Chào ngày mới 1 tháng 8

Vị trí của Thụy Sĩ

CNM365 Chào ngày mới 1 tháng 8 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc khánh tại Thụy Sĩ (1291 hình ) và Benin (1960). Năm 1774 – Nhà khoa học Joseph Priestley khám phá khí ôxy, chứng thực nguyên tố do Carl Wilhelm Scheele phát hiện từ trước đó.  Năm 1894Đại ThanhĐại Nhật Bản tuyên chiến với nhau, Chiến tranh Thanh-Nhật (hình) chính thức bùng nổ. Năm 1907Robert Baden-Powell tổ chức trại hướng đạo đầu tiên trên đảo Brownsea ở Anh, khởi đầu Phong trào Hướng đạo. Năm 1927Nội chiến Trung Quốc: Lực lượng Cộng sản đánh chiếm Nam Xương, Giang Tây, sự kiện được xem là mốc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc hình thành.

Thụy Sĩ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Liên bang Thuỵ Sĩ
Schweizerische Eidgenossenschaft (tiếng Đức)
Confédération suisse (tiếng Pháp)
Confederazione Svizzera (tiếng Ý)
Confederaziun svizra (Tiếng Romansh)
Flag of Switzerland (Pantone).svg Coat of Arms of Switzerland (Pantone).svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Thụy Sĩ
Khẩu hiệu
Unus pro omnibus, omnes pro uno
(tiếng Latinh: Một người vì mọi người, mọi người vì một người)
Quốc ca
Thánh ca Thụy Sĩ
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện liên bang
Tổng thống Ueli Maurer
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Đức, Pháp, Ý, tiếng Romansh
Thủ đô Bern
46°57′B, 7°27′Đ
Thành phố lớn nhất Zürich
Địa lý
Diện tích 41.285 km² (hạng 132)
Diện tích nước 4,2% %
Múi giờ CET (UTC+1); mùa hè: CEST (UTC+2)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập Hiến chương Liên bang
1 tháng 8, 1291
24 tháng 10, 1648
1848
Dân cư
Dân số ước lượng (2003) 7.399.100 người (hạng 92)
Dân số (2000) 7.288.010 người
Mật độ 181 người/km² (hạng 66)
Kinh tế
GDP (PPP) (2003) Tổng số: 233 tỷ Mỹ kim
Đơn vị tiền tệ Franc Thụy Sĩ (SFr.) (CHF)
Thông tin khác
Tên miền Internet .ch

Thụy Sĩ (tiếng Đức: Schweiz; tiếng Pháp: Suisse; tiếng Ý: Svizzera; tiếng Romansh: Svizra), quốc danh hiện tại là Liên bang Thụy Sĩ (tiếng Latinh: Confœderatio Helvetica) là một quốc gia không giáp biển thuộc khu vực Tây Âu[note 1] với dân số khoảng 7.5 triệu người. Thụy Sĩ là quốc gia theo thể chế cộng hòa liên bang gồm 26 bang với thủ đô là thành phố Berne và hai trung tâm kinh tế lớn là GenèveZurich.
Do vị trí địa lí đặc biệt nằm giữa nhiều nước lớn nên ngôn ngữ của Thụy Sĩ rất đa dạng. Đất nước này có tới 4 ngôn ngữ chính thức là tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Romansh. Bên cạnh đó, Thụy Sĩ còn là nước có truyền thống lịch sử về sự trung lập. Đất nước này không xảy ra bất kỳ một cuộc chiến tranh nào từ năm 1815 đến nay và là trụ sở của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế, Tổ chức Thương mại Thế giới.
Thụy Sĩ là một quốc gia nhiều đồi núi với những phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp trên dãy núi Alps như những đỉnh núi cao, những dòng sông băng và nhiều hồ nước đẹp. Đất nước này còn nổi tiếng về ngành công nghiệp sản xuất đồng hồ và được biết đến như một trong những nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới.[1][2]

Nguồn gốc quốc hiệu

Danh xưng “Thuỵ Sĩ” trong tiếng Việt bắt nguồn từ 瑞士 (bính âm: Ruìshì), dịch danh Trung văn của quốc hiệu Thuỵ Sĩ.
Quốc danh của Thụy Sĩ trong tiếng Latinh – Confoederatio Helvetica, bắt nguồn từ cái tên Halvetii, một dân tộc cổ đại từng sống ở vùng núi Alpine. Đất nước này giáp với các quốc gia Đức, Pháp, Ý, ÁoLiechtenstein.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Thụy Sĩ

Thụy Sĩ là một quốc gia hiền hòa và đã được hình thành khá sớm ở Châu Âu, là một trong những quốc gia theo chế độ liên bang lâu đời nhất trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ).
Các dấu vết cổ nhất về sự tồn tại của hominidae ở Thụy Sĩ được xác đĩnh cách nay khoảng 150.000 năm.[3] Những nơi định cư có hoạt động trồng trọt cổ nhất từng được biết đến ở Thụy Sĩ, được phát hiện ở Gächlingen, có tuổi khoảng 5300 TCN.[3]

Được thành lập năm 44 TCN, Augusta Raurica là nơi định cư của người La Mã đầu tiên ở Rhine và hiện nằm trong số những di chỉ khảo cổ quan trọng ở Thụy Sĩ.[4]

Những nền văn hóa của các bộ tộc sớm nhất đã được biết đến là Hallstattvănn hóa La Tène, được đặt theo tên một đi chỉ khảo cổ ở La Tène trên bờ bắc của Hồ Neuchâtel. Văn hóa La Tène đã hình thành và phát triển mạnh vào cuối thời đại đồ đá khoảng từ 450 TCN,[3] có thể do chịu ảnh hưởng từ các nền văn minh Hy Lạp cổ đạiEtrusca. Một trong những nhóm người quan trọng ở vùng Thụy Sĩ là Helvetii. Năm 58 TCN, trong trận Bibracte, quân đội của Julius Caesar đã đánh bại Helvetii.[3] Vào năm 15 TCN, Tiberius, người được nhắm đến để làm hoàng đế La Mã thứ 2 và anh ông ta là Drusus, đã chinh phục Alps, sáp nhập khu vực này vào đế chế La Mã. Khu vực bị chiếm đóng bởi Helvetii—trùng tên với Confoederatio Helvetica—đầu tiên trở thành một phần của tỉnh Gallia Belgica thuộc La Mã và sau đó là tỉnh Germania Superior, trong khi phần phía đông Thụy Sĩ được sáp nhập vào tỉnh Raetia của La Mã.
Vào thời kỳ Trung Cổ, từ thế kỷ thứ 4, phần mở rộng phía tây của Thụy Sĩ ngày nay là một phần lãnh thổ thuộc vương quốc Burgundy. Alemanni đã định cư ở cao nguyên Thụy Sĩ trong thế kỷ 5 và trong các thung lũng của Alps trong thế kỷ 8, hình thành nên Alemannia. Vùng đất của Thụy Sĩ ngày nay thời đó được phân chia quản lý giữa vương quốc Alemannia và Burgundy.[3] Toàn bộ khu vực trở thành một phần của đế chế Frankish mở rộng trong thế kỷ 6, sau chiến thắng của Clovis I trước Alemanni ở Tolbiac năm 504 và sau là sự thống trị Frankish của người Burgundians.[5][6]
Trong suốt thời gian còn lại của thế kỷ 6, 7 và 8, các vùng của Thụy Sĩ tiếp tục chịu sự cai quản của Frankish (các vương triều MerovingianCarolingia). Nhưng sau sự mở rộng của nó dưới thời Charlemagne, đế chế Frankish đã bị chia tách bởi hiệp ước Verdun năm 843.[3] Các lãnh thổ ngày nay của Thụy Sĩ đã được chia thành Trung FranciaĐông Francia cho đến khi chúng được tái sáp nhận dưới thời cai trị của đế quốc La Mã thần thánh khoảng năm 1000.[3]
Vào thế kỷ 13, con đường chạy qua Gotthard nằm ở tâm dãy núi Alps được hình thành và phát triển nhanh chóng trở thành điểm giao lưu, qua lại quan trọng về kinh tế-thương mại Bắc-Nam Châu Âu và trở thành điểm nằm trong tầm ngắm của các cường quốc Châu Âu. Tình hình đó đã đẩy các nhóm dân cư nơi đây lập ra các phường, hội rồi hình thành quốc gia Thụy Sĩ ngày nay, dưới các minh ước quân tử để bảo vệ và hỗ trợ nhau theo tính chất của một liên minh và chính thức ra đời ngày 1 tháng 8 năm 1291.
Sang thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, các đơn vị hành chính độc lập trong liên bang (13 bang) đã trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng do tranh chấp về phạm vi ở một số vùng, khu vực tiếp giáp nhau. Nhưng trước nguy cơ ý đồ bành trướng của một số nước có biên giới chung với Thụy Sĩ đã nhanh chóng đưa ra các cuộc tranh chấp, giành giật nội bộ đi tới chấm dứt.
Sau khi những người chủ trương giữ Thụy Sĩ đứng ngoài cuộc chiến tranh 30 năm trên lục địa Châu Âu trong thế kỷ 17 giành thắng lợi, giữ được chủ quyền và nền độc lập của Thụy Sĩ, Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ đã được quốc tế công nhận tại Hội nghị Hòa bình Westphalia, đặc biệt là tại Hội nghị Wien 1815, Thụy Sĩ cam kết theo đuổi quy chế trung lập có vũ trang và đã được luật pháp quốc tế bảo đảm.
Đến đầu thế kỷ 19, với sự cổ vũ của cuộc cách mạng tư sản Pháp, giai cấp tư sản Thụy Sĩ đã ra tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hòa (Helvetic Republic) và đi tới việc chấm dứt chế độ phong kiến với cấu trúc nhà nước phong kiến cát cứ.
Sau cuộc nội chiến cuối cùng ở Châu Âu năm 1847, nhà nước liên bang lỏng lẻo đã được thay thế bởi một nhà nước liên bang gắn kết hơn, tuy nhiên tính chất tự trị của các bang, các xã về cơ bản vẫn tiếp tục được duy trì. Nhiều nội dung cơ bản trong Hiến pháp liên bang ngày nay là những nội dung được soạn thảo từ Hiến pháp Liên bang được ban hành từ 1847.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Thụy Sĩ

Bản đồ Thụy Sĩ

Khí hậu chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương và lục địa nên ôn hoà, mát mẻ, nhiệt độ trung bình 12 °C.
Kéo dài qua phía bắc và nam của Alps ở Tây và Trung Âu, Thụy Sĩ trải dài qua những cảnh quan và khí hậu đa dạng trên một diện tích hạn chế với 41.285 kilômét vuông (15.940 sq mi).[7] Dân số của Thụy Sĩ khoảng 7,9 triệu, với mật độ trung bình khoảng 190 người/km².[7][8] Phân nửa vùng lãnh thổ đồi núi phía nam của quốc gia này có ít dân cư hơn nửa phía bắc.[7] Trong bang lớn nhất Graubünden, nằm toàn bộ trong Alps, có mật độ dân số chỉ có 27 người/km².

Các địa hình tương phản giữa vùng Matterhorn ở high Alps, vùng Sanetsch và cao nguyên ở Hồ Lucerne

Thụy Sĩ nằm giữa Đường vĩ độ bắc 45°đường vĩ độ bắc 48°, và kinh độ 5° và 11° đông. Quốc gia này có 3 kiểu địa hình cơ bản gồm Swiss Alps ở phía nam, Cao nguyên Thụy Sĩ, và dãy núi Jura ở phía bắc. Alps là dãy núi cao nhất chạy qua miền trung-nam của quốc gia này, chiếm 60% tổng diện tích của Thụy Sĩ. Trong số các thung lũng cao của Swiss Alps có nhiều sông băng, có tổng diện tích 1.063 km². Từ đây, có những thượng nguồn của nhiều sông lớn như sông Rhine, Inn, TicinoRhone, chảy theo 4 hướng chính trên toàn châu Âu. Mạng lưới thủy văn gồm nhiều vực nước ngọt ở trung và tây châu Âu như Hồ Geneva, Hồ ConstanceHồ Maggiore. Thụy Sĩ có hơn 1500 hồ, và chiếm 6% tổng lượng nước ngọt châu Âu. Các hồ và sông băng chiếm khoảng 6% diện tích của quốc gia này.[7][9][10]
Có khoảng một trăm đỉnh núi Thụy Sĩ có độ cao gần hoặc cao hơn 4.000 mét (13.000 ft).[11] Với độ cao 4.634 m (15.203 ft), Monte Rosa là đỉnh cao nhất, mặc dù Matterhorn (4.478 m/14.692 ft) có thể là đỉnh nổi tiếng nhất. Cả hai đỉnh này nằm trong Pennine Alps thuộc bang Valais. Đoạn Bernese Alps qua thung lũng Lauterbrunnen có 72 thác, nổi tiếng là Jungfrau (4.158 m/13.642 ft) và Eiger, và nhiều thung lũng đẹp như tranh vẽ trong khu vực. Ở đông nam dọc theo thung lũng Engadin, băng qua khu vực St. Moritz thuộc bang Graubünden, cũng là một nơi nổng tiếng; đỉnh cao nhất gần Bernina AlpsPiz Bernina (4.049 m/13.284 ft).[12]
Khu vực đông dân cư phía bắc chiếm 30% diện tích cả nước được gọi là vùng đất trung tâm. Nó bao gồm các dạng địa hình đồi, gồm một phần rừng, một phần đồng cỏ, thường có các đàn gia súc chăn thả, hoặc trồng rau và các cánh đồng trái cây, nhưng nó vẫn là đồi núi.[12] Hồ lớn nhất là Hồ Geneva (cũng được gọi là Lac Léman trong tiếng Pháp) tọa lạc ở miền tây Thụy Sĩ. Sông Rhone là nguồn nước ra và vào hồ Geneva.

Khí hậu

Khí hậu khác biệt giữa những khu vực phủ băng ở tây Âu-Á (Aletsch Glacier),[13] khí hậu lạnh ôn hòa Jura (Vallée de Joux) và miền nam bang Ticino (Hồ Lugano)

Thụy Sĩ có khí hậu ôn hòa, nhưng có thể có thay đổi lớn theo khu vực,[14][15] từ các môi trường băng hà ở các đỉnh cao đến các vùng mát mẻ gần khí hậu Địa Trung Hải ở tận phía nam của Thụy Sĩ. Có những khu vực thung lũng ở phía nam Thụy Sĩ nơi mà có thể tìm thấy các loài cây cọ chịu khí hậu lạnh.[16] Mùa hè có xu hướng ấm và ẩm vào các đợt mưa, do đó những nơi này rất lý tưởng cho phát triển gia súc và đồng cỏ. Mùa đông thì ít ẩm hơn ở những vùng núi có thể nhận thấy những khoảng chu kỳ dài có khí hậu ổn định trong vài tuần, trong khi các vùng đất thấp hơn có xu hướng chịu ảnh hưởng ngược lại, trong suốt các chi kỳ này thì không thấy mặt trời trong vài tuần.

Môi trường

Hệ sinh thái của Thụy Sĩ có thể bặc biệt mỏng manh, do nhiều thung lũng bị chia cắt bởi các núi cao, thường hình thành các hệ sinh thái độc nhất. Các vùng núi cũng dễ bị tổn thương với nhiều kiểu thực vật không thể được tìm thấy ở những độ cao khác, và chịu nhiều áp lực từ du khác và chăn thả gia súc. Các môi trường khí hậu, địa chất và địa hình của khu vực alpine làm cho hệ sinh thái rất mỏng manh này đặc biệt nhạy cảm với biến đổi khí hậu.[17][18]

Hành chính

Xem thêm về nội dung này tại Bang của Thụy Sĩ.
Xem thêm về nội dung này tại Quận của Thụy Sĩ.

Thụy Sĩ là một quốc gia liên bang gồm 26 bang (kanton, canton, cantone, chantun theo các ngôn ngữ chính thức ở Thụy Sĩ). Cấp hành chính thấp nhất ở Thụy Sĩ là các hạt (gemeinden, communes, comuni, vischnancas). Có 16 bang có cấp hành chính quận (bezirke, amter, amtsbezirke, district, distretto), trong khi 10 bang còn lại không có. Vài hạt có thể tập hợp thành một vùng (circle), tuy nhiên đây không phải là một cấp hành chính.

Kinh tế

Bài chính: Kinh tế Thụy Sĩ
Thụy Sĩ là nước ít về tài nguyên thiên nhiên, là đất nước của đồi núi, với trên 40 dãy núi cao trên 4.000 m so với mặt nước biển với dãy núi Alps nổi tiếng thế giới. Song, Thụy Sĩ lại có mức phát triền vững mạnh đáng kể trên toàn cầu, tuy là nước nhỏ về diện tích, dân số, tài nguyên thiên nhiên nghèo nhưng Thụy Sĩ có vị trí quan trọng về kinh tế-tài chính và hệ thống Ngân hàng uy tín đặc biệt nổi tiếng nhất trên toàn cầu. Thụy Sĩ là một nước công nghiệp phát triển cao ở Châu Âu, trong đó có nhiều ngành đạt trình độ hàng đầu trên thế giới như: cơ khí chế tạo (nổi tiếng nhất thế giới về sản xuất đồng hồ chính xác và sang trọng), điện cơ, hóa chất, dược phẩm, thuốc tân dược, tài chính-ngân hàng, du lịch, đồng hồ, đồ trang sức, dịch vụ và bảo hiểm. Ngoại thương đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Tỉ trọng các ngành kinh tế:

  • Nông nghiệp: 4,80%
  • Công nghiệp: 24,90%
  • Các ngành dịch vụ: 70,40%

Một số số liệu kinh tế:

  • Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): 245,80 tỉ US$
  • TNQD theo đầu người (GDP): 34.206.8 US$
  • Tăng trưởng kinh tế: -0,3%
  • Xuất khẩu: 78,9 tỉ US$
  • Nhập khẩu: 80,1 tỉ US$

Sau nhiều năm liền kinh tế phát triển mạnh, năm 2003 kinh tế Thụy Sĩ gặp nhiều khó khăn, nhiều ngành kinh tế mũi nhọn như chế tạo máy, thiết bị điện tử, sản xuất thép, cơ khí chính xác gặp nhiều khó khăn, ngoại thương giảm sút, thất nghiệp tăng (2,4%), lạm phát 1,2%. Năm 2004 kinh tế Thụy Sĩ đã trở nên ổn định hơn.

  • Đơn vị tiền tệ: Franc (CHF.) – (tỷ giá: 1USD = 1,22 CHF.)

Giáo dục và khoa học

Các nhà khoa học Thụy Sĩ đã có những đóng góp quan trọng (chiều kim đồng hồ):
Leonhard Euler (toán)
Louis Agassiz (băng hà học)
Auguste Piccard (hàng không)
Albert Einstein (vật lý)

Giáo dục Thụy Sĩ rất đa dạng do Hiến pháp Thụy Sĩ giao quyền quản lý hệ thống giáo dục cho các bang.[19] Giáo dục Thụy Sĩ cũng bao gồm hai dạng trường công và tư, bao gồm nhiều trường tư quốc tế. Tuổi tối thiểu để đi học tiểu học là 6 ở tất cả các bang, tuy nhiên hầu hết các bang cho phép trẻ đi học nhà trẻ từ 4 hoặc 5 tuổi.[19] Trường tiểu học tiếp tục đào đạo các lớp 4, 5 hoặc 6 tùy từng trường. Theo thường lệ, ngoại ngữ thứ nhất ở trường luôn là một trong các ngôn ngữ quốc gia khác, mặc dù năm 2000, tiếng Anh đã được chọn làm ngoại ngữ thứ nhất ở một vài bang.[19]
Kết thúc tiểu học, học sinh được tách ra theo khả năng của chúng theo nhiều nhóm khác nhau (thường là 3). Những sinh viên nhanh nhạy nhất được dạy trong các lớp nâng cao để chuẩn bị cho việc học cao hơn và matura,[19] trong khi những sinh viên chậm hơn thì chỉ được đào tạo thích hợp với nhu cầu của họ.
Có 12 trường đại học ở Thụy Sĩ, 10 trong số đó được bố trí ở cấp bang và thường giảng dạy những môn học ngoài kỹ thuật. Đại học đầu tiên ở Thụy Sĩ được thành lập năm 1460 tại Basel (chỉ có khoa Y) và có truyền thống nghiên cứu về hóa và y ở Thụy Sĩ. Đại học lớn nhất Thụy Sĩ là đại học Zurich với gần 25.000 sinh viên. Hai viện nghiên cứu được tài trợ từ chính quyền liên bang là ETHZZurich (thành lập năm 1855) và EPFLLausanne (thành lập năm 1969 từ một viện trước đây thuộc Đại học Lausanne) cả hai viện này đều là có tiếng trên thế giới.[note 2][20]

Chính trị

Bài chính: Chính trị Thụy Sĩ

Thể chế Nhà nước

Thụy Sĩ theo chế độ cộng hòa với mô hình nhà nước liên bang. Cấu trúc nhà nước liên bang theo 3 cấp[21]: Chính quyền liên bang, chính quyền bang (canton) và chính quyền xã (commune). Nó gồm 26 bang (23 bang có thành viên Hội đồng liên bang).
Quốc hội Thụy Sĩ gồm có Hội đồng quốc gia (National Council) và Hội đồng nhà nước (Council of States) gồm 246 nghị sỹ, nhiệm kỳ 4 năm:
Hội đồng Quốc gia (hay Hạ viện) có 200 nghị sĩ được bầu theo quy định của luật liên bang, được bầu từ 26 bang, mỗi bang là một đơn vị bầu cử. Số lượng nghị sĩ nhiều hay ít tùy thuộc vào dân số lượng cử tri trong từng bang.
Hội đồng Nhà nước (hay Thượng viện) có 46 nghị sĩ và được bầu theo quy định của từng bang.
Mỗi năm, Quốc hội Thụy Sĩ họp 4 kỳ, mỗi kỳ khoảng 3 tuần: kỳ họp mùa xuân; kỳ họp mùa hè; kỳ họp mùa thu và kỳ họp mùa đông. Ngoài ra, Quốc hội cũng có thể triệu tập phiên họp bất thường. Phiên họp đầu tiên của quốc hội mới sau khi bầu cử là việc bầu các thành viên của chính phủ. Tổng thống, chánh văn phòng liên bang, chánh án tòa án tối cao, tòa án bảo hiểm, tòa án quân sự. Cứ mỗi dịp vào cuối năm, quốc hội lại bầu tổng thống, phó tổng thống và chủ tịch quốc hội cho năm sau.
Chính phủ: Hội đồng Liên bang gồm 7 thành viên, nhiệm kỳ 4 năm.
Tổng thống: là Chủ tịch Hội đồng Liên bang luân phiên, được bầu chọn trong số 7 thành viên, nhiệm kỳ 1 năm. Tổng thống và Phó tổng thống thường kiêm luôn cả chức Bộ trưởng một bộ trong Hội đồng liên bang.
Các lãnh đạo:

  • Tổng thống: Doris Leuthard (2010)
  • Chủ tịch Quốc hội: Max Binder
  • Bộ trưởng Ngoại giao: Micheline Calmy-Rey

Các đảng phái chính trị

  • Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo (CVP), thành lập năm 1848, hiện có khoảng 99.000 đảng viên (chiếm 20% ghế trong Quốc hội).
  • Đảng Dân chủ Tự do (FDP), thành lập năm 1919, hiện có khoảng 60.000 đảng viên (chiếm 20% ghế trong Quốc hội).
  • Đảng Xã hội Dân chủ (SPS), thành lập năm 1880, hiện có khoảng 38.000 đảng viên (chiếm 21,5% ghế trong Quốc hội).
  • Đảng Nhân dân thiên hữu (SVP), hiện là đảng mạnh nhất trong Quốc hội (chiếm 23% ghế).
  • Đảng Lao động, thành lập năm 1920, có khoảng 1.200 đảng viên.

Đối ngoại

Thụy Sĩ theo đuổi chính sách đối ngoại trung lập nhằm giữ độc lập và bảo vệ lợi ích. Mục tiêu của chính sách đối ngoại là bảo vệ, tăng cường vị thế chính trị và kinh tế của Thụy Sĩ trên thế giới. Chính sách đối ngoại trung lập là công cụ quan trọng, xuyên suốt và là nội dung chủ yếu của nền ngoại giao Thụy Sĩ từ 1815 tới nay.[22][23]
Thụy Sĩ nhấn mạnh chính sách đối ngoại phải dựa trên luật pháp. Luật pháp quốc tế là công cụ để bảo vệ quyền lợi các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia nhỏ và quan hệ quốc tế cần được tiến hành trên những nội dung, quy định của trật tự luật pháp quốc tế. Do đó, việc tôn trọng pháp luật quốc tế là điểm đặc trưng và nguyên tắc bất di bất dịch trong chính sách đối ngoại của Thụy Sĩ.
Thụy Sĩ chưa bao giờ thực hiện chính sách đối ngoại trung lập theo một định chế cứng nhắc, và sử dụng chính sách đối ngoại trung lập như một công cụ thích hợp trong từng thời kỳ để bảo vệ lợi ích của Thụy Sĩ. Chính phủ Thụy Sĩ cho rằng trong tình hình tuy chiến tranh lạnh đã kết thúc, nhưng tình hình chính trị-an ninh thế giới vẫn căng thẳng, mất ổn định, nguy hiểm, chính sách trung lập vẫn là một công cụ thích hợp cho việc thực thi chính sách đối ngoại và an ninh của Thụy Sĩ, và Thụy Sĩ cam kết không đứng vào bên nào trong các cuộc xung đột theo trách nhiệm và nghĩa vụ luật quốc tế quy định đối với các quốc gia trung lập.
Thụy Sĩ tham gia vào các hoạt động trừng phạt mang tính chất đa phương do Liên Hợp Quốc khởi xướng hoặc qua Tổ chức an ninh và hợp tác Châu Âu (OSCE) để chống lại một quốc gia nào được coi là phá hoại hòa bình, hoặc vi phạm pháp luật quốc tế cũng phù hợp với nguyên tắc trung lập.
Những mục tiêu chủ yếu trong chính sách đối ngoại trung lập của Thụy Sĩ thời kỳ này là:

  • Bảo vệ, củng cố và tăng cường an ninh và hòa bình thế giới.
  • Khuyến khích việc cùng tồn tại trong xã hội.
  • Khuyến khích phát triển các quyền con người, dân chủ và nguyên tắc luật pháp.Thúc đẩy cho sự phát triển phồn vinh.
  • Bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên.

Thụy Sĩ đã chính thức trở thành thành viên thứ 190 của Liên Hợp quốc ngày 10 tháng 9 năm 2002[22]. Đây là biểu hiện sự điều chỉnh chính sách đối ngoại trung lập truyền thống mà Thụy Sĩ đã theo đuổi từ nhiều năm nay.

Nhân khẩu

Bài chính: Nhân khẩu Thụy Sĩ

Tôn giáo

Tôn giáo ở Thụy Sĩ – điều tra dân số năm 2010[24]
Tôn giáo Phần trăm
Công giáo Rôma
38.8%
Tin Lành
30.9%
Vô thần
20.1%
Hồi giáo
4.5%
Tôn giáo khác
5.7%

Thụy Sĩ không có tôn giáo chính thức nào được công nhận, mặc dù hầu hết các bang (ngoại trừ GenèveNeuchâtel) công nhận ra bang mình có một tôn giáo chính thức, thường là một trong hai tôn giáo chính là Công giáo RômaTin Lành. Theo một cuộc thăm dò của tổ chức Eurobarometer vào năm 2010 cho thấy 44% dân số Thụy Sĩ là hữu thần, 39% bày tỏ niềm tin vào “một tinh thần hay sinh lực” khác và 11% người vô thần. Theo cuộc thăm do của tổ chức Greeley (2003) phát hiện ra rằng 27% dân số không tin vào một Thiên Chúa.
Ngôn ngữ:

Chú thích

  1. ^ Tây Âu hoặc Trung Âu, tùy theo cách định nghĩa. Xem Địa lý Thụy Sĩ.
  2. ^ Năm 2008, ETH Zurich được xếp hạng thứ 15 về lĩnh vực Toán và khoa học tự nhiên theo Xếp hạng đào tạo các trường đại học trên thế giới ở Thượng Hải và EPFL ở Lausanne có hạng thứ 18 về Khoa học máy tính và Công nghệ của cùng tổ chức.

Tham khảo

  1. ^ “US is still by far the richest country, China fastest growing”. Digitaljournal.com. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010.
  2. ^ Franc’s rise puts Swiss top of rich list Simon Bowers, guardian.co.uk, Wednesday 19 October 2011
  3. ^ a ă â b c d đ History swissworld.org. Retrieved on 2009-06-27
  4. ^ Switzerland’s Roman heritage comes to life swissinfo.ch
  5. ^ Switzerland history Nationsencyclopedia.com. Retrieved on 2009-11-27
  6. ^ History of Switzerland Nationsonline.org. Retrieved on 2009-11-27
  7. ^ a ă â b Geography swissworld.org, Retrieved on 2009-06-23
  8. ^ “Landscape and Living Space”. Federal Department of Foreign Affairs. Federal Administration admin.ch. 31 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009.
  9. ^ Physical Geography of Switzerland bfs.admin.ch. Retrieved on 2010-05-06
  10. ^ Ice volume of Switzerland’s glaciers calculated sciencecentric.com. Retrieved on 2010-05-06
  11. ^ Landscape and climate cp-pc.ca. Retrieved on 2009-12-14
  12. ^ a ă Herbermann, Charles George (1913). The Catholic Encyclopedia. Encyclopedia Press. tr. 358.
  13. ^ Swiss Alps Jungfrau-Aletsch unesco.org
  14. ^ Climate in Switzerland about.ch, Retrieved on 2009-06-23
  15. ^ Country guide, Switzerland bbc.co.uk, Retrieved on 2009-11-20
  16. ^ International Palm Society
  17. ^ The strengths of Switzerland and its people, p.3[[]][liên kết hỏng] Federal Department of Foreign Affairs FDFA. Retrieved on 2009-12-02
  18. ^ Impact of climate change swissworld.org. Retrieved on 2010-01-14.
  19. ^ a ă â b The Swiss education system swissworld.org, Retrieved on 2009-06-23
  20. ^ “Shanghai Ranking 2008 Top 100 world universities in Natural Sciences and Mathematics”. Ed.sjtu.edu.cn. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010.
  21. ^ “Political System”. Federal Department of Foreign Affairs.
  22. ^ a ă Neutrality and isolationism swissworld.org, Retrieved on 2009-06-23
  23. ^ “Switzerland – Country history and economic development”. nationsencyclopedia.com. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2009.
  24. ^ Tristan Dennone. L’athéisme gagne en Suisse. Le Monde des Religions.fr
Bibliography
  • Church, Clive H. (2004) The Politics and Government of Switzerland. Palgrave Macmillan. ISBN 0-333-69277-2.
  • Dalton, O.M. (1927) The History of the Franks, by Gregory of Tours. Oxford: The Clarendon Press.
  • Fahrni, Dieter. (2003) An Outline History of Switzerland. From the Origins to the Present Day. 8th enlarged edition. Pro Helvetia, Zürich. ISBN 3-908102-61-8
  • Historical Dictionary of Switzerland (2002–). Published electronically and in print simultaneously in three national languages of Switzerland.

Tham khảo

Liên kết ngoài


Bénin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Benin)
Cộng hoà Bénin
République du Bénin (tiếng Pháp)
Flag of Benin.svg Coat of arms of Benin.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Bénin
Khẩu hiệu
Fraternité, Justice, Travail
(Tiếng Pháp: “Bác ái, Công bằng, Lao động”)
Quốc ca
L’Aube Nouvelle
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa dân chủ
Tổng thống Yayi Boni
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Pháp
Thủ đô Porto Novo, Cotonou
6°28′B, 2°36′Đ
Thành phố lớn nhất Cotonou
Địa lý
Diện tích 112.620 km² (hạng 101)
Diện tích nước 1,8% %
Múi giờ UTC+ 1
Lịch sử
Ngày thành lập 1 tháng 8, 1960
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 7.862.944 người (hạng 89)
Mật độ 69,8 người/km² (hạng 102)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 8.669 tỷ đô la Mỹ
HDI (2003) 0,431 thấp (hạng 162)
Đơn vị tiền tệ franc CFA (XOF)
Thông tin khác
Tên miền Internet .bj

Không nên nhầm lẫn với Vương quốc Benin, hiện ở vùng Benin của Nigeria, hay Thành phố Benin tại vùng đó
Bénin, tên chính thức Cộng hoà Bénin (tiếng Việt đọc là Bê-nanh), là một quốc gia Tây Phi, tên cũDahomey (cho tới năm 1975) hay Dahomania. Nó có chung biên giới với Togo ở phía tây, Nigeria ở phía đông và Burkina Faso cùng Niger ở phía bắc; bờ biển ngắn ở phía nam nước này dẫn tới Eo Benin. Thủ đô của Bénin là Porto Novo, nhưng chính phủ đóng trụ sở tại Cotonou.

Tên

Cái tên Bénin không hề liên quan tới Vương quốc Benin (hay Thành phố Benin).
Tên cũ, Dahomey, đã được thay đổi năm 1975 trở thành Cộng hòa Bénin, theo tên vùng nước bên cạnh quốc gia, Eo Benin. Cái tên này được chọn vì tính trung lập của nó, bởi các biên giới hiện tại của Bénin bao gồm hơn 50 nhóm ngôn ngữ khác biệt và con số gần tương đương như vậy các nhóm dân tộc. Cái tên cũ Dahomey là tên của Vương quốc Fon cổ, và đã bị coi là không thích hợp bởi sự đa dạng văn hóa trong đất nước hiện đại.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Bénin

Lễ hội tại Abomey, 1908

Vương quốc Dahomey tại Châu Phi được một nhóm sắc tộc bản địa thành lập tại đồng bằng Abomey. Nhà sử học IA Akinjogbin đã đưa ra lý thuyết cho rằng sự mất an ninh do tình trạng buôn bán nô lệ có thể đã góp phần vào việc di cư hàng loạt của các nhóm người khác nhau, gồm cả một thành phần gia đình hoàng gia tại thành phố Allada, tới Abomey. Các nhóm đó kết hợp xung quanh một nền văn minh quân sự chặt chẽ với mục tiêu đảm bảo an ninh và cuối cùng là mở rộng các biên giới của vương quốc nhỏ bé.
Dahomey được biết tới với nền văn hóa và các truyền thống riêng biệt của nó. Các chú bé được cho học nghề với những người lính từ khi còn rất nhỏ, và học về các truyền thống quân sự của vương quốc cho tới khi đủ tuổi gia nhập quân đội. Dahomey cũng nổi tiếng về một đội ngũ binh lính nữ ưu tú, được gọi là “Ahosi” hay “những người mẹ của chúng ta” trong tiếng Fongbe, nhưng thường được chuyển tự sang tiếng AnhDahomean Amazons. Sự nhấn mạnh trên nguyên tắc quân sự và thành công này khiến người Dahomey được những nhà nghiên cứu Châu Âu như Sir Richard Francis Burton đặt biệt hiệu “những Sparta đen nhỏ bé”. Hiến tế người là việc thường xuyên, theo các nguồn tin đương thời; vào những ngày lễ và những dịp đặc biệt, hàng ngàn nô lệ và tù binh chiến tranh bị chém đầu trước công chúng. Một số niềm tin tôn giáo Dahomey cho rằng việc chém đầu người sẽ làm tăng uy danh và quyền lực của nhà vua Dahomey cũng như cho các chiến binh của họ.
Dù những người thành lập Dahomey dường như ban đầu đã chống lại nó, việc buôn bán nô lệ luôn có trong tôn giáo của Dahomey trong hầu như suốt ba trăm năm, dẫn tới việc vùng này được gọi là “Bờ biển Nô lệ”. Những nhu cầu nghi lễ triều đình, đòi hỏi một phần tù nhân bị bắt giữ qua các trận chiến phải được đem ra chặt đầu, dẫn tới việc giảm số lượng nô lệ xuất khẩu từ vùng này. Con số này đã giảm từ 20.000 ở cuối thế kỷ 17 xuống còn 12.000 vào đầu thập niên 1800. Sự suy giảm một phần do nhiều quốc gia thuộc địa đã tuyên bố việc buôn bán nô lệ là trái pháp luật. Sự sụt giảm này tiếp tục kéo dài tới năm 1885, khi con tàu buôn cuối cùng của Bồ Đào Nha rời cảng với những người nô lệ trên boong từ một nơi thuộc Bénin ngày nay.
Cùng với vương quốc hùng mạnh Dahomey, một số lượng các quốc gia khác tại những vùng có người ở sau này sẽ trở thành Cộng hoà Bénin. Những quốc gia đáng chú ý gồm Ketu, Icha, Dassa, Anago, và các phụ nhóm của người nói tiếng Yoruba. Những nhóm này có quan hệ chặt chẽ với các phụ nhóm ở Nigeria ngày nay, và thường là kẻ đối địch với người Dahomey. Tuy nhiên, một số người lại là công dân của Dahomey và theo các tôn giáo như tại Porto Novo hiện nay, giữa hai nhóm có hôn nhân lai chủng.
Các dân tộc phía bắc là Borgu, Mahi, và nhiều nhóm sắc tộc khác tạo nên dân số hiện nay của quốc gia.
Tới giữa thế kỷ 19, Dahomey bắt đầu đánh mất vị trí và sức mạnh trong vùng, khiến người Pháp có cơ hội chiếm toàn bộ vùng này năm 1892. Năm 1899, vùng đất trở thành một phần của thuộc địa Tây Phi thuộc Pháp, vẫn giữ tên gọi là Dahomey. Năm 1958, nó được trao quyền tự trị với tên gọi Cộng hoà Dahomey, và bắt đầu có quyền độc lập hoàn toàn từ ngày 1 tháng 8 năm 1960.
Trong 12 năm tiếp theo, những xung đột sắc tộc dẫn tới một giai đoạn hỗn loạn. Nhiều cuộc đảo chính, thay đổi chế độ, với ba nhân vật chính là Sourou Apithy, Hubert MagaJustin Ahomadegbé, mỗi người trong số họ đều đại diện cho một vùng đất trong nước. Ba người này đã quyết định thành lập hội đồng tổng thống sau khi bạo lực đã ngăn cản cuộc bầu cử năm 1970. Năm 1972, một cuộc đảo chính quân sự do Mathieu Kérékou lãnh đạo đã lật đổ hội đồng. Ông lập ra một chính phủ theo chủ nghĩa Marx dưới quyền kiểm soát của Hội đồng Quân đội Cách mạng (CNR), và đất nước được đổi tên thành Cộng hòa Nhân dân Bénin năm 1975. Năm 1979, Hội đồng Quân đội Cách mạng giải tán và cuộc bầu cử diễn ra. Tới cuối thập niên 1980, Kérékou đã từ bỏ chủ nghĩa Marx sau một cuộc khủng hoảng kinh tế và quyết định tái lập hệ thống nghị viện tư bản. Ông bị đánh bại năm 1991 trong cuộc bầu cử trước Nicéphore Soglo, trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Châu Phi thôi chức sau một cuộc bầu cử. Ông quay trở lại nắm quyền sau chiến thắng tại cuộc bầu cử năm 1996. Năm 2001, một cuộc bầu cử với kết quả sít sao khác khiến Kérékou tiếp tục thắng cử một nhiệm kỳ nữa. Những đối thủ của ông đã đưa ra một số lời buộc tội gian lận trong bầu cử.
Tổng thống Kérékou và cựu Tổng thống Soglo không ra tranh cử trong cuộc bầu cử năm 2006, cả hai đều bị hiến pháp Bénin ngăn cấm tranh cử vì tuổi tác và Tổng thống Kérékou đã giữ hai nhiệm kỳ liên tiếp trước đó. Tổng thống Kérékou được nhiều người ca ngợi vì đã không tìm cách sửa đổi hiến pháp để có thể tiếp tục tại vị hay tranh cử nhiệm kỳ thứ ba, không giống như một số lãnh đạo Châu Phi khác. Một cuộc bầu cử, được cho là công bằng và tự do, đã được tổ chức ngày 5 tháng 3 năm 2006, và dẫn tới vòng loại trực tiếp giữa Yayi BoniAdrien Houngbédji. Vòng loại trực tiếp được tổ chức ngày 19 tháng 3 với thắng lợi của Yayi Boni, ông lên nhậm chức ngày 6 tháng 4. Thắng lợi của cuộc bầu cử đa đảng tại Bénin được ca ngợi rộng rãi, và Bénin được nhiều bên coi là một hình mẫu dân chủ tại Châu Phi.

Chính trị

Bài chính về chính trị và chính quyền của Benin có thể tìm đọc tại Loạt bài về chính trị và chính quyền của Benin.

Chính trị Bénin dựa trên mô hình cộng hoà đại diện dân chủ tổng thống, theo đó Tổng thống Bénin vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là lãnh đạo chính phủ, và trên một hệ thống đa đảng đa dạng. Quyền hành pháp do chính phủ đảm nhận. Quyền lập pháp vừa do chính phủ vừa do nhánh lập pháp đảm nhận. Tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp. Hệ thống chính trị hiện nay được thành lập theo Hiến pháp Bénin năm 1990 và cuộc chuyển tiếp dân chủ sau đó năm 1991.

Chính sách ngoại giao

Bénin là thành viên Liên Hiệp Quốc, thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (2004-2005), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi (AU), Cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie), FAO, IMF, WTO, ECOWAS (Cộng đồng Kinh tế Tây Phi) và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực khác.
Bénin tham gia tích cực vào các hoạt động gìn giữ hoà bình do ECOWASLiên Hiệp Quốc khởi xướng tại châu Phi như đóng góp quân cho lực lượng của Liên Hiệp Quốc ONUCI tại Bờ Biển Ngà, MONUC tại Cộng hòa Dân chủ Công Gô.
Chính sách đối ngoại của Bénin là ưu tiên hợp tác khu vực, coi trọng quan hệ với phương Tây, nhất là Pháp và các tổ chức quốc tế, tài chính quốc tế để tranh thủ vốn và kỹ thuật.

Khu vực hành chính

Bài chi tiết: Các vùng BéninLàng Bénin

Trong nhiều thập kỷ Bénin được chia thành sáu khu hay tỉnh, mỗi khu đã được chia ra làm hai năm 1999. Các tỉnh được chia thành 77 làng.
Mười hai tỉnh của Bénin gồm:

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Bénin

Bản đồ Bénin

Ảnh chụp vệ tinh của Bénin

Trải dài giữa sông Niger ở phía bắc và Eo Benin ở phía nam, cao độ của Bénin hầu như bằng nhau trên toàn đất nước. Đa phần dân số sống tại những đồng bằng ven biển phía nam, nơi có những thành phố lớn nhất nước, gồm Porto NovoCotonou. phía bắc đất nước đa phần gồm đồng cỏ và cao nguyên bán khô cằn.
Khí hậu Bénin nóng và ẩm với lượng mưa khá nhỏ so với các nước Tây Phi khác, dù có hai mùa mưa (tháng 4, tháng 6 và tháng 9 tháng 11). Trong mùa đông gió bụi harmattan có thể khiến trời đêm lạnh hơn.
Thành phố lớn nhất và là thủ đô là Cotonou. Cái tên Cotonou xuất phát từ câu ku tɔ nu (tại hồ thần chết) trong tiếng Fon, là phá ở bên cạnh. Đây là một minh chứng cho niềm tin rằng các ngôi sao rơi xuống tượng trưng cho những linh hồn người chết ở thế giới bên kia. Chuyện kể rằng khi Cotonou được thành lập, ánh sáng của các làng ven hồ Ganvié suốt dọc phá chiếu ánh lung linh trên mặt nước, cho thấy những ngôi sao rơi bên dưới. Ganvié là một làng chài gồm những nhà sàn ven hồ ở bờ phía tây phá.
Thị trấn Ouidah là thủ đô tín ngưỡng của vodun, được dân bản địa gọi là glexwe. Đây từng là một cảng nô lệ lớn thời Bồ Đào Nha. Thị trấn Abomey là thủ đô cũ của Vương quốc Dahomey, và các vị vua Fon luôn sống ở đó.
Tại tỉnh Atakora, các khu định cư Betamaribe bên cạnh biên giới Togolese được gọi là tata somba (nhà Somba); chúng nổi tiếng vì các pháo đài, với các ngôi nhà bên trong và những người dân ngủ trong các túp lều giữa các kho thóc trên mái.

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Bénin

Kinh tế Bénin còn ở tình trạng chưa phát triển và dựa chủ yếu vào nông nghiệp, sản xuất bông và thương mại vùng. Tăng trưởng sản xuất thực trung bình ở mức ổn định 5% trong sáu năm qua, nhưng mức tăng dân số quá nhanh khiến con số trên không còn mang ý nghĩa. Lạm phát đã giảm xuống trong những năm gần đây. Đề tăng mức tăng trưởng kinh tế hơn nữa, Bénin đã đưa ra các kế hoạch nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, nhấn mạnh hơn trên du lịch, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm mới và sản phẩm nông nghiệp, cũng như tăng cường công nghệ thông tintin học. Chính sách tư nhân hóa năm 2001 cần tiếp tục thực hiện ở cả lĩnh vực viễn thông, nước, điện, và nông nghiệp, dù chính phủ ban đầu có e ngại trong các lĩnh vực đó. Câu lạc bộ Paris và các chủ nợ đã giãn nợ cho Bénin, tuy nhiên vẫn thúc ép nước này tăng tốc cải cách cơ cấu.
Tài nguyên thiên nhiên có sắt (trữ lượng 1 tỷ tấn), phốt phát, vàng, đá trắngdầu lửathềm lục địa. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, chiếm 80% thu nhập quốc dân. Nông nghiệp Bénin lạc hậu, sản phẩm chủ yếu là lương thực và bông ngoài ra còn có dầu cọ, ngô, lạc, , ca cao v.v… Ngành chăn nuôi có cừu, . Bénin vẫn phải nhập phần lớn lương thực. Công nghiệp Bénin nhỏ bé, chủ yếu là ngành công nghiệp ép dầu cọ và khai thác sắt. Nền kinh tế ngầm (buôn bán lậu qua biên giới) chiếm đến 50% nền kinh tế Bénin.
Cảng Cotonu là bến quá cảnh của nhiều nước trong vùng Vịnh Bénin đã tạo nguồn thu ngoại tệ lớn cho Bénin. Bénin xuất khẩu bông, các sản phẩm từ cọ, dừa; nhập thực phẩm, các sản phẩm dầu lửa, thiết bị. Các bạn hàng chính: Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Thái Lan, Niger, Nigeria.

Nhân khẩu

Benin 20050824 6.jpg

Có hàng chục nhóm ngôn ngữ tại Bénin, đại diện ba hệ ngôn ngữ chính của Châu Phi: Niger-Congo, Nilo-SaharaÁ-Phi. Các ngôn ngữ Á-Phi (Aforasiatic) được đại diện bởi tiếng Hausa chủ yếu là những lái buôn sống ở phía bắc trong khi các ngôn ngữ Nilo-Sahara được đại diện bởi Dɛndi, hậu duệ của Đế chế Songhai. ngôn ngữ Dɛndi chiếm ưu thế dọc theo sông Niger ở miền cực bắc, và được dùng như một lingua franca trong các cộng đồng Hồi giáo trên toàn miền bắc, tại các tỉnh Alibori, Borgou và Donga. Trong ngữ hệ Niger-Congo năm nhóm chính gồm:

  • Nhóm Mande của người Boko hay Busa, hiện ở phía cực đông bắc (nam Alibori-bắc Borgou), nhưng trước kia đã từng được sử dụng rộng rãi bởi người Bariba
  • Nhóm Tây Đại Tây Dương bởi các bộ lạc du mục Fulbe rải rác phía đông bắc
  • Nhóm Benue-Congo bởi người Yoruba tại các tỉnh Collines và tỉnh cao nguyên, như cựu vương quốc Sakete, và thành phố thủ đô Porto-Novo, đã mở rộng ra phía bắc từ ƆyɔIfɛ trong giai đoạn thế kỷ 12 đến thế kỷ 19
  • Nhóm Gur (Voltaic) chiếm ưu thế tại bốn tỉnh phía bắc, với Batɔmbu (Bariba) của cựu Vương quốc Borgou (Bariba) chiếm đa phần miền thôn quê tại các tỉnh chia tách của nó sau này là Borgou và Alibori, cũng như thủ phủ tỉnh Parakou; Yom tại đa phần tỉnh Donga và thủ phủ Djougou của nó; cùng nhiều nhóm tại Atakora, gồm cả Bɛtamaribɛ của vùng nông thôn Otammari xung quanh thủ phủ Natitingou, Biali, Waama của Tanguiéta, và Gulmàceba.
  • Nhóm Kwa, đặc biệt là nhóm Gbe được người Tado ở các tỉnh trung và nam sử dụng: người Aja đã từng sinh sống tại tỉnh Kouffo từ nước láng giềng Togo dẫn tới sự hiện diện của những người Tado tại Bénin, ngoại trừ người Mina của tỉnh Mono, họ đến đây rải rác từ Togo hay Ghana: Văn hoá Fɔn tập trung ở tỉnh Zou xung quanh thủ đô cũ Fɔn Abomey, nhưng cũng chiếm ưu thế tại Cotonou và các vùng nam Đại Tây Dương như Ouidah; Maxi ở trung Collines, đặc biệt xung quanh Savalou; Ayizɔ trung Đại Tây Dương (Allada); XwlaXueda tại các phá dọc bờ biển; Tɔfin của Ouémé; và Gun của Porto-Novo. Nhóm Kwa được người Anii ở phía nam Donga trong vùng Bassila sử dụng, và Fooɖo ở phía tây Donga gần thị trấn Ouaké.

Theo số lượng, ngôn ngữ đông đảo nhất là tiếng Fon với 1.7 người sử dụng (2001), tiếp theo là các nhóm Yoruba (1.2 triệu), Aja (600.000), Bariba (460.000), Ayizo (330.000), Fulbe (310.000) và Gun (240.000). Gần các cảng ở phía nam có những người dân da sáng hơn, họ là hậu duệ của những nô lệ quay trở về từ Brasil. Cũng có một số nhỏ người Âu, chủ yếu là người Pháp, người Á, chủ yếu là LibanẤn Độ.
Các tôn giáo bản xứ được đa số người dân tin theo gồm cả các tôn giáo duy linh tại Atakora (các tỉnh Atakora và Donga), và Vodun trong các cộng đồng người Yoruba và Tado ở miền trung và nam đất nước. Thị trấn Ouidah ở bờ biển miền trung là trung tâm của Beninese vodun.
Các vị thần Yoruba và Tado rất giống nhau:

Các tôn giáo du nhập lớn nhất gồm Hồi giáo, bởi Đế chế Songhai và những nhà buôn Hausa, hiện có nhiều tín đồ trên khắp các tỉnh Alibori, Borgou, và Donga, cũng như trong cộng đồng Yoruba, với từ 10 đến 15% dân số; và Thiên chúa giáo, trên danh nghĩa có 10-15% tín đồ trên khắp miền trung và miền nam Bénin và tại OtammariAtakora. Tuy nhiên, đa số tín đồ Thiên chúa giáo tiếp tục giữ đức tin Vodun và đã đưa những vị thần Thiên chúa giáo vào trong các tín ngưỡng Vodun.

Văn hoá

Mọi người tin rằng Vodun (hay “Voodoo”, như thường được gọi) có nguồn gốc tại Bénin và đã được đưa tới Brasil, các quần đảo Caribbean, và nhiều phần Bắc Mỹ bởi các nô lệ từ thời vùng này còn là Bờ biển Nô lệ. Tôn giáo bản xứ Bénin được khoảng 60% tin theo. Từ năm 1992 Vodun đã được công nhận là một trong những tôn giáo chính thức của Bénin, và Ngày lễ Quốc gia Vodun được tổ chức vào ngày 10 tháng 1 hàng năm.
Nhiều người Bénin ở phía nam đất nước có tên dựa trên Akan thể hiện ngày sinh của họ trong tuần. Những cặp sinh đôi rất quan trọng trong văn hoá Bénin, và những tên đặc biệt thường được sử dụng cho chúng.
Các ngôn ngữ địa phương được sử dụng như các ngôn ngữ giáo dục ở cấp tiểu học, tiếng Pháp chỉ được sử dụng sau cấp này. Các ngôn ngữ tại Bénin nói chung được ghi bằng các ký tự riêng biệt cho mỗi âm (phoneme), chứ không sử dụng dấu phụ như trong tiếng Pháp hay chữ ghép như trong tiếng Anh. Cả tiếng Yoruba của Bénin, tại Nigeria được viết bằng cả dấu phụ và chữ ghép. Ví dụ, các ngữ âm giữa viết é è, ô, o trong tiếng Pháp được viết e, ɛ, o, ɔ trong các ngôn ngữ tại Bénin, trong khi các phụ âm được viết ngsh hay ch trong tiếng Anh được viết ŋc. Tuy nhiên, dấu phụ được dùng cho ngữ âm mũi và các phụ âm môi kpgb, như ở tên của ngôn ngữ Fon Fon gbe /fõ ɡ͡be/, và các dấu phụ được dùng như các dấu thanh. Trong những văn bản xuất bản bằng tiếng Pháp, phép chính tả lai Pháp và Bénin thường được sử dụng.

Chủ đề khác

Các trạm phát sóng TV – TV Quốc gia Kênh thương mại TV3, trụ sở tại Cotonou

Tham khảo

  • Adam, Kolawolé Sikirou và Michel Boko (1983), le Bénin. SODIMAS, Cotonou và EDICEF, Paris.

Liên kết ngoài

Chính phủ

Tin tức

Tổng quan

Văn hoá

Chỉ dẫn

Danh sách các quốc gia thuộc khối Bắc Đại Tây Dương


Chiến tranh Thanh-Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Thanh-Nhật
Chiến tranh Trung-Nhật thứ nhất, các trận và các lần di chuyển quân chínhChiến tranh Thanh-Nhật, các trận và các lần di chuyển quân chính
.
Thời gian 1 tháng 8 năm 189417 tháng 4 1895
Địa điểm Triều Tiên, Mãn Châu, Đài Loan, Hoàng Hải
Kết quả Đế quốc Nhật Bản giành thắng lợi
Thay đổi lãnh thổ Trung Quốc của nhà Thanh đất mất ảnh hưởng lên bán đảo Triều Tiên cho Đế quốc Nhật Bản.
nhà Thanh Trung Quốc nhượng Đài Loan, Bành Hồ, và bán đảo Liêu Đông cho Đế quốc Nhật Bản
Tham chiến
China Qing Dynasty Flag 1889.svg Nhà Thanh (Trung Quốc) Merchant flag of Japan (1870).svg Đế quốc Nhật Bản
Chỉ huy
Cờ của Nhà Thanh Lý Hồng Chương Flag of the Empire of Japan Yamagata Aritomo
Lực lượng
630.000 lính
Cờ của Nhà Thanh Lục quân Bắc Dương
Cờ của Nhà Thanh Hạm đội Bắc Dương
240.000 lính
War flag of the Imperial Japanese Army.svg Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Naval Ensign of Japan.svg Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Tổn thất
35.000 chết hoặc bị thương 13.823 chết,
3.973 bị thương
.

Chiến tranh Nhật-Thanh (theo cách gọi ở Nhật Bản, tiếng Nhật: 日清戦争, Nisshin Sensō), hay Chiến tranh Giáp Ngọ (theo cách gọi cũ ở Trung Quốc, tiếng Trung: 甲午戰爭, Jiǎwǔ Zhànzhēng) là một cuộc chiến tranh giữa Đại ThanhĐế quốc Nhật Bản diễn ra từ 1 tháng 8 năm 1894 đến 17 tháng 4 năm 1895. Cuộc chiến tranh này đã trở thành biểu tượng về sự suy yếu của nhà Thanh và chứng tỏ sự thành công của quá trình hiện đại hóa do công cuộc Minh Trị duy tân mang lại so với Phong trào Dương vụTrung Quốc. Kết quả chủ yếu của cuộc chiến này là một sự chuyển dịch sự chi phối khu vực châu Á từ Trung Quốc sang Nhật Bản và là một đòn chí mạng vào nhà Thanh và truyền thống cổ truyền Trung Quốc. Các xu hướng này sau đó đã dẫn đến cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911.

Bối cảnh và nguyên nhân

Nhật Bản từ lâu đã mong ước mở rộng lãnh địa của mình vào đại lục Đông Á. Trong thời kỳ cai trị của Toyotomi Hideyoshi vào cuối thế kỷ 16, Các cuộc xâm lược Triều Tiên của Nhật Bản (1592-1598) nhưng sau thành công ban đầu đã không thể giành được thắng lợi và kiểm soát hoàn toàn Triều Tiên.
Sau hai thế kỷ, chính sách đóng cửa đất nước dưới thời Mạc phủ Tokugawa đã đi đến kết thúc khi Nhật Bản bị Hoa Kỳ ép mở cửa giao thương vào năm 1854. Những năm tiếp theo cuộc Minh Trị duy tân năm 1868 và sự sụp đổ của chế độ mạc phủ, Nhật Bản đã tự chuyển đổi từ một xã hội khá lạc hậu và phong kiến sang một quốc gia công nghiệp hiện đại. Nhật đã cử các phái đoàn và sinh viên đi khắp thế giới để học và hấp thụ khoa học và nghệ thuật phương Tây, điều này đã được thực hiện nhằm giúp Nhật Bản tránh khỏi rơi vào ách thống trị của nước ngoài và cũng giúp cho Nhật có thể cạnh tranh ngang ngửa với các cường quốc phương Tây.

Xung đột về Triều Tiên

Là một quốc gia mới nổi, Nhật Bản chuyển hướng sự chú ý của mình đến Triều Tiên. Để bảo vệ an ninh và các lợi ích của mình, Nhật Bản vừa muốn sáp nhập Triều Tiên trước khi nó bất kỳ một cường quốc nào khác chiếm, hay ít nhất là đảm bảo Triều Tiên vẫn duy trì được nền độc lập của mình bằng cách phát triển các nguồn lực của nó và cải cách chính trị. Như cố vấn người Phổ cho quân đội Minh Trị Jakob Meckel đã nói, Triều Tiên là “con dao chỉ thẳng vào trái tim nước Nhật”. Nhật Bản cảm thấy một cường quốc khác có sự hiện diện quân sự tại bán đảo Triều Tiên sẽ bất lợi cho an ninh quốc gia Nhật Bản, và vì vậy Nhật Bản quyết tâm chấm dứt quyền bá chủ của Trung Quốc với Triều Tiên. Hơn nữa, Nhật Bản nhận ra rằng có thể tiếp cận với than và quặng sắt Triều Tiên sẽ có lợi cho sự phát triển nền tảng công nghiệp Nhật Bản.
Triều Tiên vẫn nạp cống phẩm theo truyền thống và tiếp tục chịu ảnh hưởng của nhà Thanh. Triều đại này cũng có ảnh hưởng lớn đến những vị quan bảo thủ Triều Tiên tập hợp xung quanh Hoàng gia của nhà Triều Tiên. Trong khi đó, nội bộ Triều Tiên bị chia rẽ. Những người cải cách muốn thiết lập quan hệ chặt chẽ hơn với Nhật Bản và các nước phương Tây. Sau Chiến tranh Nha phiếnChiến tranh Pháp-Thanh, Đại Thanh đã yếu hơn và không thể kháng cự lại sự can thiệp chính trị và xâm phạm lãnh thổ của các cường quốc phương Tây (xem Hiệp ước bất bình đẳng). Nhật Bản thấy được cơ hội của mình trong việc thay thế ảnh hưởng của Trung Quốc với Triều Tiên.
Ngày 27 tháng 2 năm 1876, sau khi các sự kiện nào đó và đối đầu với những người chủ trương cô lập Triều Tiên và người Nhật, Nhật Bản áp đặt Hòa ước Giang Hoa lên Triều Tiên, ép Triều Tiên phải tự mở cửa cho người Nhật và ngoại thương và tuyên bố độc lập khỏi Trung Quốc trong quan hệ đối ngoại.
Năm 1884 một nhóm các nhà cải cách thân Nhật lật đổ nhanh chóng chính quyền bảo thủ thân Trung Quốc trong một cuộc đảo chính đẫm máu. Tuy vậy, phe thân Đại Thanh, với sự giúp đỡ của quân đội nhà Thanh dưới quyền Viên Thế Khải, đã giành lại được quyền kiểm soát bằng một cuộc lật đổ không kém phần đẫm máu, dẫn đến cái chết của rất nhiều người cải cách. Họ còn đốt cháy Công sứ quán Nhật Bản và gây ra cái chết của vài người bảo vệ tòa công sứ và công dân Nhật. Điều này dẫn đến một sự kiện giữa Nhật Bản và Đại Thanh, nhưng cuối cùng được giải quyết bằng Điều ước Thiên Tân năm 1885, theo đó hai phía đồng ý: (a) đồng thời rút quân đội viễn chinh khỏi bán đảo Triều Tiên; (b) không gửi chuyên gia quân sự đến để huấn luyện quân đội Triều Tiên; và (c) thông báo cho phía bên kia trước khi một bên quyết định điều quân đến Triều Tiên. Tuy vậy, người Nhật Bản nổi giận vì những nỗ lực liên tiếp của người Trung Quốc nhằm làm xói mòn ảnh hưởng của họ tại Triều Tiên.

Vị thế của hai quân đội

Nhật Bản

Những cải cách của Nhật Bản dưới thời Thiên hoàng Minh Trị đã cho phép Nhật Bản có lực lượng lục quân và hải quân thực sự hiện đại. Nhật Bản gửi rất nhiều sĩ quan hải quân ra nước ngoài huấn luyện, và ước lượng sức mạnh và chiến thuật tương đối của lục quân và hải quân châu Âu.

Hải quân Đế quốc Nhật Bản

Tham chiến chính Japanese Navy Ensign
Hộ tống hạm
Matsushima (kỳ hạm)
Itsukushima
Hashidate
Naniwa
Takachiho
Yaeyama
Akitsushima
Yoshino
Izumi
Tuần dương hạm
Chiyoda
Thiết giáp hộ tống
Hiei
Kongō
Chiến hạm bọc thép
Fusō

Ito Sukeyuki là Tư lệnh Hạm đội liên hợp.

Matsushima, kỳ hạm của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trong chiến tranh Trung-Nhật.

Hải quân Đế quốc Nhật Bản được xây dựng theo mẫu Hải quân Hoàng gia Anh, khi ấy là cường quốc hải quân hàng đầu thế giới. Các cố vấn người Anh được gửi đến Nhật Bản để huấn luyện, cố vấn và giáo dục về tổ chức hải quân. Đồng thời, các sinh viên Nhật được gửi đến Liên hiệp Anh để học và nghiên cứu Hải quân Hoàng gia Anh. Qua tập luyện và giảng dạy với các hướng dẫn viên của Anh, Nhật Bản đã xây dựng được một lực lượng hải quân rất thành thạo trong việc bắn đại bác và điều khiển tàu.[1]
Thời gian đầu chiến sự, Hải quân Đế quốc Nhật Bản bao gồm một hạm đội (mặc dù thiếu chủ lực hạm) có 12 chiến hạm hiện đại (Tuần dương hạm Izumi (Hòa Tuyền) được bổ sung trong thời gian chiến sự), một tuần dương hạm (Takao) (Cao Hùng), 22 thuyền phóng lôi, và rất nhiều thương hạm vũ trang và tàu thủy được chuyển thành tàu chiến.
Nhật Bản không đủ nguồn lực để có một chủ lực hạm và vì vậy phải lên kế hoạch triển khai học thuyết “Jeune Ecole” (hạm đội nhỏ) với các tàu chiến nhỏ, chạy nhanh, đặc biệt là tuần dương hạm và tàu phóng lôi, chống lại các tàu chiến lớn.
Rất nhiều tàu chiến chính của Nhật được đóng tại các xưởng tàu của Anh và Pháp (8 chiếc ở Anh, 3 ở Pháp, và 2 ở Nhật) và 16 thuyền phóng lôi đã được đóng tại Pháp và tập hợp lại ở Nhật Bản.

Lục quân Đế quốc Nhật Bản

Chính quyền thời kỳ Minh Trị ban đầu xây dựng quân đội theo mẫu Lục quân Pháp. Các cố vấn Pháp đã được gửi đến Nhật theo hai phái đoàn quân sự (trong các năm 1872-18801884; đó được coi là các phái đoàn thứ hai và thứ ba, phái đoàn đầu tiên là dưới thời Mạc phủ Tokugawa). Chế độ nghĩa vụ quân sự toàn quốc được thực thi từ năm 1873 và quân đội nghĩa vụ kiểu phương Tây được hình thành; các kho vũ khí và trường quân sự cũng được xây dựng.
Năm 1886, Nhật Bản chuyển hướng theo Lục quân Đức, đặc biệt là Phổ như là nền tảng của lục quân. Học thuyết, hệ thống quân sự và cách tổ chức của nó được học tập chi tiết và ứng dụng vào lục quân Nhật. Năm 1885, Jakob Meckel, một cố vấn người Đức ứng dựng những phương pháp mới, ví dụ như tái tổ chức lại cấu trúc chỉ huy lục quân thành các sư đoàntrung đoàn, củng cố hậu cần, vận tải và công trình xây dựng của lục quân (bằng cách ấy tăng cường khả năng cơ động); và thành lập các trung đoàn pháo binhcông binh như những đơn vị độc lập.
Cho đến những năm 1890, Nhật Bản đã có một quân đội kiểu phương Tây hiện đại, chuyên nghiệp, được trang bị và cung cấp tương đối tốt. Các sĩ quan được du học nước ngoài và được đào tạo tốt về những chiếc lược và chiến thuật. Cho đến đầu cuộc chiến, Lục quân Đế quốc Nhật Bản có thể triển khai lực lượng 120.000 lính trong 2 tập đoàn quân và 5 sư đoàn.

Cơ cấu Lục quân Đế quốc Nhật Bản 1894-1895
Tập đoàn quân số 1
Sư đoàn địa phương số 3 (Nagoya)
Sư đoàn địa phương số 5 (Hiroshima)
Tập đoàn quân số 2
Sư đoàn địa phương số 1 (Tokyo)
Sư đoàn địa phương số 2 (Sendai)
Sư đoàn địa phương số 6 (Kumamoto)
Lực lượng dự bị
Sư đoàn địa phương số 4 (Osaka)
Lực lượng chiếm đóng Đài Loan
Sư đoàn cận vệ

Mãn Thanh

Mặc dù Quân đội Bắc Dương – Lục quân Bắc DươngHạm đội Bắc Dương – được trang bị tốt nhất và tượng trưng cho quân đội Thanh hiện đại, song tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng làm xói mòn sức mạnh quân đội. Các quan lại nhà Thanh biển thủ công quỹ một cách có hệ thống, thậm chí ngay cả trong giai đoạn chiến tranh. Kết quả là, Hạm đội Bắc Dương không có nổi một chủ lực hạm nào sau khi nó được thành lập vào năm 1868. Việc mua sắm vũ khí dừng lại vào năm 1891, khi ngân sách được chuyển sang xây dựng Di Hòa Viên ở Bắc Kinh. Hậu cần gặp khó khăn lớn do việc xây dựng tuyến đường sắt Mãn Châu đã bị đình lại. Sĩ khí của quân đội Thanh nói chung rất thấp vì thiếu lương và uy thế, việc sử dụng thuốc phiện, và lãnh đạo kém góp phần vào những cuộc rút chạy nhục nhã ví dụ như việc bỏ đồn Uy Hải Vệ được trang bị tốt và hoàn toàn có thể phòng ngự.

Lục quân Bắc Dương

Bài chi tiết: Lục quân Bắc Dương

Nhà Thanh không có lục quân quốc gia. Sau cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, quân đội của nước đã bị chia cắt thành các quân đội Mãn Châu, Mông Cổ, Hồi HộtHán riêng, rồi được chia thành kiểu chỉ huy mang nặng tính độc lập địa phương. Trong chiến tranh, lực lượng tham chiến phía Thanh chủ yếu là Lục quân và Hạm đội Bắc Dương. Lời kêu gọi cứu viện từ quân đội Bắc Dương tới các quân đội khác hoàn toàn bị bỏ mặc vì vấn đề thù địch địa phương. Hoài quânAn Huy quân còn lớn hơn Lục quân Bắc Dương nhưng lại không tham chiến.

Hạm đội Bắc Dương

Hạm đội Bắc Dương là một trong bốn đội hải quân hiện đại cuối thời nhà Thanh. Hải quân nhận được nhiều sự hậu thuẫn của Lý Hồng Chương, Tổng đốc Trực Lệ. Hạm đội Bắc Dương là hạm đội thống trị Đông Á trước Chiến tranh Nhật-Thanh, được coi là “hàng đầu Á Châu” và “lớn thứ 8 thế giới” trong thập kỷ 1880. Tuy vậy, các con tàu không được duy trì thích đáng và kỷ luật rất kém.[2]

Định Viễn, kỳ hạm của Hạm đội Bắc Dương

Pháo hạm Trấn Viễn của Trung Quốc

Hạm đội Bắc Dương Cờ của Nhà Thanh Lực lượng chính
Đại chiến hạm Đại chiến hạm Định Viễn (kỳ hạm), Đại chiến hạm Trấn Viễn
Thiết giáp hạm Thiết giáp hạm Kinh Viễn, Thiết giáp hạm Lai Viễn
Hộ tống hạm Hộ tống hạm Chí Viễn, Hộ tống hạm Tịnh Viễn
Tuần dương hạm Phóng lôi hạm (Torpedo Cruisers) Tế Viễn, Tuần dương hạm Quảng Bính, Tuần dương hạm Siêu Dũng, Tuần dương hạm Dương Uy
Tuần dương hạm ven biển Tuần dương hạm Bình Viễn
Hộ tống hạm hạng nhẹ Hộ tống hạm Quảng Giáp

khoảng 13 tàu phóng lôi, rất nhiều pháo hạm và thương hạm vũ trang

Mở đầu cuộc chiến

Năm 1893, nhà cách mạng Triều Tiên thân Nhật Bản, Kim Ngọc Quân (Kim Okkyun), bị điệp viên của Viên Thế Khải ám sát tại Thượng Hải. Thi thể của ông được mang lên một tàu chiến Trung Quốc và được gửi lại Triều Tiên, nơi nó bị cắt thành nhiều phần và trưng ra như một lời cảnh báo với các lực lượng thân Nhật khác. Chính phủ Nhật Bản coi đó là một sự sỉ nhục trực tiếp. Tình hình trở nên ngày càng căng thẳng khi triều đình Đại Thanh, theo yêu cầu của vua Triều Tiên Cao Tông, gửi quân đến giúp đàn áp Phong trào nông dân Đông học. Nhà Thanh thông báo cho chính phủ Nhật Bản biết về ý định của mình gửi quân đến bán đảo Triều Tiên phù hợp với Điều ước Thiên Tân, và cử tướng Viên Thế Khải làm đại diện toàn quyền dẫn đầu 2.800 quân. Người Nhật đáp lại rằng họ coi hành động này là một sự vi phạm Điều ước, và gửi quân đội viễn chinh 8.000 người đến Triều Tiên (lữ đoàn hỗn hợp Oshima). Quân đội Nhật Bản sau đó bắt giam Cao Tông, chiếm giữ Hoàng cung ở Seoul (Thủ Nhĩ) trước ngày 8 tháng 6 1894, và thay thế triều đình hiện tại bằng các thành viên từ phe thân Nhật. Mặc dù quân đội Trung Quốc đã rời khỏi Triều Tiên vì tự thấy mình không được chào đón ở đây, nhưng triều đình Triều Tiên thân Nhật mới vẫn cho phép Nhật Bản quyền đánh đuổi quân đội Trung Quốc bằng vũ lực. Nhật Bản đổ ngày càng nhiều quân vào Triều Tiên. Nhà Thanh không thừa nhận triều đình mới của Triều Tiên. Chiến sự vì thế bùng nổ.
1 tháng 6 năm 1894: Quân nổi loạn Đông học tiến về Seoul. Triều đình Triều Tiên yêu cầu nhà Thanh giúp đỡ đàn áp cuộc nổi dậy.
6 tháng 6 năm 1894: Nhà Thanh thông báo cho chính phủ Nhật Bản theo nghĩa vụ của Điều ước Thiên Tân về các chiến dịch quân sự của mình. Khoảng 2.465 lính Thanh di chuyển đến Triều Tiên trong vài ngày.
8 tháng 6 năm 1894: Khoảng 4.000 lính bộ binh và 500 lính thủy đánh bộ Nhật đổ bộ xuống Jemulpo (Tế Vật Phổ, nay là (Incheon (Nhân Xuyên)) bất chấp sự phản đối của Triều Tiên và Đại Thanh.
11 tháng 6 năm 1894: Phong trào nông dân Đông học bị dập tắt.
13 tháng 6 năm 1894: Chính phủ Nhật điện tín cho Tư lệnh các lực lượng Nhật Bản tại Triều Tiên, Otori Keisuke, rằng phải lưu trú tại Triều Tiên càng lâu càng tốt bất chấp cuộc nổi dậy đã chấm dứt.
16 tháng 6 năm 1894: Ngoại vụ đại thần Nhật Bản Mutsu Munemitsu gặp Uông Phượng Tảo, Đại sứ Thanh tại Nhật Bản, để thảo luận về vị thế tương lai của Triều Tiên. Uông tuyên bố rằng triều đình Đại Thanh dự định sẽ rút quân khỏi Triều Tiên sau khi cuộc nổi dậy bị dập tắt và hy vọng Nhật Bản cũng làm điều tương tự. Tuy vậy, nhà Thanh cũng bổ nhiệm một công sứ để chăm lo đến các lợi ích của mình ở Triều Tiên và để tái bảo đảm vị thế chư hầu truyền thống của Triều Tiên với Trung Quốc.
22 tháng 6 năm 1894: Quân tiếp viện của Nhật tới Triều Tiên.
3 tháng 7 năm 1894: Otori đề xuất các cải cách với hệ thống chính trị Triều Tiên, vốn bị những người bảo thủ và triều đình thân Trung Quốc bác bỏ.
7 tháng 7 năm 1894: Hòa giải giữa Đại Thanh và Nhật Bản do Đại sứ Anh làm trung gian kết thúc với thất bại của nhà Thanh.
19 tháng 7 năm 1894: Thành lập Hạm đội liên hợp Nhật Bản, bao gồm gần như toàn bộ các tàu lớn của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, để chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới.
23 tháng 7 năm 1894: Quân đội Nhật tiến vào kinh đô Seoul, bắt giam Triều Tiên Cao Tông và thành lập triều đình thân Nhật mới, hủy bỏ mọi Điều ước Thanh-Triều và cho Lục quân Đế quốc Nhật Bản quyền đánh đuổi Lục quân Bắc Dương khỏi Triều Tiên.

Các sự kiện trong chiến tranh

Khai chiến

Cho đến tháng 7 năm 1894, quân Thanh ở Triều Tiên có khoảng 3.000-3.500 lính và chỉ có thể tiếp tế bằng đường biển qua vịnh Asan. Quân Nhật có kế hoạch là ban đầu phong tỏa quân Thanh tại Asan và sau đó bao vây họ bằng bộ binh.

Đắm tàu Cao Thăng

Bài chi tiết: Trận P’ungto

Tàu Cao Thăng là một tàu buôn của Anh nặng 2.134 tấn do Indochina Steam Navigation CompanyLuân Đôn làm chủ, do thuyền trưởng T. R. Galsworthy chỉ huy và thủy thủ đoàn gồm 64 người. Chiếc tàu được triều đình Thanh thuê chở quân Thanh đến Triều Tiên. Ngày 25 tháng 7, Cao Thăng khởi hành tới Asan để tiếp viện cho quân Thanh ở đó với 1.200 lính cộng thêm lương thực và trang bị. Một sĩ quan pháo binh Đức, Thiếu tá von Hanneken, với vị trí cố vấn cho quân Thanh cũng ở trên tàu.
Ngày 25 tháng 7 năm 1894, các tuần dương hạm Yoshino, Naniwa, Akitsushima của hạm đội cơ động Nhật Bản, vốn đang tuần tra Asan, đụng đầu với Phóng lôi hạm Tế ViễnPháo hạm Quảng Ất. Những con tàu này đang đi ra khỏi Asan (Nha Sơn) để gặp một pháo hạm Trung Quốc khác, chiếc Pháo hạm Thao Giang, đang hộ tống tàu Cao Thăng đến Asan. Sau một cuộc chạm trán nhanh chóng, khoảng 1 giờ đồng hồ, chiếc Tế Viễn chạy thoát trong khi chiếc Quảng Ất bị mắc cạn, và kho thuốc súng của nó phát nổ.
Tuần dương hạm Naniwa (Lãng Tốc) (dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Togo Heihachiro) chặn đường Thao Giang và Cao Thăng. Thao Giang cuối cùng bị bắt sống. Người Nhật sau đó ra lệnh cho Cao Thăng đi theo Naniwa và yêu cầu những người châu Âu trên tàu chuyển qua tàu Naniwa. Tuy vậy, 1.200 quân Thanh trên tàu muốn trở về Taku, và đe dọa giết thuyền trưởng người Anh, Galsworthy và thủy thủ đoàn. Sau 4 giờ đàm phán, Thuyền trường Togo ra lệnh nổ súng vào con tàu. Những người châu Âu nhảy lên boong đều bị quân Thanh bắn hạ. Người Nhật cứu được vài người trong thủy thủ đoàn. Việc chiếc Cao Thăng bị đánh chìm tạo ra một trục trặc ngoại giao giữa Nhật Bản và Anh, nhưng hành động này được chỉ dẫn phù hợp với luật pháp quốc tế theo điều khoản đối xử với người làm binh biến.

Giao chiến ở Triều Tiên

Được triều đình Triều Tiên thân Nhật mới ủy nhiệm đánh đuổi quân Thanh khỏi lãnh thổ Triều Tiên bằng vũ lực, Thiếu tướng Oshima Yoshimasa dẫn lữ đoàn hỗn hợp Nhật Bản gồm 4.000 binh sỹ hành quân nhanh chóng từ Seoul xuống phía Nam đến vịnh Asan đối mặt với 3.500 quân Thanh đang đóng tại đồn Sŏnghwan (Thành Hoan) phía Đông Asan và Kongchu (Công Châu).
Ngày 28 tháng 7 năm 1894, quân hai bên chạm trán ngay ngoài Asan trong một trận đánh kéo dài đến 7 giờ 30 phút sáng ngày hôm sau. Quân Thanh dần dần mất trận địa vào quân Nhật đông hơn và mạnh hơn; cuối cùng tan vỡ và chạy về Pyongyang (Bình Nhưỡng). Thương vong phía quân Thanh là khoảng 500 người bị chết và bị thương. Phía quân Nhật là 82 người.
Chiến tranh Nhật-Thanh chính thức được tuyên bố vào ngày 1 tháng 8 năm 1894.
Quân Thanh còn lại ở Triều Tiên, cho đến ngày 4 tháng 8, rút lui đến thành phố phía Bắc Bình Nhưỡng, nơi họ hợp cùng đội quân mới được gửi đến. Lực lượng phòng thủ 13.000-15.000 người chuẩn bị và củng cố kỹ lưỡng cho thành phố, hy vọng sẽ cản trở được bước tiến của quân Nhật.
Lục quân Đế quốc Nhật Bản chia làm vài mũi cùng kéo về Bình Nhưỡng vào ngày 15 tháng 9 năm 1894. Quân Nhật đột kích vào thành phố và cuối cùng tiêu diệt quân Thanh nhờ một cuộc tấn công từ cánh. Quân Thanh đầu hàng. Tuy vậy, lợi dụng trận mưa lớn và đêm tối, lực lượng quân Thanh còn lại hành quân ra khỏi Bình Nhưỡng và tiến lên phía Bắc đến bờ biển và thành phố Uiju (Nghĩa Châu). Thương vong của quân Thanh là 2.000 người chết, 4.000 người bị thương. Của phía Nhật là 102 người chết, 433 người bị thương và 33 người mất tích. Toàn quân Nhật tiến vào Bình Nhưỡng sáng sớm ngày 16 tháng 9 năm 1894.

Hải chiến Hoàng Hải

Tiêu diệt hạm đội Bắc Dương

Hải quân Đế quốc Nhật Bản tiêu diệt 8 trong số 10 tàu chiến của Hạm đội Bắc Dương trên biển Hoàng Hải gần cửa sông Áp Lục ngày 17 tháng 9 năm 1894. Quyền thống trị mặt biển của người Nhật được khẳng định. Tuy vậy, quân Thanh vẫn đổ bộ được 4.500 lính ở gần sông Áp Lục.

Xâm lược Mãn Châu Lý

Sau thất bại ở Bình Nhưỡng, nhà Thanh bỏ Bắc Triều Tiên và chuyển sang giữ thế thủ trên các đồn ở sông Áp Lục bên phía Trung Quốc gần Áp Lục Giang. Sau khi nhận được quân cứu viện, ngày 10 tháng 10 quân Nhật nhanh chóng tiến về phía Bắc hướng đến Mãn Châu.
Đêm ngày 24 tháng 10 năm 1894, quân Nhật vượt được sông Áp Lục mà không bị phát hiện nhờ dựng các cầu phao. Chiều hôm sau, ngày 25 tháng 10 lúc 5 giờ chiều, họ tấn công đồn Hushan, phía Đông Áp Lục Giang. Lúc 10 giờ 30 tối, quân Thanh phòng thủ bỏ vị trí của mình và cho đến ngày hôm sau đã rút lui toàn bộ khỏi Áp Lục Giang. Với việc chiếm được Áp Lục Giang, Tập đoàn quân số 1 của Tướng Yamagata đã chiếm được ngoại ô thành phố Đan Đông. Trong khi đó, đội quân tháo chạy của Lục quân Bắc Dương nổi lửa đốt thành phố Phụng Thành. Quân Nhật đã đứng vững chắc trên lãnh thổ Trung Quốc với chỉ 4 người bị giết và 140 người bị thương.
Tập đoàn quân số 1 sau đó chia làm 2 hướng với Sư đoàn địa phương số 5 của Tướng Nozu Michitsura tiến đến thành phố Thẩm Dương và Sư đoàn địa phương số 3 của Trung Tướng Katsura Taro đuổi theo tàn quân Thanh về phía Tây đến bán đảo Liêu Đông. Cho đến tháng 12, Sư đoàn địa phương số 3 đã chiếm được các thị trấn Ta-tung-kau, Ta-ku-shan, Tự Nham, Tomu-cheng, Hai-cheng, và Kang-wa-seh. Sư đoàn địa phương số 5 hành quân chống lại thời tiết khắc nghiệt ở Mãn Châu Lý tiến đến Thẩm Dương.
Tập đoàn quân số 2 của Oyama Iwao đổ bộ xuống phía Nam bán đảo Liêu Đông ngày 24 tháng 10 và nhanh chóng chiếm được Tiến Hiền và Đại Liên vào các ngày 6-7 tháng 11. Quân Nhật bao vây cảng chiến lược Lữ Thuận.

Chiến tranh Nhật-Thanh, các trận đánh và hướng hành quân chính.

Lữ Thuận Khẩu thất thủ

Ngày 21 tháng 11 năm 1894, quân Nhật đã chiếm được thành phố Lữ Thuận. Quân Nhật được cho là đã thảm sát hàng ngàn thường dân Trung Quốc, trong một sự kiện gọi là Đại tàn sát Lữ Thuận (Lữ Thuận đại đồ sát).
Ngày 10 tháng 12 năm 1894, Kaipeng (ngày nay là Cái Huyện, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc) mất về tay Tập đoàn quân số 1 Nhật Bản.

Uy Hải Vệ thất thủ và sau trận đánh

Hải quân Thanh sau đó rút lui đến sau các công sự tại Uy Hải Vệ. Tuy vậy, họ lại bị lục quân Nhật Bản đột kích vào sườn quân phòng ngự bến cảng. Trận Uy Hải Vệ kéo dài 23 ngày bao vây với lực lượng bộ binh và thủy quân lớn diễn ra từ 20 tháng 1 đến 12 tháng 2 năm 1895.
Sau sự thất thủ của Uy Hải Vệ vào ngày 12 tháng 2 năm 1895 và thời tiết mùa đông bớt khắc nghiêt, quân đội Nhật tiến sâu hơn nữa xuống phía Nam Mãn Châu và Bắc Trung Quốc. Cho đến tháng 3 năm 1895, quân Nhật đã chiếm được các đồn kiểm soát đường biển đến Bắc Kinh. Đây sẽ là những trận đánh lớn cuối cùng, tuy vậy, hàng loạt các vụ xung đột lẻ tẻ vẫn tiếp diễn. Trận Doanh Khẩu diễn ra ngoài thành Doanh Khẩu, Mãn Châu Lý vào ngày 5 tháng 3 năm 1895.

Xâm lược Đài Loan và Bành Hồ

Ngày 26 tháng 3 1895, quân Nhật xâm lược và chiếm quần đảo Bành Hồ ngoài khơi Đài Loan mà không bị thương vong, trong khi đó vào ngày 29 tháng 3 năm 1895, quân Nhật dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Motonori Kabayama đổ bộ xuống phía Bắc Đài Loan và tiến lên chiếm toàn bộ nó.

Kết thúc chiến tranh

Hòa ước Mã Quan ký ngày 17 tháng 4 1895 theo đó nhà Thanh công nhận sự độc lập hoàn toàn của Triều Tiên, nhượng lại bán đảo Liêu Đông (ngày nay là phía Nam tỉnh Liêu Ninh) cho Nhật Bản “vĩnh viễn”. Thêm vào đó, Thanh phải trả cho Nhật Bản 200 triệu lượng bạc bồi thường chiến phí. Nhà Thanh cũng ký hiệp ước thương mại cho phép tàu của Nhật tiến vào sông Trường Giang, mở các nhà máy gia công ở các cảng theo điều ước và mở thêm bốn bến cảng nữa cho ngoại thương. Tuy vậy, các nước phương Tây đã can thiệp buộc Nhật phải từ bỏ bán đảo Liêu Đông để đổi lấy 30 triệu lạng bạc (450 triệu yen).

Bồi thường chiến phí

Sau chiến tranh, theo học giả Trung Quốc Jin Xide, nhà Thanh phải trả tổng cộng 340.000.000 lạng bạc cho Nhật Bản cho cả bồi thường chiến phí và chiến lợi phẩm, tương đương với 510.000.000 yên Nhật, bằng khoảng 6,4 lần thu ngân sách Nhật Bản. Tương tự, học giả Nhật Bản, Ryoko Iechika, tính toán rằng nhà Thanh đã trả tổng cộng 21.000.000 dollar Mỹ, bằng 1/3 tồng thu của triều Thanh để bồi thường chiến phí cho Nhật Bản, hay khoảng 320.000.000 yên Nhật, tương đương với thu ngân sách Nhật Bản trong vòng 2,5 năm.

Hậu chiến

Chiến thắng của Nhật Bản trong chiến tranh là kết quả của hai thập kỷ nỗ lực công nghiệp hóa và hiện đại hóa trước đó. Chiến tranh thể hiện sự vượt trội của chiến thuật và huấn luyện của người Nhật nhờ áp dụng kiểu quân sự Tây phương. Lục quân và Hải quân Đế quốc Nhật Bản có thể giáng cho quân Thanh hàng loạt thất bại qua tầm nhìn xa, tính nhẫn nại, chiến lược và sức mạnh tổ chức. Uy thế của nước Nhật tăng lên trong mắt quốc tế. Chiến thắng này đánh dấu việc Nhật Bản vươn lên thành một thế lực trong khu vực (nếu không phải là một cường quốc) theo nghĩa tương đương với phương Tây và là thế lực thống trị ở Á Đông.[3]
Cuộc chiến cũng đã hé lộ sự thiếu hiệu quả của triều đình, các chính sách, sự tham những trong hệ thống hành chính và sự mục nát của nhà Thanh (điều đã được nhận rõ từ hàng thập kỷ trước đó). Tình cảm bài ngoại công khai tăng lên và sau này lên tới đỉnh điểm trong cuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn 5 năm sau đó. Trong suốt thế kỷ 19, nhà Thanh không thể ngăn ngừa được sự xâm phạm lãnh thổ của nước ngoài—điều này cùng với lời kêu gọi cải cách và nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn sẽ là nhân tố chủ chốt dẫn đến cuộc cách mạng năm 1911 và sự sụp đổ của nhà Thanh năm 1912.
Mặc dù Nhật Bản đã đạt được điều mình mong muốn, cụ thể là chấm dứt ảnh hưởng của Trung Quốc với Triều Tiên, Nhật miễn cưỡng phải trả lại bán đảo Liêu Đông (Lữ Thuận) để đổi lấy sự bồi thường tài chính lớn hơn. Các cường quốc phương Tây (đặc biệt là Nga) trong khi không có mục đích nào với các điều khoản của hiệp ước, cảm thấy rằng nước Nhật không nên có được cảng Arthur, vì chính họ cũng có tham vọng với khu vực này của thế giới. Nga thuyết phục Đức và Pháp cùng với họ tạo áp lực ngoại giao với Nhật, dẫn đến cuộc Tam Cường can thiệp ngày 23 tháng 4 1895.
Năm 1898 Nga ký hợp đồng thuê bán đảo Liêu Đông trong vòng 25 năm và tiếp đó xây dựng một trạm hải quân tại cảng Lữ Thuận. Mặc dù việc này làm người Nhật tức điên, họ vẫn lo ngại với sự xâm lấn của nước Nga đến Triều Tiên hơn là đến Mãn Châu Lý. Các cường quốc khác, ví dụ như Pháp, Đức và Anh, lợi dụng tình hình của Trung Quốc mà nhận được các nhượng bộ về bến cảng và thương mại trả giá bằng sự suy tàn của nhà Thanh. Thanh ĐảoGiao Châu nhượng lại cho Đức, Vịnh Quảng Châu cho Pháp, và Uy Hải Vệ cho Anh.
Căng thẳng giữa Nga và Nhật leo thang trong những năm sau chiến tranh Trung-Nhật. Trong cuộc nổi dậy Nghĩa Hòa Đoàn Liên quân 8 nước được cử đến để đàn áp cuộc nổi dậy; Nga cử quân đội tiến vào Mãn Châu Lý như là một phần của liên quân. Sau khi đánh bại Nghĩa Hòa Đoàn, chính phủ Nga quyết định bỏ trống vùng này. Tuy vậy, cho đến năm 1903, họ thực tế lại tăng số lượng quân tại đây. Đàm phán giữa hai quốc gia (1901–1904) để thiết lập sự công nhận lẫn nhau về phạm vi ảnh hưởng (Nga với Mãn Châu Lý và Nhật với Triều tiên) liên tục bị người Nga làm cho đình đốn một cách có chủ đích. Họ cảm thấy rằng họ có đủ sức mạnh và sự tự tin để không chấp nhận bầy kỳ một sự thương lượng nào và tin rằng Nhật Bản sẽ không dám khai chiến với một cường quốc Âu Châu. Nga cũng có ý định sử dụng Mãn Châu Lý làm bàn đạp để mở rộng hơn nữa lợi ích của mình tại vùng Viễn Đông.
Năm 1902, Nhật Bản lập liên minh với Anh, các điều khoản của liên minh này chỉ rõ nếu Nhật Bản tham chiến tại Viễn Đông, và một cường quốc thứ ba tham chiến chống Nhật Bản, Anh quốc sẽ đến cứu viện người Nhật. Điều này có tác dụng ngăng cản cả Đức lẫn Pháp có bất kỳ một can thiệp quân sự nào trong cuộc chiến tương lai với Nga. Lý do của người Anh khi tham gia liên minh này cũng là để ngăn chặn việc nước Nga mở rộng ảnh hưởng xuống Thái Bình Dương, qua đó đe dọa các lợi ích của nước Anh.
Căng thẳng gia tăng giữa Nhật và Nga là kết quả của việc Nga không muốn tham gia thương thuyết và triển vọng Triều Tiên sẽ rơi vào tay người Nga, vì thế sẽ làm xói mòn các lợi ích của nước Nhật, từ đó, nước Nhật buộc phải hành động. Điều này là nhân tố quyết định và chất xúc tác để dẫn đến cuộc Chiến tranh Nga-Nhật (1904–05).

Xem thêm

Tham khảo

  • Chamberlin, William Henry. Japan Over Asia, 1937, Little, Brown, and Company, Boston, 395 pp.
  • Colliers (Ed.), The Russo-Japanese War, 1904, P.F. Collier & Son, New York, 129 pp.
  • Kodansha Japan An Illustrated Encyclopedia, 1993, Kodansha Press, Tokyo ISBN 4-06-205938-X
  • Lone, Stewart. Japan’s First Modern War: Army and Society in the Conflict with China, 1894-1895, 1994, St. Martin’s Press, New York, 222 pp.
  • Paine, S.C.M. The Sino-Japanese War of 1894-1895: Perception, Power, and Primacy, 2003, Cambridge University Press, Cambridge, MA, 412 pp.
  • Sedwick, F.R. (R.F.A.). The Russo-Japanese War, 1909, The Macmillan Company, NY, 192 pp.
  • Theiss, Frank. The Voyage of Forgotten Men, 1937, Bobbs-Merrill Company, 1st Ed., Indianapolis & New York, 415 pp.
  • Warner, Dennis and Peggy. The Tide At Sunrise, 1974, Charterhouse, New York, 659 pp.
  • Urdang, Laurence/Flexner, Stuart, Berg. “The Random House Dictionary of the English Language, College Edition. Random House, New York, (1969).
  • Military Heritage did an editorial on the Sino-Japanese War of 1894 (Brooke C. Stoddard, Military Heritage, tháng 12 năm 2001, Volume 3, No. 3, p. 6).
  • Nhật Bản chiếm ưu thế trong Chiến tranh Giáp Ngọ với nhà Thanh TQ

Chú thích

  1. ^ “Kỹ năng của các sĩ quan và thủy thủ Nhật Bản so với các đối thủ người Trung Quốc như so trời cao với vực sâu.” [1]
  2. ^ Naval Warfare, 1815-1914, Lawrence Sondhaus, p.168/170.
  3. ^ “Thế cân bằng quyền lực mới đã ra đời. Vị thế thống trị trong khu vực dài hàng thiên niên kỷ đột ngột kết thúc. Nhật Bản trở thành cường quốc số một châu Á, vị thế sẽ duy trì trong suốt thế kỷ 20”. Paine, The Sino-Japanese War of 1894-1895: Perception, Power, and Primacy.

Link liên quan

Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Trung văn giản thể: 中国人民解放军, Trung văn phồn thể: 中國人民解放軍, phiên âm Hán Việt: Trung Quốc Nhân dân Giải phóng Quân), gọi tắt là Nhân dân Giải phóng quân hoặc Giải phóng quân, là lực lượng vũ trang chủ yếu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Đây là quân thường trực lớn nhất thế giới và bao gồm các lực lượng: Lục quân, hải quân, không quân, và lực lượng hạt nhân.Trong chiến tranh thì cảnh sát vũ trang sẽ là nhánh thứ 5 của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Quân huy và quân kỳ

Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Ngày 15 tháng 6 năm 1949, hội nghị toàn thể lần thứ nhất Uỷ ban Trù bị Hội nghị Hiệp thương Chính trị Mới khai mạc tại điện Cần Chính (勤政), Trung Nam Hải (中南海), Bắc Bình (北平, nay là Bắc Kinh 北京) [1][2]. Hội nghị đã lấy danh nghĩa chủ tịch Uỷ ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Chính phủ Nhân dân Trung ương Mao Trạch Đông (毛澤東) và các phó chủ tịch Chu Đức (朱德), Lưu Thiếu Kỳ (劉少奇), Châu Ân Lai (周恩來), Bành Đức Hoài (彭德懷) ban hành mệnh lệnh “Về việc công bố kiểu dáng quân huy và quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc” (關於公布中國人民解放軍軍旗軍徽樣式) [3].
Quân huy Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (中國人民解放軍軍徽), còn gọi là “quân huy bát nhất” (八一軍徽), hình ngôi sao năm cánh màu đỏ viền vàng, bên trong khảm hai chữ “bát nhất” 八一. Ngôi sao đỏ tượng trưng cho nhân dân Trung Quốc đã được giải phóng, hai chữ “bát” 八(có nghĩa là “tám”) và “nhất” 一 (có nghĩa là “một”) biểu thị ngày mồng 1 tháng 8 năm 1927, ngày Đảng Cộng sản Trung Quốc phát động cuộc khởi nghĩa Nam Xương, được xem là ngày thành lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc [4].
Quân kỳ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, còn gọi là “quân kỳ bát nhất” (八一軍旗), nền màu đỏ, hình chữ nhật, tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng là 5:4, góc trên bên phải gần cán cờ có một ngôi sao vàng năm cánh và hai chữ “bát nhất” 八一 màu vàng, biểu thị kể từ ngày thành lập đến nay ánh sao xán lạn của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã chiếu rọi khắp Trung Quốc [5][6].

Quân ca

Mùa thu năm 1939 tại Diên An (延安) nhà thơ Công Mộc (公木) và nhạc sĩ người Triều Tiên Trịnh Luật Thành (鄭律成) cùng hợp tác sáng tác tổ ca “Đại hợp xướng Bát lộ quân” (八路軍大合唱) [7][8] “Hành khúc Bát lộ quân” (八路軍進行曲) do Công Mộc viết lời, Trịnh Luật Thành viết nhạc là ca khúc thứ tám trong tổ ca “Đại hợp xướng Bát lộ quân”. Thời kỳ nội chiến Quốc Cộng lần thứ hai, “Hành khúc Bát lộ quân” được đổi tên thành “Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân (人民解放軍進行曲), ca từ bị sửa đổi thêm bớt. Ngày mồng 1 tháng 5 năm 1953, Bộ Tổng tham mưu Uỷ ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Chính phủ Nhân dân Trung ương ban hành để thi hành thử “Điều lệnh nội vụ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Thảo án)” (中國人民解放軍內務條令(草案)), đổi tên “Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân” thành “Quân ca Quân Giải phóng Nhân dân” (人民解放軍軍歌). Ngày mồng 1 tháng 5 năm 1953, Uỷ ban Quân sự Cách mạng Nhân dân Chính phủ Nhân dân Trung ương lại ban bố “Điều lệnh nội vụ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Thảo án)”, đổi tên “Quân ca Quân Giải phóng Nhân dân” thành “Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân”. Năm 1965 “Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân” được đổi tên thành “Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc”. Ngày 25 tháng 7 năm 1988, Ủy ban Quân sự Trung ương quyết định lấy “Hành khúc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc” làm quân ca Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc [9][10].
Toàn văn ca từ quân ca Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc như sau[11]:

Trung văn phồn thể Trung văn giản thể Phanh âm Hán ngữ Âm Hán-Việt Dịch nghĩa
向前!向前!向前!
我們的隊伍向太陽,
腳踏著祖國的大地,
背負著民族的希望,
我們是一支不可戰勝的力量。
我們是工農的子弟,
我們是人民的武裝,
從無畏懼,
絕不屈服,
英勇戰鬥,
直到把反動派消滅乾淨,
毛澤東的旗幟高高飄揚。
聽!風在呼嘯軍號響,
聽!革命歌聲多嘹亮!
同志們整齊步伐奔向解放的戰場,
同志們整齊步伐奔赴祖國的邊疆,
向前!向前!
我們的隊伍向太陽,
向最後的勝利,
向全國的解放!
向前!向前!向前!
我们的队伍向太阳,
脚踏着祖国的大地,
背负着民族的希望,
我们是一支不可战胜的力量。
我们是工农的子弟,
我们是人民的武装,
从无畏惧,
绝不屈服,
英勇战斗,
直到把反动派消灭干净,
毛泽东的旗帜高高飘扬。
听!风在呼啸军号响,
听!革命歌声多嘹亮!
同志们整齐步伐奔向解放的战场,
同志们整齐步伐奔赴祖国的边疆,
向前!向前!
我们的队伍向太阳,
向最后的胜利,
向全国的解放!
Xiàngqián! Xiàngqián! Xiàngqián!
Wǒmen di duìwu xiàng tàiyáng,
Jiǎo tàzhe zǔguó di dàdì,
Bèifùzhe mínzú di xīwàng,
Wǒmen shì yī zhī bù kě zhànshèng di lìliang.
Wǒmen shì gōngnóng di zǐdì,
Wǒmen shì rénmín di wǔzhuāng,
Cóng wú wèijù,
Jué bù qūfú,
Yīngyǒng zhàndòu,
Zhídào bǎ fǎndòngpài xiāomiè gānjìng,
Máo Zédōng di qízhì gāogāo piāoyáng.
Tīng! Fēng zài hūxiào jūnhào xiǎng,
Tīng! Gémìng gēshēng duō liáoliàng!
Tóngzhìmen zhěngqí bùfá bēn xiàng jiěfàng di zhànchǎng,
Tóngzhìmen zhěngqí bùfá bēnfù zǔguó di biānjiāng,
Xiàngqián! Xiàngqián!
Wǒmen di duìwu xiàng tàiyáng,
Xiàng zuìhòu di shènglì,
Xiàng quánguó di jiěfàng!
Hướng tiền ! Hướng tiền ! Hướng tiền !
Ngã môn để đội ngũ thái dương,
Cước đạp trước Tổ Quốc để đại địa,
Bội phụ trước dân tộc để hy vọng,
Ngã môn thị nhất chi bất khả chiến thắng để lực lượng.
Ngã môn thị công nông để tử đệ,
Ngã môn thị nhân dân để vũ trang,
Tòng vô úy cụ,
Tuyệt bất khuất phục,
Anh dũng chiến đấu,
Trực đáo đả phản động phái tiêu diệt can tịnh,
Mao Trạch Đông để kỳ xí cao cao phiên dương.
Thính ! Phong tại hô khiến quân hiệu hưởng,
Thính ! Cách mệnh ca thanh đa liệu lượng !
Đồng chí môn chỉnh tề bộ phạt bôn hướng giải phóng để chiến trường,
Đồng chí môn chỉnh tề bộ phạt bôn phó tổ quốc để biên cương,
Hướng tiến ! Hướng tiến !
Ngã môn để đội ngũ hướng Thái dương,
Hướng tối hậu dể thắng lợi,
Hướng toàn quốc để giải phóng !
Tiến lên ! Tiến lên ! Tiến lên
Quân đội chúng ta tiến về mặt trời,
Bước trên mặt đất của quê hương,
Mang niềm hy vọng của dân tộc,
Chúng ta là một sức mạnh không thể đánh bại.
Chúng ta là con em của công nông,
Chúng ta là lực lượng vũ trang nhân dân,
Dũng cảm kiên cường,
Không bao giờ khuất phục,
Anh dũng chiến đấu,
Đến khi chúng ta tiêu diệt tất cả bọn phản động,
Ngọn cờ của Mao Trạch Đông phất tung bay.
Nghe ! Gió đang gầm và kèn hô vang,
Nghe ! Bài ca cách mạng tiếng trong trẻo !
Đồng chí ta trật tự tiến ra chiến trường để tiến tới giải phóng
Đồng chí ta trật tự tiến ra biến cương để bảo vệ tổ quốc
Tiến lên ! Tiến lên ! Tiến lên
Đội ngũ chúng ta hướng mặt trời,
Tiến tới kết thúc thắng lợi,
Tiến tới giải phóng toàn quốc!

Thể chế

Một quân nhân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc tại trại huấn luyện ở Thẩm Dương, tháng 3 năm 2007

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống chỉ huy của Quân đội Trung Quốc. Giải phóng quân Trung Quốc không chịu sự cai quản của Quốc vụ viện mà chịu sự cai quản của hai Ủy ban Quân sự Trung ương (Quân uỷ Trung ương), một cơ quan thuộc Nhà nước (Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước), còn một cơ quan thì thuộc Đảng. Trên thực tế, hai cơ quan này không xung đột vì ủy viên của hai cơ quan này thường đồng nhất với nhau. Thông thường, chỉ có một vài tháng trong mỗi năm năm thì ủy viên của hai hội đồng này mới khác nhau, đó là trong giai đoạn giữa một đại hội đảng, khi uỷ viên của Quân ủy Trung ương thay đổi và kỳ họp của Quốc hội Trung Quốc, khi Quốc hội bầu ra Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện trách nhiệm theo quyền hạn được quy định trong Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và theo Luật Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[12]
Tháng 12 năm 1982, Đại hội lần thứ 5 của Quốc hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã sửa đổi Hiến pháp quy định rằng Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương lãnh đạo toàn bộ các lực lượng vũ trang của quốc gia. Chủ tịch của Ủy ban Quân sự Nhà nước Trung ương được bầu chọn và miễn nhiệm bởi Hội nghị toàn thể của Quốc hội Trung Quốc trong khi các ủy viên thì do Ủy ban Thường vụ Quốc hội chọn ra. Tuy nhiên, Quân ủy Trung ương thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn là một cơ quan của Đảng, trực tiếp lãnh đạo quân đội và các lực lượng vũ trang khác. Trên thực tế, Quân ủy Trung ương Đảng sau khi hiệp thương với các bên, đề cử các ủy viên Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước để khi những người này thông qua các thủ tục pháp lý bầu cử có thể được Quốc hội Trung Quốc bầu vào Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước. Điều đó có nghĩa Quân ủy Trung ương thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy ban Quân sự Trung ương của Nhà nước là một nhóm và một tổ chức. Tuy nhiên, nhìn bề ngoài theo tổ chức thì hai Ủy ban này trực thuộc hai hệ thống khác nhau – hệ thống Đảng và hệ thống Nhà nước.
Do đó, các lực lượng vũ trang nằm dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản và cũng như thế đối với các lực lượng vũ trang của Nhà nước. Chế độ lãnh đạo chung này phản ánh xuất thân của Giải phóng quân Trung Quốc là một nhánh quân sự của Đảng và chỉ thành quân đội Nhà nước sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949.
Theo lệ thường, chủ tịch và phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương là các ủy viên dân sự của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhưng những người này không nhất thiết là những người đứng đầu của chính quyền dân sự. Cả Giang Trạch DânĐặng Tiểu Bình nắm giữ cương vị này ngay cả sau khi họ đã thôi giữ chức trong bộ máy Nhà nước và Chính phủ. Tất cả các ủy viên khác của Ủy ban Quân sự Trung ương đều sỹ quan đương nhiệm. Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không phải là người đứng đầu quân đội và thường chỉ là phó chủ tịch của Ủy ban Quân sự Trung ương.
Các cấp tổng cục của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bao gồm: Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Trang bị. Tổng cục Chính trị duy trì một hệ thống các chính ủy, đảm bảo sự trung thành với đảng và chính quyền dân sự. Ủy ban Quân sự Trung ương thực hiện quyền lãnh đạo quân đội ở cả Hải, Lục, Không quân và Tên lửa Đạn đạo Chiến lược (Nhị pháo, 二炮) thông qua bốn quân chủng. Ngoại trừ quân chủng Tên lửa Đạn đạo Chiến lược thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của Ủy ban Quân sự Trung ương; trong một quân khu, các đơn vị thuộc 3 quân chủng đầu phối hợp với nhau trong hiệp đồng tác chiến dưới sự chỉ huy thống nhất của quân khu đó. Các đơn vị Lục quân thuộc sự chỉ đạo của quân khu đó. Các đội Hải quân và Không quân thuộc sự lãnh đạo chung của quân khu và của quân chủng mình (ngành dọc).
Chế độ quân đội Nhà nước kế thừa và duy trì nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với các lực lượng vũ trang nhân dân. Đảng và Nhà nước cùng lập nên Ủy ban Quân sự Trung ương để thực hiện sự lãnh đạo quân sự tối cao đối với các lực lượng vũ trang. Hiến pháp năm 1954 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định rằng Chủ tịch nước thống soái các lực lượng vũ trang và quy định Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng (Hội đồng Quốc phòng là một cơ quan cố vấn, không lãnh đạo các lực lượng vũ trang). Ngày 28 tháng 9 năm 1954, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thiết lập lại Ủy ban Quân sự Trung ương làm lãnh đạo Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân. Kể từ đó trở đi, chế độ lãnh đạo chung giữa Đảng và Nhà nước đối với quân đội đã được thiết lập. Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo mọi công việc quân đội. Chủ tịch nước thống soái các lực lượng quân đội nhà nước và phát triển các lực lượng quân đội do Quốc vụ viện quản lý.
Để đảm bảo quyền lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản đối với quân đội, mỗi cấp ủy đảng trong các lực lượng quân sự thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các đơn vị và ban cấp trên xây dựng bộ máy chính uỷ và đảm bảo rằng các tổ chức cấp dưới hoạt động đồng nhất.

Kỳ hạn quân dịch

Về mặt lý thuyết thì tất cả công dân của CHNDTH có trách nhiệm phải đi nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên trong thực tế, việc thi hành nghĩa vụ quân sự với QĐGPNDTH lại là tự nguyện; tất cả công dân 18 tuổi đều phải đăng kí với nhà cầm quyền, tương tự như Hệ thống tuyển quân của Hoa Kỳ. Trừ một ngoại lệ dành cho các các tân sinh viên đại học (cả nam và nữ), là phải tham gia đợt tập huấn quân sự (thường kéo dài một tuần hoặc hơn) trước khi bắt đầu học đại học hoặc sau đó một năm. Thời hạn phục vụ trong lục quân là 36 tháng, trong không quân và hải quân là 48 tháng, trong lực lượng tên lửa chiến lược không ấn định thời hạn.[13]

Lịch sử tác chiến

Các sự kiện và các cuộc chiến lớn

Tổ chức quân đội

[14]

Quân số và biên chế[15]

– Tổng quân số lực lượng vũ trang chính quy: 2.300.000 người
– Tổng quân số dự bị động viên cục bộ: 1.000.000 người
– Tổng quân số dự bị động viên toàn quốc: 198.400.000 người
– Các đơn vị bán vũ trang:
+ Cảnh sát vũ trang: 110.000 người
+ Dân quân, dân cảnh: 3.000.000 người
+ Các đơn vị đặc biệt thuộc Bộ An ninh: 50.000 người

Lục quân

Tổng quân số: năm 2000 là 1.8; năm 2008 còn 1.5 triệu người; năm 2013 còn 850.000
Biên chế tổ chức[16]
Các đợn vị cấp quân đoàn: có 21 quân đoàn quân chính quy gồm:
– 44 sư đoàn bộ binh
– 10 sư đoàn xe tăng
– 5 sư đoàn pháo binh
Các đơn vị cấp sư đoàn, lữ đoàn độc lập
– 13 lữ đoàn xe tăng
– 15 lữ đoàn bộ binh
– 23 lữ đoàn pháo binh
– 3 sư đoàn đổ bộ đường không
– 5 sư đoàn bộ binh cơ giới hóa
– 1 sư đoàn pháo binh đặc biệt
– 4 lữ đoàn pháo + tên lửa phòng không lục quân
– 7 trung đoàn máy bay trực thăng

China military regions.jpg

Các đơn vị thuộc bảy quân khu:
Quân khu Thẩm Dương
Quân khu Bắc Kinh
Quân khu Nam Kinh
Quân khu Tế Nam
Quân khu Thành Đô
Quân khu Quảng Châu
Quân khu Lan Châu.
– 12 sư đoàn bộ binh
– 1 sư đoàn bộ binh sơn cước
– 4 lữ đoàn bộ binh độc lập
– 87 tiểu đoàn bộ binh độc lập
– 50 trung đoàn công binh
– 30 trung đoàn thông tin liên lạc
Khung các đơn vị dự bị:
– 50 khung sư đoàn bộ binh, pháo binh, phòng không
– 80 khung trung đoàn bộ binh, pháo binh độc lập
Trang bị vũ khí của bộ binh[17]
– Xe tăng: Tổng số 9.800 chiếc; trong đó có 5.000 xe tăng T54/59, 2.400 xe tăng lội nước PT76, 1.200 xe tăng T62/63, 800 xe tăng chủ lực T72, 200 xe tăng chủ lực ZYZ98/99.
– Xe bọc thép: 5.500 chiếc gồm các loại xe xích BMP-1, BMP-3, WN-3; bánh hơi: Honghe-70 (mẫu BTR-70), Honghe-80 (mẫu BTR-80), WZ-551
– Pháo lớn: hơn 14.500 khẩu, gồm các loại: lựu pháo 85 mm, lựu pháo 105 mm, lựu pháo 155 mm, pháo nòng dài 122 mm, pháo nòng dài 130 mm, pháo tự hành 152 mm đặt trên bệ xe tăng T54/59, pháo chống tăng 57 mm và 100 mm.
– Súng cối: hơn 100.000 khẩu các cỡ nòng: 60 mm, 82 mm, 120 mm và 160 mm.
– Hoả tiễn đất đối đất bắn loạt: 2.300 giàn các loại BM12-13, BM-27, BM-40
– Súng và tên lửa chống tăng: RPG-2, RPG-7B, AT-3 Sagger, Jevelin, Gustav…
– Súng phòng không bộ binh: 15.000 cao xạ các loại 24 mm, 37 mm, 57 mm, 100 mm; 180 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa Hongqi-2 (SAM-2); 15 bộ khí tài + bệ phóng tên lửa 9K330 (Tor-M1), 100 bộ khí tài + bệ phóng Hongqi-3 (SAM-3).
– Trực thăng: 243 chiếc các loại Mi-8 (trực thăng đa chức năng), Mi-17(trực thăng vận tải) và Mi-24 (trực thăng chiến đấu)
– Vũ khí hạng nhẹ của bộ binh: Đại liên Trường An (mẫu đại liên Goriunov), đại liên SK-75; trung liên RPD, RPK; các loại súng trường chiến đâu, Type56sao chép AK-47 AK-47(Kalasnicov), AK-74(Nikonov), M-4 sao chép sử dụng hạn chế ở một số lực lượng nhất định QBZ-95, K63, K89, K95; các loại súng trường SKS, K84.v.v…

Không quân

Biên chế, tổ chức
– Tổng quân số: 398.000 người
– Tổ chức:
+ 195 phi đội tiêm kích và tiên kích – bom
+ 120 phi đội cường kích
+ 42 phi đội ném bom
+ 15 phi đội trinh sát
+ 50 phi đội vận tải, tiếp dầu
+ 24 phi đội trực thăng
+ 8 trung đoàn cao xạ phòng không
+ 2 Trung đoàn tên lửa Hongqi-2
+ 2 trung đoàn tên lửa S-300RMU
+ 8 tiểu đoàn tên lửa SA-20RMU2
Vũ khí, khí tài
– Máy bay ném bom:
+ 120 chiếc H-6 (TU-16)
+ 120 chiếc H-7 (IL-28)
+ 400 chiếc Q-5 (TU-16)
– Máy bay tiêm kích và tiêm kích – bom
+ 150 chiếc J-5 (MIG-17)
+ 1.800 chiếc J-6 (MIG 19)
+ 500 chiếc J-7 (MIG 21)
+ 180 chiếc J-8
+ 120 chiếc J-10 (FT-2000)
+ 24 chiếc J-11 (SU-27)
+ 48 chiếc SU-27
+ 23 chiếc SU-30MK
– Máy bay trinh sát:
+ 18 chiếc BA-1E
+ 12 chiếc KJ-200
+ 8 chiếc KJ-2000
– Máy bay vận tải quân sự:
+ 44 chiếc vận tải IL-76
+ 4 chiếc tiếp dầu trên không IL-78
+ 10 chiếc vận tải IL-18
+ 300 chiếc Y-5 (AN-2)
+ 56 chiếc Y-7 (AN-24)
+ 24 chiếc Y-8 (AN-12)
+ 15 chiếc Y-11
+ 2 chiếc Y-12
– Máy bay trực thăng:
+ 6 chiếc AS-332
+ 4 chiếc BELL-214
+ 80 chiếc Mi-8
+ 24 chiếc Mi-17
+ 25 chiếc Z-5 (Mi-4)
+ 18 chiếc Mi-24
+ 50 chiếc Z-9 (SA-365N)
– Máy bay huấn luyện:
+ Hơn 150 chiếc các loại YAK-51, L-39 và YAK-18

Hải quân

– Tổng quân số: 235.000 người; trong đó
+ Hải quân hạm tàu: 230.000 người
+ Không quân của hải quân: 25.000 người, gồm 24 trung đoàn
+ Hải quân đánh bộ: 9.000 người gồm 2 lữ đoàn (mỗi lữ đoàn gồm 3 tiểu đoàn TQLC, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 tiểu đoàn xe lội nước, 1 tiẻu đoàn pháo binh)
+ Hải quân tuần duyên: 28.000 người gồm 28 trung đoàn chia làm 28 vùng phòng thủ.

Các căn cứ, quân cảng chính

Liễu Sơn, Hồ Lô Đảo, Thanh Đảo (căn cứ chỉ huy hạm đội Bắc Hải), Thượng Hải, Ninh Ba (căn cứ chỉ huy hạm đội Đông Hải), Chu Sơn, Vân Châu, Tây Dân, Quảng Châu, Trạm Giang (căn cứ chỉ huy hạm đội Nam Hải), Tam Á (căn cứ tàu ngầm).

Vũ khi, trang bị

– Tàu ngầm hạt nhân:
+ 3 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm xa: K-092/Xia (lớp Hạ), K-93/Shang (lớp Thương), K-94/Jin (lớp Tấn)
+ 5 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hạt nhân tầm trung K-91/Han (lớp Hán).
+ 13 tàu ngầm diezel-điện K-30 lớp ROMEO
+ 18 tàu ngầm diezel-điện K-35 lớp Ming
+ 17 tàu ngầm diezen-điện K-51 lớp Kilo
+ 15 tàu ngầm diezel-điện lớp Yuan (Nguyên)
– Tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu trợ chiến
+ 3 soái hạm K-052C lớp Luyang (Lữ Dương)
+ 2 tuần dương hạm K-51C lớp Luzhou (Lữ Châu)
+ 43 tàu khu trục tên lửa lớp K-22 lớp Houbei (Hồng Bại, 紅稗)
+ 8 tàu khu trục tên lửa lớp K-054A/Meenshan Mẫn Sơn)và K-054B/Jiangkai (theo mẫu tàu Sovremenny của Nga)
+ 3 tàu khu trục tàng hình K-021 lớp Houku
+ 7 tàu khu trục K-18 lớp Luda (Lữ Đại).
+ 27 tàu với mìn K-010 lớp T-43.
+ 234 tàu tuần duyên kiểu Hải tuần
+ 28 tàu phóng lôi các loại.
+ 6 tàu chở dầu, 48 tàu vận tải (huy động từ tàu dân sự khi có chiến sự)
– Tàu đổ bộ:
+ 36 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng nặng kiểu K-072-II và K072-III lớp Yuting
+ 32 tàu đổ bộ bộ binh + xe tăng hạng trung kiểu K-071
+ 9 tàu đổ bộ bộ binh kiểu LCU
+ 44 cano hạng trung
+ 9 tàu đổ bộ chạy bằng đệm khí.
– Máy bay của hải quân
+ 180 chiếc tiêm kích – bom J-8, J-10
+ 36 chiếc Su-27UKN
+ 40 trực thăng Ka-25
+ 360 trực thăng Mi-8, Mi-17
+ 220 trực thăng Z-9C
– Phương tiện chiến đấu trên bộ của hải quân
+ Xe tăng T59, T63
+ Xe thiết giáp WZ-551
+ Pháo lựu 122 mm
+ Pháo tầm xa 130 mm
+ Hỏa tiễn phóng loạt HM-12
– Các loại tên lửa
+ 120 tên lửa đất đối hạm YJ-62 và YJ-62C,
+ Tên lửa hạm đối hạm các loại: HHQ-7 (Con tằm), YJ-83.
+ Tên lửa hạm đối không SA-N-20
+ Tên lửa đạn đạo hạm đối đất Julang-1,
+ Tên lửa hành trình SS-N-22/SUNBURN và SS-N-27/SIZZLER phóng từ tàu ngầm.
Hiện nay, Trung Quốc vừa hoàn thành việc thử tên lửa hạm đối đất mang đầu đạn hạt nhân Julang-2 (JL-2 trang bị cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược và tàu ngầm lớp Kilo; đồng thời, trang bị loại tên lửa YJ-1 (Ying ji-1) (âm Hán Việt là Ưng Kích 1) cho các tàu ngầm hạt nhân chiến lược.

Lực lượng tên lửa chiến lược

Lực lượng tên lửa chiến lược (SMF) của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) được Trung Quốc gọi là lực lượng pháo binh thứ hai (Đệ nhị pháo binh bộ đội) đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Bộ Quốc phòng CHND Trung Hoa có trách nhiệm chỉ huy, quản lý các phương tiện phóng, đầu đạn và các phương tiện, vật chất, kỹ thuật bảo đảm khác.
Biên chế, tổ chức
Toàn bộ SMF của PLA có biên chế 11.000 người (không kể lực lượng khoa học kỹ thuật dân sự phục vụ có thời hạn). Tổ chức SMF của PLA được phân thành 4 cấp:
– Bộ Tư lệnh;
– Căn cứ khu vực: gồm 4 vùng tác chiến, 2 vùng bán quân sự và 1 vùng huấn luyện mang các mật danh Cxx:
+ Căn cứ C51 ở vùng Đông Bắc: Sở chỉ huy đặt tại Cáp Nhĩ Tân; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80301 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Mãn Châu bằng đường sắt và đường bộ.
+ Căn cứ C52 ở Hoa Trung: Sở chỉ huy đặt tại [Tây An?], thuộc tỉnh An Huy; lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80302 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Hoàng Sơn, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Bắc sông Trường Giang bằng đường sắt và đường bộ.
+ Căn cứ C53 ở Thanh Hải: Sở chỉ huy đặt tại Lan Châu, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80306 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Thiểm Tây – Ninh Hạ, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Thanh Hải – Tân Cương bằng đường bộ.
+ Căn cứ C54 ở Cao nguyên Vân – Quý: Sở chỉ huy chính đặt tại Côn Minh, thuộc tỉnh Vân Nam, lực lượng tác chiến của căn cứ này là đơn vị 80303 (gồm 3 lữ đoàn) đóng lại Liêu Ninh, một trong các lữ đoàn này có khả năng cơ động khắp vùng Vân – Quý và Tứ Xuyên bằng đường bộ.
+ Căn cứ C55 ở vùng Nội Mông; được chuyển thành căn cứ bán quân sự từ năm 1992.
+ Căn cứ C56 ở tỉnh ven biển Phúc Kiến; được chuyển thàng căn cứ bán quân sự từ năm 2008 (sau khi Mã Anh Cửu, người của Quốc dân Đảng lên cầm quyền ở Đài Loan)
+ Vùng tác chiến thử nghiệm, nơi huấn luyện, căn cứ hàng không vũ trụ đồng thời là nơi dự trữ đầu đạn C22 tại khu vực Bảo Kê (Baoji) tỉnh Thiểm Tây.
– Lữ đoàn tác chiến (gồm 12 lữ đoàn tác chiến); mỗi căn cứ quân sự có 2 lữ đoàn có bệ phóng cố định và 1 lữ đoàn có bệ phóng di động.
– Tiểu đoàn tác chiến, (mỗi lữ đoàn có 2 tiểu đoàn tác chiến và 1 tiểu đoàn kỹ thuật bảo đảm);
Trang bị vũ khí, khí tài
– 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-3 (CSS-2) IRBMs (Đông Phong-3) có cự ly tác xạ tối đa 4.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-21)
– 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-4 (CSS-3) IRBMs có cự ly tác xạ từ 5.500 – 7.000 km; (tương lai sẽ thay bằng Dongfeng-31)
– 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-5 (CSS-4) IRBMs có cự ly tác xạ tối đa 13.000 km;
– 80 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21 (CSS-5) MRBMs có cự ly tác xạ 1.500 km;
(Các loại tên lửa này đều mang đầu đạn đơn)
– 300 tên lửa đạn đạo Dongfeng-15 (CSS-6) SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 600 km;
– 600 tên lửa đạn đạo Dongfeng-11 (CSS-7)SRBMs có cự ly tác xạ tối đa 300 km;
– 20 tên lửa đạn đạo Dongfeng-21C (CSS-5 Mod-3) MRBMs có cự ly tác xạ 4.500 km;
– 30 tên lửa đạn đạo Dongfeng-31 (CSS-9) và Dongfeng 31-A có cụ ly tác xạ từ 8000 km – 12000 km.
– 45 tên lửa hành trình phóng từ mặt đất DH-10
(Các loại tên lửa này đều có thể mang từ 5 đến 7 đầu đạn, tiến đánh cùng lúc từ 5 đến 7 mục tiêu)
Hiện nay, Trung Quốc đã nghiên cứu chế tạo và thử thành công loại tên lửa Dongfeng-32 (DF-32) có tầm bắn xa đến 11.500 km, có khả năng vượt qua hệ thống tên lửa đánh chặn SMD của Mỹ.

Một số vấn đề mới về vũ khí bộ binh

Thời kỳ đỉnh điểm khoảng những năm 1980-1990, PLA có khoảng 10.000 xe tăng, giảm dần còn khoảng 6.000-8.000 xe tăng trong vòng vài năm qua. Số xe tăng Trung Quốc sản xuất theo mẫu xe tăng Liên Xô T-54A (Type 59 and Type 69) chiếm đến hơn hai phần ba tổng số xe tăng. Đồng thời với việc cho nghỉ hưu các xe tăng loại cũ Type-59/69, thay thế bằng thế hệ hai Type 88Type 96, PLA cũng nâng cấp số xe tăng Type-59/69 còn lại với những công nghệ mới, bao gồm hệ thống liên lạc và kiểm soát hỏa lực cải tiến, thiết bị nhìn đêm, giáp ERA, động cơ được nâng cấp, và hỏa tiễn chống tăng bắn bằng pháo chính, khiến cho chúng có thể tiếp tục phục vụ như các giàn hỏa lực cơ động. Loại xe tăng mới nhất là Type 99, bắt đầu phục vụ từ năm 2001.
PLA cũng có chừng 2.000 xe tăng hạng nhẹ, kể cả loại Type-62 hạng nhẹ và xe tăng lội nước Type-63, bắt đầu đưa vào sản xuất từ những năm 1960s. Loại Type-63 được nâng cấp đặc biệt với hỏa lực được máy tính hóa, trang bị tên lửa chống tăng (ATGM), thiết bị tác chiến đêm, hệ thống định vị bằng vệ tinh, và nâng cấp mã lực.

Vũ khí hóa học

Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là một thành viên của Nhóm Australia, một tổ chức được thành lập năm 1985 để theo dõi sự phát triển nhanh chóng của việc sử dụng hóa chất vào mục đích kép (dùng trong dân sự và quân sự) và để kết hợp việc quản lý mặt hàng hóa chất xuất khẩu cũng như các thiết bị được sử dụng trong ngành hóa học. Vào tháng tư 1997, PRC thông qua Quy ước vũ khí Hóa học (CWC) và trong tháng chín năm 1997, Trung Quốc đã công bố một chỉ thị quản lý hàng xuất khẩu vũ khí hóa học mới.

Hệ thống cơ bản không gian

PLA đang triển khai một số chương trình không gian tạo cơ sở cho việc sử dụng hệ thống này vào mục đích quân sự bao gồm:

Vào ngày 11 tháng Giêng, 2007 tại trung tâm vũ trụ Tây Xương, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc tiến hành thử nghiệm thành công một tên lửa chống vệ tinh.[20]

Chuyến bay vào không gian có người

Quân đội Nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm đối với Chương trình Bay vào không gian có người lái của Trung Quốc. Đến này, tất cả các taikonautđã được tuyển chọn trong số Không quân Quân đội Nhân dân Trung Quốc. Trung Quốc đã trở thành quốc gia thứ 3 duy nhất đưa người vào vũ trụ bằng các trang thiết bị do mình chế tạo với chuyến bay của trung tá Dương Lợi Vĩ trên tàu vũ trụ Thần Châu 5 vào ngày 15 tháng 10 năm 2003. Sau chuyến bay thành công, Dương Lợi Vĩ được phong cấp hàm đại tá.

Ngân sách quốc phòng Trung Quốc

Theo Trung Quốc công bố chính thức thì ngân sách quốc phòng của nước này trong một số năm gần đây như sau: năm 2000 là 13 tỷ USD, năm 2007 là 52 tỷ USD, năm 2008 là 61 tỷ USD, năm 2009 là 70,27 tỷ USD, năm 2013 là hơn 100 tỷ USD. Tuy nhiên, Mỹ, Nhật Bản và một số nước phương Tây cho rằng những con số đó rất thấp so với thực tế. Theo phía Mỹ, ngân sách quốc phòng Trung Quốc năm 2008 có thể đạt đến 122 tỷ USD vì chỉ riêng việc trang bị động cơ mới cho toàn bộ 273 chiếc SU-27, SU-30MK và J-11 (loại máy bay sao chép từ SU-27) đã tiêu tốn không dưới 2 tỷ USD. Phía Trung Quốc cho rằng, nguy cơ quân sự từ phía họ đã bị phương Tây thổi phồng.

Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương

Theo nguồn tin từ các chuyên gia quân sự Nga (được Interfax-ABN trích dẫn), Hải quân Trung Quốc đang có kế hoạch thành lập 2 hạm đội xuyên đại dương hùng mạnh trước năm 2050 với tên gọi: Kế hoạch Con rồng đỏ (Xích long). Hạm đội này có thể triển khai tác chiến ở bất kỳ khu vực nào trên Thái Bình Dương. Trung Quốc cũng có kế hoạch hiện đại hóa các “hạm đội nước vàng” (hạm đội ven bờ) của họ thành “hạm đội nước sâu” (hạm đội biển khơi) trước năm 2020 với 2 nhiệm vụ “Mạch đảo” nhiệm vụ kiểm soát đến các tuyến chiến lược:
– Mạch đảo thứ nhất: phía Bắc đến Vladivostok (Nga), Hokkaido (bắc Nhật Bản), Nampo (thuộc Hàn Quốc), Ryukiu (Trung Quốc gọi là Lưu Câu Kiều, quần đảo Điếu Ngư Đài (Trung Quốc đang tranh chấp với Nhật Bản)Quần đảo Nansi (Nam Sa, tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam), quần đảo Philippines; các vùng biển Hoàng hải, Đông Hải (tức biển Hoa Đông), Nam Hải (tức Biển Đông) đến eo biển Malacca (Singapor) và quần đảo Indonesia. Trọng điểm của giai đoạn “Mạch đảo thứ nhất” là Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa)
– Mạch đảo thứ hai: phía Bắc đến quần đảo Aleutians (Hoa Kỳ), qua các vùng đảo Kuril (quần đảo đang có sự tranh chấp Nga-Nhật), Mariana, Carolina (thuộc Mỹ) và New Guinea (Bắc Australia). Trọng điểm của giao đoạn “Mạch đảo thứ hai”” là khống chế Hawai và bờ Tây nước Mỹ.
Kế hoạch này còn bao gồm các hoạt động bảo vệ lợi ích của Trung Quốc (bằng sức mạnh) đối với các ngồn tài nguyên thiên nhiên trên biền, trong lòng biển và dưới đáy đại dương mà Trung Quốc cho là thuộc chủ quyền của họ cũng như việc đảm bảo an ninh của ngành vận tải đường biển Trung Quốc.
Cùng với việc hiện đại hóa các hạm tàu, Trung Quốc cũng chú trọng phát triển không quân của hải quân và lực lượng lính thủy đánh bộ. Trung Quốc đang cố gắng tự đóng tàu sân bay trước năm 2020 (do việc họ không tranh được với Ấn Độ hợp đồng mua tàu sân bay Admiral Goskov của Nga); nâng cấp, cải tiến các máy bay SU-30MK và J-10 thành máy bay dùng cho hàng không mẫu hạm; phát triển chế tạo các loại tàu đổ bộ cỡ lớn hoặc mua các tàu này từ Đông Âu (UKRAINA đã nhận đơn đặt hàng đóng cho Trung Quốc 12 tàu loại này).
Dự kiến các hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc sẽ được biên chế, trang bị 1 tàu sân bay có khả năng đảm bảo hoạt động cho 45 đến 50 máy bay chiến đấu của hải quân, 1 tàu ngầm nguyên tử chiến lược, 4 tàu ngầm nguyên tử đa chức năng, 12 tàu ngầm diezel-điện, 29 tàu tuần dương, 49 tàu khu trục, 234 tàu tuần tiễu trang bị tên lửa, 15 tàu phóng lôi, 48 tàu quét mìn, 120 tàu, cano, xuồng đổ bộ các loại.

Cương lĩnh quân sự của Trung Quốc thời đại mới

Về đổi mới và hiện đại hóa quân đội

Trọng tâm là cơ cấu lại các lực lượng theo hướng giảm biên chế quân số, tăng cường chất lượng, triệt để áp dụng các biện pháp cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa các loại vũ khí thông thường; cải tiến cơ cấu hành chính quân sự, biên chế tổ chức và bố trí, phân phối binh lực hợp lý. Tập trung hoàn thiện khả năng đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong điều kiện ứng dụng công nghệ cao và vũ khí thông minh.

Chương trình hành động

Đến năm 2020, đạt mục tiêu phát triển bộ máy quân sự có trình độ tiên tiến, có khả năng tiến hành các hoạt động tác chiến có quy mô châu lục, cách biên giới quốc gia (của Trung Quốc) từ 3.000 đến 10.000 km. Kết hợp tự lực phát triển hệ thống vũ khí, trang bị với việc mua sắm từ nước ngoài; chú trọng phát triển hiện đại hóa các hệ thống vũ khí phòng không, vũ khí chống tàu ngầm và tàu nổi; phát triển hệ thống vũ khí chống vệ tinh, phóng thêm các loại vệ tinh phục vụ chỉ huy quân sự, định vị, dẫn đường và vệ tinh do thám tín hiệu, do thám hình ảnh; phát triển lực lượng tên lửa đạn đạo mang nhiều đầu đạn hạt nhân và tên lửa, bom hạt nhân chiến thuật. Phát triển lực lượng kinh tế – quân sự, lấy lực lượng tài chính-ngân hàng quân sự để có nguồn thu lớn bù đắp cho chi phí quân sự ngay cả trong thời gian đang có chiến tranh cục bộ.

Chiến lược hành động[cần dẫn nguồn]

Phương sách xuyên suốt áp dụng cho cả thời bình và thời chiến là phản công quyết liệt, không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. Triệt để tận dụng các cơ hội và điều kiện thuận lợi để tấn công, khi tấn công thì không đặt vấn đề biên giới quốc gia và vùng lãnh thổ. Tập trung hỏa lực vào những điểm trọng yếu của đối phương; triển khai cùng lúc các hoạt động phòng thủ và tấn công, không chờ phòng thủ xong mới tấn công. Thực hành tấn công trả đũa ngay sau khi bị tấn công với thời hạn nhanh nhất. Nhất thiết chỉ sử dụng lực lượng của chính mình để tấn công đối phương.
Phối hợp chặt chẽ hoạt động quân sự với hoạt động ngoại giao để chủ động chấm dứt chiến sự trên thế mạnh, thế có lợi.
Phối hợp các hoạt động quân sự với hoat động kinh tế quân đội. Triệt để lợi dụng sự rối loạn trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế do việc chủ động phát động chiến sự gây ra để tổ chức các hoạt động buôn bán, môi giới tài chính, ngân hàng, thu lợi nhuận cho quân đội.

Chiến lược phát triển hải quân

(xem Kế hoạch thành lập hạm đội xuyên đại dương của Trung Quốc)

Hệ thống cấp bậc

Hệ thống quân hàm 1955

Từ khi thành lập cho đến trước 1955, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc không duy trì hệ thống quân hàm, vốn được cho là sản phẩm của thế giới tư bản, không phù hợp với Quân đội công nông. Trong chiến tranh Triều Tiên, nhiều bất cấp nảy sinh, chính quyền Trung Quốc nhận thấy rõ sự cần thiết phải áp dụng một hệ thống quân hàm trong Quân đội. Năm 1955, Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đầu tiên được chính thức ra đời, hệ thống này được xem là chịu nhiều ảnh hưởng của Quân đội Liên Xô.

Sĩ Quan

  • Nguyên soái
    • Đại Nguyên soái (không ai được phong)
    • Nguyên soái (10 người được phong)
  • Tướng quan
    • Đại tướng (10 người được phong)
    • Thượng tướng(57 người được phong)
    • Trung tướng
    • Thiếu tướng
  • Hiệu quan
    • Đại hiệu
    • Thượng hiệu
    • Trung hiệu
    • Thiếu hiệu
  • Uý quan
    • Đại úy
    • Thượng úy
    • Trung úy
    • Thiếu úy

Hạ sĩ quan

    • Thượng sĩ
    • Trung sĩ
    • Hạ sĩ

Binh sĩ

    • Thượng đẳng binh
    • Liệt binh

Hệ thống này đến khi Cách mạng văn hóa nổ ra thì bãi bỏ.

Hệ thống quân hàm hiện tại

Hệ thống quân hàm Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay được xây dựng và áp dụng từ năm 1988 trên cơ sở đoạn tuyệt với hệ thống cấp bậc cũ đặt ra năm 1955, gồm các cấp:

Sĩ Quan

  • Tướng quan
    • Nhất cấp Thượng tướng (bãi bỏ năm 1994).
    • Thượng tướng
    • Trung tướng
    • Thiếu tướng
  • Hiệu quan
    • Đại hiệu
    • Thượng hiệu
    • Trung hiệu
    • Thiếu hiệu
  • Uý quan
    • Thượng úy
    • Trung úy
    • Thiếu úy

Hạ sĩ quan

  • Cao cấp
    • Nhất cấp Quân sĩ trưởng
    • Nhị cấp Quân sĩ trưởng
    • Tam cấp Quân sĩ trưởng
  • Trung cấp
    • Tứ cấp Quân sĩ trưởng
    • Thượng sĩ
  • Sơ cấp
    • Trung sĩ
    • Hạ sĩ

Binh sĩ

    • Thượng đẳng binh
    • Liệt binh

Qui định về tương quan chức vụ và quân hàm

  • Chủ tịch Quân uỷ Trung ương (thường do Tổng bí thư kiêm nhiệm): không cấp quân hàm.
  • Phó Chủ tịch Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng.
  • Thành viên Quân uỷ Trung ương: Thượng tướng.
  • Tư lệnh Đại quân khu: Thượng tướng hoặc Trung tướng
  • Phó Tư lệnh Đại quân khu: Trung tướng hoặc Thiếu tướng
  • Tư lệnh Quân đoàn: Thiếu tướng hoặc Trung tướng.
  • Phó Tư lệnh Quân đoàn:Thiếu tướng hoặc Đại hiệu.
  • Sư đoàn trưởng: Đại hiệu hoặc Thiếu tướng.
  • Lữ đoàn trưởng (Sư đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Đại hiệu.
  • Trung đoàn trưởng (Lữ đoàn phó): Thượng hiệu hoặc Trung hiệu.
  • Trung đoàn phó: Trung hiệu hoặc Thiếu hiệu.
  • Tiểu đoàn trưởng: Thiếu hiệu hoặc Trung hiệu.
  • Tiểu đoàn phó: Thượng úy hoặc Thiếu hiệu.
  • Đại đội trưởng: Thượng úy hoặc Trung úy.
  • Đại đội phó: Trung úy hoặc Thượng úy.
  • Trung đội trưởng: Thiếu úy hoặc Trung úy.

Các chức vụ không được nêu sẽ được đối chiếu xem tương đương với chức vụ nào ở trên để áp dụng quân hàm phù hợp.Chính ủy,phó chính ủy một đơn vị sẽ áp dụng quân hàm y như với chỉ huy trưởng, chỉ huy phó của đơn vị đó.

Văn hiến tham khảo

  1. ^ 1949年6月15日 新政协筹备会第一次全体会议举行,人民网。[2013年8月13日]。
  2. ^ 周恩来与第一届人民政协会议的召开,中国人民政治协商会议全国委员会门户网站。2011年9月26日[2012年8月13日]。
  3. ^ 中国人民解放军军徽的由来,山东博物馆。2011年8月11日[2013年8月13日]。
  4. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  5. ^ 中国人民解放军军旗军徽的诞生, 新华网。2007年8月2日[2013年8月13日]。
  6. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  7. ^ 《人民解放军进行曲》 军歌嘹亮永向前, 新华网。2008年7月9日[2013年8月13日]。
  8. ^ 《八路军进行曲》:军歌嘹亮七十载, 中国文化传媒网。2012年9月18日[2013年8月13日]。
  9. ^ 战史今日7月25日:中国人民解放军军歌确定, 中国新闻网。2013年7月25日[2013年8月13日]。
  10. ^ 中国人民解放军军旗、军徽、军歌, 新华网。[2013年8月13日]。
  11. ^ 中国人民解放军军歌,人民网。[2013年8月13日]。
  12. ^ Chế độ chính trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa [Zhonghua Renmin Gongheguo Zhengzhi Zhidu] Chief Editor Pu Xingzu, Shanghai, 2005, Shanghai People’s Publishing House. ISBN 7-208-05566-1]Chapter 11, the State Military System, pp. 369 – 392]
  13. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Dịch từ guyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449.
  14. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. NXB Popury (Nga). 2002. Bản dịch của Đại Vỹ. NXB Thông tấn. Hà Nội. 2004
  15. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449.
  16. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 449-450.
  17. ^ Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới. (Nguyên tác tiếng Nga của NXB Popuri). Dịch giả: Đại Vĩ. NXB Thông Tấn. Hà Nội. 2004. trang 450-451.
  18. ^ Squadron Leader KK Nair, “Space: The Frontiers of Modern Defence”, Knowledge World Publishers, New Delhi, Chap-6, Pgs123-126
  19. ^ Squadron Leadr KK Nair, Space:The Frontiers of Modern Defence, pg 123
  20. ^ China plays down fears after satellite shot down, AFP via Yahoo! News, January 19

Liên kết ngoài

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Advertisements

Chào ngày mới 31 tháng 7

Kodaki fuji frm shojinko.jpg
 CNM365 Chào ngày mới 31 tháng 7 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Ka Hae HawaiʻiNăm 781 – Ghi chép cổ nhất về việc núi Phú Sĩ (hình) tại Nhật Bản phun trào. Năm 929 – Quân chủ Kinh Nam Cao Tòng Hối dâng biểu cho Hậu Đường Minh Tông xin được nội phụ triều Hậu ĐườngNăm 1932Đảng Quốc Xã Đức lần đầu thành đảng lớn nhất trong Quốc hội Đức, qua bầu cử, với 230 ghế trong Nghị viện, tạo thuận lợi cho Hitler lên làm thủ tướng Đức đúng 6 tháng sau đó. Năm 2006 – Vì lý do sức khỏe, Fidel Castro tạm giao lại trách nhiệm lãnh đạo Cuba cho em trai là Raúl Castro.


Phú Sĩ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phú Sĩ sơn
01 Fujisan from Yamanakako 2004-2-7.jpg
Núi Phú sĩ phản chiếu trên hồ Yamanaka
Độ cao 3.776 m (12.388 ft)[1]
Phần lồi 3.776 m (12.388 ft)Xếp hạng
Danh sách Đỉnh cao Nhật Bản
Ultra
Danh sách núi ở Nhật Bản
100 ngọn núi nổi tiếng Nhật Bản
Phiên âm IPA [ɸɯꜜdʑisaɴ]
Vị trí
Phú Sĩ sơn trên bản đồ Japan

Phú Sĩ sơn
Phú Sĩ sơn

Chūbu, Đảo Honshu, Nhật Bản

Tọa độ 35°21′28,8″B 138°43′51,6″ĐTọa độ: 35°21′28,8″B 138°43′51,6″Đ[1]
Bản đồ địa hình Cơ quan không gian địa lý 25000:1 富士山[2]
50000:1 富士山
Địa chất
Kiểu Stratovolcano
Lần phun trào gần nhất 1707-08[3]
Leo núi
Chinh phục lần đầu năm 663 bởi nhà sư vô danh
Hành trình dễ nhất Đi bộ đường dài
Núi Phú Sĩ, nơi thiêng liêng và nguồn cảm hứng nghệ thuật
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Quốc gia  Nhật Bản
Kiểu Văn hóa
Hạng mục (iii), (vi)
Tham khảo 1418
Vùng UNESCO châu Á và châu Đại Dương
Lịch sử công nhận
Công nhận 2013 (kì thứ 37th)

Núi Phú Sĩ

Núi Fuji chụp vào mùa đông.

Núi Phú Sĩ hay núi Fuji (tiếng Nhật: 富士山 | Fujisan hoặc Fujiyama) là ngọn núi cao nhất Nhật Bản và cũng là biểu tượng nổi tiếng của quốc gia này. Ngọn núi này thường là đề tài trong các bức họa và nhiếp ảnh nghệ thuật cũng như trong văn chươngâm nhạc. Đây là một trong “Ba núi Thánh” của Nhật Bản (三 霊 山 Sanreizan) cùng với núi Tatenúi Haku, và cũng là một nơi đặc biệt của danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử, và đã được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 22 tháng 6 năm 2013.[4]

Địa lý

Vị trí núi Phú Sĩ

Núi Phú Sĩ trải dài trên địa phận tỉnh Shizuoka và tỉnh Yamanashi, ở phía Tây Nam Tokyo.
Đây là một núi lửa còn hoạt động và là ngọn núi cao nhất của Nhật Bản với độ cao tuyệt đối: 3.776 mét. Đỉnh núi Phú Sĩ quanh năm tuyết phủ, tạo nên một vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ. Dưới chân núi có 5 hồ nước ngọt lớn, đó là: Kawaguchi, Yamanaka, Sai, MotosuShoji. Cùng với Hồ Ashi ở gần đó, chúng tạo nên một cảnh quan tuyệt đẹp cho ngọn núi. Đây là một phần trong Công viên Quốc gia Phú Sĩ-Hakone-Izu.

Địa chất

Các nhà khoa học đã xác định được 4 thời kỳ hoạt động núi lửa khác nhau hình thành nên ngọn núi Phú Sĩ. Thời kỳ đầu tiên là Sen-komitake, được tạo nên từ lõi anđêxit mới được phát hiện gần đây ở sâu bên trong núi. Cái tên Sen-komitake được lấy theo chữ “Phú Sĩ Komitake” là một lớp đá bazan được hình thành từ hàng trăm nghìn năm trước. Khoảng 100,000 năm trước, một ngọn núi “Phú Sĩ cổ” đã được hình thành trên đỉnh núi Phú Sĩ Komitake. Hiện tại, ngọn núi “Phú Sĩ mới” được cho là hình thành trên đỉnh núi “Phú Sĩ cổ” khoảng 10,000 năm trước. [1] Hiện nay, ngọn núi lửa này thuộc loại đang hoạt động với nguy cơ phun trào thấp. Lần gần đây nhất ghi nhận được sự phun trào là năm 1707 trong thời kỳ Edo. Tại thời điểm này, có một miệng núi lửa mới, dọc theo đỉnh thứ 2 đã hình thành xuống nửa chừng bề mặt của nó. Miệng núi lửa này có tên là Hōei-zan, đặt theo tên của một triều đại.
Núi Phú Sĩ là nơi giao nhau của mảng lục địa Á Âu, mảng lục địa Okhotsklục địa Philippin. Chúng lần lượt tạo nên phần phía tây, phía đông của nước Nhật và bán đảo Izu.

Tên gọi

Các tên gọi khác

Tên ngọn núi viết bằng Kanji 富士山 khi phiên sang chữ Latinh có thể thành Fuji-san hoặc đôi khi là Fuji Yama, do chữ 山 (sơn) trong tiếng Nhật có nhiều cách đọc là San, ZanYama.
Ngoài ra, trong tiếng Nhật, từ “富士” có thể được phát âm thành “Huzi” do đặc trưng của âm ふ. Tuy nhiên, cách phát âm chuẩn vẫn là “Fuji”.
Núi Phú Sĩ còn có các tên gọi khác cũ hơn hoặc thi vị hơn như: Fuji-no-Yama (ふじの山, ngọn núi Fuji), Fuji-no-Takane (ふじの高嶺, đỉnh núi cao Fuji), Fuyō-hō (芙蓉峰, đỉnh núi Hoa phù dung) và Fu-gaku (富岳 hoặc 富嶽, trong đó 岳 tức nhạc, nghĩa là núi lớn).

Từ nguyên gốc

Chữ Kanji hiện nay của tên gọi “núi Phú Sĩ”, (phú) và (), nhưng có vẻ như các chữ này được áp dụng cho một cách đọc sẵn có.
Tên gốc của từ Phú Sĩ vẫn chưa được rõ, nhưng nó liên quan tới toàn bộ lịch sử với các chữ Hán khác nhau theo từ gốc dân gian. Một trong những từ gốc dân gian cổ nhất cho rằng từ Fuji xuất phát từ chữ (bất + nhị), có nghĩa là có một không hai. Một từ gốc dân gian khác cho rằng nó xuất phát từ chữ 不 (bất + tận), có nghĩa là không bao giờ kết thúc.
Có lẽ từ gốc phổ biến nhất là từ cho rằng tên của ngọn núi có chữ Hán là 富士 (phú + ).

Lịch sử

Người ta cho rằng người đầu tiên lên đến đỉnh ngọn núi này là một nhà sư khuyết danh. Trước thời đại Meiji, vì Phú Sĩ là một ngọn núi thiêng nên phụ nữ không được phép trèo lên đỉnh núi. Ngày nay, đây là một địa điểm du lịch nổi tiếng và lý tưởng cho rất nhiều nhà leo núi (xem bên dưới).
Núi Phú Sĩ là một ngọn núi lửa hấp dẫn, thường là chủ đề của các tác phẩm nghệ thuật như bức “Nhìn về núi Phú Sĩ” của họa sĩ Hokusai. Ngọn núi này cũng góp mặt và là chủ đề của rất nhiều tác phẩm văn thơ Nhật Bản qua các thời kỳ.
Núi Phú Sĩ cũng là một địa điểm truyền thống của các chiến binh xưa: các samurai đã dùng chân núi như một điểm tập luyện, gần thị trấn Gotemba ngày nay. Năm 2005, Cục Phòng vệ Nhật BảnLực lượng Hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành tập trận ở gần chân núi Phú Sĩ.

Leo núi

Thời gian nhiều người đăng sơn Phú Sĩ nhất là trong khoảnng hai tháng, từ mồng 1 tháng 7 đến 27 tháng 8. Có khoảng 200,000 lượt người leo lên ngọn núi này mỗi năm; trong số đó 30% là người nước ngoài. Hành trình trèo núi mất khoảng 3 đến 7 giờ, trong khi hạ sơn thì mau hơn, chỉ mất khoảng 2 đến 5 giờ. Đường đi có thể chia ra 10 trạm cơ bản; từ điểm khởi đầu lên tới trạm thứ 15 là đã trèo 2300 mét so với mực nước biển. Hầu hết các hành trình trèo núi là vào ban đêm để khi lên đến đỉnh thì gặp lúc mặt trời mọc buổi sớm mai. Vì lượng người leo núi rất đông, vấn nạn hàng năm là lượng rác thải dọc đường. Dù vậy, đăng sơn Phú Sĩ vẫn là một cuộc hành trình hấp dẫn đặc biệt.

Rừng Aokigahara

Aokigahara là một cánh rừng ở chân núi Phú Sĩ. Trong số những truyền thuyết về cánh rừng này, truyện dân gian Nhật Bản cho rằng chất đá ở đây có hàm lượng trầm tích sắt rất lớn, có thể làm vô hiệu hóa la bàn và các thiết bị định vị toàn cầu. Do vậy người đi rừng rất dễ lạc. Tuy nhiên theo khoa học thì trường điện từ do sắt gây ra rất yếu nên không mấy ảnh hưởng các thiết bị. Hiển nhiên là Cục Phòng vệ Nhật Bản và lính Thủy quân lục chiến Mỹ thường tập trận trong rừng mà la bàn cùng máy định vị toàn cầu và các thiết bị điện tử khác vẫn hoạt động không bị trở ngại.
Đặc biệt rừng Aokigahara có những hang động đóng băng quanh năm. Theo truyền thuyết thì ma quỷ, yêu tinh phá rối vẫn thường xuất hiện trong rừng này. Phải chăng đó có liên hệ với việc địa điểm Aokigahara Jukai là một nơi thường có người tự tử và vong hồn người chết mãi mãi lảng vảng nơi này. Với hơn 78 xác người đã tự tử tại đây nhà chức trách đã phải cảnh báo về nạn tự tử trong rừng này.

Chuyện ngoài lề

  • Ca sĩ Kyu Sakamoto đã từng thuê người đem một cây đàn piano lên núi để thực hiện một buổi hòa nhạc.
  • Logo của công ty AtariInfiniti đều được thiết kế theo biểu tượng của núi Phú Sĩ.
  • Núi EgmontNew Zealand tương đối giống núi Phú Sĩ ở một số góc nhìn. Vì vậy nó đã được dùng thay thế cho núi Phú Sĩ trong một số phim, như phim The Last Samurai.
  • Ngọn núi Volcan Osorno ở miền nam Chile cũng có những điểm hấp dẫn giống như núi Phú Sĩ.
  • Một nhà hàng Nhật ở Tooting, London cũng được đặt tên là núi Phú Sĩ.

Xem thêm

Thư viện hình

Liên kết ngoài

Ghi chú

  1. ^ a ă Triangulation stationis là 3775.63m. “Information inspection service of the Triangulation station” (bằng tiếng Nhật). Cơ quan không gian địa lý Nhật Bản,(甲府-富士山-富士山). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2011.
  2. ^ “Map inspection service” (bằng tiếng Nhật). Geospatial Information Authority of Japan,(甲府-富士山-富士山). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2011.
  3. ^ “Fuji: Eruptive History”. Global Volcanism Program. Viện Smithsonian.
  4. ^ http://archive.is/20130624235014/www.channelnewsasia.com/news/asiapacific/japan-s-mt-fuji-granted/720700.html

Nhật Bản Di sản thế giới tại Nhật Bản Nhật Bản
Di sản văn hóa
Quần thể kiến trúc Phật giáo khu vực chùa Horyuji | Quần thể thành quách của vương quốc Ryūkyū | Thành Himeji | Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima | Đền Itsukushima | Di sản văn hóa cổ đô Kyoto | Di tích Nara cổ | Thánh địa và đường hành hương vùng núi Kii | Đền chùa Nikkō | Làng Shirakawa và Gokayama | Mỏ bạc Iwami Ginzan | Di sản văn hóa Hiraizumi | Núi Phú Sĩ | Nhà máy dệt lụa Tomioka
Di sản tự nhiên
Vườn quốc gia Shiretoko | Vùng núi Shirakami | Yakushima | Quần đảo Ogasawara

Fidel Castro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Fidel Castro

Fidel Castro năm 2011
Sinh 13 tháng 8, 1926 (87 tuổi)
Birán, Holguín, Cuba
Quốc gia Cuba
Học vấn Colegio de Belen
Đại học La Habana
Tiền nhiệm Osvaldo Dorticós Torrado
Kế nhiệm Raúl Castro
Đảng phái chính trị Đảng Cộng sản Cuba
Tín ngưỡng Tự coi mình như một người thế tục, trước kia theo Công giáo Rôma, bị Giáo hoàng Gioan XXIII rút phép thông công (khai trừ khỏi giáo hội) vào năm 1962
Vợ (hoặc chồng) (1) Mirta Díaz-Balart Gutierrez (ly dị 1955)
(2) Dalia Soto del Valle
Con cái Fidel Angel Castro Diaz-Balart
Alina Fernandez-Revuelta
Alexis Castro-Soto
Alejandro Castro-Soto
Antonio Castro-Soto
Angel Castro-Soto
Alain Castro-Soto
Jorge Angel Castro[1]
Francisca Pupo[1]
Người thân Natalia Revuelta y Clews
Chữ ký

Fidel Alejandro Castro Ruz (sinh ngày 13 tháng 8 năm 1926) là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc Cách mạng Cuba, Thủ tướng của Cuba từ tháng 2 năm 1959 tới tháng 12 năm 1976, và sau đó là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba cho tới khi ông từ chức tháng 2 năm 2008. Ông là Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Cuba từ tháng 10 năm 1965 tới tháng 4 năm 2011, em trai ông, Raúl Castro, được kế nhiệm chức vụ này vào ngày 19 tháng 4 năm 2011. Ông là người đương thời với những nhà lãnh đạo nổi tiếng như Che Guevara, Hồ Chí Minh, Nelson Mandela,…[2]
Ông sinh ra trong một gia đình giàu có và đã có bằng luật. Khi học tập ở Đại học La Habana, ông bắt đầu sự nghiệp chính trị và trở thành một nhân vật được biết đến trong chính giới Cuba.[3] Sự nghiệp chính trị của ông tiếp tục với những lời chỉ trích mang tính chủ nghĩa dân tộc đối với Tổng thống Fulgencio Batista, và sự ảnh hưởng chính trị của Hoa Kỳ với Cuba. Ông trở thành một nhân vật chống Batista kịch liệt và thu hút sự chú ý của chính quyền.[4] Cuối cùng ông cầm đầu cuộc tấn công thất bại năm 1953 vào Pháo đài Moncada, sau đó bị bắt, xét xử, tống giam và thả tự do. Sau đó ông tới Mexico[5][6] để tổ chức và huấn luyện một cuộc tấn công vào chế độ Batista ở Cuba. Ông và các đồng chí cách mạng rời Mexico tới miền Đông Cuba tháng 12 năm 1956.
Castro lên nắm quyền lực sau thắng lợi của cuộc cách mạng Cuba lật đổ chế độ độc tài được Hoa Kỳ tài trợ[7] của Fulgencio Batista,[8] và một thời gian ngắn sau đó trở thành Thủ tướng Cuba.[9] Năm 1965 ông trở thành Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Cuba và lãnh đạo cuộc chuyển tiếp Cuba trở thành một nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa độc đảng. Năm 1976 ông trở thành Chủ tịch Hội đồng Nhà nước cũng như Hội đồng Bộ trưởng. Ông cũng giữ cấp bậc tối cao quân đội Comandante en Jefe (“Tổng chỉ huy”) các lực lượng vũ trang Cuba.
Sau một cuộc phẫu thuật ruột bởi một bệnh hệ tiêu hoá không được tiết lộ được cho là diverticulitis,[10] Castro đã chuyển giao các chức vụ của mình cho Phó chủ tịch thứ nhất, đồng thời là em trai ông, Raúl Castro, ngày 31 tháng 7 năm 2006. Ngày 19 tháng 2 năm 2008, năm ngày trước khi thời hạn nhiệm kỳ của ông kết thúc, ông thông báo không tiếp tục tham gia tranh cử một nhiệm kỳ nữa với cả chức danh chủ tịch và tổng tư lệnh.[11][12] Ngày 24 tháng 2 năm 2008, Quốc hội “bầu” Raúl Castro kế nhiệm ông làm Chủ tịch Cuba.[13]
Trong lịch sử hiện đại, Fidel Castro là một nhà lãnh đạo nhận được những nhận định mâu thuẫn.[2] Truyền thông phương Tây miêu tả ông là một nhà độc tài[14][15][16][17][18] và thời gian cầm quyền của ông là dài nhất trong lịch sử Mỹ Latinh hiện đại.[15][16][17][18], tổ chức theo dõi nhân quyền Hoa Kỳ buộc tội ông tạo ra một “bộ máy đàn áp”.[19] Tuy nhiên, nhân dân Cuba thì xem ông là một vị anh hùng, người đã thực hiện cuộc cách mạng và đấu tranh vì nền độc lập của đất nước Cuba. Họ gọi ông là “Fidel vô cùng yêu mến” và tôn vinh “sự nhạy cảm đặc biệt của ông đối với những người khác” cùng với “tinh thần chiến đấu không mệt mỏi vì lý tưởng”.[20].
Trên bình diện quốc tế, Castro đã trở thành một “anh hùng thế giới theo khuôn mẫu của Garibaldi đối với mọi người trên khắp thế giới đang nỗ lực chống lại chủ nghĩa đế quốc[21] Ông đã được trao tặng rất nhiều giải thưởng và huân chương danh dự của các nước, và đã được xem là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng khác như Ahmed Ben BellaNelson Mandela, người sau đó trao tặng ông giải thưởng dân sự cao nhất của Nam Phi cho người nước ngoài, Huân chương Hảo Vọng[22]
Ngoài ra, Castro cũng được xem là một trong những nhà cách mạng kiệt xuất nhất nửa sau thế kỷ XX,[23] là biểu tượng của sự ủng hộ về mặt tinh thần đối với nhân dân những xứ có đời sống kinh tế thấp hoặc là bị chính quyền trấn áp trên thế giới. Chính phủ Castro đóng vai trò không nhỏ trong cuộc giải phóng người da đen Nam Phi khỏi chế độ Apartheid nói riêng cũng như những cuộc đấu tranh đòi độc lập diễn ra tại các quốc gia châu Phi thời bấy giờ nói chung.[2]. Bản thân ông cũng là nhà lãnh tụ đã vượt qua nhiều sóng gió và nguy hiểm nhất: tháng 12/2011, Sách Kỷ lục Guinness đã công nhận ông là người bị ám sát nhiều nhất (638 lần), chủ yếu bởi tổ chức Tình báo Trung ương Mỹ CIA tiến hành[24].

Tiểu sử

Fidel Castro sinh ngày 13 tháng 8 năm 1926[25] (có tài liệu chép ngày 14 tháng 8 năm 1927) tại một thị trấn nhỏ tên Birán của Cuba. Cha mẹ của ông, vốn là di dân từ Tây Ban Nha, là chủ đồn điền trồng mía giàu có. Lúc nhỏ Castro theo học trường Dòng Tên. Ông vào Đại học La Habana năm 1945 và tốt nghiệp ngành luật năm 1950.
Trong thời gian học đại học, Castro tham gia vào nhiều tổ chức chống đối chính quyền. Ông hành nghề luật sư từ năm 1950 đến 1952; trở thành đảng viên Đảng Chính thống (tiếng Tây Ban Nha: Partido Ortodoxo) và vận động để tranh cử vào Quốc hội Cuba. Thế nhưng ý định của Castro chưa thành thì nổ ra cuộc đảo chính của tướng Fulgencio Batista. Batista muốn lên nắm chính quyền để ngăn cản sự lớn mạnh của Đảng Chính Thống. Dưới sự cai trị của Batista, hàng ngàn chính khách bị ám sát và dân chúng bị sống dưới sự đàn áp.
Castro bắt đầu vận động chống lại Batista bằng biện pháp quân sự. Ông liên kết được hơn 200 phần tử cách mạng trên toàn quốc và trở thành thủ lĩnh của họ. Ngày 26 tháng 7 năm 1953, Castro và các chiến hữu tấn công vào trại lính Moncada. Hơn 80 chiến hữu bị tử trận, Castro bị bắt. Ông bị đưa ra tòa và bị kết án 15 năm tù. Cuối phiên tòa, Castro đã hùng hồn đọc bài diễn văn “Lịch sử sẽ giải oan cho tôi” (La historia me absolverá), phản ánh quan điểm chính trị của ông.

Che Guevara và Fidel Castro

Một năm sau, Batista đại xá cho nhiều tù chính trị, trong đó có Castro. Castro sang Mexico và lập nhóm vũ trang kháng chiến. Nhóm này lấy tên là nhóm Hai Mươi Sáu Tháng Bảy, để tưởng niệm cuộc nổi dậy Moncada ngày 26 tháng 7 trước kia. Trong số những người tham gia vào nhóm này có Che Guevara, một sinh viên y khoa đang tập sự tại Mexico City.
Ngày 2 tháng 12 năm 1956, nhóm Hai Mươi Sáu Tháng Bảy, gồm 80 người, trở lại Cuba trên chiếc thuyền Granma dài 18 mét. Họ nhanh chóng bị tiêu diệt bởi quân chính phủ. Chỉ có 12 người sống sót và rút vào vùng rừng núi Sierra Maestra để tổ chức kháng chiến. Trong số những người sống sót, ngoài Fidel Castro còn có Raul Castro (em trai ông), Che Guevara và Camilo Cienfuegos. Nhóm kháng chiến được quần chúng ủng hộ và phát triển lên đến 800 người. Trong suốt 2 năm, họ áp dụng chiến thuật đánh du kích gây nhiều thiệt hại cho quân chính phủ. Tháng 5 năm 1958, Batista huy động nhiều tiểu đoàn tiến đánh quân kháng chiến. Dù bị thua kém về quân số, phe kháng chiến vẫn thắng nhiều trận quan trọng. Quân của Batista đào ngũ và đầu hàng rất nhiều.
Ngày 1 tháng 1 năm 1959 Fidel Castro đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Cu Ba. Khi thua cuộc Batista chạy trốn khỏi Cuba.

Fidel Castro năm 1959

Một giai đoạn quá độ đã được hình thành. Manuel Urrutia Lleó, một chính trị gia không đảng phái đã được tôn lên làm Tổng thống Cuba vào ngày 3 tháng 1 năm 1959. Manuel đã chỉ định một luật sư và là giáo sư Đại học La HabanaJosé Miró Cardona làm Thủ tướng. Tuy nhiên, chỉ sau 6 tuần, Miró bất ngờ từ chức. Fidel Castro được chỉ định là Thủ tướng. Ông hứa sẽ xây dựng một chính quyền trong sạch và tôn trọng hiến pháp. Tuy nhiên, chính phủ Castro đã hành hình hàng ngàn người thuộc Đảng Batista.
Hoa Kỳ ban đầu công nhận chính quyền Fidel Castro, nhưng sau khi Castro quốc hữu hóa các công ty Hoa Kỳ tại Cuba thì quan hệ Hoa Kỳ – Cuba trở nên lạnh nhạt. Chính sách kinh tế của Castro làm cho Hoa Kỳ nghi ngờ rằng ông theo chủ nghĩa cộng sản và có quan hệ với Liên bang Xô viết – đối địch với Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh. Tháng 4 năm 1959 Castro viếng thăm Nhà Trắng nhưng Tổng thống Dwight D. Eisenhower từ chối gặp, thay vào đó là Phó tổng thống Richard Nixon. Sau cuộc gặp gỡ này, Nixon cho rằng Castro là một người “ngây thơ” nhưng không nhất thiết là cộng sản.
Tháng 2 năm 1960, chính quyền Castro ký một hiệp thương với Liên Xô, trong đó Liên Xô đồng ý bán dầu hỏa cho Cuba. Hoa Kỳ cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao và áp dụng chính sách cấm vận lên Cuba vào ngày 31 tháng 1 năm 1961. Cuba tiếp tục thắt chặt quan hệ với Liên Xô và ngày càng nhận nhiều viện trợ quân sự và kinh tế.
Ngày 17 tháng 4 năm 1961, Hoa Kỳ yểm trợ một đạo binh gồm 1300 người Cuba lưu vong đổ bộ lên vùng Vịnh Con Heo (tiếng Anh: Bay of Pigs) nhằm mục đích lật đổ Fidel Castro. Cuộc đổ bộ thất bại và nhiều người bị bắt, chín người bị xử tử. Ngày 1 tháng 5 năm 1961, ông tuyên bố Cuba là một quốc gia theo Xã hội chủ nghĩa và chính thức bãi bỏ sự bầu cử đa đảng.[3] Những người phê phán Castro cho rằng ông sợ những cuộc bầu cử sẽ khiến ông mất uy quyền.[3] Cũng trong ngày hôm đó, hàng trăm ngàn người dân Cuba nghe lãnh tụ Castro tuyên bố:[26]

Cách mạng không kết thúc sau một thời hạn nhất định, vì thế chúng ta không cần phải bầu cử. Tại châu Mỹ La Tinh này, không có một chính phủ nào dân chủ hơn chính phủ cách mạng của chúng ta… Nếu ngài Kennedy không ưa Xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta cũng ghét chủ nghĩa đế quốc vậy. Chúng ta căm ghét chủ nghĩa tư bản.
—Fidel Castro

Cũng trong năm đó, ngày 2 tháng 12, Castro tuyên bố rằng ông theo chủ nghĩa Marx-Lenin, và Cuba sẽ đi theo chủ nghĩa cộng sản. Cuối năm 1961, ông được Liên bang Xô viết trao tặng Giải thưởng Hoà bình Lenin.
Ngày 15 tháng 9 năm 1973, giữa lúc cuộc Chiến tranh Việt Nam đang diễn ra, ông đến thăm Quảng Trị, Việt Nam khi đó đang nằm dưới quyền quản lý của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đây là chuyến thăm đặc biệt đáng nhớ nhất của không chỉ riêng ông mà còn với những người Việt Nam mà ông đã gặp như Đại tá Hồ Văn A, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp.[27]
Cuối năm 1976, một Hiến pháp Cuba mới được xây dựng với những thay đổi về cơ cấu chính quyền. Ngày 2 tháng 12 năm 1976, Fidel Castro được bầu vào chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Cuba, một chức vụ vừa là nguyên thủ quốc gia của Cuba, vừa là người đứng đầu Chính phủ Cuba. Về mặt lý thuyết, chức vụ này được Quốc hội Cuba bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm, nhưng trên thực tế ông giữ chức vụ này liên tục trong 32 năm.
Ngày 28 tháng 3 năm 1980, một chiếc xe buýt tông sập cổng tòa đại sứ Peru ở thủ đô La Habana. Trong vòng 48 tiếng, hơn 10.000 người Cuba đã nhân cơ hội tràn vào tòa đại sứ xin tị nạn chính trị. Ngày 10 tháng 4 năm 1980, Castro tuyên bố cho mọi người được tự do rời Cuba qua cảng Mariel ở La Habana. Khoảng hơn 125 nghìn người dân Cuba xuống tàu ra đi, trên một cuộc hành trình được mệnh danh là “Đoàn Tàu Tự Do” hay là cuộc di tản Mariel, đa số đến Florida, Hoa Kỳ.
Chính quyền Castro áp dụng chính sách kinh tế xã hội chủ nghĩa, quốc hữu hóa các ngành công nghiệp và hợp tác hóa nông nghiệp. Chính sách này làm cho giới trung lưu bất mãn, kể cả những người trước kia ủng hộ kháng chiến. Nhiều người trong số này trốn sang Hoa Kỳ và lập ra những tổ chức chống Fidel Castro tại Florida.
Tháng 1 năm 2004, Luis Eduardo Garzón, thị trưởng của Bogotá – thủ đô của Columbia – sau cuộc gặp gỡ với Castro nói rằng ông ta “trông có vẻ rất ốm yếu”. Tháng 5 năm 2004, bác sĩ của Castro bác bỏ các tin đồn cho rằng sức khỏe Castro đang xuống dốc. Ông tuyên bố rằng Castro sẽ sống đến 140 tuổi.
Ngày 20 tháng 10 năm 2004, Castro bị vấp ngã sau khi đọc diễn văn trước một cuộc mít tinh. Cú ngã này làm ông bị vỡ xương tay và đầu gối. Ông ta phải trải qua ba giờ giải phẫu. Sau đó Castro viết một lá thư để đăng lên báo, đài. Trong thư ông cam đoan với công chúng rằng mình vẫn khỏe và sẽ “không mất liên lạc với quí vị”.
Sau cuộc phẫu thuật dạ dày năm 2006, Fidel Castro đã tạm trao quyền lãnh đạo đất nước cho người em trai của mình là ông Raul Castro. Kể từ đó, Fidel Castro không xuất hiện trước công chúng.[28][29]
Ngày 18 tháng 2 năm 2008, ông tuyên bố ý định thôi giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Tổng tư lệnh quân đội Cuba[25]. Sau gần 50 năm lãnh đạo.

Hình ảnh đại chúng

“Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của Fidel luôn luôn là một cam kết thực hiện Bình đẳng xã hội. Ông khinh thường bất kỳ hệ thống nào trong đó một nhóm người sống tốt hơn nhiều so với số còn lại. Ông muốn có một hệ thống xã hội cung cấp các nhu cầu cơ bản cho tất cả mọi người dân – đủ thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và giáo dục miễn phí. Bản chất độc đoán của cuộc cách mạng Cuba bắt nguồn phần lớn từ mục tiêu này của Fidel. Castro làm những gì mà đã thuyết phục ông ấy là đúng, là vì lợi ích của nhân dân. Bất cứ ai chống lại cuộc cách mạng và chống lại nhân dân Cuba, trong đôi mắt của Castro, chỉ đơn giản là không thể chấp nhận. Do đó, rất ít thể hiện của tự do cá nhân – tự do ngôn luận và hội họp, được chấp nhận. Đã có tù nhân chính trị – những người có những hành vi quá mức chống lại cuộc cách mạng – mặc dù ngày nay số này chỉ khoảng 300, giảm rõ rệt so với ngày đầu của cuộc cách mạng
Wayne S. Smith, US Interests Section in Havana Chief from 1979 to 1982, in 2007.[30]

Nhà viết tiểu sử Leycester Coltman mô tả ông là “người nhiệt huyết, làm việc chăm chỉ, tận tâm, trung thành… rộng lượng và hào hùng” nhưng cần chú ý rằng ông sẽ không tha thứ cho kẻ thù. Ông khẳng định, Castro “luôn luôn có một cảm giác quan tâm và hài hước” nhưng có thể sẽ có “cơn thịnh nộ dữ dội nếu ông nghĩ rằng mình đã bị lăng nhục”[31] Nhà viết tiểu sử Peter Bourne ghi nhận Fidel có thái độ quan tâm đặc biệt với nhân dân, ông coi họ “như những thành viên trong đại gia đình khổng lồ của mình”[32] Nhà sử học Alex Von Tunzelmann nhận xét “mặc dù độc đoán, Castro là một người yêu nước, một người đàn ông với một ý thức sâu sắc về nhiệm vụ cứu vớt nhân dân Cuba”.[33]
Fidel Castro nổi tiếng với giờ làm việc bận rộn, ông thường chỉ ngủ 3 hay 4 giờ mỗi ngày[34] Ông có một trí nhớ “phi thường”, các bài phát biểu Castro thường trích dẫn các báo cáo và những cuốn sách ông đã đọc[35] Ngay từ nhỏ, ông đã đam mê các loại vũ khí, nhất là súng[36] và ưa thích cuộc sống ở vùng nông thôn ngoại ô thành phố.[37]
Sử gia và nhà báo Richard Gott coi Castro là “một trong những nhân vật chính trị khác thường nhất của thế kỷ 20”, ghi nhận Castro đã trở thành một “anh hùng thế giới theo khuôn mẫu của Garibaldi với mọi người trên khắp thế giới đang nỗ lực chống lại chủ nghĩa đế quốc[21] Ông đã được trao tặng nhiều giải thưởng danh dự của Chính phủ các nước, và đã được xem là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà lãnh đạo nước ngoài như Ahmed Ben BellaNelson Mandela, người sau đó trao tặng ông giải thưởng dân sự cao nhất của Nam Phi cho người nước ngoài, Huân chương Hảo Vọng[22]
Đối với những cáo buộc từ phương Tây rằng ông là nhà độc tài, Fidel Castro tuyên bố rằng nhà nước đôi khi phải hạn chế các quyền tự do của các cá nhân để bảo vệ các quyền lợi của tập thể người dân như quyền được lao động, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và y tế miễn phí[38]. Bourne Castro ghi nhận rằng tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của Castro ở Cuba hoàn toàn là từ những giá trị của bản thân con người ông. Bourne lưu ý rằng rất hiếm có một quốc gia và một dân tộc hoàn toàn ủng hộ bởi “nhân cách từ một con người” như đối với Fidel[39].

Đời sống riêng

Những chi tiết về cuộc sống riêng tư của Castro, đặt biệt mà có dính líu tới những thành viên trong gia đình, ít được biết, bởi vì báo chí nhà nước bị cấm đề cập tới.[40] Người viết tiểu sử về Castro, ông Robert E. Quirk ghi nhận là trong suốt cuộc đời của ông, nhà lãnh tụ Cuba “không có khả năng để duy trì một quan hệ tình dục lâu dài với bất cứ người phụ nữ nào.”[41] Với người vợ đầu tiên, bà Mirta Díaz-Balart, mà ông cưới vào ngày 11, tháng 10 1948, Castro có một người con trai tên Fidel Ángel “Fidelito” Castro Díaz-Balart, sanh ngày 1, tháng 9 1949. Díaz-Balart và Castro ly dị trong năm 1955, sau đó bà cưới Emilio Núñez Blanco. Sau một thời gian cư trú ở Madrid, Díaz-Balart đã trở về Havana để sống với Fidelito và gia đình ông.[42] Fidelito lớn lên ở Cuba; có một thời, ông làm chủ tịch ủy ban năng lực nguyên tử Cuba nhưng sau đó bị tước chức này bởi chính cha mình.[43]
Ngoài ra, Fidel có 5 người con trai khác với người vợ thứ hai, Dalia Soto del Valle: Antonio, Alejandro, Alexis, Alexander “Alex” and Ángel Castro Soto del Valle.[43] Trong khi Fidel ở với Mirta, ông đã ngoại tình với Natalia “Naty” Revuelta Clews, sinh ở Havana vào năm 1925 và đã làm đám cưới với Orlando Fernández, đẻ ra một người con gái tên Alina Fernández|Alina Fernández Revuelta.[43] Alina rời khỏi Cuba vào năm 1993, hóa trang làm một du khách người Tây Ban Nha,[44] và xin tị nạn ở Hoa kỳ. Bà đã chỉ trích chính sách của cha mình.[45] Với một phụ nữ khác không được biết tên, ông có một người con trai khác, tên Jorge Ángel Castro. Fidel còn có một người con gái khác, Francisca Pupo (sanh năm 1953) kết quả của một cuộc tình một đêm. Pupo và chồng bà bây giờ sống ở Miami.[1][46] Castro thường có quan hệ tình dục một đêm với các người đàn bà khác.[47]
Chị em gái của ông, bà Juanita Castro sống ở Hoa Kỳ ngay từ đầu thập niên 1960. Khi bà đi tỵ nạn, đã nói là “Tôi không thể hờ hững với những gì đang xảy ra trên đất nước tôi. Hai anh em của tôi, Fidel và Raúl đã biến nước tôi thành một nhà tù khổng lồ được bao quanh bởi biển cả. Người dân đang bị trói buộc và hành hạ bởi chủ nghĩa Cộng sản quốc tế.”[48]

Các vụ ám sát nhằm vào Fidel Castro

Ủy ban Giáo Hội tuyên bố đã tìm ra ít nhất tám nỗ lực của CIA nhằm ám sát Fidel Castro trong giai đoạn 1960-1965 Fabian Escalante, nguyên giám đốc đã nghỉ hưu của cơ quan phản gián Cuba, người được giao nhiệm vụ bảo vệ Fidel Castro, ước tính số lượng các chương trình ám sát hoặc nỗ lực ám sát của Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ nhắm vào Fidel là 638 (tính tới 2006)[49]. Các nỗ lực ám sát rất đa dạng, bao gồm xì gà tẩm độc tố hoặc tẩm thuốc nổ, bút bi chứa một ống tiêm tẩm chất độc chết người, và thuê mafia ám sát… Một số âm mưu đã được miêu tả trong một bộ phim tài liệu với tựa đề 638 cách để giết Castro phát sóng vào năm 2006 bởi Channel 4 – kênh truyền hình dịch vụ công cộng của Anh.
Castro từng nói: “Nếu sống sót sau các vụ ám sát cũng được trao huy chương Olympic, tôi nhất định sẽ giành được huy chương vàng.”[50]

Huân chương và danh hiệu

Tính tới 2010, Fidel đã được trao tặng 50 huân chương và danh hiệu các loại từ hơn 40 quốc gia trên thế giới:

Những câu nói nổi tiếng

Chú thích

  1. ^ a ă â http://www.canf.org/es/ENSAYOS/2003-dic-09-vida_secreta_del_tirano_castro.htm
  2. ^ a ă â Fidel Castro – Cuộc đời tôi. Một trăm giờ với Fidel Castro
  3. ^ a ă â Thomas M. Leonard. Fidel Castro: A Biography. ISBN 0-313-32301-1.
  4. ^ DePalma, Anthony (2006). The Man Who Invented Fidel. Public Affairs.
  5. ^ Bockman, Larry James (April 1 năm 1984). “The Spirit Of Moncada: Fidel Castro’s Rise To Power, 1953 – 1959”. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2006.
  6. ^ Sweig, Julia E. (2002). Inside the Cuban Revolution. Harvard University Press. ISBN 0-674-00848-0.
  7. ^ Audio: Cuba Marks 50 Years Since ‘Triumphant Revolution’ by Jason Beaubien, NPR All Things Considered, January 1 2009
  8. ^ Encyclopedia Britannica entry for Fulgencio Batista
  9. ^ “1959: Castro sworn in as Cuban PM”. BBC News. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2006.
  10. ^ “Spanish newspaper gives more details on Castro condition”. CNN. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2007.
  11. ^ Castro, Fidel (19 tháng 2 năm 2008). “Mensaje del Comandante en Jefe” (PDF). Granma (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
  12. ^ Castro, Fidel (19 tháng 2 năm 2008). “Message from the Commander in Chief”. Granma. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2008.
  13. ^ “Raul Castro named Cuban president”. BBC. 24 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2008. “Raul, 76, has in effect been president since and the National Assembly vote was seen as formalising his position.”
  14. ^ Jay Mallin. Covering Castro: rise and decline of Cuba’s communist dictator. Transaction Publishers. ISBN 9781560001560.
  15. ^ a ă D. H. Figueredo. The complete idiot’s guide to Latino history and culture.
  16. ^ a ă “Farewell Fidel: The man who nearly started World War III”. Daily Mail.
  17. ^ a ă Catan, Thomas. “Fidel Castro bows to illness and age as he quits centre stage after 50 years – Times Online”. http://www.timesonline.co.uk. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2009.
  18. ^ a ă “Fidel’s fade-out”.
  19. ^ “Cuba: Fidel Castro’s Abusive Machinery Remains Intact”. Human Rights Watch.
  20. ^ www.cpv.org.vn Fidel Castro
  21. ^ a ă Quirk 1993. p. 424.
  22. ^ a ă http://news.bbc.co.uk/2/hi/africa/165566.stm.
  23. ^ Lãnh tụ Cuba, Fidel Castro: Tư tưởng sẽ làm chuyển hoá thế giới
  24. ^ http://bee.net.vn/channel/1987/201201/Twitter-don-chet-Fidel-Castro-pha-len-cuoi-1821539/
  25. ^ a ă Chủ tịch Fidel Castro từ chức
  26. ^ “Victorious Castro bans elections”. BBC News. May 1 năm 1961. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2006. Nguyên văn: The revolution has no time for elections. There is no more democratic government in Latin America than the revolutionary government…. If Mr. Kennedy does not like Socialism, we do not like imperialism. We do not like capitalism.
  27. ^ http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2009/4/69168.cand truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010.
  28. ^ Cuộc đời Chủ tịch Fidel Castro qua ảnh
  29. ^ Chủ tịch Cuba Fidel Castro nghỉ hưu
  30. ^ Smith, Wayne S. (2 tháng 2 năm 2007). “Castro’s Legacy”. TomPaine.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2012.
  31. ^ Coltman 2003. p. 14.
  32. ^ Bourne 1986. p. 273.
  33. ^ Von Tunzelmann 2011. p. 94.
  34. ^ Coltman 2003. p. 219
  35. ^ Quirk 1993, tr. 352.
  36. ^ Quirk 1993. pp. 10, 255.
  37. ^ Quirk 1993. p. 5.
  38. ^ Coltman 2003. p. 247.
  39. ^ Bourne 1986. p. 295.
  40. ^ Admservice (8 tháng 10 năm 2000). “Fidel Castro’s Family”. Latinamericanstudies.org. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  41. ^ Quirk 1993. p. 15.
  42. ^ Ann Louise Bardach: Cuba Confidential. p. 67. “One knowledgeable source claims that Mirta returned to Cuba in early 2002 and is now living with Fidelito and his family.”
  43. ^ a ă â Jon Lee Anderson, “Castro’s Last Battle: Can the revolution outlive its leader?” The New Yorker, July 31, 2006. 51.
  44. ^ Boadle, Anthony (8 tháng 8 năm 2006). “Cuba’s first family not immune to political rift”. Reuters. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2006.
  45. ^ Fernandez, Alina (1997). Castro’s Daughter, An Exile’s Memoir of Cuba. St. Martin’s Press. ISBN 031224293X.
  46. ^ Cuba confidential: Love and Vengeance in Miami and Havana By Ann Louise Bardach; Random House, Inc., 2002; ISBN 978-0-375-50489-1
  47. ^ Quirk 1993. p. 231.
  48. ^ “The Bitter Family (page 1 of 2)”. TIME. 10 tháng 7 năm 1964. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
  49. ^ Escalante Font, Fabián. Executive Action: 634 Ways to Kill Fidel Castro. Melbourne: Ocean Press, 2006.
  50. ^ “The Castropedia: Fidel’s Cuba in facts and figures”. The Independent. 17 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013.
  51. ^ Кастро Рус Фидель Алехандро, Герой Советского Союза
  52. ^ Concediendo a Fidel Castro Ruz el título de Héroe de la Unión Soviética, La Prensa.
  53. ^ Fidel Castro
  54. ^ Un día como hoy: 11 de noviembre
  55. ^ CASTRO, PCC OFFICIALS RECEIVE SOVIET DECORATION
  56. ^ Биография Фиделя Кастро
  57. ^ Castro Speech Data Base
  58. ^ Castro to keep his state and university distinctions
  59. ^ Dimitrov Order Presentation to Fidel Castro
  60. ^ Visita de la delegación del gobierno polaco a Cuba el 25 de abril de 1973.
  61. ^ The International Who’s Who, 2004, Europa Publications
  62. ^ Discurso pronunciado por Fidel Castro Ruz en el acto en que le fue impuesta la “Orden de Jamaica”, la más alta distinción nacional que se confiere a gobernantes de otros países, en Kingston, Jamaica, October 16, 1977.
  63. ^ Order of Merit (OM)
  64. ^ «Fidel’s visit to Ethiopia», September 24 edition, 1978, p. 2, Granma.
  65. ^ Breve biografía de Fidel Castro
  66. ^ a ă Confiere la República Popular Democrática de Corea a Fidel, Orden Héroe del Trabajo
  67. ^ Kuba: Das Ende der Ära Castro. Fidels Finale: Jetzt gibt Castro, schwer krank, die Macht ab
  68. ^ 1989 Speech Czechoslovak – Jakes Presents Award To Castro
  69. ^ Discurso pronunciado por el Comandante en Jefe Fidel Castro Ruz en el acto de imposición de la Orden “Agostinho Neto”, efectuado en el Palacio de la Revolución, el 9 de julio de 1992.
  70. ^ Discurso pronunciado por Fidel Castro Ruz al recibir la Orden del Mérito de Duarte, Sánchez y Mella en el grado Gran Cruz Placa de Oro e imponer al Presidente de la República Dominicana, Dr. Leonel Fernández, la Orden José Martí. Santo Domingo, August 22, 1998.
  71. ^ Discurso pronunciado por el Comandante en Jefe Fidel Castro Ruz, Primer Secretario del Comité Central del Partido Comunista de Cuba y Presidente de los Consejos de Estado y de Ministros, en el acto de imposición de la Orden de Buena Esperanza, efectuado en Ciudad del Cabo, Sudáfrica, el día 4 de septiembre de 1998.
  72. ^ Breves de Cuba
  73. ^ Asistencia a los niños en Cuba
  74. ^ The Amir visit Cuba
  75. ^ CUBA IN THE MIDDLE EAST: 2000-2002
  76. ^ La Guerra Sucia Sobra
  77. ^ Discurso pronunciado al recibir la Orden Congreso de Angostura, en la Plaza Bolívar, Ciudad Bolívar, Venezuela, el 11 de agosto del 2001.
  78. ^ Reciben condecoraciones Presidentes de Cuba y Argelia
  79. ^ Rey malasio condecoró a Fidel
  80. ^ Fidel Castro percibe clima de “optimismo” en Argentina
  81. ^ a ă Fidel Castro recibe condecoraciones de Corea del Norte
  82. ^ Otorgan medalla “Amílcar Cabral” a Fidel Castro
  83. ^ Ecuador otorga a Fidel Castro la Medalla al Mérito Deportivo
  84. ^ Conceden en Namibia condecoración a Fidel Castro
  85. ^ Otorgado a líder cubano Fidel Castro Premio Ubuntu, de Sudáfrica
  86. ^ Fidel Castro to receive Dominica’s highest award
  87. ^ Torrijos condecora a Fidel Castro y recibe medalla cubana
  88. ^ Conceden a Fidel Castro la Orden del Quetzal de Guatemala
  89. ^ Sudáfrica impondrá a Fidel Castro su condecoración de mayor grado
  90. ^ Distinguen a Fidel Castro con Orden Águila de Zambia
  91. ^ Yanukóvich condecora a Fidel y Raúl Castro por ayuda consecuencias Chernóbil
  92. ^ Legislativo ecuatoriano reconoce méritos e impronta de Fidel
  93. ^ Fidel Castro recibe la mayor distinción de Timor Oriental
  94. ^ Tình nghĩa sắt son Việt Nam – Cuba mãi mãi tỏa sáng
  95. ^ Cuba coi thắng lợi của VN là thắng lợi của mình
  96. ^ Tiếp tục phát triển quan hệ hữu nghị Việt Nam-Cuba

Liên kết ngoài

Lá cờ Hawaii

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ka Hae Hawaiʻi, có nghĩa lá cờ Hawaiʻi

Lá cờ Hawaiʻi (tiếng Hawaii: Ka Hae Hawaiʻi) là lá cờ chính thức tượng trưng Hawaiʻi là một vương quốc (dưới thời Anh thuộc ngắn), chế độ bảo hộ, cộng hòa, lãnh thổ, và tiểu bang. Đây là lá cờ tiểu bang duy nhất ở Hoa Kỳ mà được bay dưới nhiều chế độ chính phủ như thế, và là cờ duy nhất bao gồm Quốc kỳ Liên hiệp Anh (tiếng Anh: Union Flag). Ka Hae Hawaiʻi cũ hơn phần nhiều lá cờ tiểu bang Mỹ. Hai quốc gia đầu tiên công nhận Ka Hae Hawaiʻi chính thức là Vương quốc AnhPháp. Hoa Kỳ và Nhật Bản theo sau. Năm 1990, Thống đốc Hawaiʻi John D. Waihee III tuyên bố ngày 31 tháng 7 là Ngày Ka Hae Hawaiʻi, tức là Ngày Lá cờ Hawaiʻi.

Thiết kế

Cờ Hawaiʻi bay tại Vườn tiểu bang Haleakalā

Phía trên bên trái của cờ Hawaiʻi là Quốc kỳ Liên hiệp Anh. Nền lá cờ có tám sọc tượng trưng tám đảo chính của Hawaiʻi. Từ trên xuống, các sọc có màu theo thứ tự: trắng, đỏ, xanh, trắn, đỏ, xanh, trắng, đỏ. Các đảo được tượng trưng là Hawaiʻi, Oʻahu, Kauaʻi, Kahoʻolawe, Lānaʻi, Maui, Molokaʻi, và Niʻihau.

Lịch sử

Có nhiều cách kể chuyện lịch sử của Ka Hae Hawaiʻi. Một cách giải thích rằng Vua Kamehameha I treo cờ Vương quốc Anh của hạm trưởng người Anh George Vancouver để biểu hiện tình hữu nghị với Quốc vương George III. Một cố vấn của Kamehameha bảo là quốc kỳ đó có thể kéo Hawaiʻi vào xung đột quốc tế, tại vì nước khác có thể tưởng Hawaiʻi đồng minh với Vương quốc Anh. Kamehameha kéo cờ xuống tại nhà vua. Tuy sự chính xác bị tranh cãi, có truyện kể rằng về sau, để nhân nhượng người Mỹ tại Hawaiʻi trong thời Chiến tranh 1812, quốc kỳ Hoa Kỳ được bay trên nhà Kamehameha và bị dời ngay khi sĩ quan Anh trong triều đình Kamehameha phản đối sôi nổi. Chuyện này giải thích tại sao lá cờ Hawaiʻi về sau cố tình hỗn hợp quốc kỳ của hai nước này. Một lý do nữa là, trong thời Định mệnh Hiển nhiên (Manifest Destiny) tại Hoa Kỳ, và khi Hawaiʻi bị Vương quốc Anh tiếp quản một ngày, lá cờ này được sử dụng để cho rằng Hawaiʻi là quốc gia độc lập. Phần của hai quốc kỳ được nối thành một để cho rằng Hawaiʻi không sẽ bị tiếp quản.

Cờ thống đốc Hawaiʻi

Năm 1816, Kamehameha đặt làm cờ này để tránh xung đột. Nhà lịch sử cho Ka Hae Hawaiʻi là do một sĩ quan trong Hải quân Hoàng gia Anh, dựa trên lá cờ hải quân Anh. Tên sĩ quan này bị tranh cãi: có người cho là Alexander Adams; có người cho là George Beckley. Khác với cờ Anh được treo bởi Kamehameha lần đầu tiên, phía tên bên trái có bốn đường chéo thêm vì Vương quốc Anh đã trở thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Cờ đầu tiên có sọc màu đỏ-trắng-xanh, có thể do một số cờ trong lịch sử Anh. Tuy nhiên, có người cho rằng các màu này do quốc kỳ Mỹ. Vì lầm lẫn, cờ được sử dụng trong buổi treo cờ chính thức đầu tiên xếp màu theo thứ tự trắng-đỏ-xanh. Số sọc cũng thay đổi: ban đầu, lá cờ chỉ có bảy sọc, nhưng vào năm 1845 một sọc được thêm vào.

Xem thêm

Tham khảo

Liên kết ngoài

Lá cờ các tiểu bang Hoa Kỳ
Liên bang Quốc kỳ Hoa Kỳ
Các tiểu bang Alabama Flag of Alabama.svg| Alaska Flag of Alaska.svg| Arizona Flag of Arizona.svg| Arkansas Flag of Arkansas.svg| California Flag of California.svg| Colorado Flag of Colorado.svg| Connecticut Flag of Connecticut.svg| Delaware Flag of Delaware.svg| Florida Flag of Florida.svg| Georgia Georgia state flag.png| Hawaii Flag of Hawaii.svg| Idaho | Illinois | Indiana | Iowa | Kansas | Kentucky | Louisiana | Maine | Maryland | Massachusetts | Michigan | Minnesota | Mississippi | Missouri | Montana | Nebraska | Nevada | New Hampshire | New Jersey | New Mexico | New York | North Carolina | North Dakota | Ohio | Oklahoma | Oregon | Pennsylvania | Rhode Island | South Carolina | South Dakota | Tennessee | Texas | Utah | Vermont | Virginia | Washington | West Virginia | Wisconsin | Wyoming
Đặc khu liên bang Đặc khu Columbia
Các hòn đảo Samoa thuộc Mỹ | Guam | Quần đảo Bắc Mariana | Puerto Rico | Quần đảo Virgin thuộc Mỹ

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Chào ngày mới 30 tháng 7

5628442718 b10fc2c47f o.jpg

CNM365 Chào ngày mới 30 tháng 7 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc tế hữu nghị Liên Hiệp Quốc; ngày Độc lập tại Vanuatu (1980).Năm 762Khalip Al-Mansur ra lệnh xây dựng thành phố Bagdad (hình) để làm thủ đô của Đế quốc AbbasNăm 1912 – Hoàng thái tử Gia Nhân kế vị Thiên hoàng Nhật Bản, tức Thiên hoàng Đại ChínhNăm 1945Chiến tranh thế giới thứ hai: Tàu ngầm I-58 của Nhật Bản đánh chìm tuần dương hạm USS Indianapolis của Hoa Kỳ, khiến 883 thủy thủ thiệt mạng.  Năm 1956 – Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower ký thành luật về việc chọn In God we trust làm khẩu hiệu quốc gia.

Bagdad

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Baghdad
بغداد
Phố Haifa nhìn qua sông Tigres

Phố Haifa nhìn qua sông Tigres

Baghdad trên bản đồ Iraq

Baghdad
Baghdad
Tọa độ: 33°20′0″B 44°26′0″Đ
Quốc gia  Iraq
Tỉnh Tỉnh Baghdad
Thành lập 0762 sửa dữ liệu
Chính quyền
 – Tỉnh trưởng Hussein Al Tahhan
Diện tích
 – Tổng cộng 734 km² (283,4 mi²)
Độ cao 34 m (112 ft)
Dân số (2004)[1][2]
 – Tổng cộng 6.554.126
Số ước tính
Múi giờ GMT +3 (UTC)
 – Mùa hè (DST) +4 (UTC)
Thành phố kết nghĩa Beirut, Dubai, Jeddah, Rabat, Pavlodar, Amman sửa dữ liệu
Website: http://www.baghdadgov.com

Bản đồ Iraq

Bagdad (tiếng Ả Rập:بغداد Baġdād) (đọc như “Bát-đa”) là thủ đô của Iraq và là thủ phủ của tỉnh Bagdad.
Dân số năm 2003 là 5.772.000, và năm 2011 vào khoảng 7.216.040 là thành phố lớn nhất Iraq[1][2] và là thành phố lớn thứ 2 vùng Tây Nam Á sau Tehran và cũng là thành phố lớn thứ 2 của thế giới Ả Rập, chỉ sau Cairo. Nằm trên bờ sông Tigris tại vị trí 33°20′ độ vĩ Bắc và 44°26′ độ kinh Đông. Đây là một trong những trung tâm của đạo Hồi.

Lịch sử

Khởi thủy

Ngày 30 tháng 7, 762, khalip Al’Mamun xây dựng thành phố. Mansur tin rằng Baghdad là một thành phố lí tưởng để trở thành thủ phủ đế chế Hồi giáo dưới thời Abbasids.[3] Mansur yêu thành phố này đến mức ông đã từng nói: “Đây thực sự là thành phố mà ta phải tìm ra, nơi ta phải sống và nơi mà con cháu ta sẽ ngự trị sau này.”[4] Sự phát triển của thành phố được tạo điều kiện bởi vị trí địa lí thuận lợi cả về quân sự lẫn kinh tế (dọc sông Tigris tới biển và đông tây Địa Trung Hải tới phần còn lại của Châu Á. Hội chợ thương mại hàng tháng được tổ chức tại vùng này. Một lí do nữa lí giải vì sao Baghdad lại có địa thế thuận lợi là do sự dồi dào về nguồn nước và khí hậu khô. Nguồn nước, thứ rất khan hiếm trong thời kì này, có mặt ở cả phía bắc và phía nam cổng thành phố, cung cấp đầy đủ nhu cầu của người dân.
Baghdad đã làm lu mờ Ctesiphon, thủ phủ trước đây của đế chế Ba Tư, 30 km về phía Đông Nam. Thành phố này đã được những người Hồi Giáo cai quản từ năm 637 nhưng lại nhanh chóng bị bỏ hoang sau khi Baghdad được tìm ra. Babylon bị bỏ hoang từ thế kỉ thứ 2 trước công nguyên, nằm 90 km về phía Nam.

Xây dựng

Từ những năm đầu tiên thành phố đã được coi như Thiên đường trong kinh Qu’ran.[5] Bốn năm trước khi Baghdad được xây dựng, vào năm 758, Mansur đã tập hợp những nhà kĩ sư, những người chuyên vẽ bản đồ, những thợ xây dựng từ khắp nơi trên thế giới đến để thiết kế thành phố. Hơn 100.000 thợ xây dựng đã đến thiết kế thành phố; rất nhiều người đã chia sẻ tiền lương của mình để bắt đầu xây dựng thành phố vĩ đại này.[6] Khung thành phố là 2 hình bán nguyệt lớn đường kính khoảng 19 km (12 dặm). Tháng 7 được lựa chọn để bắt đầu thi công vì 2 nhà thiên văn học, Naubakht Ahvaz and Mashallah tin rằng thành phố nên được xây dựng theo cung Sử tử.[7] Cung Sư Tử rất quan trọng vì nó là thành phần của lửa, biểu tưởng cho năng suất, sự kiêu hãnh và sự phát triển. Những viên gạch dùng để xây dựng thành phố đều 18 inches cả 4 mặt.

Những bức tường bao quanh

Bốn bức tường xung quanh Baghdad được đặt tên Kufa, Basra, Khurasan, và Damascus. Những tên này được đặt theo địa danh mà mỗi cánh cổng hướng về. Khoảng cách giữa mỗi cánh cổng này đều ít hơn 1.5 dặm. Mỗi cổng có 2 cửa làm bằng sắt. Vì những cánh cổng này rất nặng nên cần vài người đế đóng hoặc mở chúng.

Cung điện Cổng vàng

Ở chính giữa quảng trường trung tâm là cung điện cổng vàng. Cung điện là nơi ở của khalip và gia đình của ông. Ở chính giữa của tòa nhà là một mái vòm xanh cao 39m. Xung quanh cung điện là nơi dạo mát, tòa nhà bên bờ sông nơi chỉ có khalip là có thể cưỡi ngựa tới. Thêm vào đó, cung điện ở gần những lâu đài và dinh thự của những người có quyền thế khác. Gần cổng Syria là nơi ở của những người gác cổng. Tòa nhà đó được xây dựng bởi gạch và cẩm thạch. Quản gia của cung điện sống ở phía sau của tòa nhà còn người chỉ huy lính gác lại sống ở phía trước. Vào năm 813, sau cái chết của khalip Amin, cung điện không còn được dùng làm nơi sống của khalip và gia đình.
Dạng tròn là theo kiểu Ả rập. Hai nhà thiết kế được thuê bởi Al-Mansur là Naubakht, một tín đồ đạo thờ lửa, người đã đặt ngày khởi công thành phố dựa theo thiên văn học, và Mashllah, một người Do thái đến từ Khorasan, Iran.

Đế quốc Ottoman đô hộ

Vào thế kỷ 16, Đế chế Ottoman thôn tính vùng đất này và Bagdad trở thành một thành phố thương mại quan trọng trong đế chế. Bagdad được giải phóng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi quân Đồng Minh tràn vào Bagdad và Đế chế Ottoman bại trận.

Thời gian gần đây

Nơi đây được biết đến với cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 do tổng thống Hoa Kỳ Bush (cha) phát động nhằm lật đổ chế độ Saddam Hussein nhưng không thành. Năm 2003, một lần nữa lại nổ ra cuộc Chiến tranh Iraq, lần này là do tổng thống Bush (con) phát động và đã lật đổ được Saddam Hussein.

Địa lý

Baghdad nhìn từ không gian

Thành phố nằm trên đồng bằng rộng lớn hai bên bờ sông Tigris. Tigris chia Baghdad thành hai nửa, nửa phía đông được gọi là ‘Risafa‘ và nửa phía tây được gọi là ‘ Karkh‘. Vùng đất của thành phố hầu hết là bằng phẳng và thấp trên các bồi tích được lấp đầy theo chu kỳ lũ của sông.

Khí hậu

Baghdad có khí hậu khô hạn cận nhiệt đới (phân loại khí hậu Köppen BWh) và là thành phố nóng nhất thế giới theo nghĩa nhiệt độ cao nhất. Mùa hè từ tháng 6 đến tháng 8, nhiệt độ cao trung bình 44 °C (111 °F) kèm với nắng rực lửa: thực tế lượng mưa được ghi nhận là rất ít vào thời điểm này trong năm và không bao giờ vượt quá 1mm.[8]
Lượng mưa hàng năm, chủ yếu rơi từ tháng 11 đến tháng 3, trung bình khoảng 150 mm, cao nhất là 338 mm (13,31 in) và thấp nhất là 37 mm (1,46 in).[9] Vào 11 tháng 1, 2008, có tuyết rơi nhẹ ở Baghdad lần đầu tiên trong lịch sử.[10]

[ẩn]Dữ liệu khí hậu của Baghdad
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 24.8 27.1 30.9 38.6 43.5 48.8 50.0 49.9 47.7 40.2 35.6 25.3 50
Trung bình cao °C (°F) 15.5 18.5 23.6 29.9 36.5 41.3 44.0 43.5 40.2 33.4 23.7 17.2 30,6
Trung bình thấp, °C (°F) 3.8 5.5 9.6 15.2 20.1 23.3 25.5 24.5 20.7 15.9 9.2 5.1 14,9
Thấp kỉ lục, °C (°F) −11 −10 −5.5 −0.6 8.3 14.6 22.4 20.6 15.3 6.2 −1.5 −8.7 −11
Lượng mưa, mm (inches) 27.2
(1.071)
19.1
(0.752)
22.0
(0.866)
15.6
(0.614)
3.2
(0.126)
0
(0)
0
(0)
0
(0)
0
(0)
3.3
(0.13)
12.4
(0.488)
20.0
(0.787)
122,8
(4,835)
độ ẩm 71 61 53 43 30 21 22 22 26 34 54 71 42,3
Số ngày mưa TB (≥ 0.001 mm) 8 7 8 6 4 0 0 0 0 4 6 7 50
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 192.2 203.3 244.9 255.0 300.7 348.0 347.2 353.4 315.0 272.8 213.0 195.3 3.240,8
Nguồn #1: World Meteorological Organization (UN)[11]
Nguồn #2: Climate & Temperature[12]

Giáo dục

Đại học Mustansiriya được Abbasid Caliph al-Mustansir thành lập năm 1227. Tên trường được đổi thành Đại học Al-Mustansiriya năm 1963. Đại học Baghdad là trường đại học lớn nhất Iraq và lớn thứ 2 trong thế giới Ả Rập.

Đại học

Chú thích

  1. ^ a ă Estimates of total population differ substantially. The Encyclopædia Britannica gives a 2001 population of 4.950.000, the 2006 Lancet Report states a population of 6.554.126 in 2004.
  2. ^ a ă “Cities and urban areas in Iraq with population over 100.000”, Mongabay.com
  3. ^ Corzine, Phyllis (2005). The Islamic Empire. Thomson Gale. tr. 68–69.
  4. ^ Wiet, Gastron (1971). Baghdad: Metropolis of the Abbasid Caliphate. Univ. of Oklahoma Press.
  5. ^ Wiet, pg. 13
  6. ^ Corzine, Phyllis (2005). The Islamic Empire. Thomson Gale. tr. 69.
  7. ^ Wiet, pg. 12
  8. ^ Monthly rainfall for Baghdad (WMO #40650)
  9. ^ Annual Rainfall Statistics for Baghdad (WMO #40650)
  10. ^ (AFP) – Jan 11, 2008 (11 tháng 1 năm 2008). “Afp.google.com, First snow for 100 years falls on Baghdad”. Afp.google.com. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010.
  11. ^ “World Weather Information Service – Baghdad”. World Meteorological Organization. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013.
  12. ^ “Baghdad Climate Guide to the Average Weather & Temperatures, with Graphs Elucidating Sunshine and Rainfall Data & Information about Wind Speeds & Humidity:”. Climate & Temperature. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011.

Liên kết ngoài

Tọa độ: 33,325°B 44,422°Đ

Vanuatu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ripablik blong Vanuatu
République du Vanuatu
Republic of Vanuatu
Cộng hòa Vanuatu
Flag of Vanuatu.svg Coat of arms of Vanuatu.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Vanuatu
Khẩu hiệu
Long God Yumi Stanap
(tiếng Bislama: “Hãy trung thành bên Chúa”)
Quốc ca
Yumi, Yumi, Yumi
(tiếng Bislama: “Chúng ta, chúng ta, chúng ta”)
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa nghị viện
 • Tổng thống
• Thủ tướng
Iolu Johnson Abil
Sato Kilman
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Bislama, AnhPháp
Thủ đô Port Vila
200) 17°45′N, 168°18′Đ
Thành phố lớn nhất Port-Vila
Địa lý
Diện tích 12 200 km² (hạng 155)
Diện tích nước không đáng kể %
Ngày thành lập 30 tháng 7 năm 1980
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 205 754 người (hạng 183)
Dân số (2002) 192 910 người
Mật độ 15,9 người/km²
HDI 0.659 (hạng 118)
Đơn vị tiền tệ Vatu (VUV)
Thông tin khác
Tên miền Internet .vu

Vanuatu, tên chính thức Cộng hòa Vanuatu, là đảo quốc gồm nhóm quần đảo vùng Melanesia, tây nam Thái Bình Dương. Quần đảo này nằm phía đông Úc cách 1.750 km, phía đông bắc Nouvelle-Calédonie cách 500 km, phía tây Fiji, và phía nam quần đảo Solomon.
Trước năm 1980, Vanuatu có tên là New Hebrides thuộc sự đồng trị của cả hai nước AnhPháp. Người Việt thời đó gọi Vanuatu là Tân Đảothực dân Pháp thường mộ phu chân đăngĐông Dương để đi khai phá và canh tác đồn điền ở đó.

Lịch sử

Theo chứng tích khảo cổ thì con người có mặt trên đảo Vanuatu từ khoảng 1300 năm trước Công nguyên.
Năm 1606, người Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của Luis Váez de TorresPedro Fernández de Quirós đến đảo thám hiểm và cho rằng Vanuatu là một phần của lục địa châu Úc. Mãi đến thế kỷ 18 sau chuyến hải hành thứ hai của nhà thám hiểm người Anh James Cook và đảo được đặt tên “New Hebrides” người châu Âu mới đến định cư vùng đảo.
Trong thời gian ngắn ngủi sau năm 1879, đảo Efate thành lập thể chế cộng hòa dưới tên “Franceville” với đặc điểm là quốc gia độc lập đầu tiên với quyền đầu phiếu phổ thông không phân biệt sắc tộc hay giới tính. Tuy nhiên riêng người da trắng được nhậm chức. Năm 1887, đảo được đặt dưới quyền cai trị quân đội của hai nước AnhPháp. Về sau được xác định thông qua nghị định thư năm 1914, chính thức phê chuẩn năm 1923.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, quần đảo New Hebrides được hưởng thể chế sau này đưa đến quyền tự trị năm 1975. Từ đó những bất đồng giữa cộng đồng Anh ngữ (đa số) và cộng đồng Pháp ngữ lại gia tăng. Việc tạm ngừng đấu tranh cho phép thông qua một dự án hiến pháp. Tháng 11 năm 1979, đảng thuộc cộng đồng Anh ngữ giành thắng lợi trong cuộc tuyển cử, Mục sư Walter Lini trở thành Thủ tướng. Cộng đồng Pháp ngữ ở hai đảo Espíritu SantoTanna dự định tiến hành li khai. Một lực lượng gồm đội quân của Anh và Pháp phải can thiệp nhằm ngăn cản ý định li khai. Độc lập được tuyên bố ngày 30 tháng 7 năm 1980. Quần đảo New Hebrides đổi tên thành Cộng hòa Vanuatu. Georges Ati Sokomanu được bầu làm Tổng thống.
Năm 1983, đảng của Walter Lini đắc cử. Năm 1984, Sokomanu phải đương đầu với Lini, từ chức và tái đắc cử. Năm 1987, Lini lại giành thắng lợi trong cuộc bầu cử. Tháng 9 năm 1991, Lini rút khỏi chính trường và Maxime Carlot Korman thuộc cộng đồng Pháp ngữ trở thành Thủ tướng. Năm 1994, Jean-Marc Leyé được bầu làm Tổng thống. Năm 1999, John Bani giữ chức Tổng thống và bổ nhiệm Donald Kalpokas vào chức Thủ tướng.

Địa lý

Một dòng sông trên đảo Efate, Vanuatu

Đồng bằng của núi Yasur trên đảo Tanna

Vanuatu là một quần đảo san hônúi lửa gồm 83 đảo lớn nhỏ, thuộc quần đảo Melanesia, gồm một quần đảo trải dài từ Bắc đến Nam trên 850 km ở Tây Nam Thái Bình Dương, nằm về phía Đông Bắc New Caledonia. Khoảng 75% diện tích đất đai bao phủ bởi các khu rừng nhiệt đới. Tabwemasana là đỉnh núi cao nhất (1.879 m) thuộc đảo Espíritu Santo (4.860 km2), đảo lớn nhất của quần đảo này. Nhiều ngọn núi lửa thuộc quần đảo này nằm trong “vành đai lửa Thái Bình Dương” hiện vẫn còn hoạt động, nhất là đảo Tanna, Ambrym, AobaGaua.
Hai đảo Matthew và Hunter còn trong vòng tranh chấp với Nouvelle-Calédonie. Trong tổng số đó có 14 đảo với diện tích hơn 100 km² là:

Hạng theo diện tích Tên đảo Diện tích
1 Espiritu Santo 3.956 km²
2 Malakula 2.041 km²
3 Efate 900 km²
4 Erromango 888 km²
5 Ambrym 678 km²
6 Tanna 555 km²
7 Pentecost 491 km²
8 Epi 445 km²
9 Ambae 402 km²
10 Vanua Lava 334 km²
11 Gaua 328 km²
12 Maewo 304 km²
13 Malo 180 km²
14 Anatom 159 km²

Đa số những hải đảo là núi non, địa chất phún thạch của những ngọn núi lửa xưa với khí hậu nhiệt đớibán nhiệt đới. Vũ lượng tại Vanuatu tính trung bình là 2.360 mm nhưng có năm lên đến 4.000 mm ở những đảo miền bắc.
Có vài ngọn núi lửa còn hoạt động tại Vanuatu như ngọn Lopevi. Thiên tai địa chấn và núi lửa thường đe dọa quần đảo. Ngọn núi cao nhất Vanuatu là đỉnh Tabwemasana, đo được 1879 m trên đảo Espiritu Santo.
Thành phố lớn nhất là thủ đô Port Vila trên đảo Efate. Thị trấn thứ nhì là Luganville trên đảo Espiritu Santo.
Vanuatu được công nhận là vùng địa sinh thái đặc biệt (distinct terrestial ecoregion) thuộc phân khu sinh thái (ecozone) Australasia.

Khí hậu

Vuanuatu nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới. Thời tiết ôn hòa nhờ gió mậu dịch thổi theo hướng Đông Nam. Mùa khô từ tháng 5 đến tháng 10, mùa mưa từ tháng 11 đến tháng 4, lượng mưa trung bình tương đối cao.

Hành chính

Các tỉnh của Vanuatu

Kể từ năm 1994, Vanuatu được chia thành sáu tỉnh (province). Tên của sáu tỉnh thì ghép từ tên những đảo phụ thuộc.

  1. Malampa (MALakula, AMbrym, PAama)
  2. Penama (PENntecost, Ambae, MAewo)
  3. Sanma (SANto, MAlo)
  4. Shefa (nhóm SHepherds, EFAte)
  5. Tafea (Tanna, Aniwa, Futuna, Erromango, Aneityum)
  6. Torba (TORres, BAnks)

Mỗi tỉnh là đơn vị tự trị với hội đồng tỉnh do cư dân bầu lên. Hội đồng này có quyền thu thuế địa phương và quyết định ngân sách hàng tỉnh cùng những nghị luật. Chủ tịch Hội đồng do chính các thành viên bầu ra, lại có thư ký trợ lý do Ủy ban Công chức (Public Service Commission) bổ nhiệm.
Ngành hành pháp có hành pháp viên (executive officer) do phủ Thủ tướng bổ nhiệm.
Ở cấp tỉnh cũng có vị tổng thống tỉnh bang (provincial president) thuộc cử tri đoàn để bầu ra tổng thống Vanuatu.
Dưới cấp tỉnh là (municipality), tương đương với một đảo một. Xã có hội đồng xã và xã trưởng do cư dân bầu nên.

Chính trị

Tòa nhà quốc hội Vanuatu.

Vanuatu là một nước dân chủ nghị viện. Đứng đầu là Tổng thống với nhiệm kỳ năm năm nắm vai trò lễ nghi. Cử tri đoàn gồm các đại biểu quốc hội và tổng thống tỉnh bang bỏ phiếu bầu tổng thống toàn quốc.
Thủ tướng điều hành chính phủ thì do Quốc hội bầu nếu đạt được hơn nửa số phiếu của ¾ đại biểu. Thủ tướng có nhiệm vụ lập nội các, tức hội đồng bộ trưởng để điều hành ngành hành pháp Vanuatu.
Quốc hội Vanuatu là viện lập pháp đơn viện (unicameral) với 52 đại biểu nhiệm kỳ bốn năm do cử tri trực tiếp bầu ra. Quốc hội có thể tự giải tán hay do lệnh Tổng thống với sự cố vấn của Thủ tướng. Song song với Quốc hội là Hội đồng tộc trưởng Malvatu Mauri để cố vấn chính phủ trong những lãnh vực văn hóangôn ngữ Vanuatu.
Các Đảng chính trị chính: Vanuaaku Pati, Đảng thống nhất Dân tộc (NUP) và một số đảng khác.

Đối ngoại

Vanuatu theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình, không liên kết, chống vũ khí hạt nhân. Đến nay, Vanuatu có quan hệ ngoại giao với 74 nước. Vanuatu có quan hệ hợp tác kinh tếvăn hóa chặt chẽ với Úc, New ZealandEU và Nam Thái Bình Dương. Hiện nay, Vanuatu cũng đang chú trọng phát triển quan hệ với nhiều nước khác, đặc biệt là các nước lớn cung cấp nhiều viện trợ như Trung Quốc, Mỹ và các nước láng giềng khu vực.
Vanuatu là thành viên Liên Hợp Quốc (1981), Khối thịnh vượng chung (Common Wealth), Phong trào không liên kết (1983), Cộng đồng Pháp ngữ (ACCT), Ngân hàng thế giới WB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Diễn đàn các nước Nam Thái Bình Dương (SPF)…

Kinh tế

Một ngôi chợ ở thủ đô Port Vila.

Vanuatu có nền kinh tế còn chưa phát triển, chủ yếu là nông nghiệp với quy mô nhỏ, công nghiệp còn khiêm tốn; ngoài ra còn một số ngành khác như đánh bắt hải sản, khai khoáng và du lịch. Tốc độ tăng GDP trung bình khoảng 2,9%. Vanuatu nhập khẩu nhiều máy móc, phương tiện vận tải, thực phẩm, dầu mỏ, hoá chất trong khi xuất khẩu khiêm tốn chủ yếu là cùi dừa, ca cao, thịt bò, gỗ. Bạn hàng và cũng là nước cung cấp viện trợ chính là Úc, Anh, Pháp, Liên minh châu Âu (EU), Nhật bản, New Zealand. Nhập khẩu của Vanuatu từ Úc chiếm khoảng 40% – 50%, New Zealand: 11%, New Caledonia: 8%, Nhật: 10%, FijiPháp: 6%. Thu nhập bình quân đầu người của Vanuatu đạt 2442 USD năm 2008 (số liệu của IMF).[1]

Nhân khẩu học

Dân số Vanuatu hiện nay là 205,754 người. Bao gồm các sắc tộc chính: Người Vanuatu (94%), người châu Âu (4%), người gốc Micronesians, Polynesians; người Hoangười Việt (2%). Người Người Vanuatu (94%), người gốc Micronesians, Polynesians nói tiếng Bislama; người châu Âu, người Hoangười Việt nói tiếng Anhtiếng Pháp.
Các tôn giáo chính có: Giáo hội Trưởng Lão (Cơ Đốc) 36.7%, Anh giáo 15%, Công giáo 15%, tín ngưỡng bản địa 7.6%, các tôn giáo khác.

Văn hóa

Trống gỗ Vanuatu, Bảo tàng Bernice

Với dân số khoảng 221.000 người (thống kê 2006), Vanuatu tự hào có 113 ngôn ngữ khác nhau đại hình thành tại vô số đại phương ở những hòn đảo xa xôi. Điều này đã biến quốc đảo này là một trong những nước có nền văn hóa đa dạng nhất trên thế giới.
Sự đa dạng là kết quả của hơn 3.000 năm tích tụ từ các dân tộc khác nhau về quốc đảo này đôi khi dẫn đến sự xung đột sắc tộc, tan biến văn hóa và đánh mất đi giá trị truyền thống gốc của nó. Thực phẩm, động vật là những vật quan trọng nhất của đảo vì nó là nguồn cung cấp thức ăn cho người dân và trong đó loài lợn là con vật quan trọng. Xét về khía cạnh sống lợn là con vật linh thiêng nhất cho cuộc sống người dân Vanuatu vì nó không chỉ là nguồn cung cấp thực phẩm, chất dinh dưỡng mà là nền tảng của đời sống nghi thức, biểu tượng của sự giàu có và quyền lực được xác lập từ bấy lâu nay.
Nhịp sống hiện đại đã không làm xáo trộn nét đặc trưng của một nghi thức sống trong gia đình. Mọi khía cạnh của cuộc sống được tổ chức và biểu hiện dưới hình thái của một qui trình sống được tổ chức trong một đại gia tộc mà ở đó con số người thân có thể lên đến hàng trăm người. Mối quan hệ hiếu thảo được bảo tồn và còn lưu giữ nhiều tập tục cổ xưa cắt bao qui đầu khởi sinh cho một sinh linh bé bỏng… và các người chết là một việc người đó được về với tổ tiên vì thế mà được cho là việc làm tối thượng. Nghệ thuật tại quốc đảo này thật đa dạng và biểu cảm dưới nhiều hinh thức khác nhau như từ việc trang trí đồ trang sức, trang trí thân người bởi hình xăm, các mặt nạ, mũ nón, chạm khắc… rất quan trọng đại diện tiêu biểu cho một làng nào đó.
Với xã hội hiện đại, tại quốc đảo nền kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Họ trồng các loại cây thực phẩm như khoai lang, khoai, sắn, trái cây theo mùa… Với diện tích rừng bị thu hẹp để lấy đất làm nông nghiệp, săn bắt thú hình như không còn phổ biến như xưa và thay vào đó là nuôi động vật, loài lợn là quan trọng là chỗ dựa cho nền kinh tế không chỉ là cung cấp thực phẩm mà là thể hiện sự đẳng cấp giàu có của mình. Văn hóa sống vẫn được bảo tồn và gìn giữ như là một phần của nghi thức cuộc sống. Trên một số hòn đảo, bà mẹ trả tiền để các bác sĩ cắt bao qui đầu trẻ em, các bé trai được đưa vào bụi rậm một tuần, đôi khi cả tháng… có một vài bộ tộc vẫn còn khỏa thân nhưng không như xưa, cánh đàn ông có vỏ bọc dương vật trong khi các phụ nữ vẫn để đôi ngực trần của mình tự nhiên.
Dấu ấn văn hóa Pháp
Giành chủ quyền từ tay thực dân Pháp vào đầu những năm 1980, Vanuatu là đất nước thuộc thế giới thứ ba ở quần đảo Nam Thái Bình Dương. Dấu ấn văn hóa Pháp vẫn in đậm trên những con phố và đặc biệt là thủ đô Port Vila, đồng thời là thành phố lớn nhất trên đảo Efate.
Port Vila nằm trải dài quanh vịnh Vila. Đứng trên cảng, sẽ thấy một khung cảnh tuyệt mỹ, xa xa là những hòn đảo nhô lên giữa đại dương xanh thẳm. Văn hóa Pháp hòa quyện với văn hóa truyền thống của người bản xứ NiVan tạo nên nét độc đáo cho vùng đất này. Những con phố đông đúc, những khu chợ sầm uất ở thủ đô Port Vila nằm dọc theo bến cảng, nơi có nhiều thuyền đang neo đậu.
Hầu hết cư dân ở đây đều đi bộ, chỉ một số ít đi lại bằng xe ô tô (loại xe tải). Những chiếc xe này luôn chật ních người và sẽ phải kinh ngạc về luật giao thông đường bộ ở đây.

Chú thích

Liên kết ngoài

USS Indianapolis (CA-35)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
USS Indianapolis CA-35.jpg
Tàu tuần dương USS Indianapolis (CA-35) tại Trân Châu Cảng vào năm 1937
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt tên theo: Indianapolis, Indiana
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding, Camden, New Jersey
Đặt lườn: 31 tháng 3 năm 1930
Hạ thủy: 7 tháng 11 năm 1931
Đỡ đầu bởi: Lucy Taggart
Hoạt động: 15 tháng 11 năm 1932
Danh hiệu và
phong tặng:
10 Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị tàu ngầm Nhật I-58 đánh chìm ngày 30 tháng 7 năm 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Portland
Trọng tải choán nước: 9.950 tấn
Độ dài: 177,4 m (582 ft) mực nước
186 m (610 ft 3 in) chung
Sườn ngang: 20,1 m (66 ft 1 in)
Mớn nước: 5,2 m (17 ft 1 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi White-Foster
4 × trục
công suất 107.000 mã lực (79,8 MW)
Tốc độ: 61 km/h (32,7 knot)
Tầm xa: 18.000 km ở tốc độ 28 km/h
(10.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Thủy thủ đoàn: 629 (thời bình)
1.269 (thời chiến)
Vũ trang: 9 × pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber
8 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber[1]
8 × súng máy M2 Browning 0,50 caliber
Máy bay mang theo: 2 × thủy phi cơ OS2U Kingfisher

USS Indianapolis (CA-35) là một tàu tuần dương hạng nặng thuộc lớp Portland của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này theo tên thành phố Indianapolis thuộc tiểu bang Indiana. Nó có một vị trí nổi bật trong lịch sử do những tình huống đưa đến việc bị đánh chìm, dẫn đến một trong những tổn thất về sinh mạng ngoài biển lớn nhất trong lịch sử Hải quân Hoa Kỳ.
Vào ngày 30 tháng 7 năm 1945, không lâu sau khi chuyển giao những bộ phận quan trọng của quả bom nguyên tử đầu tiên sử dụng trong chiến đấu đến căn cứ không quân tại Tinian, chiếc tàu tuần dương trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm Nhật I-58, và bị chìm chỉ sau 12 phút. Trong số 1.196 thành viên thủy thủ đoàn hiện diện trên tàu, có khoảng 300 người đã chìm theo nó. Số 800 người còn lại phải đối mặt với đói khát và sự tấn công của cá mập, khi họ trôi nổi chờ đợi được giúp đỡ với rất ít bè cứu sinh và hầu như không có thực phẩm và nước uống. Hải quân Mỹ chỉ biết đến vụ chìm tàu sau khi những người sống sót được một đội bay PV-1 Ventura tuần tra thường xuyên phát hiện bốn ngày sau đó. Chỉ có 316 thủy thủ sống sót.[2] Indianapolis là một trong những tàu chiến Mỹ cuối cùng bị đánh chìm bởi hoạt động thù địch của đối phương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai; sau đó chỉ có chiếc tàu ngầm USS Bullhead bị máy bay Nhật tấn công bằng mìn sâu và có lẽ đã chìm vào ngày 6 tháng 8 năm 1945.

Thiết kế và chế tạo

Indianapolis được đặt lườn vào ngày 31 tháng 3 năm 1930 bởi hãng New York Shipbuilding tại Camden thuộc New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 7 tháng 11 năm 1931; được đỡ đầu bởi Cô Lucy Taggart, con gái cựu Nghị sĩ Thomas Taggart từng là Thị trưởng thành phố Indianapolis; và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 15 tháng 11 năm 1932, dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân John M. Smeallie.

Lịch sử hoạt động

Giữa hai cuộc thế chiến

Sau chuyến đi chạy thử máy tại Đại Tây Dương và vùng vịnh Guantánamo cho đến ngày 23 tháng 2 năm 1932, Indianapolis tiến hành huấn luyện tại khu vực kênh đào Panama và tại vùng biển Thái Bình Dương ngoài khơi Chile. Sau một đợt đại tu tại Xưởng Hải quân Philadelphia, chiếc tàu tuần dương hạng nặng đi đến Maine để đón Tổng thống Franklin Roosevelt tại đảo Campobello thuộc tỉnh New Brunswick của Canada vào ngày 1 tháng 7 năm 1933. Lên đường cùng ngày hôm đó, Indianapolis đi đến Annapolis, Maryland hai ngày sau nơi nó tiếp đãi sáu thành viên nội các. Sau khi Tổng thống rời tàu, nó rời Annapolis ngày 4 tháng 7 quay trở lại Xưởng Hải quân Philadelphia.
Indianapolis hoạt động như là soái hạm trong khoảng thời gian còn lại của giai đoạn phục vụ trong thời bình, một lần nữa đón Tổng thống Roosevelt tại Charleston, Nam Carolina vào ngày 18 tháng 11 năm 1936 cho một chuyến viếng thăm hữu nghị đến các nước Nam Mỹ. Sau khi đưa Tổng thống Roosevelt đến Rio de Janeiro, Buenos AiresMontevideo cho các cuộc viếng thăm cấp nhà nước, nó quay trở về Charleston vào ngày 15 tháng 12 khi Tổng thống và đoàn tháp tùng rời tàu.

1942

Bên trên chiếc Indianapolis trong chuyến Duyệt binh Hạm đội của Tổng thống ngoài khơi thành phố New York ngày 31 tháng 5 năm 1934. Nhìn từ bên trên cấu trúc thượng tầng ra phía đuôi tàu trong khi tàu khu trục Sturtevant tháp tùng, một thủy phi cơ trinh sát Vought 03U Corsair trên máy phóng bên mạn phải của Indianapolis, và cờ hiệu của Tổng thống treo trên cột cờ chính.

Hoạt động tác chiến đầu tiên của nó trong chiến tranh là tại Nam Thái Bình Dương, sâu trong vùng biển do Nhật Bản chi phối ở khoảng 560 km (350 dặm) về phía Nam Rabaul thuộc New Britain. Xế trưa ngày 20 tháng 2 năm 1942, các tàu chiến Mỹ bị tấn công bởi 18 máy bay ném bom hai động cơ chia thành hai đợt. Trong trận chiến diễn ra sau đó, 16 chiếc trong số đó bị bắn rơi bởi hỏa lực phòng không của các con tàu và máy bay tiêm kích cất cánh từ tàu sân bay Lexington. Mọi con tàu đều vô hại, và họ còn bắn rơi hai thủy phi cơ trinh sát đang bám theo. Vào ngày 10 tháng 3, được tăng cường thêm tàu sân bay Yorktown, Lực lượng Đặc nhiệm đã tấn công các cảng LaeSalamaua thuộc New Guinea nơi quân Nhật đang tập trung những lực lượng đổ bộ. Máy bay xuất phát từ các tàu sân bay Mỹ đã hoàn toàn gây bất ngờ cho đối phương khi cất cánh từ phía Nam, vượt qua dãy núi cao Owen Stanley để nhào xuống tấn công các tàu bè Nhật Bản. Trong khi gây tổn thất nặng nề cho tàu chiến và tàu vận tải của đối phương, các phi công Mỹ còn bắn rơi nhiều máy bay Nhật tìm cách cất cánh để bảo vệ căn cứ. Thiệt hại về phía Mỹ là nhẹ.
Indianapolis sau đó quay trở về Hoa Kỳ để đại tu và cải biến tại Xưởng hải quân Mare Island. Sau đợt tái trang bị, Indianapolis hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến Australia, rồi sau đó hướng khu vực Bắc Thái Bình Dương nơi một tình huống bấp bênh xảy ra do việc quân Nhật đổ bộ lên quần đảo Aleut. Đặc điểm thời tiết dọc theo chuỗi quần đảo khô khan cằn cỗi này là lạnh giá, sương mù dai dẳng và khó dự đoán trước, mưamưa tuyết liên tục, cùng những cơn bão bất ngờ với gió hung hãn và biển động mạnh.
Vào ngày 7 tháng 8, lực lượng đặc nhiệm mà Indianapolis được bố trí cuối cùng cũng tìm ra khoảng trống trong màn sương mù dày đặc che phủ các vị trí cố thủ của quân Nhật trên đảo Kiska cùng tàu bè đối phương tại các bờ biển lân cận. Các khẩu pháo 203 mm (8 inch) của Indianapolis đã nả vào tất cả các mục tiêu này. Mặc dù sương mù ngăn trở việc quan sát, báo cáo từ các thủy phi cơ của các tàu tuần dương nhìn thấy tàu bè bị đánh chìm trong cảng và các đám cháy tại các cơ sở trên bờ của đối phương. Cuộc tấn công này tỏ ra hoàn toàn bất ngờ cho đối phương đến mức họ phải mất 15 trước khi các khẩu đội trên bờ tìm cách bắn trả, và một số lại bắn lên không, tin rằng đó là một cuộc không kích. Đa số chúng bị dập tắt bởi hỏa lực chính xác từ các tàu chiến. Sau đó tàu ngầm Nhật Bản xuất hiện, nhưng lập tực bị các tàu khu trục Mỹ đánh mìn sâu, thủy phi cơ Nhật cũng thực hiện những cuộc ném bom không hiệu quả. Các hoạt động này được xem là thành công cho dù chỉ có được những thông tin hiếm hoi về kết quả. Nó cũng cho thấy sự cần thiết phải thiết lập những căn cứ gần hơn các đảo bị Nhật Bản chiếm đóng. Vì vậy, lực lượng Mỹ đã chiếm đóng đảo Adak vào cuối tháng, xây dựng một căn cứ xa hơn phù hợp cho các tàu nổi và máy bay dọc theo chuỗi quần đảo từ cảng Dutch trên đảo Unalaska.

1943

Vào tháng 1 năm 1943, Indianapolis hỗ trợ cho việc chiến đóng Amchitka, cho phép Đồng Minh lập thêm một căn cứ khác trên chuỗi quần đảo Aleut. Trong đêm 19 tháng 2, khi Indianapolis và hai tàu khu trục tuần tra khu vực Tây Nam đảo Attu với hy vọng ngăn chặn tàu bè đối phương tăng cường lực lượng và tiếp liệu cho lực lượng tại Kiska và Attu, nó bắt gặp chiếc tàu hàng Nhật Bản Akagane Maru. Chiếc tàu hàng tìm cách chống trả nhưng đã phải chịu đựng hỏa lực pháo của Indianapolis. Akagane Maru nổ tung với một lực rất mạnh và chìm với toàn bộ thủy thủ đoàn, có thể do nó được chất đầy đạn dược. Trong suốt mùa Xuân và mùa Hè, Indianapolis tiếp tục hoạt động tại vùng biển Aleut hộ tống các đoàn tàu vận tải Mỹ và hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ. Vào tháng 5, Đồng Minh tái chiếm Attu, lãnh thổ đầu tiên mà Hoa Kỳ giành lại được từ phần đất bị Nhật Bản chiếm đóng từ đầu chiến tranh. Sau khi Attu được kiểm soát, lực lượng Mỹ tập trung sự chú ý lên Kiska, vị trí cố thủ cuối cùng của đối phương tại Aleut. Tuy nhiên, quân Nhật đã xoay xở tìm các triệt thoái toàn bộ lực lượng trú đóng tại đây dưới sự che chở của sương mù dày đặc và liên tục, trước khi lực lượng Đồng Minh đổ bộ lên đảo này vào ngày 15 tháng 8.
Sau khi được tái trang bị tại Xưởng hải quân Mare Island, Indianapolis di chuyển đến Hawaii nơi nó trở thành soái hạm của Phó Đô đốc Raymond A. Spruance, Tư lệnh Đệ Ngũ hạm đội Hoa Kỳ. Nó rời Trân Châu Cảng vào ngày 10 tháng 11 cùng với thành phần chủ lực của Lực lượng Tấn công Phương Nam cho Chiến dịch Galvanic, cuộc đổ bộ chiếm đóng quần đảo Gilbert. Vào ngày 19 tháng 11, Indianapolis bắn pháo xuống đảo san hô Tarawa và ngày hôm sau dội pháo lên Makin. Sau đó chiếc tàu tuần dương quay trở lại Tarawa hoạt động hỗ trợ hỏa lực cho cuộc đổ bộ. Trong ngày hôm đó, hỏa lực phòng không của nó đã bắn rơi một máy bay đối phương, cùng nả pháo lên các điểm cố thủ của đối phương trong khi các đơn vị đã đổ bộ lên bờ chiến đấu chống lại quân trú phòng Nhật Bản trong trận Tarawa đẫm máu và tốn kém. Nó tiếp tục vai trò này cho đến khi hòn đảo được tuyên bố kiểm soát ba ngày sau đó. Việc chinh phục quần đảo Marshall được tiếp nối một cách khó nhọc bằng chiến thắng tại quần đảo Gilbert. Indianapolis một lần nữa trở thành soái hạm của Hạm đội 5.

1944

Chiếc tàu tuần dương gặp gỡ các tàu chiến khác trong lực lượng đặc nhiệm của nó tại Tarawa, và một ngày trước ngày đổ bộ Kwajalein, 31 tháng 1 năm 1944, nó nằm trong lực lượng đội tàu tuần dương làm nhiệm vụ tấn công đảo san hô Kwajalein. Việc bắn pháo tiếp tục trong ngày đổ bộ khi hỏa lực của Indianapolis tiêu diệt được hai khẩu đội pháo trên bờ. Ngày tiếp theo, nó xóa sổ một công sự phòng thủ và các mục tiêu khác, cùng hỗ trợ cho lực lượng trên bờ tiến quân. Chiếc tàu chiến tiến vào vũng biển Kwajalein vào ngày 4 tháng 2, và ở lại đó cho đến khi mọi sự đề kháng bị dập tắt.
Trong tháng 3tháng 4, tiếp tục đảm nhận vai trò soái hạm của Hạm đội 5, Indianapolis tham gia tấn công quần đảo Tây Caroline. Máy bay từ tàu sân bay đã tấn công quần đảo Palau trong các ngày 3031 tháng 3 chủ yếu nhắm vào tàu bè Nhật. Chúng đã đánh chìm ba tàu khu trục, 17 tàu hàng, năm tàu chở dầu và làm hư hại 17 tàu khác. Ngoài ra, các sân bay bị ném bom và các vùng biển lân cận bị rải mìn để trói chân tàu chiến đối phương. YapUlithi bị tấn công vào ngày 31 tháng 3Woleai vào ngày 1 tháng 4. Trong ba ngày đó, máy bay Nhật đã phản công vào hạm đội Mỹ nhưng bị đánh trả mà không gây được thiệt hại nào cho các tàu chiến Mỹ; Indianapolis bắn rơi chiếc máy bay đối phương thứ hai, một chiếc ném bom-ngư lôi, và quân Nhật mất tổng cộng 160 máy bay, bao gồm 46 chiếc bị phá hủy trên mặt đất. Các cuộc tấn công này đã thành công trong việc ngăn chặn lực lượng Nhật Bản tại Caroline can thiệp vào cuộc đổ bộ của quân Mỹ lên New Guinea.
Trong tháng 6, Hạm đội 5 bận rộn với việc tấn công lên quần đảo Mariana. Cuộc công kích lên Saipan bắt đầu bởi những máy bay xuất phát từ tàu sân bay vào ngày 11 tháng 6, rồi tiếp nối bằng lực lượng tàu nổi từ ngày 13 tháng 6, trong đó Indianapolis đảm trách vai trò chủ lực. Đúng ngày đổ bộ 15 tháng 6, Đô đốc Spruance nhận được báo cáo về một hạm đội Nhật Bản lớn bao gồm thiết giáp hạm, tàu sân bay, tàu tuần dương và tàu khu trục đang hướng về phía Nam để giải tỏa áp lực đe dọa các lực lượng của họ đang trú đóng tại Mariana. Vì các hoạt động đổ bộ tại Saipan phải được bảo vệ bằng mọi giá, Đô đốc Spruance không thể kéo lực lượng tàu nổi mạnh mẽ của mình quá xa nơi đổ bộ. Vì vậy, một lực lượng tàu sân bay nhanh đã được tung ra đối phó với mối đe dọa của hạm đội Nhật trong khi một lực lượng khác tấn công các căn cứ không quân Nhật Bản tại Iwo JimaChichi Jima tại Boninquần đảo Volcano, những nơi có khả năng xuất phát các cuộc không kích của đối phương.
Hạm đội phối hợp Mỹ đã đối đầu với Hạm đội Nhật vào ngày 19 tháng 6 trong Trận chiến biển Philippine. Máy bay từ tàu sân bay Nhật, hy vọng sử dụng các sân bay tại Guam và Tinian để tiếp nhiên liệu và tái vũ trang để tấn công tàu bè Đồng Minh gần bờ, đã bị ngăn chặn bởi máy bay tiêm kích và hỏa lực pháo của các tàu Đồng Minh hộ tống. Ngày hôm đó, Hải quân Mỹ báo cáo đã diệt được 426 máy bay Nhật trong khi chỉ bị tổn thất 29 chiếc.[3] Bản thân Indianapolis bắn rơi một máy bay ném bom-ngư lôi. Cuộc không chiến trong ngày này đã được hạm đội Mỹ biết đến dưới tên gọi “Cuộc săn vịt trời Marianas vĩ đại”. Khi sự kháng cự bằng không quân của Nhật bị quét sạch, máy bay từ tàu sân bay Mỹ đã truy đuổi và đánh chìm tàu sân bay Hiyō, hai tàu khu trục và một tàu chở dầu cũng như gây hư hại nặng cho nhiều chiếc khác. Hai tàu sân bay khác TaihōShōkaku trước đó đã bị tàu ngầm đánh chìm.
Indianapolis quay trở lại Saipan vào ngày 23 tháng 6 để tiếp tục các hoạt động hỗ trợ pháo tại đây, và sáu ngày sau đó di chuyển đến Tinian tiêu diệt các công trình phòng thủ trên bờ. Trong thời gian đó, Guam bị chiếm lĩnh; và Indianapolis là chiếc tàu Đồng Minh đầu tiên tiến vào cảng Apra kể từ khi căn cứ Mỹ tại đây thất thủ vào đầu chiến tranh. Chiếc tàu tuần dương tiếp tục hoạt động tại quần đảo Mariana trong vài tuần lễ tiếp the sau cho đến khi di chuyển đến Tây Caroline nơi có kế hoạch cho các cuộc đổ bộ tiếp theo. Từ ngày 12 đến ngày 29 tháng 9, nó bắn pháo xuống đảo Peleliu trong nhóm đảo Palau Group, cả trước và sau khi diễn ra cuộc đổ bộ. Sau đó nó di chuyển đến đảo Manus thuộc quần đảo Admiralty nơi nó hoạt động trong 10 ngày trước khi quay trở về Xưởng hải quân Mare Island.

1945

Indianapolis ngoài khơi đảo Mare, ngày 10 tháng 7 năm 1945.

Sau khi hoàn tất việc đại tu, Indianapolis gia nhập lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh của Phó Đô đốc Marc A. Mitscher vào ngày 14 tháng 2 năm 1945. Hai ngày sau, lực lượng đặc nhiệm tung ra cuộc không kích nhắm vào Tokyo để hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên Iwo Jima, được dự định vào ngày 19 tháng 2. Đây là cuộc tấn công đầu tiên bằng tàu sân bay vào chính quốc Nhật Bản kể từ cuộc Không kích Doolittle năm 1942, với mục đích tiêu diệt các căn cứ không quân Nhật Bản cùng các cơ sở khác của “chính quốc”. Hạm đội đã đạt được sự bất ngờ chiến thuật hoàn toàn do đã tiếp cận bờ biển Nhật Bản dưới sự che chở của thời tiết xấu. Cuộc tấn công đã diễn ra căng thẳng trong hai ngày; Hải quân Mỹ bị mất 49 máy bay trong khi đã bắn rơi hay tiêu diệt được 499 máy bay đối phương, đạt một tỉ lệ tiêu diệt/thiệt hại 10:1. Lực lượng đặc nhiệm cũng đánh chìm một tàu sân bay, chín tàu tuần duyên, một tàu khu trục, hai tàu khu trục hộ tống và một tàu hàng. Chúng đã phá hủy các kho chứa máy bay, xưởng bảo trì, các cơ sở không quân, nhà máy cùng các mục tiêu công nghiệp khác.
Ngay sau trận không kích, Lực lượng đặc nhiệm gấp rút đi đến Bonin để hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên Iwo Jima. Chiếc tàu tuần dương ở lại đó cho đến ngày 1 tháng 3, bảo vệ tàu bè đổ bộ và bắn phá các mục tiêu trên bờ hỗ trợ trực tiếp cho cuộc đổ bộ và tiến quân. Indianapolis quay trở lại lực lượng đặc nhiệm của Đô đốc Mitscher kịp lúc để tham gia một đợt không kích khác xuống Tokyo vào ngày 25 tháng 3, và nhắm vào Hachijo ngoài khơi bờ biển phía Nam đảo Honshū vào ngày hôm sau. Cho dù thời tiết cực kỳ xấu, lực lượng mỹ đã tiêu diệt được 158 máy bay và đánh chìm năm tàu nhỏ trong khi phá hủy các cơ sở trên bờ và tiêu diệt các đoàn tàu hỏa.
Mục tiêu tiếp theo của lực lượng Mỹ là Okinawa thuộc quần đảo Ryukyu, vốn nằm trong tầm hoạt động của máy bay xuất phát từ các đảo chính quốc. Lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh được giao nhiệm vụ vô hiệu hóa các sân bay tại miền Nam Nhật Bản cho đến khi chúng không còn có thể tung ra những sự kháng cự trên không hiệu quả vào cuộc đổ bộ sắp đến. Họ lên đường từ Ulithi vào ngày 14 tháng 3 hướng đến Nhật Bản. Vào ngày 18 tháng 3, nó tung ra cuộc tấn công từ một vị trí cách 160 km (100 dặm) về phía Đông Nam đảo Kyūshū, nhắm vào mục tiêu là các sân bay trên đảo Kyūshū cũng như những tàu bè còn lại của hạm đội Nhật Bản trong các cảng KobeKure ở phía Nam Honshū. Nhật Bản phát hiện ra lực lượng đặc nhiệm Mỹ vào ngày 21 tháng 3, đã tung ra 48 máy bay tấn công các con tàu. Lực lượng tuần tra chiến đấu trên không gồm 24 máy bay tiêm kích đã đánh chặn và bắn rơi toàn bộ số máy bay Nhật Bản.
Cuộc bắn phá chuẩn bị xuống Okinawa bắt đầu vào ngày 24 tháng 3. Indianapolis trải qua 7 ngày rải đạn pháo 203 mm (8 inch) xuống các công sự phòng thủ tại các bãi đổ bộ. Trong thời gian này, máy bay đối phương liên tục tấn công các tàu bè Mỹ. Bản thân Indianapolis đã bắn rơi sáu máy bay và làm hư hại hai chiếc khác. Ngày 31 tháng 3, quan sát viên trên tàu phát hiện một máy bay tiêm kích đối phương ló ra khỏi ánh sáng buổi bình minh và bổ nhào xuống cầu tàu theo hướng thẳng đứng. Các khẩu đội phòng không 20 mm của con tàu khai hỏa, nhưng trong vòng 15 giây chiếc máy bay đã ở bên trên con tàu. Hỏa lực phòng không ác liệt đã khiến nó bị chệch đi, nhưng viên phi công đối phương đã xoay xở cắt bom từ độ cao 8 m (25 ft) trước khi đâm máy bay của mình xuống mặt biển gần mạn trái đuôi tàu. Quả bom xuyên qua sàn tàu, đi ngang qua phòng ăn và chỗ ngủ của thủy thủ đoàn trước khi xuyên thủng thùng chứa nhiên liệu rồi xuyên luôn qua đáy tàu và phát nổ dưới nước bên dưới tàu. Vụ nổ rung động làn thủng hai lổ trên lườn tàu và làm thiệt mạng chín thành viên thủy thủ đoàn. Những vách ngăn của lườn tàu đã ngăn chặn được sự ngập nước lan rộng. Indianapolis bị nghiêng nhẹ qua mạn trái và về phía đuôi, di chuyển đến gặp gỡ chiếc tàu sửa chữa thực hiện các sửa chữa khẩn cấp. Tại đây đã xác định các trục chân vịt bị hư hại, vỡ thùng chứa nhiên liệu và hỏng thiết bị tinh lọc nước. Chiếc tàu tuần dương phải thực hiện chuyến hành trình dài vượt Thái Bình Dương quay trở về Xưởng hải quân Mare Island bằng chính động lực của nó.

Bị mất

Lộ trình dự định của Indianapolis từ Guam đến Philippines

Sau khi hoàn tất việc sửa chữa và đại tu, Indianapolis được lệnh đi đến đảo Tinian, mang theo các linh kiện và nguyên liệu Uranium cho trái bom nguyên tử Little Boy mà sau đó sẽ được ném xuống Hiroshima. Indianapolis rời San Francisco vào ngày 16 tháng 7, đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 19 tháng 7, rồi lại lên đường một mình không tàu hộ tống đến Tinian vào ngày 26 tháng 7. Sau đó Indianapolis được gửi đến Guam, nơi một số thành viên thủy thủ đoàn mãn hạn phục vụ được thay thế bởi các thủy thủ khác. Rời Guam ngày 28 tháng 7, nó bắt đầu di chuyển hướng đến Leyte nơi dự định tiến hành huấn luyện trước khi tiếp tục đi đến Okinawa gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 95 dưới quyền Phó Đô đốc Jesse B. Oldendorf. Lúc 00 giờ 14 phút ngày 30 tháng 7, nó bị đánh trúng hai quả ngư lôi từ tàu ngầm Nhật I-58 dưới quyền chỉ huy của Mochitsura Hashimoto. Các vụ nổ đã gây hư hại nghiêm trọng, khiến Indianapolis bị chìm chỉ trong 12 phút. Chiếc tàu ngầm Nhật đã tiếp cận mà không bị phát hiện trước khi tấn công vì chiếc tàu chiến Mỹ không có các thiết bị dò tìm tàu ngầm hiệu quả.
Khoảng 300 người trong số 1.196 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng do vụ chìm tàu. Số 880 người còn lại, với một ít bè cứu sinh và nhiều người thậm chí không có áo phao, nổi trên mặt nước chờ đợi được cứu vớt.[4] Tuy nhiên, các cấp chỉ huy Hải quân đã không nhận được tin tức gì về việc nó bị đánh chìm, do việc nó không tới được điểm đến vào ngày dự định không được ghi nhận và báo cáo. Những người còn sống sót chỉ được phát hiện sau đó bốn ngày rưỡi, lúc 10 giờ 25 phút ngày 2 tháng 8 bởi phi công Đại úy Wilbur (Chuck) Gwinn và phi công phụ Đại úy Warren Colwell trong một chuyến bay tuần tra thường lệ.[5] Chỉ có 321 người được vớt lên khỏi nước còn sống, và sau cùng chỉ còn 316 người sống sót. Họ bị thiếu hụt nước và thực phẩm, một số tìm được ít khẩu phần và đồ hộp trong các mảnh vụn trôi nổi, trong khi phải chịu đựng tình trạng giảm nhiệt, mất nước, ngộ độc muối, phơi nắng, đói và bị cá mập tấn công, trong khi một số bị những người khác tấn công trong những tình trạng mất trí, mê sảngảo giác khác nhau.[6] Kênh truyền hình Discovery Channel khẳng định việc chiếc Indianapolis bị đắm đã đưa đến một trong những cuộc tấn công của cá mập nhắm vào con người lớn nhất trong lịch sử, do loài cá mập mũi trắng đại dương thực hiện. Chương trình này cũng cho rằng hầu hết các trường hợp thiệt mạng của Indianapolis đều do phơi nắng, ngộ độc muối và khát nước, và xác những người chết bị cá mập lôi đi.
Gwinn lập tức cho thả một bè cứu sinh và một máy phát sóng vô tuyến. Mọi đơn vị không lực và hải quân có khả năng hoạt động ứng cứu đều được cho tách ra đi đến hiện trường ngay lập tức. Một thủy phi cơ PBY Catalina do Đại úy R. Adrian Marks được gửi đến để trợ giúp và báo cáo.[5] Trên đường bay đến nơi xảy ra sự cố, Marks bay bên trên tàu khu trục hộ tống Cecil J. Doyle và đã ra tín hiệu cho thuyền trưởng của nó, Bộ trưởng hải quân Hoa Kỳ tương lai, Đại tá Hải quân W. Graham Claytor, Jr. về tình trạng khẩn cấp. Bằng sáng kiến của riêng mình, Claytor quyết định chuyển hướng đến nơi xảy ra tai nạn.
Đến hiện trường nhiều giờ trước chiếc Cecil J. Doyle, đội bay của Marks bắt đầu thả các bè cứu sinh và tiếp liệu. Trông thấy thủy thủ bị cá mập tấn công, Marks bất chấp mọi quy định thường lệ cho hạ cánh máy bay xuống mặt biển. Ông bắt đầu đi chậm trên mặt biển vớt những người bơi riêng lẻ vốn chịu nguy cơ bị cá mập tấn công cao nhất.[5] Biết được họ là thủy thủ đoàn của tàu tuần dương Indianapolis, ông gọi điện thông báo tin tức và yêu cầu được trợ giúp ngay lập tức. Cecil J. Doyle trả lời đang lúc nó trên đường đi. Khi thân máy bay của Marks đã chất đầy người, những người còn sống sót sau đó được buộc vào cánh máy bay bằng dây dù, nặng đến mức gây hư hỏng cho đôi cánh khiến nó không còn có thể bay được và phải bị đánh chìm.[5] Marks và đội bay của ông đã cứu được 56 người trong ngày hôm đó.[5]
USS Cecil J. Doyle là chiếc tàu đầu tiên đến được hiện trường.[5] Tiếp cận chiếc Catalina của Marks trong bóng đen hoàn toàn, Cecil J. Doyle phải dừng lại để tránh gây tổn thương cho những người còn sống sót, và bắt đầu cho chuyển những người còn sống sót của Marks lên tàu. Bất chấp sự an toàn cho chính con tàu của mình, Claytor cho hướng thẳng đèn pha tìm kiếm sáng nhất của tàu mình lên trời phục vụ như một cột mốc dẫn đường cho các tàu ứng cứu khác.[5] Dấu hiệu này cũng nhằm thông báo cho đa số những người còn sống là lực lượng tiếp cứu đã đến nơi.[5]
Các tàu khu trục Helm, MadisonRalph Talbot đã nhận được lệnh đi tiếp cứu từ Ulithi, cùng với những chiếc Dufilho, BassettRingness từ hướng Philippines. Họ đã nỗ lực truy tìm những người có cơ may sống sót cho đến ngày 8 tháng 8.

Thiếu sót của Hải quân trong việc chìm tàu

Những người còn sống sót của Indianapolis tại Guam, tháng 8 năm 1945.

Ngay trước lúc xảy ra cuộc tấn công, biển động trung bình, và tầm nhìn dao động nhưng nhìn chung là xấu. Indianapolis di chuyển ở tốc độ 31,5 km/h (17 knot). Khi con tàu không đến được Leyte vào ngày 31 tháng 7 theo lịch trình, đã không có báo cáo nào về việc con tàu bị chậm trễ. Đó là do một sự hiểu nhầm trong Hệ thống Báo cáo Di chuyển.
Các bảng sơ đồ hành quân được lưu giữ tại các bộ chỉ huy của Tư lệnh Mariana tại Guam và của Tư lệnh Mặt trận biển Philippine tại Leyte. Trên các sơ đồ này, vị trí của mọi con tàu mà bộ tư lệnh quan tâm đều được đánh dấu. Tuy nhiên, đối với những tàu chiến lớn như cỡ Indianapolis, người ta giả định là con tàu sẽ đi tới điểm đến đúng giờ, trừ khi có báo cáo khác. Do đó, vị trí của chúng chỉ dựa trên suy luận mà không căn cứ vào báo cáo. Vào ngày 31 tháng 7, khi nó được cho là đã đến Leyte, Indianapolis được rút khỏi sơ đồ hành quân tại bộ chỉ huy của Tư lệnh Mariana. Nó cũng được ghi nhận là đã đến Leyte bởi bộ chỉ huy của Tư lệnh Mặt trận biển Philippine. Đại úy Hải quân Stuart B. Gibson, Sĩ quan Hành quân dưới quyền Tư lệnh cảng tại Tacloban, là sĩ quan chịu trách nhiệm theo dõi sự di chuyển của Indianapolis. Việc con tàu không có mặt đúng hạn lập tức được Đại úy Gibson biết đến, nhưng đã không điều tra sự việc và không báo cáo ngay lập tức vấn đề này cho cấp trên.[7]
Indianapolis đã gửi tín hiệu cầu cứu trước khi chìm, và ba trạm đã nhận được tín hiệu này, nhưng đã không thực hiện bất kỳ hành động nào. Một viên chỉ huy uống rượu, người khác ra lệnh cho thuộc cấp không được quấy rầy và một người thứ ba cho đó là trò đùa của quân Nhật.[8] Trong một thời gian dài, Hải quân đã phủ nhận việc tín hiệu cầu cứu đã được gửi đi. Việc thu nhận được tín hiệu cầu cứu chỉ được đưa ra ánh sáng sau khi công bố các tài liệu hết hạn bảo mật.

Diễn biến tiếp theo

Đại tá Hải quân Charles Butler McVay III, người chỉ huy Indianapolis từ tháng 11 năm 1944, đã sống sót khi bị chìm tàu và nằm trong số những người được cứu sống những ngày sau đó. Vào tháng 11 năm 1945, ông bị đưa ra xét xử tại tòa án quân sự và bị kết tội “đặt con tàu của mình vào tình trạng nguy hiểm vì đã không chạy zigzag.” Nhiều điểm được đưa ra tại tòa án đầy mâu thuẫn và tranh cãi. Có chứng cứ cho thấy Hải quân đã đặt con tàu vào tình thế nguy hiểm, mệnh lệnh dành cho McVay “chạy zigzag theo ý mình, nếu như điều kiện cho phép.” Hơn nữa, Mochitsura Hashimoto, chỉ huy của I-58, chứng nhận rằng chạy zigzag cũng không tạo ra sự khác biệt nào.[9]
Thủy sư Đô đốc Chester Nimitz đã ân xá bản án của McVay và đưa ông trở lại phục vụ thường trực trong Hải quân. McVay nghỉ hưu vào năm 1949.[10] Trong khi nhiều người còn sống sót trên chiếc Indianapolis cho rằng McVay không phải chịu trách nhiệm về việc chiếc tàu chiến bị đánh chìm, gia đình một số người tử nạn đã không tha thứ. Cảm giác tội lỗi đè nặng lên vai ông cho đến khi ông tự tử vào năm 1968, sử dụng khẩu súng lục Hải quân được cấp, trên tay còn cầm một người thủy thủ đồ chơi.[11]
Vào tháng 10 năm 2000, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua một nghị quyết xác định những ghi chép về Đại tá Hải quân McVay khẳng định “ông được miễn mọi trách nhiệm trong việc mất chiếc Indianapolis.” Tổng thống Bill Clinton đã ký vào nghị quyết này.[12] Nghị quyết ghi nhận rằng mặc dù hàng trăm tàu chiến Hải quân Mỹ đã bị mất trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, McVay là thuyền trưởng duy nhất bị xét xử tại tòa án quân sự và tàu của mình bị chìm.[13]

Phần thưởng

Indianapolis được tặng thưởng 10 Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Xác tàu đắm

Vị trí chính xác nơi Indianapolis bị đám không được biết rõ. Trong tháng 7tháng 8 năm 2001, một cuộc thám hiểm công bố đã tìm thấy xác tàu đắm nhờ sử dụng sonar quét bên và máy ảnh dưới nước gắn trên thiết bị lặn điều khiển từ xa. Bốn thành viên Indianapolis còn sống sót đã tháp tùng theo cuộc thám hiểm, nhưng nó đã thất bại. Đến tháng 6 năm 2005, một cuộc thám hiểm thứ hai được tổ chức để tìm nơi đắm tàu; nó được kênh truyền hình National Geographic theo dõi và công bố kết quả vào tháng 7 trong loạt chương trình Finding of the USS Indianapolis. Những thứ duy nhất tìm thấy, không thể xác định rằng có thuộc về Indianapolis hay không, là nhiều mảnh vụn kim loại được tìm thấy tại nơi được báo cáo nó đã bị chìm.

Tưởng niệm

Hải quân đang bắn súng chào trong một nghi thức an táng trên biển vào năm 2008 cho một trong số 316 người còn sống sót của USS Indianapolis (CA-35) bị chìm ngày 30 tháng 7 năm 1945.

Đài tưởng niệm Quốc gia USS Indianapolis[14] được khánh thành vào ngày 2 tháng 8 năm 1995. Nó tọa lạc ở Canal Walk thuộc Indianapolis. Hình ảnh chiếc tàu tuần dương hạng nặng được tái tạo bằng đá vôi và đá granite, đặt bên cạnh con kênh tại trung tâm thành phố. Danh sách thành viên thủy thủ đoàn được khắc trên đài tưởng niệm, với chú thích đặc biệt cho những người đã thiệt mạng.
Một số hiện vật có liên quan đến Indianapolis được lưu giữ tại Bảo tàng Tiểu bang Indiana; chiếc chuông của nó hiện đang ở tại Bảo tàng vũ khí hải quân Heslar. Trung tâm huấn luyện bơi lội của Bộ chỉ huy Huấn luyện Tuyển mộ Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo USS Indianapolis. Bảo tàng USS Indianapolis được khai trương ngày 7 tháng 7 năm 2007 tại Indiana World War Memorial Plaza.

Văn hóa đại chúng

Trong bộ phim Hàm cá mập (Jaws) của đạo diễn Steven Spielberg năm 1975, nhân vật Sam Quint (do Robert Shaw đóng) tự nhận là một người sống sót từ chiếc USS Indianapolis, và viếc chiến đấu để sinh tồn chống lại sự tấn công của cá mập trong khi chờ đợi được giải cứu là một phần của động cơ thúc đẩy ông theo đuổi cuộc đời của một người săn cá mập.

Xem thêm

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ Fahey 1941 trang 9.
  2. ^ http://www.ussindianapolis.org/crew.htm
  3. ^ Marianas Turkey Shoot
  4. ^ Lewis L. Haynes (Jul.-Aug. 1995). “Recollections of the sinking of USS Indianapolis (CA-35) by CAPT Lewis L. Haynes, MC (Medical Corps) (Ret.), the senior medical officer on board the ship.”. Navy Medicine. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2009.
  5. ^ a ă â b c d đ e Marks (tháng 4 năm 1981) trang 48-50
  6. ^ In Harm’s Way: The Sinking of the USS Indianapolis and the Extraordinary Story of Its Survivors
  7. ^ “The Sinking of USS Indianapolis: Navy Department Press Release, Narrative of the Circumstances of the Loss of USS Indianapolis, 23 tháng 2 năm 1946”. US Navy. 23 tháng 2 năm 1946. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2008.
  8. ^ Timothy W. Maier (5 tháng 6 năm 2000). “For The Good of the Navy”. Insight on the News. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2008.
  9. ^ Commander Hashimoto’s testimony from http://www.ussindianapolis.org
  10. ^ Biography of Admiral McVay from www.ussindianapolis.org
  11. ^ Admiral McVay’s suicide
  12. ^ McVay’s exoneration from http://www.ussindianapolis.org]
  13. ^ Legislation exonerating Captain McVay
  14. ^ USS Indianapolis National Memorial

Thư mục

Liên kết ngoài

Tọa độ: 12°2′B 134°48′Đ

Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con

Chào ngày mới 29 tháng 7

Khải Hoàn Môn

CNM365 Chào ngày mới 29 tháng 7 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày quốc tế về hổ; ngày Ngôn ngữ Thái quốc gia tại Thái Lan. Năm 238Cận vệ của Hoàng đế La Mã xông vào cung và bắt giữ hai đồng hoàng đế PupienusBalbinus. Hai người bị kéo lê trên đường phố La Mã rồi bị hành quyết. Gordianus III được tuyên bố là hoàng đế trong cùng ngày.Năm 1014Chiến tranh Đông La Mã-Bungaria: Hoàng đế Đông La Mã Basileios II giành được chiến thắng quyết định trước quân Bulgaria trong trận Kleidion.Năm 1836Khải Hoàn Môn (hình) tại Paris, Pháp được khánh thành nhân dịp kỉ niệm sáu năm Cách mạng tháng BảyNăm 2005 – Một nhóm các nhà thiên văn học người Mỹ công bố phát hiện của họ về hành tinh lùn Eris.

Khải Hoàn Môn (Paris)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Khải Hoàn Môn
Arc de Triomphe, Paris 21 October 2010.jpg
Khải Hoàn Môn nhìn từ phía đại lộ Champs-Elysées
Khải Hoàn Môn trên bản đồ Paris

Khải Hoàn Môn
Khải Hoàn Môn
Thông tin chung
Dạng Đài tưởng niệm
Phong cách Tân cổ điển
Thành phố Paris
Quốc gia Cờ Pháp Pháp
Tọa độ 48°52′25″B 2°17′42″Đ
Xây dựng
Khởi công 1806
Khánh thành 1836
Kích thước
Kích thước Cao 50 mét, rộng 45 mét
Thiết kế
Kiến trúc sư Jean-François-Thérèse Chalgrin

Khải Hoàn Môn hay đúng hơn Bắc đẩu Khải hoàn môn[1] (tiếng Pháp: L’arc de triomphe de l’Étoile) là một công trình ở Paris, một trong những biểu tượng lịch sử nổi tiếng của nước Pháp. Nằm giữa quảng trường Étoile, vị trí của Khải Hoàn Môn là điểm cuối của đại lộ Champs-Elysées, khu vực tập trung khách du lịch của thành phố. Vốn là công trình do Napoléon cho xây dựng vào năm 1806 để vinh danh quân đội, nhưng Khải Hoàn Môn được hoàn thành vào năm 1836, dưới Nền quân chủ Tháng bảy.
Ngày nay, Khải Hoàn Môn là một trong những công trình nổi tiếng nhất của Paris và cùng với Champs-Elysées là địa điểm tổ chức các lễ hội, sự kiện hay ăn mừng các chiến thắng thể thao. Với 1.330.738 lượt khách mua vé viếng thăm vào năm 2006, Khải Hoàn Môn đứng thứ 10 trong các công trình thu hút nhất của Paris[2].

Métro Paris Bến tàu điện ngầmCharles de Gaulle – Étoile

Lịch sử

Khải Hoàn Môn về đêm

Đầu thế kỷ 17, vị trí của Khải Hoàn Môn thuộc ngoại ô của Paris. Năm 1616, hoàng hậu Marie de Médicis quyết định mở một con đường dài có trồng cây hai bên để đi dạo, chính là đại lộ Champs-Elysées ngày nay. Trong thế kỷ 17, khu vực Champs-Elysées dần được đô thị hóa và quảng trường Étoile được tạo ra vào năm 1670, nhưng vẫn nằm ngoài bức tường thành do Louis XIII xây từ 1633 đến 1636. Năm 1787, bức tường Thuế quan được xây dựng để kiểm soát hàng hóa vào Paris và đi qua quảng trường Étoile. Rào chắn Étoile được kiến trúc sư Claude Nicolas Ledoux bố trí là một trong những trạm thu thuế. Quảng trường Étoile khi đó là giao lộ của 5 con đường lớn.[3]
Năm 1806, sau chiến thắng Austerlitz, hoàng đế Napoléon Bonaparte quyết định xây dựng trên quảng trường Étoile một công trình vinh danh quân đội. Khải Hoàn Môn được kiến trúc sư Jean-François-Thérèse Chalgrin thiết kế, lấy cảm hứng từ các công trình cổ đại, cao 50 mét, rộng 45 mét. Sau Jean-François-Thérèse Chalgrin, những người kế nhiệm công việc xây dựng là Louis-Robert Goust và Jean-Nicolas Huyot.[3]
Sự sụp đổ của Đệ nhất đế chế khiến việc thi công Khải Hoàn Môn bị đình lại. Tới năm 1825, công trình mới được tiếp tục và năm 1836 được vua Louis-Philippe khánh thành. Năm 1840, thi hài của Napoléon – người quyết định xậy dựng công trình – được đưa qua Khải Hoàn Môn trước khi về điện Invalides. Sau đó, linh cữu Victor Hugo cũng được để một đêm ở đây trước khi đưa về điện Panthéon.[3]
Thời Đệ nhị đế chế, khi Paris được Georges Eugène Haussmann cải tạo lại, bảy con đường mới được vạch thêm, gặp nhau tại quảng trường Étoile. Khải Hoàn Môn dần trở thành biểu tượng của thành phố Paris. Kể từ 14 tháng 7 năm 1919, cuộc duyệt binh mừng quốc khánh được tổ chức đi ngang qua Khải Hoàn Môn. Năm 1989, Grande Arche được hoàn thành ở khu La Défense, được xem như một Khải Hoàn Môn mới, kéo dài trục Axe historique.
Ngày này, Khải Hoàn Môn là một trong những công trình nổi tiếng nhất của thành phố, khu vực Champs-élysées là điểm hấp dẫn du khách và cũng là địa điểm tổ chức các lễ hội, chào đón năm mới. Cơ quan quản lý Khải Hoàn Môn là Trung tâm công trình quốc gia.[3]

Khải Hoàn Môn

Nằm trên quảng trường Étoile, cuối đại lộ Champs-Elysées, Khải Hoàn Môn thuộc trục Axe historique đi qua nhiều công trình quan trọng của Paris. Vị trí của Khải Hoàn Môn là điểm giao của 12 đại lộ và ba quận. Để tới chân công trình, lối đi Passage du Souvenir (Lối đi Kỷ Niệm) được xây dựng ngầm dưới quảng trường.
Với vị trí cuối Champs-Elysées, một năm sẽ có hai lần, khoảng 10 tháng 51 tháng 8, xảy ra hiện tượng: đứng giữa đại lộ, nhìn thấy Mặt Trời lặn ngang qua Khải Hoàn Môn trong vài phút. Vào ngày 10 tháng 5 năm 1994, hiện tượng này xảy ra đồng thời với nhật thực. Đã có gần 200 ngàn người tới đây để chứng kiến. Tương tự, nhìn từ hướng ngược lại, phía Porte Maillot, hiện tượng này xảy ra vào khoảng 7 tháng 24 tháng 11.

Điêu khắc

Khải Hoàn Môn có kích thước mặt đứng gần hình vuông, chiều rộng 45 mét, cao 50 mét, nằm trên quảng trườngđường kính 240 mét. Công trình là tổng thể điêu khắc lớn nhất của Pháp trong thế kỷ 19. Các mặt của công trình được trang trí nhiều bức phù điêu, tượng đài và khắc tên các nhân vật nổi tiếng trong giai đoạn Cách mạngĐế chế.
Bốn tác phẩm điêu khắc lớn nhất là: Xuất quân 1792Khải hoàn 1810 phía Champs-Elysées, Kháng chiến 1814Hòa bình 1815 phía Grande-Armée. Trong đó Xuất quân, tên đầy đủ Xuất quân của các chiến sĩ tình nguyện 1792 (Le départ des volontaires de 1792), tức La Marseillaise nổi tiếng hơn cả. Tác phẩm của nhà điêu khắc François Rude, cao 11,6 mét rộng 6 mét[4]. Mặt phía trong bốn chân của Khải Hoàn Môn được trang trí bởi các bức phù điêu miêu tả những trận đánh nổi tiếng thời Cách mạng và Đế chế. Bên dưới khắc tên tuổi các nhân vật nổi tiếng trong giai đoạn lịch sử đó[5]. Sáu bức phù điêu, bốn phía trên các tượng đài và hai ở các cạnh bên, mô tả những giai đoạn, sự kiện của Cách mạng PhápĐế chế[5]. Ngoài ra bề mặt Khải Hoàn Môn còn có các phù điêu nhỏ khác.

Mộ chiến sĩ vô danh

Mộ chiến sĩ vô danh

Mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 tháng 11 năm 1920. Đây là một người lính Pháp vô danh chết trong trận Verdun, thời Thế chiến thứ nhất. Cùng với ở Paris, bảy chiến sĩ vô danh khác cũng được chôn cất ở Flandres, Artois, Somme, Chemin des Dames, Champagne, VerdunLorraine. Trên ngôi mộ ở Khải Hoàn Môn khắc dòng chữ:

ICI
REPOSE
UN SOLDAT
FRANÇAIS
MORT
POUR LA PATRIE

1914. 1918

Có nghĩa: “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc”. Từ năm 1923, một ngọn lửa được thắp trên ngôi mộ chiến sĩ vô danh vào mỗi chiều tối. Buổi lễ được tổ chức vào lúc 18 giờ 30 ở chân Khải Hoàn Môn liên tục cho tới ngày nay. Vào ngày 14 tháng 7 năm 1940, trong thời gian Quân đội Đức chiếm đóng Paris, buổi lễ vẫn được tổ chức với sự cho phép của sĩ quan Đức.

Toàn cảnh Paris nhìn từ Khải Hoàn Môn

Bảo tàng nhìn từ sông Seine

Chú thích

  1. ^ Phạm Quỳnh. Hành trình nhật ký: mười ngày ở Huế, một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký. Yerres: Ý Việt, 1997. tr 305.
  2. ^ “Thống kê du lịch”. Văn phòng du lịch Paris. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009.
  3. ^ a ă â b “Son Histoire”. Le Centre des monuments nationaux. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009.
  4. ^ “Visiter l’Arc de triomphe”. Le Centre des monuments nationaux. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009.
  5. ^ a ă “Arc de Triomphe”. Parisrama. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009.

Liên kết ngoài

Những địa điểm nổi tiếng của Paris
Tháp Eiffel · Khải Hoàn Môn · Đại lộ Champs-Élysées · Nhà thờ Đức Bà · Bảo tàng Louvre · Nhà thờ Sacré-Cœur · Bảo tàng Orsay
Trung tâm Pompidou · Conciergerie · Grand Palais · Vườn Luxembourg · Điện Invalides · Opéra Garnier · Nghĩa trang Père-Lachaise
Khải Hoàn Môn

Eris (hành tinh lùn)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
136199 Eris
Phát hiện A
Người phát hiện Michael E. Brown,
Chad Trujillo,
David L. Rabinowitz
Ngày phát hiện 21 tháng 10, 2003
Tên khác 2003 UB313 B
Loại TNO (SDO)
Các thông số quỹ đạo C
Kỷ 18 tháng 8, 2005 (JD 2.453.600,5)
Độ lệch tâm (e) 0,4378
Bán trục chính (a) 67,89 AU (10,16 Tm)
Điểm cận nhật (q) 38,2 AU (5,71 Tm)
Điểm viễn nhật (Q) 97.610 AU (14,6023 Tm)
Chu kỳ quỹ đạo (P) 203.500 ngày (557 năm Julius)
Vận tốc quỹ đạo 3.436 km/s
Độ nghiêng quỹ đạo (i) 43.993°
Kinh độ điểm lên (Ω) 35,8750°
Góc cận nhật (ω) 151,3115°
Độ dị thường trung bình (M) 197,5379°
Các đặc trưng vật lý
Kích thước 2326 ± 12 km[1]
Khối lượng 1.67(±0.02) ×1022 kg
Tỷ trọng  ? g/cm³
Gia tốc trọng trường bề mặt ≈0.8 m/s²
Vận tốc vũ trụ cấp 2  ? km/s
Chu kỳ tự quay > 8 h?
Lớp quang phổ  ?
Độ sáng tuyệt đối -1,2
Suất phản chiếu 0,5–1,0
Nhiệt độ trung bình bề mặt ~30 K

136199 Eris (trước đây được gọi là 2003 UB313) là hành tinh lùn lớn nhất trong Thái Dương hệ và là thiên thể thứ 11 quay quanh Mặt Trời (tính theo khoảng cách, không kể vành đai Kuiper và các mặt trăng). Đầu tiên, Eris được nhận diện là thiên thể ngoài Hải Vương tinh (TNO) mà các nhà thiên văn California tại đài thiên văn trên đỉnh Palomar miêu tả là “lớn hơn rõ rệt” so với hành tinh Diêm Vương. Thiên thể này được các nhà phát hiện, NASA và một số phương tiện thông tin đại chúng coi là hành tinh thứ mười, nhưng vẫn chưa rõ ràng là nó sẽ được chấp nhận rộng rãi như là một hành tinh mới hay không. Nó có ít nhất một vệ tinh, điều này sẽ cho phép các nhà điều tra đo đạc khối lượng của hệ thống này.

Thần xung đột Eris

Tên gọi chính thức của thiên thể này vẫn chưa có, mặc dù các nhà phát hiện ra nó đã đề nghị tên có thể cho nó tới Hiệp hội thiên văn quốc tế (IAU), là cơ quan xem xét các quy ước đặt tên thiên văn. Tuyên bố cho rằng 2003 UB313 đã được đặt tên là ‘Xena’ hay ‘Lila’ là không chính xác; cả hai tên gọi này đã được các nhà phát hiện sử dụng một cách thân mật nhưng chẳng có tên nào trong chúng đã được đệ trình tới IAU. Quy tắc để đặt tên cho 2003 UB313 hiện nay bị trì hoãn phụ thuộc vào các quyết định có nên phổ biến định nghĩa thuật ngữ ‘hành tinh’ một cách hình thức hay không và địa vị của thiên thể này theo định nghĩa như thế nào.
Tên gọi Eris được đặt theo tên của vị thần xung đột trong thần thoại Hy Lạp, người đã gây ra cuộc chiến thành Troia.
Các quan sát gần đây (2011) bởi đài quan sát La SillaESO nhờ sự che khuất của Eris khi nó che qua một ngôi sao cho ước tính đường kính của nó bằng 2326 km với sai số 12 km.[1] Các quan sát đầu tiên cho thấy mêtan đóng băng có trên bề mặt thiên thể này. Điều này cho thấy 2003 UB313 giống với Diêm Vương Tinh hơn là các hành tinh nhỏ khác đã phát hiện ra trước đây ở rìa ngoài của hệ Mặt Trời.
Các quan sát tiếp theo vào tháng 10 năm 2005 phát hiện ra là thiên thể này có vệ tinh, S/2005 (2003 UB313) 1, có tên thân mật là “Gabrielle”. Các nhà khoa học có kế hoạch sử dụng thông tin này để xác định khối lượng của 2003 UB313.

Phát hiện

Ảnh chụp ngắt quãng chỉ ra chuyển động của 2003 UB313 giữa các vì sao.

2003 UB313 được phát hiện bởi một nhóm bao gồm Michael Brown, Chad TrujilloDavid Rabinowitz vào ngày 5 tháng 1 năm 2005 từ bức ảnh chụp ngày 21 tháng 10 năm 2003 và phát hiện này đã được thông báo vào ngày 29 tháng 7 năm 2005, cùng một ngày với 2 TNO lớn khác, 2003 EL61 và 2005 FY9. Đội tìm kiếm đã quét một cách có hệ thống trong nhiều năm để tìm kiếm các thiên thể nằm ở phía ngoài của hệ Mặt Trời, và trước đây đã từng tham gia vào việc tìm kiếm một số thiên thể lớn khác ngoài Hải Vương Tinh, bao gồm 50000 Quaoar, 90482 Orcus90377 Sedna.
Các quan sát định kỳ được đội thực hiện vào ngày 21 tháng 10 năm 2003 với việc sử dụng kính thiên văn phản xạ 48 inch Samuel Oschin ở trạm thiên văn đỉnh Palomar, California, nhưng thiên thể chụp được trong các ảnh đã không được phát hiện ra vào thời điểm đó do chuyển động rất chậm của nó trên bầu trời: phần mềm tìm kiếm ảnh tự động của đội đã loại bỏ tất cả các thiên thể chuyển động chậm hơn 1,5 giây góc trên giờ để giảm số lượng các dương tính giả đã trả lại. Tuy nhiên, khi 90377 Sedna được phát hiện thì nó di chuyển với tốc độ 1,75 giây góc/h và theo ý tưởng ấy đội quyết định phân tích lại các dữ liệu cũ của mình với giới hạn thấp hơn của chuyển động góc, phân loại thông qua các dương tính giả bằng mắt. Tháng 1 năm 2005, việc tái phân tích này cho thấy chuyển động rất chậm của 2003 UB313 so với các ngôi sao.
Các quan sát tiếp theo đã được thực hiện để xác định sơ bộ quỹ đạo của nó, điều này cho phép ước tính khoảng cách và kích thước của nó. Đội có kế hoạch tạm thời chưa công bố phát hiện của mình cho đến khi các quan sát kế tiếp được thực hiện để có thể xác định chính xác hơn kích thước và khối lượng của thiên thể này, nhưng đã phải thay đổi ý định khi phát kiến của một thiên thể khác mà họ đã theo vết (2003 EL61) đã được một nhóm khác ở Tây Ban Nha công bố. Nhóm của Brown sau đó lên án nhóm Tây Ban Nha về hành vi nghiêm trọng trong nguyên tắc xử thế có liên quan đến việc phát hiện ra 2003 EL61 và yêu cầu họ cần phải rút khỏi việc nhận phát hiện đó là của mình (xem 2003 EL61 hay các bài báo của Michael E. Brown để có thêm chi tiết).

Phân loại

Ảnh động chỉ ra chuyển động của 2003 UB313 trên các ảnh đã sử dụng để phát hiện nó. 2003 UB313 nằm ở bên trái, phía trên phần giữa của ảnh một chút. Ba khung hình này chụp cách nhau 3 giờ.

2003 UB313 được phân loại như là SDO, một thiên thể thuộc TNO mà người ta tin rằng đã “bị rải” từ vành đai Kuiper vào không gian xa hơn và có quỹ đạo bất thường do các tương tác hấp dẫn với Hải Vương Tinh khi hệ Mặt Trời hình thành. Mặc dù độ nghiêng quỹ đạo lớn của nó là bất thường trong số các SDO hiện nay đã biết, các mô hình lý thuyết cho rằng các thiên thể mà nguyên thủy nằm gần góc bên trong của vành đai Kuiper bị ném vào các quỹ đạo có độ nghiêng cao hơn so với các thiên thể ở phía ngoài vành đai. Các thiên thể bên trong vành đai nói chung là nặng hơn so với các thiên thể ở mé ngoài, và vì thế các nhà thiên văn dự tính là có thể phát hiện ra nhiều thiên thể lớn giống như 2003 UB313 trong các quỹ đạo có độ nghiêng lớn.
Do 2003 UB313 xuất hiện dường như còn lớn hơn cả Diêm Vương Tinh, nó có thể được coi là hành tinh thứ mười của hệ Mặt Trời, và nó đã được NASA và các phương tiện thông tin đại chúng miêu tả như thế trong các thông tin về việc phát hiện ra nó. Tuy nhiên, nó vẫn chưa được gọi chính thức là như thế, do ngay cả địa vị của Diêm Vương Tinh như là một hành tinh cũng là chủ thể của các tranh cãi. Một số nhà thiên văn tin rằng có một lượng lớn các TNO chưa phát hiện ra cũng to lớn hơn cả Diêm Vương Tinh. Phân loại tất cả chúng như là hành tinh được coi là điều gây khó khăn.
IAU đang xem xét lại định nghĩa của thuật ngữ ‘hành tinh’ vì sự trông đợi ngày càng tăng là một thiên thể nào đó còn to hơn Diêm Vương Tinh sẽ được tìm ra. IAU dự kiến sẽ nhanh chóng công bố định nghĩa trong thời gian sớm nhất,[2] nhưng hiện nay điều này còn chưa chắc chắn. Cho đến khi định nghĩa này được đưa ra thì IAU vẫn tiếp tục coi mọi thiên thể được phát hiện ở khoảng cách xa hơn 40 AU như là một phần của quần thể ngoài Hải Vương Tinh nói chung (xem ở đây).
Chủ nhiệm của nhóm công tác của IAU trong việc xác định thuật ngữ hành tinh đã cam kết là Diêm Vương Tinh vẫn giữ sự phân loại hiện nay của nó do các lý do lịch sử, và không có gì khác nữa được gọi là hành tinh. Quan điểm này cũng được ít nhất là một thành viên khác của nhóm chia sẻ

Tên gọi

Thiên thể hiện nay có tên gọi sơ bộ là 2003 UB313, đã được đảm bảo một cách tự động theo các quy tắc đặt tên của IAU cho các hành tinh nhỏ. Bước tiếp theo trong việc xác định thiên thể này sẽ là việc kiểm tra bên ngoài về quỹ đạo của nó và đặt cho nó một cái tên vĩnh cửu. 2003 UB313 cũng được xem xét như các tiểu hành tinh khác, những người phát hiện ra nó sẽ có đặc quyền đưa ra tên gọi trong vòng 10 năm kể từ khi đánh số vĩnh cửu cho nó, tuân theo sự phê chuẩn của Ủy ban danh pháp cho các thiên thể nhỏ của IAU Phần III. Theo các quy tắc của IAU, các TNO càn phải đặt tên theo tên vị thần sáng tạo, với ngoại lệ duy nhất cho các thiên thể giống như Diêm Vương Tinh, được đặt tên theo tên của các vị thần âm phủ.
Khả năng phân loại thiên thể này như là một hành tinh chính, tuy thế, có thể được thúc đẩy tốt bởi sự chậm trễ trong việc tiến hành các bước, thời gian và các thủ tục chấp nhận giống như các thứ đã áp dụng cho các sao chổi và các tiểu hành tinh. IAU đã ra một thông báo ngắn liên quan tới tên gọi cho 2003 UB313, chỉ ra rằng thiên thể này sẽ không được đặt tên cho đến khi người ta quyết định nó có phải là hành tinh hay không.[1]
Các nhà phát hiện đã đệ trình tên gọi của họ cho 2003 UB313, mà theo quy tắc của IAU nó không thể phơi bày một cách công khai. Đội của Brown đã vi phạm quy tắc này trong năm 2003 khi họ thông báo tên gọi “Sedna” cho một tiểu hành tinh trước khi nó được chính thức chấp nhận, đã dấy lên sự chỉ trích trong cộng đồng thiên văn; IAU sau đó đã nới lỏng các quy tắc và cho phép trình tự xúc tiến đối với các phát hiện chính yếu mới [2]. Trang Web URL sử dụng tên gọi “Hành tinh Lila” (lấy theo tên của cô con gái mới sinh của Michael Brown, Lilah), và đội các nhà thiên văn này cũng đã gọi một cách hình thức thiên thể này là Xena, lấy theo tên của phim truyền hình Xena: Nữ chúa chiến tranh, nhưng chẳng có tên gọi nào trong số này đã được đệ trình tới IAU.
Hai ngày sau khi thông báo về phát hiện, Brown đã thảo luận các ý tưởng của nhóm ông về tên gọi cho thiên thể trên website riêng:

“Nếu thiên thể nằm trong các quy tắc cho các thiên thể vành đai Kuiper khác, thì nó cần phải được đặt tên theo một nhân vật nào đó trong thần thoại sáng tạo. Chúng tôi đã quyết định cố gắng tuân theo quy tắc này. […] Một trong những tên gọi cụ thể phù hợp nhất có thể là Persephone. Trong thần thoại Hy Lạp Persephone là người vợ (do bắt cóc) của Hades (Thần Pluto (Diêm Vương) theo thần thoại La Mã) mỗi năm sáu tháng ở dưới âm phủ. Tiếng khóc của mẹ nàng là Demeter sinh ra cái chết của mùa đông. Hành tinh mới nằm trên quỹ đạo mà có thể miêu tả tương tự; một nửa thời gian ở gần Pluto và một nửa thời gian thì ở xa. Đáng buồn là tên gọi Persephone đã được sử dụng năm 1895 như là tên gọi của tiểu hành tinh đã biết thứ 399. Truyện tương tự có thể kể gần như với bất kỳ thần Hy Lạp hay La Mã nào […] Thật may là thế giới có nhiều tín ngưỡng huyền thoại và tinh thần. Trong quá khứ chúng ta đã đặt tên các thiên thể vành đai Kuiper theo tên thổ dân Mỹ, Inuit và các [tiểu] thần La Mã. Tên gọi mới mà chúng tôi đề nghị được đưa ra theo một tín ngưỡng khác.” [3]

Ông cũng bổ sung thêm rằng IAU đã không vô tư khi đề cập đến thiên thể này và thậm chí ủy ban cần phải chịu trách nhiệm như thế nào trước việc phê chuẩn tên gọi của nó. Ủy ban theo dõi các hành tinh chính đã đề nghị là nếu thiên thể này được phân loại như là một hành tinh chính, việc đặt tên phải tuân theo truyền thống Hy Lạp-La Mã cho các hành tinh. Brown đã chỉ ra trong bài báo gần đây [4] rằng ông có thể đề nghị tên gọi Persephone nếu truyền thống này được duy trì, mặc dù một thực tế là tên gọi này đã được trao cho tiểu hành tinh thứ 399 đã biết.

Quỹ đạo

Vị trí của 2003 UB313 vào ngày 29 tháng 7 năm 2005. Bên trái là quan sát từ “phía trên” của mặt phẳng của hệ mặt trời, bên phải lào quan sát từ “phía trước”. Màu xanh lam sẫm chỉ ra phần quỹ đạo nằm dưới mặt phẳng hoàng đạo. Cũng chỉ ra cả Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh.

2003 UB313chu kỳ quỹ đạo 557 năm, và hiện nay đang nằm gần như ở khoảng cách cực đại của nó tới Mặt Trời (điểm viễn nhật). Hiện tại nó là thiên thể xa nhất đã biết của hệ Mặt Trời với khoảng cách tới Mặt Trời là 97 AU, mặc dù có khoảng 40 TNO đã biết (nổi tiếng nhất là 2000 OO67Sedna), mà hiện tại nằm gần với Mặt Trời hơn 2003 UB313 lại có khoảng cách quỹ đạo trung bình lớn hơn của nó [5].
Giống như Diêm Vương Tinh, quỹ đạo của nó có độ lệch tâm cao và sẽ đưa nó tới khoảng cách khoảng 35 AU với Mặt Trời khi nó ở điểm cận nhật (Khoảng cách của Diêm Vương Tinh tới Mặt Trời là 29 tới 49,5 AU, trong khi Hải Vương Tinh chỉ quay trong quỹ đạo trên 30 AU). Không giống như các hành tinh có đất và các hành tinh khí khổng lồ, mà quỹ đạo của chúng đều nằm trên gần như một mặt phẳng giống như Trái Đất, quỹ đạo của 2003 UB313 là rất nghiêng —nó nghiêng một góc khoảng 44 độ so với mặt phẳng hoàng đạo.
Thiên thể mới này hiện nay có độ sáng biểu kiến khoảng 19, làm cho nó đủ sáng để có thể phát hiện được bằng các kính thiên văn nghiệp dư. Kính thiên văn với thấu kính 8″ hay gương và CCD có thể chụp ảnh 2003 UB313 trong bầu trời đen sẫm (ví dụ về ảnh nghiệp dư của 2003 UB313, xem [6]). Nguyên nhân mà nó không được thông báo cho đến tận bây giờ là do quỹ đạo rất dốc của nó: phần lớn các nhà tìm kiếm các thiên thể lớn nằm mé ngoài hệ mặt trời tập trung vào mặt phẳng hoàng đạo, mà ở đó phần lớn vật chất của hệ mặt trời được tìm thấy.

Kích thước

So sánh kích thước Eris với các thiên thể cùng loại khác trong vành đai Kuiper

Độ sáng của thiên thể trong hệ Mặt Trời phụ thuộc vào kích thước của nó cũng như lượng ánh sáng mà nó phản xạ (suất phản chiếu của nó). Nếu như khoảng cách tới thiên thể và suất phản chiếu của nó đã biết, thì bán kính có thể dễ dàng xác định từ độ sáng biểu kiến của nó, với suất phản chiếu cao hơn đưa đến bán kính nhỏ hơn. Hiện tại, suất phản chiếu của 2003 UB313 là không rõ, và vì thế kích thước thực sự của nó cũng chưa thể xác định. Tuy nhiên, các nhà thiên văn đã tính toán rằngt thậm chí nếu nó có phản xạ toàn bộ ánh sáng mà nó nhận được (tương ứng với suất phản chiếu cực đại 1,0 hay 100%) thì nó vẫn lớn cỡ như Diêm Vương Tinh (2.390 km). Trên thực tế, suất phản chiếu của nó gần như chắc chắn nhỏ hơn 1,0 vì thế thiên thể mới có lẽ là lớn hơn Diêm Vương Tinh. Dự đoán tốt nhất hiện nay coi nó có suất phản chiếu tương tự như Diêm Vương Tinh, điều đó có nghĩa là khoảng 0,6 hay tương ứng với đường kính 2.900 km.
Các quan sát của kính thiên văn vũ trụ Spitzer có thể đưa ra giới hạn trên trong kích thước của 2003 UB313. Lượt quan sát đầu tiên đã thất bại trong việc phát hiện thiên thể mới, kết quả mà nó thông báo ban đầu chỉ ra giới hạn trên là khoảng 3.500 km, nhưng sau đó đã bị phát hiện là do sai sót kỹ thuật [7], vì thế ước tính giới hạn trên của nó là khoảng 5.000 km vẫn chưa bị bỏ đi. Các quan sát mới diễn ra trong ngày 23 tháng 825 tháng 8 năm 2005 và hiện nay đang được phân tích [8].
Để xác định tốt hơn bán kính của 2003 UB313, tổ phát hiện được cho thời gian quan sát trên Kính thiên văn vũ trụ Hubble (HST). Ở khoảng cách 97 AU, một thiên thể có bán kính khoảng 3.000 km sẽ có kích thước góc vào khoảng 40 miligiây, nó có thể đo được nhờ HST: mặc dù phân tích các thiên thể nhỏ như thế nằm ở mức giới hạn của Hubble, các công nghệ xử lý ảnh phức tạp như giải xoắn có thể sử dụng để đo các kích thước góc như thế khá chính xác. Trước đây tổ tìm kiếm cũng đã từng áp dụng công nghệ này đối với 50000 Quaoar, sử dụng ACS để đo trực tiếp bán kính của nó.

Bề mặt

Phổ hồng ngoại của 2003 UB313, so sánh với phổ của Diêm Vương Tinh, chỉ ra sự tương tự của hai thiên thể. Các mũi tên biểu thị các vạch hấp thụ mêtan.

Đội tìm kiếm đã tuân theo sự xác định ban đầu của họ về 2003 UB313 với các quan sát bằng kính quang phổ thực hiện trên Kính thiên văn Gemini Bắc 8 m tại Hawaii ngày 25 tháng 1 năm 2005. Ánh sáng hồng ngoại từ thiên thể cho thấy sự hiện diện của băng mêtan, chỉ ra rằng bề mặt của 2003 UB313 là tương tự như của Diêm Vương Tinh, là TNO duy nhất đã biết đến nay là có mêtan. Vệ tinh của Hải Vương Tinh Triton có lẽ là có liên quan tới các thiên thể vành đai Kuiper, và cũng có mêtan trên bề mặt nó.
Không giống như Diêm Vương Tinh và Triton có ánh đỏ, 2003 UB313<