gia Pháp ngày nay bao gồm 5 địa điểm và 2 trung tâm bảo quản tài liệu, trong đó địa điểm chính mang tên François-Mitterrand nằm ở Quận 13, Paris, còn địa điểm lịch sử Richelieu vẫn nằm trong trung tâm thành phố. Năm 2008, ngân sách của thư viện lên đến 280,6 triệu euro với tổng số nhân viên khoảng 2.500 người.
Thư viện Quốc gia Pháp có lịch sử bắt đầu vào năm 1368, khi vua Charles V cho thành lập thư viện cá nhân đặt trong cung điện Louvre. Năm 1537, François I ghi một dấu ấn quan trọng trong lịch sử thư viện khi ban hành chiếu dụ Montpellier, bắt buộc tất cả những ấn phẩm xuất bản tại Pháp phải có một bản sao lưu giữ trong thư viện hoàng gia ở lâu đài Blois. Thế kỷ 17, nhờ Jean-Baptiste Colbert, thư viện có những bước tiến mạnh mẽ và đạt đến giai đoạn hoàng kim trong suốt những năm của thế kỷ 18. Trở thành thư viện quốc gia vào thời kỳ Cách mạng, thư viện không ngừng đón nhận những bộ sưu tập sách được đưa về từ khắp Paris và nước Pháp, rồi từ cả những quốc gia láng giềng. Sự phát triển liên tục của bộ sưu tập tài liệu đã đẩy thư viện vào giai đoạn khó khăn tiếp theo vì thiếu không gian lưu trữ. Năm 1988, sau những cuộc tranh luận kéo dài, Tổng thống François Mitterrand quyết định xây dựng một thư viện mới. Trải qua 5 năm xây dựng, thư viện François-Mitterrand được khánh thành vào năm 1996, mang cái tên tưởng nhớ tới vị tổng thống đã khai sinh công trình.
Ngày nay, Thư viện Quốc gia Pháp là nơi lưu giữ nhiều bộ sưu tập tài liệu quan trọng với 13 triệu cuốn sách, 250 nghìn tập bản thảo, 350 nghìn tựa báo và tạp chí, 12 triệu bản in cùng nhiều tài liệu dạng khác bằng hàng trăm ngôn ngữ. Trong những kho lưu trữ của thư viện, có thể thấy rất nhiều những bản thảo của các nhà văn danh tiếng, những cuốn sách chép tay quý giá, những bản Kinh Thánh cổ cùng nhiều tài liệu có giá trị đặc biệt—như Jikji, cuốn sách in kim loại đầu tiên thực hiện năm 1377, hay bức ảnh cổ nhất do Nicéphore Niépce chụp năm 1825. Một phần quan trọng của bộ sưu tập tài liệu cũng đã được Thư viện Quốc gia Pháp số hóa và đưa lên thư viện số Gallica.
Với vai trò một thư viện quan trọng trên thế giới, Thư viện Quốc gia Pháp tham gia vào nhiều dự án quốc tế, hợp tác và trao đổi tài liệu cùng nhiều thư viện, cơ quan khác. Thư viện giữ vị trí trung tâm trong dự án Thư viện số Pháp ngữ và cũng góp phần quan trọng xây dựng thư viện số châu Âu Europeana. Từ năm 2007, giữ cương vị chủ tịch của Thư viện Quốc gia Pháp là nhà văn Bruno Racine.

Lịch sử

Thư viện hoàng gia

Lâu đài Blois, địa điểm của thư viện dưới thời François I

Thư viện Quốc gia Pháp ngày nay được khởi nguồn từ bộ sưu tập sách cá nhân của hoàng gia cách đây hơn 6 thế kỷ. Vào năm 1368, vua Charles V—cũng là một học giả, một người đam mê sách—cho thành lập một thư viện riêng với 917 bản sách chép tay, được đặt trong tòa tháp Fauconnerie của cung điện Louvre.[1] Tuy nhiên, sau cái chết của Charles, bộ sưu tập quý giá này đã bị phân tán rải rác trong cuộc chiến tranh Trăm năm, ngày nay chỉ còn lưu lại được 60 cuốn.[2] Phải đến thời Louis XI, vị vua trị vì từ năm 1461 tới 1483, thư viện hoàng gia mới được thành lập trở lại và tiếp tục tồn tại qua những vương triều sau đó. Trong khoảng thời gian cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, nhờ những chiến lợi phẩm của hai vị vua Charles VIIILouis XII trong cuộc xâm lăng nước Ý, bộ sưu tập sách của thư viện bắt đầu trở nên phong phú.[3]
Sau khi chuyển đến Amboise rồi Blois, thư viện hoàng gia được hợp nhất với thư viện của François I, vốn đặt trong cung điện Fontainebleau từ năm 1522, do học giả, nhà nhân văn nổi tiếng Guillaume Budé quản lý.[4] Bên cạnh việc bổ sung thêm những cuốn sách chép tay tiếng Hy Lạp quý giá, vua François I còn đưa ra một quyết định quan trọng. Với chiếu dụ Montpellier ngày 28 tháng 12 năm 1537, François I yêu cầu tất cả các cuốn sách được xuất bản tại Pháp đều phải có một bản sao lưu trữ trong thư viện của lâu đài Blois. Quy chế lưu chiểu này, rất gần với ý tưởng về một thư viện quốc gia, đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử của thư viện.[4]
Cuối thế kỷ 16, thư viện hoàng gia được chuyển về Paris và nằm trong khu phố La Tinh bên tả ngạn. Từ năm 1666, nhờ Jean-Baptiste Colbert, vị bộ trưởng tài chính của vua Louis XIV, thư viện bắt đầu bước vào một thời kỳ phát triển mạnh mẽ. Colbert đã cho mua lại nhiều bộ sưu tập sách cá nhân, đồng thời thư viện cũng nhận được không ít những tặng vật quan trọng. Rời khỏi khu phố La Tinh, thư viện chuyển về trụ sở mới trên phố Vienne, không xa địa điểm Richelieu ngày nay. Khi số lượng sách dần trở nên quá lớn, cũng là khi các thủ thư bắt đầu gặp khó khăn trong việc quản lý tài liệu. Điều này đã thúc đẩy Nicolas Clément, giám đốc thư viện từ năm 1691, đưa ra một phương pháp phân loại mới, ngày nay vẫn còn được sử dụng.[5]
Thế kỷ 18 có thể xem như một giai đoạn hoàng kim trong lịch sử thư viện. Từ năm 1720, thư viện của nhà vua bắt đầu mở cửa cho công chúng, mỗi tuần một lần. Bộ sưu tập sách cũng dần được chuyển về trụ sở mới trên phố Richelieu. Tu sĩ Jean-Paul Bignon, người giữ chức giám đốc từ năm 1719, đã tổ chức thư viện thành năm khu lưu trữ: sách viết tay, sách in, tài liệu tước vị và phả hệ, bản khắc và khuôn rập, huy hiệu và trang sức đá. Cũng trong thời kỳ quản lý của tu sĩ Bignon, thư viện của nhà vua trở thành một trung tâm tri thức quan trọng bậc nhất, nơi những triết gia, nhà văn nổi tiếng như Diderot, Voltaire, Rousseau… thường xuyên tìm đến.[5]

Từ Cách mạng Pháp đến thế kỷ 20

Cách mạng Pháp đã mở ra một trang mới trong lịch sử của thư viện. Không như nhiều tài sản hoàng gia khác, thư viện chính thức trở thành Thư viện Quốc gia và không bị tổn hại trong những năm đầy biến động này. Mặc dù quy chế lưu chiểu bị xóa bỏ trong vòng ba năm, số lượng sách của thư viện lại tăng lên đáng kể nhờ những bộ sưu tập được đưa tới từ thư viện của giới tăng lữ và những người đào vong. Ước tính, khoảng 250 nghìn cuốn sách, 14 nghìn bản viết tay và 25 nghìn bản in đã được đưa về Thư viện Quốc gia trong giai đoạn này.[6] Thời kỳ Đốc chính, chế độ Tổng tài, rồi Đệ nhất đế chế lần lượt tiếp nối. Mặc cho những sóng gió của lịch sử, trữ lượng tài liệu của thư viện không ngừng tăng lên. Không chỉ từ Paris hay các tỉnh của Pháp, những cuốn sách của Bỉ, Hà Lan, Đức cũng được chuyển về Thư viện Quốc gia sau những cuộc chinh phạt của Napoléon.[7]
Thế kỷ 19, thư viện bắt đầu phải đối mặt với tình trạng thiếu không gian lưu trữ. Bên cạnh đó, những chậm trễ trong việc xây dựng thư mục cũng gây nên rất nhiều lời kêu ca. Năm 1858, một ủy ban do Prosper Mérimée chỉ đạo đã soạn thảo một bản báo cáo nhằm tổ chức lại thư viện. Hoàng đế Napoléon III chấp nhận một phần của bản dự thảo này và giao cho kiến trúc sư Henri Labrouste chỉ huy việc xây dựng. Vẫn trên khu đất bên con phố Richelieu, nhiều tòa nhà mới mọc lên, trong đó có hai phòng đọc được mở cửa cho công chúng. Từ năm 1874, nhờ sự thúc đẩy của vị tổng quản lý mới Léopold Delisle, danh mục sách in bắt đầu được thực hiện và sau hơn một thế kỷ, tới năm 1981 mới hoàn thành. Những năm cuối thế kỷ 19 cũng là khoảng thời gian thư viện bắt đầu theo đuổi chính sách thu thập bản thảo của các nhà văn danh tiếng, đặc biệt từ sau khi nhận được những di cảo của Victor Hugo vào năm 1881.[8]
Trong suốt thế kỷ 20, Thư viện Quốc gia không ngừng mở rộng và hiện đại hóa. Tại Versailles, ba chi nhánh của thư viện được xây dựng, hoàn thành vào các năm 1934, 1954 và 1971. Cuối thập niên 1930, các phòng thư mục và ấn phẩm định kỳ lần lượt được thành lập. Năm 1946, bộ sưu tập những bản khuôn rập có một phòng lưu trữ riêng tại dinh thự Tubeuf trên phố Vivienne, và từ năm 1954, các bản đồ, bản vẽ cũng được chuyển về đây. Trên các con phố Louvois, Richelieu, nhiều tòa nhà được sửa chữa lại hoặc xây dựng mới, dành cho các không gian lưu trữ và hành chính.[9]

Thư viện Quốc gia hiện đại

Mặc cho những cố gắng không ngừng nghỉ, đến cuối thập niên 1980, những vấn đề cốt lõi của thư viện vẫn không thể giải quyết. Từ khi luật lưu chiểu được sửa đổi vào năm 1925, khối lượng sách của thư viện tăng đều đặn, đòi hỏi những không gian lưu trữ lớn hơn. Bên cạnh đó, số lượng độc giả tới thư viện cũng ngày càng đông—một phần do sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục đại học—khiến những phòng đọc cũ trở nên chật trội. Tại Paris, trụ sở của thư viện bị giới hạn bởi bốn con phố Richelieu, Colbert, Vivienne và Petits-Champs nên việc mở rộng hầu như không thể. Những chi nhánh ở Versailles cùng các trung tâm bảo quản, phục hồi sách ở các tỉnh vẫn không thể đáp ứng đủ nhu cầu không gian lưu trữ. Sau những cuộc tranh luận kéo dài trong suốt thập niên 1980, ngày 14 tháng 7 năm 1988, Tổng thống François Mitterrand thông báo quyết định xây dựng một thư viện mới.[10]
Mùa thu năm 1988, Patrice Cahart, chủ tịch Hội đồng hành chính Thư viện quốc gia, và Michel Melot, giám đốc Thư viện thông tin công cộng, được giao trách nhiệm soạn thảo đề án.[11] Sau nhiều đắn đo, thư viện mới cũng tìm được vị trí bên bờ sông Seine, trong khu phố cũ thuộc Quận 13, ngày nay mang tên Paris Rive Gauche. Năm 1989, Cơ quan Thư viện Pháp chính thức được thành lập. Trên cương vị giám đốc, nhà văn Dominique Jamet đứng ra tổ chức một cuộc thi kiến trúc quốc tế và Ieoh Ming Pei, kiến trúc sư nổi tiếng từng thực hiện dự án Grand Louvre trước đó, giữ vai trò chủ tịch ban giám khảo. Trong bốn đề án cuối cùng còn lại của cuộc thi, nổi bật lên bản thiết kế táo bạo của kiến trúc sư trẻ người Pháp Dominique Perrault.[12] Ngày 21 tháng 8 năm 1989, đích thân Tổng thống François Mitterrand đưa ra quyết định lựa chọn phương án này.[13]
Năm 1991, công trình được tập đoàn Bouygues khởi công xây dựng với chi phí lên tới gần 8 tỷ franc, tốn kém nhất trong số những dự án của “vị tổng công trình sư” François Mitterrand.[14][15] Đầu năm 1994, khi tiến độ thi công đang được đẩy mạnh, Bộ Văn hóa ra quyết định hợp nhất Thư viện Quốc gia và Cơ quan Thư viện Pháp, chính thức khai sinh Thư viện Quốc gia Pháp.[16] Chỉ vài tuần trước khi rời điện Élysée, ngày 30 tháng 3 năm 1995, François Mitterrand khách thành công trình, khi đó vẫn hầu như trống rỗng.[15] Phải đến cuối năm 1996, ngày 20 tháng 12, thư viện mới mang tên François-Mitterrand mới được mở cửa.[13]

Tổ chức

Nhiệm vụ

Thư viện Quốc gia Pháp ngày nay là một cơ quan hành chính dưới sự bảo hộ của Bộ Văn hóa.[16] Trong vai trò thư viện quốc gia, bên cạnh các chức năng tập hợp, bảo quản tài liệu và phục vụ độc giả, thư viện còn có trách nhiệm tiếp nhận lưu chiểu xuất bản phẩm và biên soạn, ấn hành thư mục quốc gia. Theo sắc lệnh thành lập ngày 3 tháng 1 năm 1994, được sửa đổi ngày 9 tháng 11 năm 2006, Thư viện Quốc gia Pháp có bốn nhiệm vụ:

  1. Sưu tầm, biên mục, lưu trữ và làm phong phú toàn bộ phạm vi của tri thức, của di sản quốc gia mà thư viện trong coi, đặc biệt những di sản Pháp ngữ hoặc liên quan tới nền văn minh Pháp.
  2. Bảo đảm khả năng tiếp cận tốt nhất với kho tài liệu, trừ những bí mật được luật bảo vệ, trong điều kiện phù hợp với luật sở hữu trí tuệ và tương hợp với chức năng bảo quản.
  3. Xây dựng, bố trí và trang bị cho các công trình mà Nhà nước giao phó, đặc biệt các công trình do Cơ quan Thư viện Pháp làm chủ đầu tư, cũng như sắp đặt mở cửa đón tiếp cho công chúng.
  4. Giữ gìn, quản lý và khai thác các công trình mà thư viện được trang bị.

Là cơ quan nhận lưu chiểu, Thư viện Quốc gia Pháp tiếp nhận tất cả xuất bản phẩm được sản xuất, xuất bản hay phát hành tại Pháp, từ sách báo, tạp chí, bản đồ, tài liệu hình ảnh, âm thanh… tới các tập tin, huy hiệu… Quy chế lưu chiểu này cũng cho phép xây dựng thư mục quốc gia, thống kê và công bố danh mục tất cả các xuất bản phẩm tại Pháp.[17] Để phát triển bộ sưu tập sách, hàng năm Thư viện Quốc gia Pháp dành một phần quan trọng của ngân sách cho việc mua lại tài liệu, song song với những hoạt động trao đổi cùng các thư viện khác.[18] Chức năng bảo tồn sách của thư viện gồm hai nhiệm vụ chính. Với những tài liệu cũ, các trung tâm chuyên biệt sẽ chịu trách nhiệm phục chế, tùy thuộc từng loại hình của tài liệu. Bên cạnh đó, thư viện cũng phải đảm bảo những điều kiện lưu trữ tốt nhất cho bộ sưu tập. Trong vai trò một thư viện nghiên cứu lớn, Thư viện Quốc gia Pháp còn có nhiệm vụ thiếp lập hệ thống thư mục riêng, phục vụ nhu cầu tra cứu của độc giả.[19]

Hành chính và nhân sự

Thư viện Quốc gia Pháp được quản lý bởi một hội đồng hành chính gồm chủ tịch thư viện cùng nhiều nhóm thành viên giữ các vai trò khác nhau. Bên cạnh các thành viên thuộc thư viện, đại diện cho các bộ phận, hội đồng hành chính còn có sự góp mặt của cả những thành viên đại diện cho các cơ quan khác. Trên cương vị bảo trợ, Bộ Văn hóa là chính cơ quan có nhiều đại diện nhất, các bộ Kinh tế Tài chính, Giáo dục Đại học, Ngoại giao và Bộ Khoa học cũng đều có một thành viên tham gia. Không chỉ vậy, hội đồng hành chính của thư viện còn có sự góp mặt của các thành viên Viện hàn lâm, giám đốc các nhà xuất bản lớn, và một vài cơ quan văn hóa khác.[20] Chủ tịch hội đồng hành chính, cũng là chủ tịch thư viện, được chỉ định bởi một sắc lệnh có nhiệm kỳ 3 năm và tối đa hai nhiệm kỳ. Từ 2 tháng 4 năm 2007, giữ cương vị chủ tịch thư viện là nhà văn Bruno Racine, người trước đó cũng từng giữ chức vụ giám đốc Trung tâm văn hóa Georges-Pompidou.[21] Cùng với hội đồng hành chính, Thư viện Quốc gia Pháp còn có một hội đồng khoa học trong vai trò tư vấn.[22]
Tổ chức của thư viện được chia thành nhiều phòng ban nhỏ, chia sẻ các chức năng hành chính, bảo quản, hợp tác, nghiên cứu… Năm 2007, tổng số nhân viên của Thư viện Quốc gia Pháp lên tới 2.662 người, trong đó khoảng hai phần ba là viên chức.[23] Số còn lại bao gồm các nhân viên ký hợp đồng và những người được hưởng lương theo giờ, phần đông là những sinh viên làm thêm. Đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động của thư viện là những nhân viên phục vụ công chúng độc giả và bộ phận quản lý tài liệu, chiếm 64% tổng số nhân viên. Đứng thứ hai, chiếm 12% là các nhân viên quản lý hành chính, chịu trách nhiệm về ngân sách, tài chính, nhân sự… Phần còn lại thuộc về bộ phận kỹ thuật, tin học và bộ phận phụ trách các hoạt động văn hóa.[24]

Ngân sách

Với vai trò một cơ quan văn hóa quan trọng, Thư viện Quốc gia Pháp được hưởng một ngân sách rất lớn từ nhà nước và doanh thu từ các hoạt động của thư viện chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Ngân sách năm 2008 của thư viện lên đến 280,6 triệu euro, trong đó khoảng 90% do chính phủ cấp thông qua Bộ Văn hóa.[25][26] Nếu so sánh với một vài thư viện quan trọng khác trên thế giới, ngân sách Thư viện Quốc gia Pháp thấp hơn Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (600 triệu đô la) nhưng gấp hơn hai lần ngân sách Thư viện Anh (100 triệu bảng) và sáu lần ngân sách Thư viện Quốc gia Đức (43 triệu euro).[27][28][29]
Phần lớn ngân sách của thư viện được dành cho các chi phí duy trì hoạt động. Năm 2008, Thư viện Quốc gia Pháp sử dụng gần 125 triệu euro để trả lương cho nhân viên và chi phí dành cho cơ sở vật chất cũng lên gần 105 triệu euro.[30] Chỉ riêng tại địa điểm Francois-Mitterrand, các dịch vụ phục vụ độc giả cũng đã tiêu tốn hết 35 triệu euro trong năm 2007.[31] Bên cạnh đó, thư viện cũng duy trì những khoảng chi không nhỏ cho mục đích đầu tư. Trong khoảng thời gian gần đây, mỗi năm thư viện dành từ 15 đến 20 triệu euro để làm giàu bộ sưu tập sách.[30]
Các hoạt động trong năm 2008 cũng giúp Thư viện Quốc gia Pháp thu về 12,75 triệu euro. Trong số này, phí thư viện và doanh thu từ các dịch vụ phục vụ độc giả chỉ chiếm một phần nhỏ, khoảng 2,5 triệu euro. Những khoản thu đáng kể nhất thư viện có được nhờ một số sản phẩm và tiền tài trợ của các tổ chức, cá nhân bảo trợ. Các triển lãm, bản quyền tác giả, hoạt động của nhà hàng và quán và phê phục vụ công chúng, cho thuê địa điểm… cũng góp một phần nhỏ vào doanh thu của thư viện.[30]

Các địa điểm

Địa điểm Richelieu-Louvois

Phòng đọc Ovale của thư viện Richelieu

Richelieu-Louvois được xem như địa điểm lịch sử của Thư viện Quốc gia Pháp, nằm ở Quận 2, trung tâm Paris. Bao bọc bởi bốn con phố Louvois, Richelieu, Petits-Champs và Vivienne, địa điểm Richelieu mang vẻ ngoài “trung bình” nhưng lại sở hữu những căn phòng được trang trí cầu kỳ và lộng lẫy. Ngược dòng lịch sử, khi Jean-Baptiste Colbert cho chuyển thư viện hoàng gia về phố Vivienne vào năm 1666, bên phố Richelieu là vị trí của cung điện Mazarin, dinh thự của vị Hồng y Mazarin nổi tiếng.[32] Đầu thế kỷ 18, những tòa nhà của cung điện dần được thư viện hoàng gia mua lại, và từ đó, các kiến trúc sư Robert de Cotte, Louis Visconti tiếp nối cải tạo công trình. Nhưng phải đến thời Đệ nhị đế chế, nhờ kiến trúc sư Henri Labrouste, và sau đó tiếp nối bởi Jean-Louis Pascal, thư viện hoàng gia mới bước vào cuộc “canh tân” lớn.[33] Trải qua thế kỷ 20 với không nhiều thay đổi, từ cuối thập niên 2000, địa điểm Richelieu bắt đầu được trùng tu và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2015.[34]
Từ khi khánh thành thư viện François-Mitterrand, dù phần lớn kho sách của Thư viện Quốc gia Pháp được chuyển về địa điểm mới, Richelieu-Louvois vẫn là nơi lưu trữ nhiều bộ sưu tập đặc biệt. Với tổng diện tích 58.500 mét vuông, bên cạnh các không gian lưu trữ và hành chính, địa điểm Richelieu còn sở hữu 9 phòng đọc cùng ba không gian triển lãm.[35] Phòng đọc chính ở đây mang tên Labrouste, tác phẩm của Henri Labrouste, là một ví dụ tuyệt vời cho kiến trúc kết cấu thép thế kỷ 19. Từng một thời gian dài được xem như biểu tượng của thư viện, phòng Labrouste ngày nay đã trở thành một di tích lịch sử nhưng vẫn tiếp tục mở cửa đón tiếp độc giả.[36] Phòng đọc lớn thứ hai mang tên Phòng Ovale, dấu ấn của kiến trúc sư Jean-Louis Pascal. Tuy nhỏ hơn phòng Labrouste, phòng Ovale cũng có khoảng 200 chỗ ngồi dành độc giả.[37]
Richelieu-Louvois hiện nay là địa điểm của các phòng lưu trữ: Nghệ thuật trình diễn, Bản đồ, Tranh in và nhiếp ảnh, Âm nhạc, Bản thảo, Huy hiệu và tiền cổ, cuối cùng là phòng Nghiên cứu thư mục. Rất nhiều tài liệu quý hiếm của Thư viện Quốc gia Pháp được gìn giữ ở đây, trong số đó có thể kể đến những bản thảo của Colbert, Balzac, Hugo, Flaubert, Proust… hay các tác phẩm nhiếp ảnh của Nadar, Robert Doisneau… Phòng lưu trữ Huy hiệu và tiền cổ, thường được gọi Cabinet des Médailles, còn mang chức năng một bảo tàng, mở cửa miễn phí cho công chúng tới thăm vào tất cả các buổi chiều trong tuần.[38]

Địa điểm François-Mitterrand

Địa điểm François-Mitterrand:

   Haut-de-jardin.    Rez-de-jardin

Địa điểm François-Mitterrand, còn được gọi Địa điểm Tolbiac, có vị trí bên bờ sông Seine, thuộc khu phố hiện đại Paris Rive Gauche. Công trình mang dáng vẻ bề ngoài đồ sộ và sắc nét, điểm gặp gỡ giữa ý tưởng kiến trúc của Dominique Perrault và quan niệm của Tổng thống François Mitterrand về một thư viện biểu tượng.[39] Tác phẩm của Perrault nổi bật với bốn tòa tháp lớn cao 79 mét, tượng trưng cho những cuốn sách đang mở, toàn bộ mặt ngoài sử dụng vật liệu thủy tinh trong suốt.[40] Tên của bốn tòa tháp cũng tương trưng cho những lĩnh vực tài liệu lưu trữ: Tháp Thời Gian dành cho triết học, lịch sửkhoa học xã hội, Tháp Pháp Luật dành cho luật, kinh tếchính trị, Tháp Số dành cho khoa họccông nghệ, Tháp Văn Chương dành cho văn họcnghệ thuật. Ở chính giữa các tòa tháp, một khu vườn lớn được bố trí chìm sâu xuống, rộng khoảng 11 nghìn mét vuông, đem lại cho thư viện vẻ yên tĩnh, đối lập với sự ồn ã của thành phố bên ngoài.[35]
Các phòng đọc của thư viện François-Mitterrand nằm ở hai tầng phía dưới, có hành lang chạy dọc theo khu vườn. Hầu hết tường, trần của các phòng đọc và hành lang đều được đặt những tấm lưới đan bằng sợi thép không rỉ giúp cách âm.[40] Tầng trên, Haut-de-jardin dành cho Thư viện học tập, mở cửa cho tất cả công chúng trên 16 tuổi được tự do vào lựa chọn. Các tài liệu gồm sách, ấn phẩm định kỳ và tài liệu thính thị thuộc lĩnh vực kiến thức chung được lưu trữ trong nhiều căn phòng dọc khu vườn. Hai khoảng không gian hai phía đầu, dưới chân các tòa tháp, là nơi đón tiếp độc giả. Ngoài ra, Haut-de-jardin có những không gian dành cho triển lãm và phòng thư mục.[41] Khác với Thư viện học tập, tại Thư viện nghiên cứu dưới tầng Rez-de-jardin, độc giả không được phép lựa chọn sách tại giá. Thay vào đó, thư viện cho lắp đặt một hệ thống đường ray nội bộ dài 8 km dẫn tới 150 điểm lấy sách để phục vụ độc giả. Rez-de-jardin cũng chính là điểm lưu trữ của bộ sưu tập các tài liệu quý hiếm của Thư viện Quốc gia Pháp.[42] Tổng cộng hai tầng Haut-de-jardinRez-de-jardin bao gồm 23 phòng đọc, diện tích 40 nghìn mét vuông, có thể đón tiếp 3.314 độc giả.[43]
Địa điểm François-Mitterrand hiện nay là nơi lưu trữ lớn nhất của Thư viện Quốc gia Pháp. Với tổng diện tích sử dụng 159.855 mét vuông, thư viện dành 55.220 mét vuông dành cho mục đích phục vụ công chúng, 57.560 mét vuông cho lưu trữ và 16.240 mét vuông dành cho văn phòng. Ngoài hai tầng Haut-de-jardinRez-de-jardin, các tòa tháp đều dành 11 tầng cho chức năng lưu trữ tài liệu. Bên cạnh đó, địa điểm François-Mitterrand còn bao gồm 2 không gian triển lãm, 2 phòng hội thảo cùng các không gian nhà hàng, quán cà phê, hiệu sách… phục vụ công chúng độc giả của thư viện.[35]

Thư viện Arsenal

Thư viện Arsenal nằm ở số 1 phố Sully, thuộc Quận 4, Paris. Địa điểm của thư viện trước đây là xưởng tàu—arsenal trong tiếng Pháp—do vua Louis II xây dựng vào năm 1512, sau đó được Công tước Sully sửa chữa lại rồi chuyển đến sống từ khoảng đầu thế kỷ 17. Những cuốn sách đầu tiên của thư viện có được nhờ bộ sưu tập của Hầu tước Paulmy, một học giả, nhà ngoại giao danh tiếng, bộ trưởng của vua Louis XV.[44] Say mê sách vở, Hầu tước Paulmy đã tập hợp được khoảng 60 nghìn tác phẩm, chia thành năm lĩnh vực văn chương, lịch sử, thần học, khoa học và nghệ thuật, và cuối cùng là pháp luật.[45] Không muốn bộ sưu tập sách bị phân tán sau khi mình qua đời, năm 1785, Hầu tước Paulmy bán lại thư viện cho Bá tước Artois, em trai vua Louis XVI.[46] Thời kỳ Cách mạng Pháp, bộ sưu tập sách bị xem như tài sản của những người đào vong, trở thành thư viện và mở cửa cho công chúng vào năm 1797. Trong suốt thế kỷ 19, dưới sự quản lý của những thủ thư như Charles Nodier và José-Maria de Heredia, bộ sưu tập sách của thư viện dần thiên về văn học và sân khấu. Tới năm 1934, thư viện Arsenal được sát nhập về Thư viện Quốc gia Pháp, trở thành một chi nhánh chuyên về lĩnh vực văn học.[46]
Thư viện Arsenal hiện nay có tổng diện tích sàn khoảng 10 nghìn mét vuông, trong đó 7.484 mét vuông sử dụng. Đón tiếp một số lượng độc giả không lớn, thư viện chỉ có 119 mét vuông cho phòng đọc với 48 chỗ ngồi.[35] Công chúng độc giả của thư viện Arsenal phần đông là sinh viên hoặc giới nghiên cứu, cùng với khoảng 10% là giới hưu trí. Tổng cộng, mỗi năm thư viện đón tiếp khoảng từ 18 đến 19 nghìn độc giả.[47] Bộ sưu tập tài liệu của thư viện vẫn chủ yếu về hai lĩnh vực lịch sử và văn học, trong đó có một số lượng lớn sách in, được phần chia thành trước và sau năm 1880, khoảng 12 nghìn bản viết tay từ thời Trung Cổ cho tới ngày nay, khoảng 100 nghìn bản in gồm cả chân dung, tranh biếm họa, bản đồ, cuối cùng, một lượng lớn những bản chép nhạc và các tạp chí.[46]

Thư viện-bảo tàng Opéra

Opéra Garnier, địa điểm của Thư viện-bảo tàng Opéra

Bộ sưu tập của Thư viện-bảo tàng Opéra khởi nguồn từ Viện hàn lâm Hoàng gia Âm nhạc, tiền thân của Nhà hát Quốc gia Paris ngày nay.[48] Kể từ khi thành lập vào 28 tháng 6 năm 1669 cho tới giữa thế kỷ 19, Viện hàn lâm Hoàng gia Âm nhạc không có một bộ phận lưu trữ chính thức nào. Khi nhà hát Opéra Garnier được quyết định xây dựng năm 1862, phòng lưu trữ và thư viện mới được tính đến trong bản thiết kế của kiến trúc sư Charles Garnier. Năm 1866, thư viện cùng phòng lưu trữ được thành lập, nhưng sau đó nhanh chóng sát nhập làm một và từ năm 1881, trở thành một bảo tàng mở cửa cho công chúng. Thời gian đầu, bảo tàng thuộc Phòng Mỹ thuật Nhà nước. Đến năm 1935, bảo tàng được sát nhập về Thư viện Quốc gia Pháp, và khi Phòng lưu trữ Âm nhạc của thư viện thành lập năm 1942, bảo tàng Opéra thuộc về bộ phận mới này.[49]
Thư viện-bảo tàng Opéra, hiện nay vẫn nằm trong nhà hát Opéra GarnierQuận 9, là nơi lưu trữ các tài liệu và hiện vật về nghệ thuật sân khấu và nghệ thuật múa. Bộ sưu tập của thư viện bảo tồn tất cả những di sản của Nhà hát Quốc gia Paris và Opéra Comique—một nhà hát khác ở Quận 2—bao gồm những bản nhạc, kịch bản, phục trang, trang trí sân khấu cùng các áp phích, tờ chương trình… của những buổi trình diễn trong suốt lịch sử.[49] Bên cạnh đó, thư viện cũng lưu giữ cả những tài liệu kiến trúc về hai nhà hát danh tiếng này. Cũng giữ vai trò một bảo tàng, thư viện Opéra trưng bày không ít những hiện vật giá trị về sân khấu, như các mẫu trang trí, tranh, các đồ trang sức diễn viên… Đặc biệt, thư viện sở hữu rất nhiều kỷ vật về đoàn ba lê nổi tiếng Ballets Russes‎.[48]
Phòng đọc thư viện Opéra nằm ở phía Tây nhà hát, vốn được xây dựng để làm phòng khách cho Hoàng đế Napoléon III. Năm 1991, căn phòng được sửa lại và mở cửa cho công chúng độc giả từ ngày 1 tháng 1 năm 1992. Hiện nay nơi đây chỉ có thể đón tiếp 18 độc giả, với khoảng 500 tựa sách thông dụng cùng một số tài liệu khác.[50]

Những địa điểm ngoài Paris

Ngoài Paris, Thư viện Quốc gia Pháp còn có một chi nhánh tại Avignon cùng hai trung tâm kỹ thuật ở Bussy-Saint-GeorgesSablé-sur-Sarthe. Chi nhánh Maison Jean Vilar ở Avignon mang tên nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng Jean Vilar, người sáng lập Liên hoan Avignon và là giám đốc Nhà hát quốc gia đại chúng từ 1951 tới 1963. Vào năm 1977, khi thành phố Avignon mua lại dinh thự Crochans, chính quyền thành phố cùng Tổ chức Jean Vilar và Thư viện Quốc gia Pháp đã thống nhất quyết định thành lập Maison Jean Vilar, một trung tâm tư liệu về Jean Vilar và Liên hoan Avignon.[51] Maison Jean Vilar được khánh thành tháng 7 năm 1979, trở thành một chi nhánh địa phương của Phòng lưu trữ Nghệ thuật trình diễn, thuộc Thư viện Quốc gia Pháp. Bên cạnh những không gian cho gặp gỡ và triển lãm, Maison Jean Vilar còn bao gồm một thư viện và một trung tâm lưu trữ hình ảnh mở cửa rộng rãi cho công chúng. Bộ sưu tập của Maison Jean Vilar tập hợp một số lượng lớn tài liệu về Jean Vilar và Liên hoan Avignon, ngoài ra còn có khoảng 30 nghìn cuốn sách và tạp chí về các môn nghệ thuật trình diễn.[52]
Nằm cách Paris 30 km, trung tâm của Thư viện Quốc gia Pháp tại Bussy-Saint-Georges được xây dựng năm 1995, giữ nhiệm vụ bảo quản và xử lý các tài liệu in cùng những dự liệu âm thanh và hình ảnh. Tòa nhà của trung tâm cũng do kiến trúc sư Dominique Perrault thiết kế, bao gồm nhiều xưởng phục chế và các kho lưu trữ. Bên cạnh chức năng chính, trung tâm Bussy-Saint-Georges cũng tham gia chương trình số hóa tài liệu và in sao các vi phẩm.[53] Trung tâm kỹ thuật thứ hai của thư viện mang tên Joël-Le-Theule, nằm tại Sablé-sur-Sarthe, trong một lâu đài xây dựng từ thế kỷ 18. Ở đây, Thư viện Quốc gia Pháp tập trung tất cả các kỹ thuật phục chế tài liệu với đội ngũ nhân viên gần 80 người. Sau khi địa điểm François-Mitterrand được xây dựng với những xưởng bảo quản riêng, trung tâm Joël-Le-Theule chủ yếu nhận nhiêm vụ phục chế tài liệu cho các thư viện Richelieu, Opéra và Arsenal.[54]

Kho tài liệu

Thư viện Quốc gia Pháp
Trữ lượng tài liệu năm 2005
Sách và ấn phẩm 13 triệu
Bản thảo 250.000 tập
Ấn bản định kỳ 350.000 tựa
Bản in 12 triệu
Bản đồ 800.000
Bản chép nhạc 2 triệu
Âm thanh 1 triệu tài liệu
Video 98.000 tài liệu
Đa phương tiện 80.000 tài liệu
Tiền và huy hiệu 530.000 vật phẩm
Văn bản số 117.000
Hình ảnh số 250.000
CD và dữ liệu 229 tựa
Báo điện tử 2.600 tựa
 Nguồn: Thư viện Quốc gia Pháp[55]

Trải qua hơn 6 thế kỷ, từ bộ sưu tập gần một nghìn bản chép tay của Charles V năm 1368, Thư viện Quốc gia Pháp ngày nay sở hữu khoảng 13 triệu cuốn sách, tổng số đơn vị lưu trữ lên tới con số hơn 30 triệu.[55] Không chỉ là thư viện lớn nhất nước Pháp, Thư viện Quốc gia Pháp còn là một trong những thư viện quan trọng nhất trên thế giới, bên cạnh Thư viện Quốc hội Hoa KỳWashington, Thư viện AnhLondon, Thư viện Quốc gia Tây Ban NhaMadrid, hay Thư viện Quốc gia NgaSankt-Peterburg
Những cuốn sách thư viện có được ngày nay mang nhiều nguồn gốc xuất xứ. Đầu tiên, có lẽ phải kể tới những cuốn sách chép tay được đóng theo yêu cầu hoàng gia Pháp. Năm 1537, sắc lệnh lưu chiểu do François I ban hành giúp thư viện có thêm một nguồn tài liệu quan trọng. Trong suốt thế kỷ 19, số lượng sách nộp lưu chiểu tăng mạnh mẽ và ngày nay trở thành nguồn tài liệu chính của thư viện. Không chỉ riêng những ấn phẩm, từ năm 1993, quy chế lưu chiểu còn áp dụng cho cả dữ liệu số và thông tin xuất bản trên Internet.[56] Riêng trong năm 2008, Thư viện Quốc gia Pháp đã nhận được 69.958 cuốn sách, 321.991 ấn phẩm định kỳ, 836 triệu tập tin cùng nhiều tài liệu dạng khác.[57] Nguồn bổ sung tài liệu quan trọng thứ hai của thư viện chính là những hoạt động mua bán. Nếu như quy chế lưu chiểu chỉ giúp thư viện có thêm những ấn phẩm mới xuất bản thì hoạt động tìm mua tài liệu lại bổ sung cho bộ sưu tập những cuốn sách của tất cả những thời kỳ, tất cả những lĩnh vực, trong đó không ít tư liệu quý hiếm. Vào năm 2002, thư viện đã trả 489.750 euro trong một cuộc đấu giá của Sotheby’s để dành quyền sở hữu tấm ảnh cổ nhất được biết đến trong lịch sử nhiếp ảnh, tác phẩm của nhà phát minh Nicéphore Niépce‎.[58] Ngày nay, mỗi năm Thư viện Quốc gia Pháp mua thêm khoảng 60 nghìn cuốn sách.[56] Bên cạnh đó, những tặng phẩm, di vật và trao đổi tài liệu cũng giúp thư viện làm giàu thêm bộ sưu tập sách.
Kho tài liệu của Thư viện Quốc gia Pháp hiện nay được chia thành 14 phòng lưu trữ (département), đặt tại 5 địa điểm. Richelieu-Louvois, địa điểm lịch sử ở trung tâm thành phố, được dành cho những bộ sưu tập đặc biệt: nghệ thuật trình diễn, bản đồ, tranh in và nhiếp ảnh, âm nhạc, bản thảo, huy hiệu và tiền cổ cùng các tài liệu thư mục. Những lĩnh vực chính phần lớn nằm trong các tòa nhà của thư viện François-Mitterrand, thuộc các phòng lưu trữ: Lịch sử, triết học và khoa học nhân văn; Luật, kinh tế và chính trị; Khoa học và công nghệ; Văn học và nghệ thuật. Địa điểm François-Mitterrand cũng được dành cho các phòng Lưu trữ sách quý hiếm, Tài liệu thính thị và Nghiên cứu thư mục. Để bảo quản tốt nhất bộ sưu tập, các không gian lưu trữ ở đây luôn được giữ trong điều kiện độ ẩm 50% và nhiệt độ 18 độ C.[59]
Trong 13 triệu cuốn sách của Thư viện Quốc gia Pháp, khoảng 600 nghìn cuốn được mở cho công chúng tự do tiếp cận.[55] Thư viện cũng đã số hóa đưa lên Gallica 115.745 chuyên khảo, 3.517 tựa ấn phẩm định kỳ, 5.008 bản đồ, 1.056 tài liệu âm thanh, 4.164 bản viết tay, 2.127 bản chép nhạc cùng 111.644 hình ảnh.[60] Là một trong những thư viện quan trọng nhất thế giới, Thư viện Quốc gia Pháp lưu giữ rất nhiều tài liệu giá trị và đặc biệt quý hiếm, không chỉ tiếng Pháp mà còn hàng trăm ngôn ngữ khác. Trong các kho lưu trữ của thư viện, có thể tìm thấy những bản thảo của các nhà văn danh tiếng, hàng nghìn những cuốn sách được xuất bản vào giai đoạn sơ khai của nghề in, những bản chép tay Kinh Thánh, những tấm bản đồ cổ… Không ít những tài liệu của Việt Nam, trong đó có cả 75 tựa sách chữ HánNôm quý hiếm, cũng đang được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp.[40]

Hoạt động

Biên mục

Giống như những thư viện nghiên cứu lớn khác, Thư viện Quốc gia Pháp có nhiệm vụ xây dựng hệ thống thư mục riêng, giúp độc giả tra cứu và khai thác kho tài liệu. Công việc biên mục này đã được bắt đầu từ rất lâu trong lịch sử. Ngay từ thế kỷ 17, các thủ thư như Gabriel Naudé và Nicolas Clément đã cố gắng tổ chức lại kho tài liệu và xây dựng những chỉ dẫn thư mục đầu tiên. Mặc dù vậy, trong thế kỷ 19 và cho tới tận đầu thế kỷ 20, một phần của bộ sưu tập vẫn cần đến những nhân viên bảo quản để kiểm tra sự tồn tại hay tìm mã số của một cuốn sách. Việc xây dựng thư mục đầy đủ cho kho tài liệu in thực hiện từ cuối thế kỷ 19, sau gần một thế kỷ, tới năm 1981 mới hoàn thành.[61] Nhờ sự phát triển của công nghệ, thư mục của Thư viện Quốc gia Pháp từng bước được tin học hóa, giúp các độc giả dễ dàng tra cứu, tìm kiếm tài liệu. Catalogue général de la BnF, thư mục số của thư viện hiện nay với hơn 10 triệu chỉ dẫn, bao gồm đầy đủ thông tin về kho tài liệu của địa điểm François-Mitterrand và một phần quan trọng của các địa điểm khác.[62] Song song với các thư mục số, Thư viện Quốc gia Pháp vẫn duy trì hệ thống thư mục truyền thống như thư mục in hay sử dụng phiếu. Nhiều trong số các thư mục in chính của Thư viện Quốc gia Pháp cũng có thể tra cứu tại nhiều thư viện khác, ở cả Pháp và trên thế giới.[63]
Trong vai trò một trung tâm thư mục học và cơ quan tiếp nhận lưu chiểu tài liệu, Thư viện Quốc gia Pháp còn có chức năng biên soạn và xuất bản thư mục quốc gia. Hoạt động quan trọng này phản ánh và giúp đánh giá toàn bộ ngành in ấn, xuất bản. Hiện nay, Thư mục quốc gia Pháp thống kê tất cả các tài liệu xuất bản hay phát hành tại Pháp và được Thư viện Quốc gia tiếp nhận theo luật lưu chiểu.[64] Trong số sách được xuất bản tại Pháp ngày nay, gần một nửa chỉ được duy nhất Thư mục quốc gia kiểm kê.[65] Cũng giống như thư mục riêng của thư viện, thư mục quốc gia được số hóa đăng tải trên trang chính thức của Thư viện Quốc gia Pháp.

Phục vụ công chúng

Những độc giả nhỏ tuổi tới thăm triển lãm Babar, Harry Potter et Cie, năm 2008

Hai bộ phận tiếp xúc với công chúng trước tiên của Thư viện Quốc gia Pháp là những điểm đón tiếp và hướng dẫn độc giả, nơi các nhân viên sẽ giải đáp những câu hỏi chung về thư viện. Riêng bộ phận hướng dẫn độc giả còn có thêm chức năng chỉ dẫn tài liệu, cung cấp thông tin cho độc giả về kho sách của thư viện và đôi khi hướng dẫn họ tìm đến những cơ quan khác phù hợp với nhu cầu tra cứu hơn.[66] Thư viện Quốc gia Pháp cũng có một bộ phận chuyên trách trả lời độc giả qua thư, Internet hoặc điện thoại, giúp giải đáp những thắc mắc về tài liệu hay những câu hỏi kiến thức chung, ví dụ Tượng Nữ thần Tự do cao bao nhiêu mét hay Tổ chức Bác sĩ không biên giới được thành lập ngày nào.[67] Trong năm 2008, thư viện đã nhận được 9.194 câu hỏi từ độc giả, trong đó 55% qua Internet và 44% bằng điện thoại.[68]
Thư viện Quốc gia Pháp là một địa điểm dành cho cả những độc giả phổ thông và giới nghiên cứu. Ở địa điểm chính François-Mitterrand, Thư viện học tập đón tiếp tất cả những độc giả trên 16 tuổi và cho phép họ được vào chọn lựa sách ngay tại giá. Công chúng đến với thư viện có thể mua thẻ và đăng ký thành viên ngay tại các điểm đón tiếp với ba loại: vé một ngày, thẻ 15 ngày và thẻ một năm.[69] Ngược lại, để có thể tra cứu tài liệu ở Thư viện nghiên cứu—gồm bốn địa điểm François-Mitterrand, Richelieu, Arsenal và Opéra—độc giả cần thỏa mãn những tiêu chuẩn tương đối khắt khe. Đầu tiên, họ phải là những độc giả trên 18 tuổi và cần chứng thực nghiên cứu của mình trong khuôn khổ trường đại học, công việc chuyên môn hoặc nghiên cứu cá nhân. Công việc nghiên này cần thiết đến bộ sưu tập của Thư viện Quốc gia và không thể tìm thấy ở những thư viện khác. Cuối cùng, họ phải trải qua một cuộc phỏng vấn cá nhân với một thủ thư của thư viện.[70]
Để giúp công chúng khai thác tài liệu tốt hơn, Thư viện Quốc gia Pháp cũng tổ chức các lớp học tại địa điểm François-Mitterrand, hướng dẫn độc giả cách sử dụng các công cụ tài liệu, sử dụng và tìm kiếm thông tin trên Internet.[71] Bên cạnh thư viện số Gallica, độc giả cũng có thể truy cập và tra cứu những dữ liệu số của thư viện tại những điểm truy cập được đặt trong tất cả các phòng đọc.[72] Dành cho những độc giả khuyết tật, Thư viện Quốc gia Pháp có những chính sách hỗ trợ riêng. Nhiều phòng đọc tại địa điểm François-Mitterrand được trang bị những dụng cụ đặc biệt để giúp đỡ những người khiếm thị có thể tra cứu tài liệu. Tất cả những độc giả khuyết tật và người đi kèm cũng đều được miễn phí vào các phòng đọc của Thư viện Quốc gia Pháp.[73]

Hoạt động văn hóa, giáo dục

Cùng với các hoạt động phục vụ độc giả, Thư viện Quốc gia Pháp cũng là nơi tổ chức nhiều hoạt động văn hóa và giáo dục đa dạng. Tại sảnh phía Đông của địa điểm François-Mitterrand, một không gian trưng bày được bố trí giúp công chúng khám phá tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của thư viện. Ở đây, trong một gallery nhỏ, công chúng cũng được chiêm ngưỡng những tài liệu quý giá được thư viện giới thiệu hàng tháng.[74] Một hoạt động văn hóa thường xuyên và quan trọng của Thư viện Quốc gia Pháp là những cuộc triển lãm, cũng với mục đích giúp công chúng khám phá những tài liệu quý hiếm của thư viện. Trong năm 2008, thư viện đã trưng bày cho công chúng chiêm ngưỡng 5.000 tài liệu trong 16 cuộc triển lãm của thư viện và 176 cuộc triển lãm khác tại Pháp và các nước khác được thư viện cho mượn hiện vật. Tổng cộng, các triển lãm của thư viện trong năm 2008 đã thu hút hơn 250 nghìn khách tham quan.[75]
Một hoạt động văn hóa quan trọng khác của Thư viện Quốc gia Pháp là những buổi tọa đàm, gặp gỡ. Những sự kiện này là dịp để công chúng độc giả được giao lưu tiếp xúc với những nhà văn, trí thức nổi tiếng, cũng là nơi gặp gỡ, tranh luận của giới học giả. Năm 2008, Thư viện Quốc gia Pháp đã tổ chức hoặc đón tiếp 130 sự kiện gặp gỡ với tổng cộng 1.100 giờ chương trình.[76] Nhiều hoạt động khác của thư viện cũng được tổ chức dành riêng cho nhóm công chúng nhỏ tuổi. Những cuộc triển lãm dành cho thiếu nhi của Thư viện Quốc gia Pháp thường xuyên thu hút nhiều nhóm học sinh cùng giáo viên tới thăm.

Nghiên cứu và hợp tác

Một chức năng quan trọng khác của Thư viện Quốc gia Pháp là hợp tác cùng những cơ quan khác—cả của Pháp và thế giới—tham gia các chương trình nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu của thư viện đã được ghi trong sắc lệnh thành lập, ngày nay bao gồm ba chương trình: những nghiên cứu được trợ cấp của chính phủ và tài trợ của Bộ Văn hóa cùng CNRS; những nghiên cứu nhờ ngân sách của thư viện; những nghiên cứu hợp tác cùng các cơ quan của châu Âu và thế giới.[77] Cả ba chương trình nghiên cứu này đều xoay quanh các lĩnh vực: thư mục học; bảo tồn tài liệu; lịch sử sách; di sản âm nhạc và nghệ thuật trình diễn; khoa học tiền cổ; các công nghệ mới; bảo vệ, sử dụng và lưu hành thư tịch.[78] Bên cạnh đó, Thư viện Quốc gia Pháp còn đón nhận các nghiên cứu sinh từ những trường đại học, các nhân viên từ những cơ quan bảo trợ cùng đến tham gia các hoạt động nghiên cứu.
Ở trong nước, Thư viện Quốc gia Pháp giữ vai trò trung tâm của những hiệp hội thư viện. Cùng với 64 cơ quan khác, Thư viện Quốc gia lập nên một hệ thống các trung tâm lưu chiểu, trong đó 26 trung tâm lưu chiểu ấn bản phẩm và 39 trung tâm lưu chiểu xuất bản phẩm. Bên cạnh đó, Thư viện Quốc gia Pháp cũng đứng đầu một hiệp hội bao gồm 89 thành viên cùng nhau hợp tác trao đổi tài liệu.[79] Các thư viện của Pháp còn cùng nhau xây dựng Catalogue Collectif de France, một thư mục chung cho phép công chúng qua Internet tra cứu tìm kiến tài liệu với tổng cộng hơn 20 triệu chỉ dẫn.[80]
Cùng với 48 thư viện quốc gia khác, Thư viện Quốc gia Pháp tham gia Thư viện châu Âu, một trang web giúp các độc giả truy cập vào nguồn tài nguyên của các thư viện thành viên. Thư viện Quốc gia Pháp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Europeana, thư viện số do Ủy ban châu Âu cùng các quốc gia thành viên tài trợ nhằm phổ biến những di sản văn hóa đa dạng của châu lục. Tính tới thời điểm 1 tháng 11 năm 2008, nước Pháp—với sự tham gia của Bộ Văn hóa, Thư viện Quốc gia, Cité de la musique và Institut national de l’Audiovisuel—đã đóng góp 52% vào số tài liệu của Europeana.[81][82] Các quốc gia nói tiếng Pháp cũng cùng nhau xây dựng Thư viện số Pháp ngữ mà Thư viện Quốc gia Pháp đóng vai trò một thành viên quan trọng. Ngoài ra, thư viện còn hợp tác, tham gia trao đổi tài liệu cùng nhiều thư viện khác trên thế giới, đặc biệt là Thư viện Quốc hội Hoa KỳThư viện Quốc gia Trung Quốc. Thư viện cũng từng tặng lại cho Thư viện Quốc gia Việt Nam bộ vi phim 10 nghìn tựa sách xuất bản tại Việt Nam trước tháng 10 năm 1954.[83]

Độc giả

Độc giả của thư viện tại địa điểm François-Mitterrand

Là một thư viện lớn, Thư viện Quốc gia Pháp phục vụ một lượng công chúng đông đảo với những thành phần độc giả đa dạng. Trong năm 2008, các phòng đọc của thư viện đã đón tiếp 950.331 độc giả, trong đó gần một phần ba là người nước ngoài.[84] Bên cạnh các sinh viên, giới nghiên cứu, trong những người đến với thư viện còn có giới hưu trí, những người làm việc trong ngành thư viện và cả những khách du lịch.
Năm 2008, Thư viện học tập tại địa điểm François-Mitterrand đã cấp thẻ năm cho 34.573 độc giả, bên cạnh 943 người khác mua thẻ 15 ngày. Số lượng độc giả nghiên cứu đăng ký trong năm 2008 cũng lên tới hơn 30 nghìn người, trong đó 10% nghiên cứu với tư cách cá nhân.[85] Trung bình, trong mỗi ngày mở cửa, địa điểm François-Mitterrand đón tiếp 1.994 độc giả, các địa điểm Richelieu, Arsenal và Opéra cũng có 261 người ghé thăm.[86] Một cuộc điều tra năm 2005 cho thấy hơn một nửa số độc giả của thư viện đến từ nội ô Paris. Tại Haut-de-jardin, 52% độc giả sống trong Paris, 32% thuộc vùng vành đai nhỏ và 12% thuộc vành đai lớn và chỉ 4% là những người tỉnh khác hoặc ngoại quốc. Ở những địa điểm khác, Richelieu, Arsenal, Opéra và Avignon, 53% trong số những độc giả thuộc Paris, 23% thuộc những tỉnh còn lại của vùng Île-de-France và 24% sống tại tỉnh khác hoặc tới từ nước ngoài.[87] Phần đông những độc giả của Thư viện Quốc gia Pháp là sinh viên, giới nghiên cứu hoặc những giảng viên đại học. Ở Haut-de-jardin, Thư viện học tập, các sinh viên chiếm đến 74% số độc giả, bên cạnh một số nhỏ 6% khác là học sinh. Tại những địa điểm khác, phần nhiều các độc giả là những giảng viên, nghiên cứu sinh hay những người nghiên cứu.[88]
Cũng theo thống kê của năm 2008, trong số những độc giả nước ngoài đến với Thư viện Quốc gia Pháp, những người Ý chiếm số đông nhất, 4,8%. Những thứ tự tiếp theo là Hoa Kỳ với 3,8%, Đức với 1,9%, Anh với 1,8% và Nhật Bản với 1,7%. Số liệu của những năm gần đây còn cho thấy số độc giả nữ của thư viện luôn đông hơn số độc giả nam giới, chiếm khoảng từ 52 đến 53% tổng số độc giả.[85]

Tham khảo

  1. ^ “Des débuts hésitants”. Sept siècles. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  2. ^ Smith, Jeanne. “The French Collection”. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  3. ^ Wedgeworth, Robert (1993). World Encyclopedia of Library and Information Services. ALA Editions. tr. 125. ISBN 0838906095. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  4. ^ a ă “La création du dépôt légal”. Sept siècles. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  5. ^ a ă “L’ère des grands bibliothécaires”. Sept siècles. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  6. ^ “Les bouleversements de la Révolution”. Sept siècles. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  7. ^ Balayé, Simone (1988). La bibliothèque nationale des origines à 1800. Genève: Droz. tr. 329–331. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  8. ^ “De nouveaux moyens aux XIXe et XXe siècles”. Sept siècles. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  9. ^ “Extensions et modernisation”. Sept siècles. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  10. ^ “A l’aube du troisième millénaire”. Sept siècles. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  11. ^ Gattégno, Jean. “La bibliothèque de France: Histoire d’un projet”. École nationale supérieure des sciences de l’information et des bibliothèques. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  12. ^ Ayers, Andrew (2004). The architecture of Paris. Edition Axel Menges. tr. 206. ISBN 393069896X. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  13. ^ a ă “Naissance de la BnF”. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  14. ^ Ayers, Andrew (2004). The architecture of Paris. Edition Axel Menges. tr. 205. ISBN 393069896X. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  15. ^ a ă Hanser, David A. (2006). Architecture of France. Greenwood Publishing Group. tr. 29. ISBN 0313319022. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  16. ^ a ă “Décret n°94-3 du 3 janvier 1994 portant création de la Bibliothèque nationale de France”. Le service public de l’accès au droit. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  17. ^ “Le dépôt légal”. La constitution des collections. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  18. ^ “Les acquisitions”. La constitution des collections. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  19. ^ “Les catalogues”. Les missions de la BnF. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  20. ^ “Les instances de concertation et de décision: Conseil d’administration”. Rapport d’activité 2007. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  21. ^ “Histoire de l’institution”. Trung tâm văn hóa Georges-Pompidou. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  22. ^ “Les instances de concertation et de décision: Conseil scientifique”. Rapport d’activité 2007. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  23. ^ “L’évolution et la gestion des emplois”. Rapport d’activité 2007. Thư viện Quốc gia Pháp. tr. 101. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  24. ^ “La bibliothèque en chiffres”. Offres d’emploi. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  25. ^ “L’exécution du budget en 2008”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. tr. 74. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  26. ^ “Budget”. La BnF en chiffres. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  27. ^ “About the Library”. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  28. ^ “Budget Cuts Threaten British Library Services”. American Library Association. 2 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  29. ^ “Annual report to CDNL 2009”. Conference of Directors of National Libraries. tr. 1. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  30. ^ a ă â “Le budget de la BnF en 2008”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  31. ^ “Projet de loi de finances pour 2008”. Bộ Ngân sách Pháp. tr. 79. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  32. ^ “Les maisons au bout des jardins de Colbert”. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  33. ^ “De 1854 à 1875: l’époque Labrouste, la salle de travail”. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  34. ^ “Le projet Richelieu”. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  35. ^ a ă â b “Bâtiments”. La BnF en chiffres. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  36. ^ “Salle Labrouste: Architecture”. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  37. ^ “Salle Ovale, salle de références”. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  38. ^ “Collections et départements: Art et histoire de l’art”. Thư viện Quốc gia Pháp. 5 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  39. ^ Hanser, David A. (2006). Architecture of France. Greenwood Publishing Group. tr. 30. ISBN 0313319022.
  40. ^ a ă â “Thư viện F. Mitterrand – công trình văn hóa thế kỷ”. Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh. 21 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  41. ^ “Site François-Mitterrand: Bibliothèque d’étude”. Thư viện Quốc gia Pháp. 24 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  42. ^ Hanser, David A. (2006). Architecture of France. Greenwood Publishing Group. tr. 32. ISBN 0313319022.
  43. ^ “La BnF en chiffres: Accueil”. Thư viện Quốc gia Pháp. 22 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  44. ^ “Inauguration du Salon de musique restauré de la Bibliothèque de l’Arsenal”. Thư viện Quốc gia Pháp. tr. 6. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  45. ^ “Charte documentaire desacquisitions de la Bibliothèquenationale de France”. Thư viện Quốc gia Pháp. 2005. tr. 133. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.[[]][liên kết hỏng]
  46. ^ a ă â “Départements: Bibliothèque de l’Arsenal”. Thư viện Quốc gia Pháp. 27 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  47. ^ “Charte documentaire desacquisitions de la Bibliothèquenationale de France”. Thư viện Quốc gia Pháp. 2005. tr. 135. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.[[]][liên kết hỏng]
  48. ^ a ă “Charte documentaire desacquisitions de la Bibliothèquenationale de France”. Thư viện Quốc gia Pháp. 2005. tr. 197. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.[[]][liên kết hỏng]
  49. ^ a ă “Départements: Bibliothèque-Musée de l’Opéra”. Thư viện Quốc gia Pháp. 28 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  50. ^ “Bibliothèque-Musée de l’Opéra-Salle de lecture”. Thư viện Quốc gia Pháp. 3 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  51. ^ “Présentation de la Maison Jean Vilar”. Maison Jean Vilar. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  52. ^ “Départements: Maison Jean Vilar”. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  53. ^ “Les sites de conservation”. Thư viện Quốc gia Pháp. 24 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  54. ^ “Conservation: les sites”. Thư viện Quốc gia Pháp. 26 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  55. ^ a ă â “La BnF en chiffres: Collections”. Thư viện Quốc gia Pháp. 22 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  56. ^ a ă “La constitution des collections”. Thư viện Quốc gia Pháp. 24 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  57. ^ “Statistiques du dépôt légal à la BnF”. Thư viện Quốc gia Pháp. 28 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  58. ^ “First photographic image sold for € 489,750”. Koninklijke Nederlandse Akademie van Wetenschappen. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  59. ^ “Les missions de la BnF: La conservation des collections”. Thư viện Quốc gia Pháp. 29 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  60. ^ “The Gallica collection”. Thư viện số Gallica. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  61. ^ “Les catalogues: Un peu d’histoire”. Thư viện Quốc gia Pháp. 3 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  62. ^ “Les catalogues: Les catalogues informatisés aujourd’hui”. Thư viện Quốc gia Pháp. 3 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  63. ^ “Les catalogues imprimés des livres et des périodiques”. Thư viện Quốc gia Pháp. 3 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  64. ^ “Bibliographie nationale française”. Thư viện Quốc gia Pháp. 14 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  65. ^ “La constitution des collections: Le dépôt légal”. Thư viện Quốc gia Pháp. 24 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  66. ^ “Accueil et orientation à la BnF”. Thư viện Quốc gia Pháp. 6 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  67. ^ “Poser une question à un bibliothécaire”. Thư viện Quốc gia Pháp. 17 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  68. ^ “L’accueil, l’information, la formation et l’orientation bibliographique”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  69. ^ “Conditions d’accès et tarifs: Bibliothèque d’étude”. Thư viện Quốc gia Pháp. 2 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  70. ^ “Conditions d’accès et tarifs: Bibliothèque de recherche”. Thư viện Quốc gia Pháp. 2 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  71. ^ “Formations des lecteurs”. Thư viện Quốc gia Pháp. 27 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  72. ^ “Consulter un document sur place”. Thư viện Quốc gia Pháp. 5 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  73. ^ “Services aux personnes handicapées”. Thư viện Quốc gia Pháp. 9 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  74. ^ “Les expositions: L’Espace découverte de la Bibliothèque nationale de France”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  75. ^ “Les expositions: Les expositions à la BnF”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  76. ^ “Les conférences et les colloques”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  77. ^ “Les programmes de recherche à la BnF”. Thư viện Quốc gia Pháp. 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  78. ^ “Programmes de recherche: Axes de recherche”. Thư viện Quốc gia Pháp. 6 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  79. ^ “Le réseau des pôles associés”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  80. ^ “Le Catalogue Collectif de France”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  81. ^ “Partners: Contributors”. Thư viện số châu Âu Europeana. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  82. ^ “EUROPEANA – Europe’s Digital Library: Frequently Asked Questions” (Thông cáo báo chí). Ủy ban châu Âu. 20 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  83. ^ “Nguồn lực thông tin”. Giới thiệu Thư viện Quốc gia Việt Nam. Thư viện Quốc gia Việt Nam. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  84. ^ “La valorisation et les diffusions – les publics”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  85. ^ a ă “Fréquentation des salles et communication des documents”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  86. ^ “L’évolution de la fréquentation des salles de lecture”. Rapport d’activité 2008. Thư viện Quốc gia Pháp. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.
  87. ^ “Lecteurs, visiteurs, Internautes: qui êtes-vous?”. Thư viện Quốc gia Pháp. tr. 2. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.[[]][liên kết hỏng]
  88. ^ “Lecteurs, visiteurs, Internautes: qui êtes-vous?”. Thư viện Quốc gia Pháp. tr. 3. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2009.[[]][liên kết hỏng]

Liên kết ngoài


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s