Chào ngày mới 29 tháng 6

 Vị trí của Seychelles
CNM365 Chào ngày mới 29 tháng 6 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Độc lập tại Seychelles Cộng hòa Xây-sen là một quốc đảo với 155 hòn đảo lớn nhỏ cách 1.500 km về hướng đông của đại lục Châu Phi. Đảo quốc này giành độc lập năm 1976 và là thành viên Khối Liên hiệp Anh. So với Ghana Cộng hòa Ghana là một thuộc địa của Liên Hiệp Anh với tên gọi Bờ Biển Vàng (Gold Coast). Ngày 6 tháng 3 năm  1957, Ghana trở thành thuộc địa đầu tiên ở vùng Châu Phi hạ Sahara giành được độc lập. Năm 1776 – Cha cố Francisco Palou thành lập Tòa nhà hội truyền giáo San Francisco de Asis tại khu vực nay là thành phố San Francisco, Hoa Kỳ. Năm 1880 – Quốc vương Pomare V (hình) bị buộc phải nhượng chủ quyền Tahiti và các đảo phụ thuộc cho Pháp. Năm 1914 – Một phụ nữ mại dâm tên là Jina Guseva nỗ lực ám sát nhân vật tôn giáo và thần bí người Nga Grigori Rasputin. Năm 1956 – Đạo luật Xa lộ Liên bang viện trợ được ký thành luật, chính thức thiết lập Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang tại Hoa Kỳ.

Seychelles

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Repiblik Sesel
République des Seychelles
Flag of Seychelles.svg Coat of arms of the Seychelles.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Seychelles
Khẩu hiệu
“Finis Coronat Opus”  (Latin)
“The End Crowns the Work”
Quốc ca
Koste Seselwa
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa tổng thống
Tổng thống James Michel
Ngôn ngữ chính thức Anh, Pháp, Seychellois Creole
Thủ đô Victoria
4°37′N, 55°27′Đ
Thành phố lớn nhất Victoria
Địa lý
Diện tích 451 km² (hạng 197)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ SCT (UTC+4); mùa hè: không dùng (UTC+4)
Lịch sử
Ngày thành lập 29-6-1976
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 82.247 (ước 7-2008)[1] người (hạng 205)
Mật độ 178 người/km² (hạng 60)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: $1,382 tỷ đôla Mỹ[2]
HDI (2004) Green Arrow Up Darker.svg 0,843 cao (hạng 47)
Đơn vị tiền tệ Seychellois rupee (SCR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .sc

Seychelles (phiên âm tiếng Việt: Xây-sen; phát âm tiếng Anh [“say shells”]: /seɪˈʃɛl/ hay /seɪˈʃɛlz/, phát âm tiếng Pháp: /seʃɛl/), tên chính thức là Cộng hòa Seychelles (tiếng Việt: Cộng hòa Xây-sen; tiếng Pháp: République des Seychelles; tiếng Creole: Repiblik Sesel), là một quốc đảo với 155 hòn đảo lớn nhỏ thuộc châu Phi nằm trên Ấn Độ Dương, cách 1.500 km về hướng đông của đại lục Châu Phi, nằm ở phía đông bắc đảo Madagascar. Các quốc gia và vùng lãnh thổ lân cận khác bao gồm Zanzibar về phía tây, MauritiusRéunion về phía nam, ComorosMayotte về phía tây nam, Suvadives của Maldives về phía tây bắc. Seychelles là quốc gia có dân số ít nhất tại châu Phi.

Lịch sử

Mặc dầu được các thương gia Bồ Đào NhaẢ Rập biết đến, nhưng quần đảo này không có dân cư sinh sống.
Đầu thế kỷ 16, người Bồ Đào Nha đã đến Seychelles. Năm 1760, Pháp chiếm quần đảo này. Năm 1794, Anh cũng chiếm một số đảo trong quần đảo Seychelles. Sau nhiều tranh chấp và thương lượng, cuối cùng Seychelles trở thành “lãnh thổ thuộc Anh” ở Ấn Độ Dương.
Năm 1903, Seychelles được hưởng quyền tự trị, nhưng một số đảo bị tách ra nằm dưới sự cai trị của Anh.
Đến giữa thế kỉ 18, người Pháp đến chiếm làm thuộc địa đưa dân cư và nô lệ sang, rồi nhượng lại cho thực dân Anh sau cuộc Chiến tranh Napoléon (1814).
Đảo quốc này giành độc lập năm 1976 và là thành viên Khối Liên hiệp Anh. Năm 1977, Thủ tướng France A. René lật đổ Tổng thống James Mancham và lập chế độ độc đảng. Năm 1991, Albert René lập lại thể chế đa đảng và đảng của ông giành đa số phiếu trong cuộc tuyển cử năm 1992. Năm 1998, Tổng thông France Albert René tái đắc cử với 66,6% số phiếu.[3]

Chính trị

Chính trị của Seychelles diễn ra trong khuôn khổ của một nước cộng hòa tổng thống, theo đó Tổng thống Seychelles là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu chính phủ, và một hệ thống đa đảng. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp trong cả chính phủQuốc hội.

Địa lý

Quốc gia ở Đông Phi, nằm trong vùng Ấn Độ Dương, cách Madagascar 11.000 km về hướng Tây Bắc. Seychelles là quần đảo san hônúi lửa tập hợp trên 100 đảo lớn nhỏ, các đảo chính gồm: Mahé (142 km2), Praslin (38 km2), La Digue (10 km2). 90% dân số tập trung ở đảo Mahé. Các nhóm đảo Aldadbra, FarquharDesroches cũng thuộc lãnh thổ Seychelles.[4]

Hành chính

Bản đồ 25 huyện của Seychelles

Seychelles được chia thành 25 huyện hành chính bao gồm tất cả các hòn đảo. Tám trong số các huyện thuộc khu vực Greater Victoria. Thêm 14 huyện được coi là vùng nông thôn nằm ở hòn đảo chính Mahé với 2 huyện ở đảo Praslin và một ở La Digue. Các đảo nhỏ nằm bên ngoài ngoài không được coi là một phần của huyện nào.

STT[a] Huyện Thủ phủ Diện tích  (km²) Dân số Khu vực
** Mahe Islands Mahe Islands 163.2 78333
01 Anse aux Pins Anse Aux Pins 2.2 3673 East Mahé
02 Anse Boileau Anse Boileau 12.0 4183 West Mahé
03 Anse Etoile Anse Etoile 5.8 5018 North Mahé
04 Au Cap La Plaine St. André? 8.7 3743 East Mahé
05 Anse Royale Anse Royale 6.6 3818 South Mahé
06 Baie Lazare Baie Lazare 12.1 3227 South Mahé
08 Beau Vallon Beau Vallon 4.3 4142 North Mahé
09 Bel Air Bel Air 4.7 3015 Greater Victoria
10 Bel Ombre Bel Ombre 9.2 4163 West Mahé
11 Cascade capital 10.4 4088 East Mahé
12 Glacis capital 7.0 4157 North Mahé
13 Grand’Anse Grand’Anse 15.4 2842 West Mahé
16 English River English River 1.7 4252 Greater Victoria
17 Mont Buxton Mont Buxton 1.2 3173 Greater Victoria
18 Mont Fleuri Mont Fleuri 6.1 3966 Greater Victoria
19 Plaisance Plaisance 3.4 3690 Greater Victoria
20 Pointe La Rue Pointe La Rue 3.9 3245 East Mahé
21 Port Glaud Port Glaud 28.7 2378 West Mahé
22 Saint Louis Saint Louis 1.1 3436 Greater Victoria
23 Takamaka Takamaka 14.4 2580 South Mahé
24 Les Mamelles Les Mamelles 1.8 2537 Greater Victoria
25 Roche Caïman Roche Caïman 1.2 2893 Greater Victoria
** Praslin Islands Praslin Islands 42.2 7682
07 Baie Sainte Anne Anse Volbert 25.1 3626 Inner Islands
14 Grand’Anse Praslin Grand Anse 14.4 4056 Inner Islands
** La Digue Islands La Digue Islands 41.8 3506
15 La Digue and Inner Islands La Passe 41.8 3506 Inner Islands
** Outer Islands Victoria, Seychelles 211.8 503
26 Outer Islands (Coëtivy) 211.8 503 Outer Islands
Seychelles Victoria 459.0 90024

Kinh tế

Từ khi độc lập (1976), thu nhập bình quân đầu người ở Seychelles tăng gần 7 lần so với trước. Sự phát triển nhờ vào du lịch (sử dụng 30% lực lượng lao động và cung cấp trên 70% số thu ngoại tệ mạnh) và đánh bắt cá ngừ. Trong những năm gần đây, chính phủ khuyến khích đầu tư nước ngoài để nâng cấp khách sạn và các dịch vụ khác, đồng thời tài trợ cho việc phát triển trang trại, nghề cá, công nghiệp nhỏ.
Mặc dù công nghiệp có dấu hiệu khởi sắc nhưng chính phủ cần tiếp tục đầu tư khu vực kinh tế này. Từ năm 1999-2001, các vấn đề tài chính đã lên đến cực điểm, nợ nước ngoài không ngừng gia tăng. Hiện nay, chính phủ đang phải đối đầu với sự thâm hụt ngân sách, tình hình cạnh tranh quốc tế gay gắt và ra sức thúc đẩy tiến trình tư nhân hóa.[4]
GDP khoảng 408 triệu USD năm 2008. GDP bình quân đầu người: 6.700 USD. Tỷ lệ lạm phát: 49,8% năm 2009. Tỷ lệ thất nghiệp: 4%.
Thâm hụt cán cân thương mại: 343 triệu USD
Các khách hàng chính: Anh, Pháp, Italia
Các nước cung cấp chính: Ả Rập Xê Út, Đức, Pháp
Tỷ trọng của các lĩnh vực hoạt động chính trong GDP: Nông nghiệp: 2,3%, công nghiệp 25,7% và dịch vụ 71,9%.
Với quy mô nhỏ (40.000 người lao động) và có vị trí địa lý xa xôi, nền kinh tế Seychelles chủ yếu dựa vào hai lĩnh vực du lịch (với trên 120.000 khách tham quan mỗi năm và chiếm 25,4% GDP) và đánh bắt chiếm 7,65 GDP năm 2008. Hoạt động vận tải dầu lửa cũng chiếm phần quan trọng là lĩnh vực đứng thứ ba đem lại nguồn thu ngoại tệ (35 triệu USD thu nhập ròng mỗi năm).
Việc tái đầu tư các khoản thu nhập này và viện trợ quốc tế cũng đã cho phép Seychelles có bước phát triển mạnh mẽ trong những năm 70-80. Sau khi độc lập (1976), GDP đầu người đã tăng 8 lần trong vòng 20 năm, lên tới 8.600 USD năm 2007 biến Seychelles thành một nước có thu nhập trung bình thuộc nhóm trên. Tuy nhiên, những hậu quả của cuộc khủng hoảng quốc tế và việc thực hiện các cuộc cải cách kinh tế đã làm giảm thu nhập người dân xuống còn 6.700 USD năm 2009. Mức phát triển xã hội (chỗ ở, trường học, dịch vụ xã hội) cũng vẫn còn cao.
Vì những lý do bên trong và bên ngoài, tình hình tài chính đã xấu đi từ những năm 90. Seychelles đã bị nợ chồng chất đối với các nhà cho vay vốn công và nợ nhiều với những điều kiện không nhượng bộ của các ngân hàng tư nhân (40% nợ nước ngoài hiện nay liên quan đến thương mại). Tổng số nợ công chiếm gần 807 triệu USD.
Do Seychelles đã ở trong tình trạng không thể thanh toán vào giữa năm 2008 nên nước này đã phải bình thường hóa quan hệ tài chính với bên ngoài và một hiệp định xác nhận đã được Hội đồng quản trị IMF đưa ra vào ngày 14 tháng 11 năm 2008. Trước đó, Seychelles đã quyết định tự do chuyển đổi đồng tiền roupie của mình đã tiến hành từ ngày 1 tháng 11 năm 2008.
Tổng thống James Michel đã giữ lịch mà ông đã ấn định về các hoạt động kinh tế vào giữa nhiệm kỳ. Chương trình tham vọng này thực hiện một cách ngay lập tức phần lớn những yêu cầu của IMF (trong đó có việc từ chức của Thống đốc Ngân hàng Trung ương Seychelles vào tháng 10 năm 2008). Chương trình này đặc biệt dựa vào việc giá đồng roupie sẽ ổn định nhanh chóng xung quanh việc 20-21 roupie cho 1 euro rồi 18/19 roupie/1 euro và chi phí cho người dân sẽ được kiểm soát và có thể chịu đựng được về mặt xã hội (không hề có biến động xã hội nào cho đến nay).
Tính đến những tiến bộ đã đạt được, IMF đã chấp nhận vào tháng 11 năm 2008 việc cấp 25,9 triệu USD cho Seychelles để giúp nước này đáp ứng những nhu cầu về tài chính cho năm 2008. Mặt khác, ngày 16 tháng 4 năm 2009, Câu lạc bộ Paris đã nhất trí loại bỏ 45% nợ công của Seychelles đối với những nước thành viên của mình.
Chính sách cải cách kinh tế đã được tiếp tục với một loạt các

Nhân khẩu

Khi người Anh giành quyền kiểm soát các đảo trong chiến tranh Napoleon, họ cho phép các tầng lớp thượng lưu người Pháp giữ lại đất đai của mình. Cả những người định cư Pháp và Anh đều sử dụng nô lệ châu Phi và mặc dù chế độ nô lệ bị cấm ở Anh vào năm 1835, nhưng những công nhân người châu Phi vẫn tiếp tục bị đưa đến đây. Do đó, Người Gran’bla (“người da trắng”) có nguồn gốc Pháp thống trị đời sống kinh tếchính trị. Chính quyền Anh cũng đưa người Ấn Độ đến quần đảo này. Người Ấn Độ như một thiểu số tương tự người Trung Quốc, hiện nay được giới hạn trong một tầng lớp thương nhân.[5] Ngày nay, con cháu của người Ấn Độ, Trung Quốc, và Gran’bla là ba cộng đồng dân tộc chính, mặc dù hầu hết mọi người có nguồn gốc châu Phi, thường trộn với người châu Âu hoặc châu Á.
Quần đảo Seychelles không có dân cư bản địa, người Seychellois hiện nay được tạo thành từ những cuộc di cư. Các nhóm dân tộc lớn nhất là người gốc châu Phi, người Pháp, Ấn Độ, và người gốc Trung Quốc. Tiếng Pháptiếng Anh là ngôn ngữ chính thức cùng với ngôn ngữ Creole mà chủ yếu dựa trên tiếng Pháp.
Theo điều tra dân số năm 2002, hầu hết người Seychellois là Kitô hữu: 82,3% là người Công giáo La Mã, 6,4% là Anh giáo, và 4,5% là của các giáo phái Kitô giáo khác. Có dân tộc thiểu số nhỏ là những người thực hành Ấn Độ giáo (2,1%) và Hồi giáo (1,1%). Các tín ngưỡng khác chiếm 1,5% dân số trong khi hơn 2,1% là người không tôn giáo hoặc không xác định một tôn giáo. Độ tuổi trung bình của người Seychellois là 32.[6]

Ghi chú

  1. ^ The number relates to ISO-Code for districts 01 through 23

Liên kết ngoài

Cờ của Pháp Tỉnh và lãnh thổ hải ngoại của Pháp

Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con
 

Chào ngày mới 28 tháng 6

 

CNM365 Chào ngày mới 28 tháng 6 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày gia đình Việt Nam; ngày Hiến pháp tại Ukraina. Năm 192 – Hai quân phiệt Lý QuyếtQuách Dĩ dẫn binh công nhập kinh đô Trường An của triều Hán, Tướng quân Lã Bố chạy trốn. Năm 1865Binh đoàn Potomac giải tán sau khi Nội chiến Mỹ kết thúc. Năm 1914 – Đại Công tước Áo–Hung Franz Ferdinand (hình) bị một người Serb ám sát tại Sarajevo, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Thế chiến thứ nhất. Năm 1969 – Các nhóm người đồng tính luyến ái nam và chuyển giới bắt đầu tiến hành bạo loạn tại New York, đánh dấu sự khởi đầu của Phong trào LGBT.

Ngày gia đình Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngày gia đình Việt Nam là một ngày lễ tôn vinh mái ấm gia đình Việt Nam, là ngày mọi người trong gia đình quan tâm đến nhau, xã hội quan tâm đến trẻ nhỏ và những người không có bố mẹ, cặp vợ chồng phải hiểu được giá trị mái ấm và cùng nhau vượt qua sóng gió để có một gia đình hạnh phúc. Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký ban hành Quyết định 72/2001/QĐ-TTG[1] chọn ngày 28 tháng 6 hàng năm là ngày gia đình Việt Nam.

Chú thích

Tham khảo

Liên kết ngoài

Vụ ám sát thái tử Áo-Hung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Gavrilo Princip bị cảnh sát dẫn giải đi sau khi ám sát thái tử Franz Ferdinand, 1914

Vụ ám sát thái tử Áo-Hung Franz Ferdinand là một trong những vụ ám sát gây chấn động nhất thế giới thế kỷ 20, là nguyên nhân trực tiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918). Vụ ám sát diễn ra vào ngày 28 tháng 6 năm 1914 tại Sarajevo, Bosna do Tổ chức Bàn tay đen tổ chức. Người trực tiếp bắn chết thái tử là Gavrilo Princip, một sinh viên người Serbia và thuộc tổ chức Bàn tay đen. Sau vụ ám sát này, giới quân phiệt Đức, Áo-Hung chớp lấy cơ hội gây chiến tranh bằng cách đổ tội cho Vương quốc Serbia đứng đằng sau vụ ám sát và cuối cùng ngày 28 tháng 7 1914 Đế quốc Áo-Hung tuyên chiến với Serbia, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.

Nguyên nhân

Sau khi Đế quốc Áo-Hung thôn tính Bosna và Hercegovina vào ngày 5 tháng 10 năm 1908, quan hệ giữa Đế quốc Áo-Hung và Serbia trở nên vô cùng căng thẳng, thậm chí đã có thể dẫn đến chiến tranh nhưng các nước Anh, Pháp, Đức đề nghị Serbia bãi binh đổi lại Áo và các nước trên sẽ có nhượng bộ về tài chính nếu không Đế quốc Áo-Hung sẽ tấn công Serbia. Do sức ép của các đế quốc nên Serbia tuyên bố bãi binh và rút lại những yêu sách về lãnh thổ.
Vấn đề Bosna và Hercegovina trở nên căng thẳng trở lại sau cuộc Chiến tranh Balkan lần thứ hai. Sau hai cuộc chiến tranh này lãnh thổ của Serbia tăng gấp đôi. Những tên dân tộc chủ nghĩa Serbia mà tiêu biểu là tổ chức Bàn tay đen, một tổ chức khủng bố thành lập năm 1911Beograd bởi cựu sĩ quan Dragutin Dimitrijevic cố gắng giải phóng Bosna và Hercegovina thoát khỏi ách cai trị của Đế quốc Áo-Hung. Trong khi đó, thái tử Áo-Hung là Franz Ferdinand lại muốn theo con đường của hoàng đế Franz Joseph I bành trướng khu vực ảnh hưởng ở Balkan đồng thời tăng sự kiểm soát đối với các dân tộc đang sống dưới ách cai trị của đế quốc Áo-Hung.
Những điều đó đã khiến Franz Ferdinand trở thành mục tiêu của tổ chức Bàn tay đen và ngày 28 tháng 6 năm 1914, Franz Ferdinand đến Bosna thị sát cuộc tập trận của quân đội Áo-Hung trở thành cơ hội để tổ chức Bàn tay đen ra tay.

Diễn biến

Bản đồ nơi xảy ra vụ ám sát

Sáng ngày 28 tháng 6 năm 1914, Franz Ferdinand đến Sarajevo, thủ phủ của tỉnh Bosna bằng xe lửa bất chấp tất cả những lời cảnh báo về một âm mưu ám sát ông do nhũng người chủ nghĩa dân tộc cực đoan thực hiện. Ông vẫn giữ nguyên chuyến đi này vì ông là tướng thanh tra của lực lượng quân đội Áo-Hung nên cần phải có mặt tại buổi tập trận trên núi Sarajevo đồng thời có dịp giới thiệu vợ ông, bà Sophia Hatek, đến với đông đảo công chúng.

Gräf & Stift, chiếc xe chở Franz Ferdinand khi ông bị ám sát

9 giờ 45 sáng, cặp vợ chồng Ferdinand bước ra khỏi nhà ga và được tỉnh trưởng ở đây là Oscar Potiorek, một người Slovenia nghênh đón. Một đoàn xe hộ tống 6 chiếc đã chờ đợi sẵn để đưa họ đến phòng khánh tiết ở dinh tỉnh trưởng. Cả hai ngồi trên một chiếc xe mui trần để tỏ thái độ gần gũi với dân chúng nhưng lại tạo thời cơ cho những người muốn ám sát họ. Trong ngày định mệnh này, thái tử mặc bộ quân phục màu xanh lam pha đen cùng những ngù lông màu xanh lục trên mũ chào mào còn Vương phi mặc bộ áo váy bằng lụa trắng cùng chiếc mũ màu trắng bạc. Lễ duyệt binh diễn ra rất tốt đẹp dọc theo một phố hẹp Appele Ki bên cạnh dòng sông, hai bên đường treo đầy chân dung của cặp vợ chồng.

Gavrilo Princip, người bắn chết thái tử Franz Ferdinand

Trong lúc đó, 6 thành viên cuồng tín của Tổ chức Bàn tay đen đang đứng lẫn trong dòng người đi dọc theo đoàn xe, chuẫn bị sẵn vũ khíbom. Đúng 10 giờ khi đoàn xe chạy qua cầu, từ đám đông một thanh niên xông ra ném bom vào phía xe thái tử. Trái bom rơi đúng vào nóc xe, lăn xuống vỉa hè rồi rơi vào bánh trước và nổ tung. Thái tử ngay lập tức ra lệnh cho đoàn xe dừng lại và cử hai người trong tùy tùng đoàn đi thăm hỏi những người bị nạn. Tổng cộng có 22 người bị thương trong đó có 2 viên quan hộ tống. Tuy vậy thái tử vẫn tiếp tục ra lệnh cho xe đi tiếp. Vương phi bất ngờ phát hiện cổ bà bị một mảnh bom bắn vào tuy nhiên bà lại không thấy có cảm giác. Thái tử vô cùng tức giận và vội vàng dẹp bỏ cuộc đón tiếp và ra lệnh đến quân y viện gần nhất nhưng vương phi vẫn kiên quyết đi tiếp cùng chồng và ngồi hàng ghế sau cùng với thái tử. Chiếc xe phóng nhanh dọc theo phố Apple Ki và bắt đầu rẽ về bên phải hướng về phía ngôi thánh đường. Người lái xe phanh gấp để kịp quay mũi xe. Bất ngờ từ trong đám đông một thanh niên tóc sẫm màu rút súng bắn vào xe. Viên cảnh sát đứng cạnh xông vào bắt kẻ sát nhân nhưng đồng bọn của hắn đã đánh mạnh vào đầu gối ông. Người thanh niên không ai ngăn cản bước gần tới xe và bắn thêm một viên nữa trước khi bị bắt. Viên đầu tiên trúng cổ thái tử, phá vỡ tĩnh mạch cảnh còn viên thứ hai trúng bụng vương phi. Vương phi ngã lăn xuống sàn xe. Thái tử van nài bà cố sống để nuôi 2 con rồi ngất lịm đi. Chiếc xe hơi lao hết tốc độ về dinh tỉnh trưởng. Các bác sĩ vội vã chạy đến để cấp cứu nhưng đều bó tay. Ngày hôm sau, chuyến xe lửa tang lễ đến nhà ga và chở thi hài thái tử và vương phi về thủ đô Viên để cử hành tang lễ.

Hậu quả

Phiên tòa xét xử vụ ám sát ngày 5 tháng 12 năm 1914

Vụ ám sát thái tử Áo-Hung đã làm bùng nổ thùng thuốc súng chiến tranh ở Balkan. Ngày 23 tháng 7 năm 1914, Đế quốc Áo-Hung gửi Serbia tối hậu thư 10 điều với những điều khoản xâm phạm trắng trợn chủ quyền, độc lập của Serbia. Ngày 25 tháng 7, đúng hạn trả lời tối hậu thư của Đế quốc Áo-Hung, Thủ tướng Serbia đã chuyển bức công hàm trả lời cho đại sứ Áo-Hung với lời lẽ hòa nhã trong đó Serbia đồng ý 9 trong 10 điều của bản yêu sách nhưng không chấp nhận để Áo-Hung cử đại diện tiến hành điều tra trên lãnh thổ Serbia về vụ ám sát. Trong nỗ lực ngăn chặn chiến tranh, Serbia đề nghị mang vụ ám sát này ra tòa án quốc tế Den HaagHà Lan xét cử nhưng Áo đã không đồng ý. Ngày 28 tháng 7 năm 1914, Đế quốc Áo-Hung tuyên chiến với Serbia, Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) bùng nổ.
Riêng 6 thành viên của Tổ chức Bàn tay đen đã tham gia vụ ám sát thì chịu những mức hình phạt từ 10 đến 20 năm tù. Gavrilo Princip, kẻ trực tiếp bắn chết thái tử Áo-Hung bị tuyên phạt 20 năm tù. Ông qua đời trong tù vì bệnh viêm phổi ngày 28 tháng 4 năm 1918.

Xem thêm



Chào ngày mới 27 tháng 6

Flag of Hawaii.svg

CNM365 Chào ngày mới 27 tháng 6 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Độc lập tại Djibouti (1977); ngày Hỗn chủng tại Brasil; ngày Canada đa nguyên văn hóa. Năm 1869 – Nước Cộng hòa Ezo chính thức giải thể sau khi chiến bại trước quân đội của Thiên hoàng Nhật Bản. Năm 1908 – Bồi bếp và binh lính người Việt phục vụ cho quân Pháp đóng ở thành Hà Nội tiến hành vụ mưu sát và binh biến mang tên Hà Thành đầu độc. Năm 1959 – Thông qua bỏ phiếu, nhân dân Lãnh thổ Hawaii (hình hiệu kỳ) của Hoa Kỳ chấp nhận đạo luật gia nhập liên bang với tư cách tiểu bang. Năm 1981 – Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua quyết định chính thức phủ định Đại cách mạng văn hóa.

Lãnh thổ Hawaii

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lãnh thổ Hawaii
Lãnh thổ hợp nhất có tổ chức của Hoa Kỳ
1898–1959

Cờ của Hawaii
Cờ
Vị trí của Hawaii

Lãnh thổ Hawaiʻi

Thủ phủ Honolulu
Chính quyền lãnh thổ hợp nhất có tổ chức
Thống đốc
 – 1900-1903 Sanford B. Dole
 – 1957-1959 William F. Quinn
Thống đốc quân sự
 – 1941-1944 Trung tướng T. H. Greene
Lịch sử
 – Vương triều bị lật đổ 17 tháng 1 năm 1893
 – bị Hoa Kỳ sáp nhập 4 tháng 7 1898
 – Đạo luật tổ chức 1900
 – Thiết quân luật 1941-1944
 – Trở thành tiểu bang 21 tháng 8 1959

Lãnh thổ Hawaiʻi, viết tắt chính thức là T.H., từng là một lãnh thổ hợp nhất có tổ chức của Hoa Kỳ, được thành lập ngày 7 tháng 7 năm 1898 và giải thể ngày 21 tháng 8 năm 1959 khi Hawaiʻi trở thành một tiểu bang của Hoa Kỳ. Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Giải pháp Newlands nhằm sáp nhập cựu Vương quốc Hawaiʻi và sau đó là Cộng hòa Hawaiʻi vào Hoa Kỳ. Lịch sử lãnh thổ Hawaiʻi gồm có một thời kỳ từ năm 1941 đến năm 1944 khi quần đảo này bị đặt dưới thiết quân luật. Chính quyền dân sự bị giải tán và một vị thống đốc quân sự được bổ nhiệm.

Chính phủ lâm thời

Ngày 12 tháng 8 năm 1898, cờ của Vương quốc Hawaiʻi trên Dinh ʻIolani bị hạ xuống để cờ của Hoa Kỳ được kéo lên

Sau khi Nữ hoàng Liliʻuokalani bị lật đổ năm 1893, Ủy ban an ninh do Lorrin A. Thurston lãnh đạo đã thiết lập Chính phủ Lâm thời Hawaiʻi để cai trị quần đảo trong thời gian chuyển tiếp được trông đợi sáp nhập vào Hoa Kỳ. Thurston năng nổ vận động Quốc hội Hoa Kỳ trong lúc đại diện của hoàng gia là Công chúa Victoria Kaʻiulani đang ở Washington, D.C. cho rằng việc lật đổ chính phủ của cô bà là bất hợp pháp.
Trước tiên, các bước tiến hành sáp nhập bắt đầu khi Tổng thống Hoa Kỳ Benjamin Harrison xuống chức và Tổng thống Grover Cleveland lên nhận chức. Cleveland là một người chống chủ nghĩa đế quốc và mạnh mẽ chống đối việc sáp nhập. Ông rút lại hiệp ước sáp nhập không cho đem ra bàn luận, tiến hành một cuộc điều tra và đề nghị tái lập nền quân chủ của Nữ hoàng Liliʻuokalani. Cuộc điều tra sâu rộng hơn của Quốc hội Hoa Kỳ đã cho ra đời bản Báo cáo Morgan. Báo cáo này đã xác định rằng những hành động của quân đội Hoa Kỳ là hoàn toàn trung lập và bác bỏ những lời tố cáo rằng Hoa Kỳ đã nhúng tay vào việc lật đổ vương triều Hawaii.
Chính phủ lâm thời họp lại và thảo ra một bản hiến pháp tại Honolulu để thiết lập Cộng hòa Hawaiʻi. Thurston được yêu cầu làm tổng thống đầu tiên của quốc gia nhưng ông lo lắng rằng tính tình của ông có thể làm phương hại đến mục tiêu sáp nhập vào Hoa Kỳ. Cựu phẩm phán tối cao pháp viện thuộc thành phần bảo thủ hơn và là bạn của Nữ hoàng Liliʻuokalani tên là Sanford B. Dole được bầu làm tổng thống đầu tiên và duy nhất của chế độ mới.

Vận mệnh hiển nhiên

Khi Tổng thống Grover Cleveland kết thúc nhiệm kỳ tổng thống vào tháng 3 năm 1897, cựu quân nhân Nội chiến Hoa KỳWilliam McKinley nhậm chức tổng thống. McKinley tin vào việc gia tăng vị thế nổi bật của Hoa Kỳ trên chính trường quốc tế.
Dưới các chính sách của McKinley, người Mỹ được đưa đi chiến đấu chống Tây Ban NhaCuba, PhilippinesPuerto Rico năm 1898. Vị trí chiến lược của Hawaiʻi đối với cuộc chiến tại Philippines đã khiến nó đặc biệt quan trọng đối với những lợi ích của Hoa Kỳ.
Tháng tư năm 1917, Nữ hoàng Liliʻuokalani tự hào cho bay lá cờ của Hoa Kỳ trên tư dinh của bà tại Washington Place. Bà nói rằng thật vinh dự cho người Hawaii đã mất mạng trong lúc phục vụ như binh sĩ Hoa Kỳ trong Đệ nhất Thế chiến, và bà cuối cùng chấp nhận việc bị lật đổ và việc Hawaii bị sáp nhập vào Hoa Kỳ[1]. Lòng yêu nước mới tìm thấy của bà đối với Hoa Kỳ được cảm hóa vì cái chết của 5 thủy thủ người Hawaii[2].

Giải pháp Newlands năm 1898

Ngày 7 tháng 7 năm 1898, McKinley ký Giải pháp Newlands (được đặt tên theo tên của Dân biểu Frances Newlands) chính thức sáp nhập Hawaiʻi vào Hoa Kỳ. Một buổi lễ chính thức được tổ chức tại bậc thềm của Dinh ʻIolani nơi cờ Hawaii bị hạ xuống và cờ Hoa Kỳ được kéo lên. Dole được bổ nhiệm làm thống đốc lãnh thổ đầu tiên của Hawaiʻi.

Sanford B. Dole tuyên thệ làm thống đốc trên bậc thềm của Dinh ʻIolani trong lúc các thương gia và chủ đồn điền Mỹ vỗ tay ăn mừng chiến thắng chế độ quân chủ

Giải pháp Newlands thiết lập một ủy ban gồm năm thành viên để nghiên cứu luật nào cần thiết cho Hawaiʻi. Ủy ban gồm có: Thống đốc Lãnh thổ Dole (R-HI), các Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Shelby M. Cullom (R-IL) và John T. Morgan (R-AL), Dân biểu Hoa Kỳ Robert R. Hitt (R-IL) và Cựu chánh thẩm phán Hawaiʻi và sau đó là Thống đốc Lãnh thổ Walter F. Frear (R-TH). Bản báo cáo của ủy ban được trình lên Quốc hội Hoa Kỳ để bàn bạc mà kéo dài hơn một năm. Quốc hội Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều vấn đề phản đối với lý do rằng thiết lập một chính quyền dân cử lãnh thổ tại Hawaiʻi có thể dẫn đến việc cho phép lãnh thổ này thành một tiểu bang với một đa số người không phải là người da trắng.

Đạo luật tổ chức

Quốc hội Hoa Kỳ sau cùng đồng ý cho phép Hawaiʻi có một chính quyền dân cử của chính nó và McKinley ký thành luật. Đó là đạo luật cho phép một chính quyền cho Lãnh thổ Hawaiʻi, cũng còn được biết với cái tên Đạo luật Tổ chức Hawaii 1900.
Đạo luật Tổ chức thiết lập Văn phòng của Thống đốc Lãnh thổ, một văn phòng được đương kim tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm và thường thường là từ đảng chính trị của tổng thống. Thống đốc lãnh thổ phải phục vụ sao cho tổng thống hài lòng và có thể bị thay thế bất cứ lúc nào.

Các thống đốc lãnh thổ

Đạo luật Tổ chức tạo nên hành pháp lãn thổ có nhiệm vụ đề nghị và thông qua các luật. Một vị thẩm phán đặc trách về việc diễn giải luật lãnh đạo Tối cao pháp viện. Một bộ phận lưỡng viện lập pháp gồm có Hạ viện Hawaii và Thượng viện Hawaii được phố thông cử tri bầu lên. Đại diện ở Quốc hội Hoa Kỳ bị hạn chế với chỉ một đại biểu không có quyền biểu quyết.

Du lịch khởi sự

Công ty Hàng hải Matson quảng cáo Hawaiʻi như một điểm đến du lịch lần đầu tiên vào cuối thập niên 1890.

Công nghiệp du lịch của Hawaiʻi khởi sự vào năm 1882 khi Công ty hàng hải Matson, do Thuyền trưởng William Matson thành lập, bắt đầu chạy các chuyến tàu chở hàng hóa giữa San Francisco và Hawaiʻi. Các chuyến đi lại của ông đã khuyến khích ông mua các tàu khách chạy hơi nước để mang du khách từ đất liền Hoa Kỳ đến nghỉ ngơi vui chơi tại Hawaiʻi.
Đội tàu của Matson gồm có S.S. Wilhelmina là đối thủ của các tàu chở khách tốt nhất phục vụ các tuyến đường biển Đại Tây Dương. Với việc bùng nổ sự thích thú được nghỉ ngơi vui chơi tại Hawaii của các gia đình người Mỹ giàu có vào cuối thập niên 1920, Matson thêm các tàu S.S. Mariposa, S.S. Monterey và S.S. Lurline vào đội tàu của mình.
Công ty hàng hải Matson mở hai khách sạn có dịch vụ vui chơi tại Honolulu gần khu hoàng gia. Khách sạn đầu tiên trên WaikīkīKhách sạn Moana mở vào năm 1901. Vì là khách sạn đầu tiên trên Waikīkī nên Khách sạn Moana có biệt danh là “Đệ nhất Phu nhân Waikīkī”. Khách sạn này được sự chú ý của quốc tế vào năm 1920 khi Edward, Thái tử Xứ Wales và là Vua tương lai Edward VIII của Vương quốc Anh nghĩ tại đây.
Năm 1927, Khách sạn Hoàng gia Hawaii, được gọi không chính thức là “Pink Palace of the Pacific”, mở cửa. Nó là chỗ nghỉ ngơi ở Hawaiʻi mà Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt thích nhất trong suốt Đệ nhị Thế chiến.

Căn cứ quân sự

Với việc sáp nhập, Hoa Kỳ thấy Hawaiʻi như là tài sản quân sự chiến lược tốt nhất. McKinley và người kế nhiệm là Tổng thống Theodore Roosevelt mở rộng sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Hawaiʻi và thiết lập một số căn cứ chính, một số còn được sử dụng ngày nay. Vào khoảng 1906, toàn bộ đảo Oʻahu được phòng thủ kiên cố quanh duyên hải bằng một “vòng đai thép” gồm rất nhiều ụ súng đặt trên các vách thép duyên hải. Một trong số ít các ụ súng còn lại được xây xong vào năm 1911 là Ụ súng Randolph. Ngày nay nó là Viện bảo tàng Quân đội Hawaiʻi.
Danh sách các căn cứ trên lãnh thổ:

Công nghiệp phát triển và Big Five

Là một lãnh thổ của Hoa Kỳ, các đồn điền trồng mía được rót thêm tiền đầu tư. Nhờ Hoa Kỳ miễn thuế nhập khẩu đối với các nhà trồng mía nên họ có nhiều tiền hơn dùng để mua nông cụ máy móc, đất và mướn thêm nhân công. Tiền vốn tăng làm cho sản xuất gia tăng. Năm tập đoàn thời-vương quốc thu lợi nhờ vào việc Hawaii sáp nhập vào Hoa Kỳ đã ngay lập tức trở thành các đại công ty nhiều triệu đô la: Castle & Cooke, Alexander & Baldwin, C. Brewer & Co., Amfac, Theo H. Davies & Co. Tổng cộng có năm công ty kiểm soát nền kinh tế Hawaii được biết như là “Big Five.”
Các công ty nhóm Big Five cùng nhau trở thành một lực lượng chi phối duy nhất tại Hawaiʻi. Các công ty không cạnh tranh với nhau nhưng hợp tác để giữ giá hàng hóa và dịch vụ của họ cao. Lợi nhuận của họ tăng cao hơn và những người điều hành hành chánh của Big Five đều có mặt trong các ban hội đồng công ty của nhau. Quyền lực kinh tế tạo ra quyền lực chính trị trên Lãnh thổ Hawaiʻi. Họ thực hiện những phương pháp bất hợp pháp để duy trì thế lực chính trị của họ. Họ thường đe dọa nhân công phải bỏ phiếu theo ý muốn của họ. Việc trả thù vì bỏ phiếu “không đúng đường lối” là chuyện thường xảy ra.
Trong thời lãnh thổ, Hawaiʻi từ từ biến thành một oligarchy bị khống chế bởi Big Five. Họ muốn chỉ có người da trắng và Đảng Cộng hòa điều hành chính quyền tại Hawaiʻi. Trong thời Big Five ngự trị, gần như không có đảng viên Dân chủ nào thắng bất cứ cuộc bầu cử nào tại Hawaiʻi.

Dứa (khóm)

James Dole cũng còn được biết là Vua Dứa đến sống tại Hawaiʻi năm 1899. Ông mua đất ở Wahiawā và thiết lập đồn điền trồng dứa tại Hawaiʻi. Vì tin rằng dứa có thể trở thành một loại thực phẩm ưa chuộng bên ngoài Hawaiʻi, Dole dựng nhà máy đóng hộp gần đồn điền đầu tiên của ông năm 1901. Công ty Dứa Hawaii sau này đổi tên là Công ty Thực phẩm Dole được khai sinh.
Với lợi nhuận thương mại của ông tăng cao, Dole mở rộng và xây một nhà máy đóng hộp lớn hơn tại ʻIwilei gần Bến cảng Honolulu năm 1907. Vị trí của ʻIwilei đã giúp các hoạt động của ông gần nguồn lao động hơn. Nhà máy đóng hộp tại ʻIwilei hoạt động cho đến năm 1991. Nữ minh tinh và ca sĩ Bette Midler là một trong các nhân công nổi tiếng nhất của công ty.
Dole tự thấy mình đang đứng giữa một ngành công nghiệp phát triển mạnh. Nhu cầu về dứa của ông gia tăng và Dole cần phải trồng nhiều thêm nữa. Năm 1922, Dole mua cả hòn đảo Lānaʻi và cải biến phong cảnh hoang mạc thành đồn điền dứa lớn nhất thế giới. Trong một thời kỳ dài, Lānaʻi đã sản xuất ra 75% dứa của thế giới và trở thành bất hủ với cái tên “Đảo Dứa.”
Khoảng thập niên 1930, Hawaiʻi trở thành thủ đô dứa của thế giới và ngành sản xuất dứa trở thành ngành công nghiệp lớn hạng nhì của nó. Sau Đệ nhị Thế chiến, tổng cộng có 8 công ty dứa tại Hawaiʻi.

Quan hệ chủng tộc

Một trong các thử thách nổi bật nhất mà Lãnh thổ Hawaiʻi phải đối diện là quan hệ chủng tộc. Vào thời gian Hawaiʻi trở thành một lãnh thổ, phần đông dân số của Hawaiʻi là các công nhân đồn điền từ Trung Quốc, Nhật Bản, PhilippinesBồ Đào Nha. Có một dân số lớn đáng kể người Hawaii bản xứ cũng cùng chia sẻ trong lực lượng lao động. Những kinh nghiệm làm việc trên các đồn điền đã nặn đúc Hawaiʻi trở thành một nền văn hóa đồn điền. Ngôn ngữ Hawaiian Pidgin được phát triển tại các đồn điền để mọi người đều có thể hiểu nhau. Họ cùng chia sẻ thực phẩm và truyền thống. Đạo PhậtThần Đạo phát triển và trở thành một trong các tôn giáo lớn nhất của Hawaiʻi. Công Giáo trở thành giáo phái Tín hữu Cơ Đốc lớn nhất của Hawaiʻi. Hawaiʻi có đa chủng tộc và nhiều chủng tộc sống ít nhiều hài hòa với nhau.

Tư cách thành tiểu bang bị ngăn cản

Năm 19351937, Quốc hội Hoa Kỳ bắt đầu bàn bạc về chuyện có nên hay không nên cho phép Hawaiʻi trở thành một tiểu bang của Hoa Kỳ. Các tiểu bang miền nam tỏ vẻ khó chịu với lý do Quốc hội sẽ cho phép một lãnh thổ có ít người da trắng được những quyền lợi giống như người Mỹ ở trong đất liền. Việc cho phép Hawaiʻi thành tiểu bang bị hủy bỏ vô hạn định vì vấn đề chủng tộc.

Thiết quân luật

Năm 1941, Thống đốc Joseph B. Pointdexter tự bỏ quyền lực của mình bằng việc tuyên bố thiết quân luật và Hawaiʻi nằm dưới quyền điều hành của quân đội. Thống đốc quân sự lấy Dinh ʻIolani làm tổng hành dinh của mình và bố trí xung quanh nó bằng các giao thông hào và ụ súng.

Từ năm 1941 đến 1944, Các thống đốc lãnh thổ Joseph B. Pointdexter và Ingram M. Stainback đã tự bỏ quyền lực hành chánh của mình bằng việc tuyên bố thiết quân luật. Vì hiến pháp lãnh thổ bị đình chỉ nên ngành lập pháp và tối cao pháp viện cũng bị giải tán vô hạn định. Thiết quân lực được thi hành đối với tất cả cư dân Hawaiʻi. Một thống đốc quân sự nhận quyền kiểm soát Hawaiʻi và điều hành lãnh thổ từ Dinh ʻIolani. Dinh này sau đó được rào lại vào xây dựng các chiến hào.
Dưới thiết quân luật, mọi mặt đời sống của Hawaii đều nằm dưới sự kiểm soát của thống đốc quân sự. Chính quyền lăn tay tất cả mọi cư dân trên 6 tuổi, áp đặt lệnh giới nghiệm, che giấu thông tin, hạn chế nhu cầu lương thực và xăng dầu, kiểm duyệt tin tức và truyền thông, cấm rượu, ấn định giờ hoạt động thương mại, kiểm soát lưu thông và dịch vụ thu rác đặc biệt. Luật của thống đốc quân sự được gọi là Sắt lệnh tổng quát. Những vi phạm đều bị tòa án binh phạt mà không được chống án.
Danh sách các thống đốc quân sự:

Trở thành tiểu bang

Sau khi thất bại năm 1935 và năm 1937 trong việc thuyết phục Quốc hội Hoa Kỳ rằng Hawaiʻi đã sẵn sàng để trở thành một tiểu bang, Hawaiʻi tái mở chiến dịch vận động vào năm 1950 bằng cách đặt vấn đề tư cách tiểu bang trong lá phiếu. Hai phần ba cử tri toàn lãnh thổ đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập vào liên bang. Sau Đệ nhị Thế chiến, lời kêu gọi ủng hộ lãnh thổ trở thành tiểu bang được lập lại càng mạnh mẽ hơn, thậm chí từ một số tiểu bang trong đất liền. Các lý do ủng hộ lãnh thổ thành tiểu bang thì rất rõ ràng:

  • Hawaiʻi muốn có thể bầu thống đốc của mình
  • Hawaiʻi muốn có thể bầu tổng thống
  • Hawaiʻi muốn chấm dứt đóng thuế nhưng không có đại diện có quyền biểu quyết tại Quốc hội Hoa Kỳ
  • Hawaiʻi đã chịu đựng một cuộc chiến nặng nề đầu tiên
  • Dân số sắc tộc không phải người da trắng của Hawaiʻi, đặc biệt là người Nhật, đã chứng tỏ lòng trung thành của họ qua việc phục vụ trên các chiến trường châu Âu
  • Hawaiʻi có đến 90% dân số là công dân Hoa Kỳ, đa số được sinh tại Hoa Kỳ.

Một cựu viên chức của Sở cứu hỏa Honolulu, John A. Burns được bầu làm đại diện của Hawaiʻi tại Quốc hội Hoa Kỳ năm 1956. Là một đảng viên Dân chủ, Burns đã giành thắng lợi mà không cần đến phiếu của người da trắng nhưng nhờ vào sự ủng hộ nhiệt thành của người Nhật và người Philipines tại Hawaiʻi. Việc thắng cử của ông đã chứng tỏ một sự xoay chiều trong phong trào tranh thủ tư cách tiểu bang. Ngay sau khi đến Washington, D.C., Burns bắt đầu vận động chính trị bằng cách thu được sự ủng hộ của các vị lãnh đạo tại Quốc hội Hoa Kỳ cũng như các thống đốc tiểu bang. Thành tựu quan trọng nhất của Burns là thuyết phục được Lãnh tụ khối đa số tại Thượng viện Lyndon B. Johnson (D-TX) rằng Hawaiʻi đã sẵn sàng trở thành một tiểu bang.

Tất cả các đảo bỏ phiếu ít nhất là 93% tán thành việc trở thành tiểu bang. Các kết quả trưng cầu và lá phiếu bầu năm 1959.

Tháng 3 năm 1959, cả hai viện Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Gia nhập và Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower ký thành luật. Đạo luật không kể Đảo Palmyra, một phần của Vương quốc và Lãnh thổ Hawaiʻi thuộc tiểu bang mới này. Ngày 27 tháng 6 năm đó, một cuộc bầu cử toàn lãnh thổ được tiến hành để hỏi xem người dân Hawaii có chấp nhận đạo luật gia nhập liên bang với tư cách tiểu bang hay không. Hawaiʻi chấp thuận đạo luật với tỉ lệ 17-1. Ngày 21 tháng 8, chuông nhà thờ khắp Honolulu reo vang báo hiệu rằng Hawaiʻi cuối cùng trở thành tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ.

Xem thêm

Chú thích

Đọc thêm

  • Thomas H. Green, The Papers of Major General Thomas H. Green, Judge Advocate General’s Corps, U.S. Army, University Publications of America, 2001

Liên kết ngoài

First Session, 4 tháng 12, 1899-7 tháng 6, 1900. Photostatic Reproductions from the Congressional Record, Vol. 33, Parts 1-8.

Cách mạng văn hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cách mạng văn hóa
Phồn thể: 無產階級文化大革命
Giản thể: 无产阶级文化大革命
Alternative Chinese name
Tiếng Trung: 文化大革命 hoặc 文革
Nghĩa: Cách mạng văn hóa

Đại cách mạng văn hóa giai cấp vô sản (tiếng Hoa giản thể: 无产阶级文化大革命; tiếng Hoa phồn thể: 無產階級文化大革命; Bính âm: Wúchǎn Jiējí Wénhuà Dà Gémìng; phiên thiết Hán-Việt: Vô sản giai cấp văn hóa đại cách mạng; thường gọi tắt là Đại cách mạng văn hóa 文化大革命 wénhuà dà gémìng, hay vắn tắt hơn là Văn cách 文革, wéngé) là một giai đoạn hỗn loạn xã hội và tình trạng vô chính phủ ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa diễn ra trong 10 năm từ năm 1966-1976, gây tác động rộng lớn và sâu sắc lên mọi mặt của cuộc sống chính trị, văn hóa, xã hội ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngoài ra, cuộc cách mạng này đã làm thay đổi quan niệm xã hội, chính trị và đạo đức của quốc gia này một cách sâu sắc và toàn diện.
Cuộc cách mạng này được Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo từ ngày 16 tháng 5 năm 1966, với mục tiêu chính thức là loại bỏ những phần tử “tư sản tự do” để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp cách mạng. Tuy nhiên, mục đích chính của cách mạng này được mọi người công nhận là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt bị thất bại dẫn đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao Trạch Đông so với đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ và cũng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài,…
Dù Mao Trạch Đông tự tuyên bố chính thức là Văn cách kết thúc năm 1969, ngày nay người ta vẫn cho rằng cuộc cách mạng này còn bao gồm cả giai đoạn từ 1969 đến 1976 khi Tứ nhân bang (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng VănDiêu Văn Nguyên) bị bắt giữ.

Đại nhảy vọt

Bài chi tiết: Đại nhảy vọt

Năm 1958, sau kế hoạch Năm năm lần thứ nhất, Mao Trạch Đông kêu gọi phát triển một “chủ nghĩa xã hội triệt để” trong nỗ lực đưa đất nước sang xã hội cộng sản tự cung tự cấp. Để đạt được mục tiêu này, Mao khởi xướng kế hoạch Đại nhảy vọt, thiết lập các “Xã Nhân dân đặc biệt” (thường gọi là Công xã nhân dân) ở nông thôn thông qua việc sử dụng lao động tập thể và vận động quần chúng. Nhiều cộng đồng dân cư đã được huy động để sản xuất một mặt hàng duy nhất-đó là thép. Và Mao Trạch Đông tuyên bố sẽ tăng sản lượng nông nghiệp lên gấp đôi mức năm 1957.Nhưng trên thực tế,sản lượng nông nghiệp thời kì đó của Trung Quốc còn không bằng thời vua Càn Long và thời nhà Tống.[cần dẫn nguồn]
Cuộc Đại nhảy vọt là một thất bại về kinh tế. Các ngành công nghiệp rơi vào tình trạng bất ổn vì nông dân sản xuất quá nhiều thép chất lượng thấp trong khi các ngành khác bị bỏ rơi. Hơn nữa, những người nông dân không qua đào tạo và được trang bị nghèo nàn để sản xuất thép, phần lớn dựa vào khu vực sân sau nhà để đạt chỉ tiêu sản xuất thép do các quan chức địa phương đặt ra. Trong khi đó, các công cụ nhà nông chính bị nấu chảy để làm thép khiến quy mô sản xuất nông nghiệp bị thu nhỏ. Điều này dẫn đến sự sụt giảm sản lượng của phần lớn các mặt hàng ngoại trừ gang và thép không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Tồi tệ hơn nữa, để tránh bị phạt, chính quyền địa phương thường xuyên phóng đại các con số và che giấu khiến cho vấn đề thêm trầm trọng trong nhiều năm[1].
Hầu như chưa phục hồi từ nhiều thập kỷ chiến tranh, nền kinh tế Trung Quốc thêm một lần nữa rơi vào khủng hoảng. Năm 1958, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt buộc phải thừa nhận rằng những số liệu thống kê sản xuất đã bị phóng đại. Ngoài ra, phần nhiều lượng thép sản xuất ra không tinh khiết và vô ích. Trong khi đó, sự hỗn loạn trong các khu sản xuất tập thể, thời tiết xấu và việc xuất khẩu lương thực nhằm đảm bảo an ninh lương thực đã dẫn đến một trận đói kém cực lớn. Thực phẩm trong tình trạng hết sức khan hiếm và sản xuất giảm đáng kể. Theo nhiều nguồn khác nhau, số người chết do nạn đói này gây ra ước tính 20 đến 30 triệu người[2].
Sự thất bại của cuộc Đại nhảy vọt có tác động lớn lên uy tín của Mao Trạch Đông bên trong Đảng. Năm 1959, ông ta từ chức Chủ tịch nhà nước, và sau đó Lưu Thiếu Kỳ lên thay. Tháng 7 năm 1959, những người lãnh đạo cấp cao của Đảng triệu tập tại núi Lu để thảo luận về các quyết sách của Đảng, nhất là các tác động của cuộc Đại nhảy vọt. Tại hội nghị, nguyên soái Bành Đức Hoài, khi đó là Bộ trưởng Quốc phòng, đã chỉ trích chính sách của Mao Trạch Đông trong cuộc Đại nhảy vọt là đã quản lý kém và đi ngược lại các quy luật kinh tế.[1].
Trong lúc Hội nghị Lộc Sơn đóng vai trò như một hồi chuông báo tử cho nguyên soái Bành, cũng là nhà phê bình lớn tiếng nhất của Mao, điều này đã dẫn đến một sự chuyển giao quyền lực vào tay những người thuộc phái ôn hòa cầm đầu là Lưu Thiếu KỳĐặng Tiểu Bình, những người nắm quyền kiểm soát chính phủ[1]. Sau Hội nghị, Mao Trạch Đông đã tìm cách tước bỏ các chức vụ chính thức của Bành Đức Hoài và buộc tội ông ta là kẻ “cơ hội cánh hữu”. Bành Đức Hoài bị thay bởi Lâm Bưu, một vị tướng khác trong lực lượng quân cách mạng và sau này là người đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các chính sách của Chủ nghĩa Mao Trạch Đông.

Xung đột giữa Lưu Thiếu Kỳ và Mao Trạch Đông

Vào đầu những năm 1960, mặc dù Mao Trạch Đông vẫn còn giữ chức Chủ tịch Đảng, trách nhiệm chính trong sự thất bại của cuộc Đại nhảy vọt đã buộc ông ta phải giam mình khỏi những vấn đề thường nhật của nhà nước và chính phủ. Nhiều chính sách Đại nhảy vọt của ông ta bị đảo ngược, các tác động tiêu cực của chúng giảm nhẹ và dần dần biến mất. Trong số những cải cách của Lưu Thiếu KỳĐặng Tiểu Bình thì việc xóa bỏ phần nào tình trạng sản xuất tập thể được xem là thực dụng và hiệu quả hơn. Trong suốt quá trình này, Lưu Thiếu Kỳ đặt ra cụm từ nổi tiếng, “Mua tốt hơn tự sản xuất, và cho thuê tốt hơn so với đi mua”. Điều này đã mở ra một biên giới mới trong kinh tế Trung Quốc và đối lập với lý thuyết “tự cung tự cấp” của Mao Trạch Đông.
Những chính sách kinh tế thành công của Lưu Thiếu Kỳ đã thu hút sự ủng hộ từ bên trong Đảng. Cùng với Đặng Tiểu Bình, Kỳ dường như muốn trục xuất Mao Trạch Đông ra khỏi bộ máy quyền lực nhưng vẫn giữ ông ta trong vai trò biểu tượng quốc gia. Đáp lại, Mao Trạch Đông đã khởi xướng Phong trào Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa vào năm 1962 để lấy lại nền tảng chính trị của mình. Mục tiêu chính của phong trào là khôi phục lòng nhiệt thành cách mạng của các đảng viên và quần chúng. Đáng chú ý hơn, phong trào này còn tập trung vào cải cách hệ thống giáo dục tiểu học và trung học. Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của nó là sự kết hợp của đơn vị hành chính xã và lao động nhà máy vào giáo dục. Phong trào đã đạt được kết quả là đưa chủ nghĩa Mao vào giới trẻ Trung Quốc.
Năm 1963, Mao Trạch Đông bắt đầu công kích Lưu Thiếu Kỳ công khai hơn. Ông ta tuyên bố rằng đấu tranh giai cấp vẫn đang được tiến hành và phải được học hỏi và áp dụng “ngày một, tháng một, và năm một”, và bóng gió rằng các thành phần cố hữu của giai cấp tư sản (ám chỉ Lưu Thiếu Kỳ) vẫn còn tồn tại mặc dù cách mạng đã thành công. Năm 1964, Phong trào Giáo dục Xã hội Chủ nghĩa tiến triển trở thành Phong trào Bốn-dọn-dẹp, một phong trào chính trị – xã hội rộng lớn hơn nhằm mục đích “làm sạch chính trị, kinh tế, tư tưởng, và tổ chức của bọn phản động”. Mao Trạch Đông xem chiến dịch này là nhắm vào các thành phần trung lưu vừa được thiết lập nhưng đã trở nên xa rời quần chúng, trong khi Lưu Thiếu Kỳ lại muốn một cách tiếp cận từ dưới lên để loại bỏ những tội phạm nhỏ, tầng lớp địa chủ và thành phần phản động. Sự bất đồng trong quan điểm về bản chất của phong trào đã tạo ra xung đột giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ.

Khẩu chiến chính trị

Cuối năm 1959, nhà sử học và cũng là Phó Thị trưởng Bắc Kinh Ngô Hàm xuất bản phiên bản đầu tiên của bộ kịch lịch sử tựa đề Hải Thụy bãi quan (海瑞罢官). Trong vở kịch, một người đầy tớ trung thành tên Hải Thụy bị sa thải bởi một tên hoàng đế biến chất. Trong khi vở kịch nhận được sự ca ngợi từ phía Mao thì năm 1965 vợ Mao Trạch Đông là Giang Thanh và đồng minh của bà ta là Diêu Văn Nguyên, biên tập viên cho một tờ báo ở Thượng Hải, đã viết bài báo công kích vở kịch. Diêu gọi vở kịch là “một thứ cỏ độc” hãm hại Mao với ngụ ý Mao như một tên hoàng đế suy đồi và Bành Đức Hoài như một công chức trung thực.
Bài báo Thượng Hải đó lan truyền khắp nước và nhiều tờ nhật báo hàng đầu khác đã xin đăng lại. Thị trưởng Bắc Kinh là Bành Chân, một người ủng hộ Ngô Hàm, đã thành lập một ủy ban nhiên cứu bài báo và công bố rằng những lời chỉ trích của Diêu Văn Nguyên là không chính đáng. Ngày 12 tháng 2 năm 1966, Ủy ban (gọi là “Nhóm Năm tên chịu trách nhiệm về cuộc Đại Cách mạng văn hóa“) đã công bố một báo cáo mà về sau được biết đến với tên “Đại cương tháng Hai” (二月提纲) nhằm tìm cách giới hạn tranh luận về nhân vật Hải Thụy trong khuôn khổ văn chương và lôi kéo sự chú ý của dư luận ra khỏi các hàm ý chính trị.
Tuy nhiên, Giang ThanhDiêu Văn Nguyên tiếp tục tố cáo cả Ngô HàmBành Chân trên báo chí. Ngày 16 tháng 5, dưới sự chỉ đạo của Mao, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành một thông báo chính thức về cuộc Đại Cách mạng văn hóa. Trong tài liệu này, Bành Chân bị chỉ trích gay gắt và nhóm “Năm tên” bị giải tán và được thay thế bởi Nhóm Cách mạng văn hóa. Ngày 18 tháng 5, Lâm Bưu tuyên bố trong một bài phát biểu rằng “Chủ tịch Mao là một thiên tài, và mọi thứ Chủ tịch nói đều thực sự tuyệt vời; những lời nói của Chủ tịch sẽ tạo ra ý nghĩa cuộc sống của hàng trăm ngàn người trong chúng ta”. Vì vậy, bắt đầu giai đoạn đầu của sự sùng bái nhân cách Mao Trạch Đông do Giang Thanh, Lâm Bưu và những kẻ cùng phe điều hành.
Ngày 25 tháng 5, một giảng viên triết học tại Đại học Bắc Kinh tên là Nhiếp Nguyên Tử (聂元梓) đã viết một tấm áp phích lớn và dán ở bảng tin công cộng. Nhiếp công kích giới lãnh đạo Đảng trong trường và các quan chức của Đảng ở Bắc Kinh là “bọn côn đồ đen tối chống lại Đảng”, ngụ ý rằng có các thế lực đen tối trong Chính phủ và các trường đại học đang cố gắng ngăn chặn tiến trình cách mạng. Vài ngày sau đó, Mao ra lệnh phổ biến những lời của Nhiếp ra khắp nước và gọi đó là “tấm áp phích lớn tuyên truyền cho Chủ nghĩa Mác đầu tiên ở Trung Quốc“. Ngày 29 tháng 5, tại trường trung học thuộc Đại học Thanh Hoa, đơn vị Hồng vệ binh đầu tiên được thành lập. Mục đích của đơn vị này là trừng phạt và cô lập cả giới trí thức lẫn những kẻ thù chính trị của Mao.
Ngày 1 tháng 6 năm 1966, tờ Nhân dân Nhật báo đã phát động một cuộc công kích vào các lực lượng phản động trong giới trí thức. Sau đó, giới chủ tịch các trường đại học và những người trí thức nổi tiếng khác bị truy tố. Ngày 28 tháng 7 năm 1966, đại diện Hồng vệ binh đã viết thư cho Mao nói rằng các cuộc thanh trừng trên diện rộng và tất cả những sự kiện chính trị-xã hội có liên quan đều được thực hiện chính xác và công minh. Mao đáp lại với sự ủng hộ toàn diện của mình bằng tấm áp phích lớn tựa đề “Oanh tạc các trụ sở” (tiếng Trung: 炮打司令部——我的一张大字报). Mao viết rằng, bất chấp cuộc Cách mạng vô sản đã được tiến hành, giai cấp thống trị vẫn bị thâu tóm bởi các thành phần tư sản, các nhà tư bản và những người theo chủ nghĩa xét lại, và rằng các thành phần phản cách mạng này vẫn còn tồn tại, thậm chí ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao của Đảng. Điều này thực ra là một cuộc khẩu chiến chống lại Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình và những người cùng phe với họ.

Diễn biến

1966

Ngày 8 tháng 8 năm 1966, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thông qua “quyết định liên quan đến Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản” (còn gọi là “Thông cáo 16 điểm“). Quyết định này quy định rằng Cuộc Cách mạng văn hóa Vô sản là “một cuộc cách mạng lớn đụng chạm đến tất cả mọi người và thiết lập một giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong nước, một giai đoạn sâu rộng hơn”.

Mặc dù giai cấp tư sản đã bị lật đổ, chúng vẫn cố gắng sử dụng những tư tưởng và lề thói cũ của giai cấp bóc lột để đầu độc quần chúng nhân dân, nắm bắt tâm chí họ và cố gắng khôi phục giai đoạn tư sản. Giai cấp vô sản phải làm điều ngược lại: Đó là tranh đấu với giai cấp tư sản trong lĩnh vực tư tưởng và sử dụng những tư tưởng và lề thói mới của giai cấp vô sản để thay đổi diện mạo tinh thần của toàn bộ xã hội. Hiện tại, mục tiêu của chúng ta là đấu tranh và đè bẹp những kẻ hữu khuynh muốn phá bỏ cấu trúc thượng tầng của chủ nghĩa xã hội…
—”Thông cáo 16 điểm”

Vì vậy, quyết định đó lấy phong trào sinh viên sẵn có và phát triển nó lên một cấp độ chiến dịch đại chúng toàn quốc, kêu gọi sự tham gia của không những sinh viên mà còn cả công nhân, nông dân, quân nhân, trí thức cách mạng và các cán bộ cách mạng để tiến hành nhiệm vụ chuyển đổi cấu trúc thượng tầng bằng cách treo các áp phích ký tự lớn và tổ chức các cuộc tranh luận sôi nổi. Theo ý Mao thì Trung Quốc cần “một cuộc cách mạng văn hóa” để đưa Chủ nghĩa xã hội trở lại. Các quyền tự do quy định theo Thông cáo 16 điểm sau đó được đưa vào Hiến pháp Trung Quốc như là “Bốn quyền tuyệt vời nhất của nền dân chủ vĩ đại”: Quyền tự do ngôn luận, phát biểu ý kiến, quyền được viết các áp phích ký tự lớn và quyền được tổ chức các tranh luận lớn. Thực ra, trong bốn quyền đó, một số quyền đã bao hàm lẫn nhau.
Những người mà không có mối liên quan với Đảng Cộng sản sẽ được thử thách và thông thường bị buộc tội tham nhũng và bị bỏ tù. Những quyền tự do này được bổ sung bởi quyền được bãi công, mặc dù quyền này đã bị suy yếu bởi sự dính dáng của quân đội vào nền chính trị dân sự vào tháng 2 năm 1967. Tất cả những quyền này đã bị xóa bỏ khỏi Hiến pháp sau khi Chính phủ của Đặng Tiểu Bình dập tắt Phong trào Bức tường Dân chủ năm 1979.
Ngày 16 tháng 8 năm 1966, hàng triệu Hồng vệ binh từ khắp các nơi trên đất nước tập trung tại Bắc Kinh để có cơ hội thấy mặt Chủ tịch Mao. Ngay trên đầu cổng Thiên An Môn, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Lâm Bưu đã xuất hiện và diễn thuyết trước 11 triệu Hồng vệ binh, và nhận được rất nhiều tràng reo hò từ đám đông. Mao ca ngợi hành động của Hồng vệ binh trong các chiến dịch gần đây là “phát triển Chủ nghĩa xã hội và dân chủ”.
Trong Chiến dịch tiêu hủy Bốn cái cũ, tất cả những gì liên quan đến các loại tôn giáo đều bị Hồng vệ binh ngược đãi thẳng tay. Nhiều công trình tôn giáo như chùa chiền, nhà thờ, tu viện Hồi giáo, và các nghĩa trang đều bị đóng cửa, đôi khi còn bị cướp phá hoặc bị đập bỏ. Điều khủng khiếp nhất của chiến dịch là việc sử dụng bừa bãi hình thức tra tấn, giết chóc dẫn đến các vụ tự tử do nạn nhân không chịu được tra tấn và nhục nhã. Trong tháng 8 và tháng 9, chỉ riêng ở Bắc Kinh đã có 1772 người bị sát hại. Tại Thượng Hải, trong tháng 12 có 704 vụ tự tử và 534 ca tử vong liên quan đến Cách mạng Văn hóa. Trong thời gian này ở Vũ Hán cũng chứng kiến 62 vụ tự sát và 32 vụ giết người.[3]
Chính quyền cũng không dám ngăn chặn hành động của Hồng vệ binh. Xie Fuzhi, cảnh sát trưởng quốc gia, cho biết: “Đừng nói rằng họ sai khi đánh đập những kẻ xấu; nếu trong cơn thịnh nộ mà họ có đánh ai đó đến chết thì cũng có thể hiểu được.”[4]
Trong hai năm, đến tận tháng 7 năm 1968 (ở vài nơi, thời gian có thể lâu hơn), các nhóm hoạt động của Hội sinh viên như lực lượng Hồng vệ binh đã mở rộng lĩnh vực quyền lực của mình, và gia tăng các nỗ lực tái thiết Xã hội chủ nghĩa. Họ bắt đầu bằng cách phát tờ rơi giải thích cho hành động phát triển và củng cố Chủ nghĩa xã hội của họ và đưa tên các nhân vật bị khép tội “phản cách mạng” lên trên bảng tin của trường. Họ tập hợp lại thành từng nhóm lớn, tổ chức các buổi tranh luận lớn, và viết các vở kịch mang tính “giáo dục”. Họ tổ chức các cuộc họp công cộng để chỉ trích những lời bào chữa của các bị cáo “phản cách mạng”.

Thế giới này là của các bạn, cũng như của chung chúng ta, nhưng xét cho cùng thì nó vẫn là của các bạn. Các bạn, những người trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết, đang ở độ thăng hoa của cuộc đời giống như mặt trời lúc tám hoặc chín giờ sáng. Chúng tôi hy vọng vào các bạn. Thế giới thuộc về các bạn. Tương lai Trung Quốc thuộc về các bạn.

Hồng bảo thư, ấn bản tiếng Anh

Đây là một trong nhiều trích đoạn từ cuốn Hồng bảo thư mà sau này Hồng vệ binh luôn mang theo như một sự chỉ dẫn hành động từ phía Mao Trạch Đông. Đó là kim chỉ nam cho hành động vì mục tiêu tương lai của Hồng vệ binh. Những trích dẫn trực tiếp từ lời của Mao đã dẫn đến các hành động khác của Hồng vệ binh dưới quan điểm của các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mao khác. Mặc dù Thông cáo 16 điểm và các tuyên bố khác từ các nhà lãnh đạo cấp cao khác của Chủ nghĩa Mao đều ngăn cấm hình thức “bạo động vũ trang” (武斗) và ủng hộ “đấu tranh tâm lý” (文斗), nhưng những cuộc đấu tranh này thường dẫn đến việc sử dụng vũ lực. Ban đầu, những cuộc khẩu chiến giữa các nhóm hoạt động thậm chí trở thành bạo lực, nhất là khi họ bắt đầu tước vũ khí của quân đội năm 1967. Những người khởi xướng Chủ nghĩa Mao đã giới hạn hoạt động của Hồng vệ binh trong khuôn khổ hình thức “bất bạo động”, nhưng đôi khi chính điều đó lại dường như khuyến khích bạo lực; và chỉ sau các vụ cướp vũ khí quân đội của Hồng vệ binh, họ mới bắt đầu đàn áp các phong trào quần chúng. Lưu Thiếu Kỳ bị đưa vào một trại tạm giam và qua đời tại đó năm 1969. Đặng Tiểu Bình cũng bị đưa đi “cải tạo” ba lần và cuối cùng phải làm việc trong một nhà máy cơ khí cho đến khi Chu Ân Lai đưa ông trở lại vài năm sau đó. Tuy nhiên, phần lớn những người bị bắt giữ không được may mắn như vậy và nhiều người trong số họ không bao giờ được quay trở lại.
Hành động của Hồng vệ binh được chủ tịch Mao Trạch Đông ca ngợi. Ngày 22 tháng 8 năm 1966, ông ban hành một thông cáo chung, trong đó quy đinh cấm mọi sự can thiệp từ phía cảnh sát vào hoạt động của Hồng vệ binh. Người nào làm trái với Thông cáo đó sẽ bị gán cho tội danh “phản cách mạng”.
Ngày 5 tháng 9 năm 1966, một thông cáo khác được ban hành khuyến khích tất cả Hồng vệ binh đến Bắc Kinh trong một quãng thời gian xác định. Tất cả chi phí, bao gồm ăn ở và đi lại sẽ được chính quyền chi trả. Ngày 10 tháng 10 năm 1966, một đồng minh của Mao là Lâm Bưu đã công khai chỉ trích Lưu Thiếu KỳĐặng Tiểu Bình là “những kẻ dẫn đường cho Chủ nghĩa Tư bản” và là “mối đe dọa” đến Chủ nghĩa Xã hội. Sau đó, Bành Đức Hoài cũng bị đưa đến Bắc Kinh và bị truy tố trước quần chúng.

1967

Ngày 3 tháng Giêng năm 1967, Lâm BưuGiang Thanh đã sử dụng truyền thông và cán bộ địa phương để tạo ra cái gọi là “Bão táp tháng Giêng”, trong đó nhiều quan chức cấp cao Thượng Hải cũng bị chỉ trích nặng nề và bị đem ra truy tố[5]. Điều này đã mở đường cho Vương Hồng Văn nắm quyền quản lý thành phố với chức danh người đứng đầu Ủy ban Cách mạng thành phố. Do đó, chính quyền thành phố bị bãi bỏ. Ở Bắc Kinh, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình một lần nữa trở thành mục tiêu của sự chỉ trích, nhưng những chỉ trích khác cũng nhắm vào các việc làm sai trái của Phó thủ tướng Trần Vân. Các quan chức chính phủ hay đảng viên địa phương cũng nhân cơ hội này để cáo buộc địch thủ tội “phản cách mạng”.
Ngày 8 tháng Giêng, Mao đã ca ngợi những hành động này thông qua tờ báo của Đảng là tờ Nhân dân Nhật báo, khuyến khích các quan chức địa phương phê bình và tự phê bình nếu có dính líu tới hoạt động “phản cách mạng”. Điều này dẫn đến các cuộc thanh trừng trên diện rộng và liên tiếp giữa các quan chức địa phương khiến cho chính quyền nhân dân ở nhiều địa phương bị tê liệt hoàn toàn. Tham gia vào các cuộc thanh trừng “phản cách mạng” này là cách duy nhất để tránh bị thanh trừng, nhưng cũng không có gì đảm bảo.
Vào tháng hai, Giang ThanhLâm Bưu, dưới sự ủng hộ của Mao, đã nhấn mạnh rằng “đấu tranh giai cấp” cần mở rộng sang ngành quân đội. Nhiều tướng lĩnh chủ chốt trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã tỏ thái độ lo ngại và phản đối Cách mạng văn hóa; họ gọi đó là “một sự sai lầm”. Cựu Bộ trưởng Ngoại giao là Trần Nghị đã tỏ ra tức giận ngay trong cuộc họp Bộ Chính trị, và nói rằng sự chia bè kết phái sẽ hủy hoại quân đội hoàn toàn và sau đó là đến Đảng.
Các tướng lĩnh khác, bao gồm Nhiếp Vinh Trăn, Hạ LongTừ Hướng Tiền cũng bày tỏ sự bất mãn. Họ lần lượt bị tố cáo bởi các phương tiện truyền thông quốc gia dưới sự kiểm soát của Trương Xuân KiềuDiêu Văn Nguyên. Cuối cùng thì tất cả bọn họ đều bị thanh trừng bởi Hồng vệ binh. Cùng lúc đó, nhiều đơn vị Hồng vệ binh lớn quay sang đối đầu với nhau do mâu thuẫn về lập trường cách mạng khiến cho tình hình thêm phức tạp và làm đất nước thêm hỗn loạn.
Do vậy, Giang Thanh đã ra thông báo dừng tất các hành động không lành mạnh bên trong lực lượng Hồng vệ binh. Ngày 6 tháng 4, Lưu Thiếu Kỳ đã bị lên án công khai và rộng rãi bởi nhóm thành viên gồm Giang Thanh, Khang Sinh, thậm chí có cả Mao. Tiếp theo đó là một kháng nghị và các cuộc tuần hành của quần chúng, đáng chú ý nhất là cuộc tuần hành ở Vũ Hán ngày 20 tháng 7. Trong nơi này, Giang Thanh đã công khai tố cáo bất kỳ “hành động phản cách mạng nào”; sau đó đích thân bà ta bay tới Vũ Hán để chỉ trích Zaidao Chen, tướng phụ trách khu vực Vũ Hán.
Ngày 22 tháng 7, Giang Thanh chỉ đạo Hồng vệ binh thay thế Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa nếu cần thiết, do đó làm cho lực lượng vũ trang hiện tại bị vô hiệu. Sau lần ca ngợi ban đầu của Giang Thanh, Hồng vệ binh bắt đầu cướp phá các doanh trại và các tòa nhà quân đội. Hành động này đã không thể bị ngăn chặn bởi các tướng lĩnh quân đội và kéo dài tới tận mùa thu năm 1968.

1968

Là cánh tay đắc lực của Mao, quyền lực của Lâm Bưu chỉ dưới Mao.

Mùa xuân 1968, một chiến dịch lớn nổ ra nhằm mục đích đẩy mạnh tôn sùng Mao Trạch Đông lên mức ngang thần thánh. Ngày 27 tháng 7 năm 1968, sự lấn quyền quân đội của Hồng vệ binh chính thức kết thúc và chính quyền trung ương gửi các đơn vị quân đội tới để bảo vệ nhiều khu vực là mục tiêu của Hồng vệ binh. Mao ủng hộ và thúc đẩy ý tưởng cho phép quần chúng lắng nghe một trong những chỉ dẫn tối cao của mình. Một năm sau đó, các nhóm Hồng vệ binh hoàn toàn tan rã vì Mao sợ rằng sự hỗn loạn do họ gây ra có thể làm hại nền tảng căn bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong bất kỳ trường hợp nào thì mục tiêu của Hồng vệ binh đã đạt được và Mao đã củng cố được quyền lực chính trị của mình.
Đầu tháng 10, Mao tiến hành chiến dịch thanh trừng những quan chức không trung thành với ông ta. Họ bị đưa tới vùng nông thôn và làm việc trong các trại lao động. Cũng trong tháng này, tại Đại hội Đảng lần thứ 12-khóa 8, Lưu Thiếu Kỳ bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi Đảng và Lâm Bưu được đưa lên giữ chức Phó Chủ tịch Đảng và được Mao chọn làm người kế tục. Địa vị và danh tiếng của Bưu chỉ xếp sau Mao.[6]
Lâm Bưu, người được Mao chọn kế vị, trở thành nhân vật nổi bật nhất trong cuộc Đại Cách mạng văn hóa sau năm 1968. Tháng 12 năm 1971, Trung Quốc (và thế giới) bị sốc sau khi một chiếc máy bay bị rơi ở Mông Cổ và Lâm Bưu được cho là một trong những hành khách xấu số. Sự kiện này xảy ra sau một loạt những nỗ lực ám sát Mao bất thành. Từ đó đến nay, chưa thể xác minh được các sự kiện liên quan đến Lâm Bưu trong gian đoạn 1968-1971 với độ thuyết phục và chính xác được vì lý do nhạy cảm chính trị xung quanh sự kiện máy bay rơi đó.[7] Những năm tháng quyền lực của Lâm Bưu và cái chết đầy bí ẩn của ông ta là chủ đề quan tâm của nhiều sử gia khắp thế giới nhưng chưa một ai có thể đưa ra kết luận xác đáng về vấn đề đó.
Tháng 12 năm 1968, Mao triển khai Phong trào Tiến về nông thôn. Phong trào kéo dài từ cuối thập kỷ 1960 đến đầu thập kỷ 1970 đã huy động hàng trăm ngàn trí thức trẻ sống ở các thành phố đi về các vùng nông thôn để sống, lao động và học hỏi kinh nghiệm của những người công nhân và nông dân. Từ “trí thức” lúc đó được dùng với nghĩa rộng nhất là những học sinh mới tốt nghiệp trung học. Cuối những năm 1970, những “trí thức trẻ” này cuối cùng cũng được phép trở về thành phố quê nhà. Xét khía cạnh nào đó thì phong trào này là một cách thức điều chuyển các thành viên Hồng vệ binh từ thành phố về nông thôn, nơi mà họ ít có khả năng gây loạn nhất.

Hậu quả

Nhận định

Đặng Tiểu Bình đã nhận định như sau: “Cách Mạng Văn Hóa là một sai lầm. Chúng ta phải mạnh dạn chối bỏ sai lầm này của Mao trong những năm tháng cuối đời của ông. Nhưng cũng cần nhìn vào sự thật. Sự thật là không phải mọi sai lầm và quá đáng trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa đều do Mao” [8].

Chú thích

  1. ^ a ă â Lịch sử Trung Quốc
  2. ^ Niên biểu các sự kiện lịch sử của thế kỷ 20
  3. ^ MacFarquhar Roderick and Schoenhals, Michael. Mao’s Last Revolution. Harvard University Press, 2006. p.124
  4. ^ MacFarquhar, Roderick and Schoenhals, Michael. Mao’s Last Revolution. Harvard University Press, 2006. p. 125
  5. ^ Yan, Jiaqi. Gao, Gao. [1996] (1996). Turbulent Decade: A History of the Cultural Revolution.
  6. ^ http://www.shulu.net/
  7. ^ Distorting history, lesson from the Lin’s incident
  8. ^ Global Times ngày 25/5/2011

Đọc thêm

Tổng quan

Chủ đề chuyên sâu

Khác

  • Simon Leys (penname of Pierre Ryckmans) Broken Images: Essays on Chinese Culture and Politics (1979). ISBN 0-8052-8069-3
  • Chinese Shadows (1978). ISBN 0-670-21918-5; ISBN 0-14-004787-5.
  • The Burning Forest: Essays on Chinese Culture and Politics (1986). ISBN 0-03-005063-4; ISBN 0-586-08630-7; ISBN 0-8050-0350-9; ISBN 0-8050-0242-1.
  • The Chairman’s New Clothes: Mao and the Cultural Revolution (1977; revised 1981). ISBN 0-85031-208-6; ISBN 0-8052-8080-4; ISBN 0-312-12791-X; ISBN 0-85031-209-4; ISBN 0-85031-435-6 (revised ed.).
  • Liu, Guokai. 1987. A Brief Analysis of the Cultural Revolution. edited by Anita Chan. Armonk, N.Y.: M. E. Sharpe.
  • Sijie Dai, translated by Ina Rilke, Balzac and the Little Chinese Seamstress (New York: Knopf: Distributed by Random House, 2001). 197p. ISBN 2001029865
  • Xingjian Gao, translated by Mabel Lee, One Man’s Bible: A Novel (New York: HarperCollins, 2002). 450p.
  • Hua Gu, A Small Town Called Hibiscus (Beijing, China: Chinese Literature: distributed by China Publications Centre, 1st, 1983. Panda Books). Translated by Gladys Yang. 260p. Reprinted: San Francisco: China Books.
  • Hua Yu, To Live: A Novel (New York: Anchor Books, 2003). Translated by Michael Berry. 250p.
  • Nien Cheng, Life and Death in Shanghai (Grove, May 1987). 547 pages ISBN 0394555481
  • Jung Chang, Wild Swans: Three Daughters of China (New York: Simon & Schuster, 1991). 524 p. ISBN 91020696
  • Heng Liang Judith Shapiro, Son of the Revolution (New York: Knopf: Distributed by Random House, 1983).
  • Yuan Gao, with Judith Polumbaum, Born Red: A Chronicle of the Cultural Revolution (Stanford, CA: Stanford University Press, 1987).
  • Jiang Yang Chu translated and annotated by Djang Chu, Six Chapters of Life in a Cadre School: Memoirs from China’s Cultural Revolution [Translation of Ganxiao Liu Ji] (Boulder: Westview Press, 1986).
  • Bo Ma, Blood Red Sunset: A Memoir of the Chinese Cultural Revolution (New York: Viking, 1995). Translated by Howard Goldblatt.
  • Guanlong Cao, The Attic: Memoir of a Chinese Landlord’s Son (Berkeley: University of California Press, 1996).
  • Ji-li Jiang, Red Scarf Girl: A Memoir of the Cultural Revolution (New York: HarperCollins, 1997).
  • Anchee Min, Red Azalea (New York: Pantheon Books, 1994). ISBN 1-4000-9698-7.
  • Rae Yang, Spider Eaters: A Memoir (Berkeley: University of California Press, 1997).
  • Weili Ye, Xiaodong Ma, Growing up in the People’s Republic: Conversations between Two Daughters of China’s Revolution (New York: Palgrave Macmillan, 2005).
  • Lijia Zhang, “Socialism Is Great”: A Worker’s Memoir of the New China (New York: Atlas & Co, Distributed by Norton, 2007).
  • Emily Wu, Feather in the Storm (Pantheon, 2006). ISBN 978-0-375-42428-1.
  • Xinran Xue, The Good Women of China: Hidden Voices (Chatto & Windus, 2002). Translated by Esther Tyldesley. ISBN 0701173459
  • Ting-Xing Ye, Leaf In A Bitter Wind (England, Bantam Books, 2000)

Video

Liên kết ngoài

Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con

Chào ngày mới 26 tháng 6

 Flag of the United Nations.svg

CNM365 Chào ngày mới 26 tháng 6 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Quốc tế chống lạm dụng và buôn bán ma túy, ngày Quốc tế ủng hộ các nạn nhân bị tra tấn, ngày Quốc khánh tại Madagascar (1960).  Năm 1460Lê Tư Thành lên ngôi hoàng đế triều Lê tại điện Tường Quang, đặt niên hiệu là Quang Thuận, tức Lê Thánh Tông. Năm 1886 – Nhà hóa học người Pháp Henri Moissan phân tách thành công Flo bằng phương pháp điện phân, trở thành người đầu tiên phân tách được nguyên tố này. Năm 1887 – Chính phủ Pháptriều Thanh ký kết Công ước Constans nhằm xác định đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Đại Thanh. Năm 1945 – Tại hội nghịSan Francisco, đại biểu từ 50 quốc giaHiến chương thành lập Liên Hiệp Quốc (hình hiệu kỳ).

Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Liên Hiệp Quốc
Cờ Huy hiệu
Vị trí của
Các thành viên của Liên Hiệp Quốc
Ngôn ngữ hành chính
Các quốc gia thành viên 193 thành viên
Người đứng đầu
 • Tổng thư ký Ban Ki-moon
 • Phó Tổng thư ký Jan Eliasson
 • Chủ tịch hội đồng Vuk Jeremić
 • Chủ tịch HĐBA Harold Caballeros
Thành lập
 • Thành lập 26/06/1945
 • Những hiệp ước và điều lệ được thi hành 24/10/1945
Trang web
Trang chính thức của Liên Hiệp Quốc
Liên Hiệp Quốc là một tổ chức nhằm duy trì an ninh và hoà bình cho các quốc gia độc lập trên thế giới

Liên Hiệp Quốc hay Liên Hợp Quốc (thường được viết tắt là LHQ) là một tổ chức quốc tế có mục đích duy trì hòa bình và an ninh trên thế giới, phát triển các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Hiện nay, Liên Hiệp Quốc có 193 thành viên, bao gồm hầu hết các quốc gia có chủ quyền trên Trái Đất. Liên Hiệp Quốc sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nhatiếng Trung.
Từ trụ sở trong lãnh phận quốc tế tại thành phố New York, Liên Hiệp Quốc và các cơ quan chuyên môn của nó quyết định các vấn đề về điều hành và luật lệ. Theo hiến chương LHQ thì tổ chức này gồm 6 cơ quan chính, chủ yếu gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo An, Hội đồng kinh tế và xã hội, Ban thư kí, Tòa án Quốc tế vì Công lý, Hội đồng Ủy trị Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra, một số tổ chức tiến hành quản lý các cơ quan của Hệ thống Liên Hiệp Quốc, ví dụ như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF).
Nhân vật đại diện tiêu biểu nhất của Liên Hiệp Quốc là Tổng thư kí, đương nhiệm là Ban Ki-moon, người Hàn Quốc.
Kinh phí hoạt động của Liên Hiệp Quốc được hình thành bằng tài trợ đóng góp tự nguyện và nguồn niên liễm có kiểm soát từ các nước thành viên

Các tổ chức trong Liên Hợp Quốc

Ngân hàng Thế giới (World Bank Group – WBG)
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF)
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization – WIPO)

Lịch sử hình thành

Trụ sở Liên Hiệp Quốc được đặt trong lãnh phận quốc tế tại Manhattan, Thành phố New York, Hoa Kỳ.
Tiền thân của Liên Hiệp Quốc là Hội Quốc Liên (League of Nations), vốn là một sáng kiến của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Hoa Kỳ tuy sáng lập nhưng lại không chính thức làm hội viên, hơn thế quy chế hoạt động của hội lại lỏng lẻo, các cường quốc như Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Pháp, Nga, Đức, Ý, Nhật Bản tham gia vốn chỉ để tranh giành ảnh hưởng cho mình. Dù hội đạt được một số thành tựu đáng kể trong công cuộc giải phóng phụ nữ cũng như những hoạt động nhân đạo nhưng chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và buộc Hội quốc liên phải giải tán.
Sau Thế chiến thứ hai, các nước Khối Đồng Minhnhân dân thế giới có nguyện vọng giữ gìn hòa bình và ngăn chặn các cuộc chiến tranh thế giới mới. Tại Hội nghị Yalta, nguyên thủ ba nước Liên Xô, Mỹ, Anh đã thống nhất thành lập tổ chức quốc tế để giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới. Trên cơ sở Hội nghị Durbarton OaksWashington, D.C., từ 25 tháng 4 đến 26 tháng 6 năm 1945, đại diện của 50 quốc gia đã họp tại San Francisco, California, Hoa Kỳ để thông qua Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Ngày 24 tháng 10 năm 1945, Liên Hiệp Quốc chính thức được thành lập. Tuy vậy, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc (General Assembly) đầu tiên, tham dự bởi 51 nước, không được tổ chức cho mãi đến ngày 10 tháng 1 năm 1946 (tại Nhà họp chính WestminsterLuân Đôn).
“Một sự nghiệp vĩ đại để tạ ơn Đức Chúa toàn năng…” Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đã nói như vậy về thành tựu của hội nghị tại San Francisco, một hội nghị đã góp phần vào việc soạn thảo bản Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945. Câu nói của tổng thống Truman đã đại diện cho hàng triệu người, những người tin rằng tổ chức mới này sẽ làm cho những cuộc chiến tranh thế giới lùi sâu vào dĩ vãng. Lời tựa của bản Hiến chương đã nêu rõ mục đích của tổ chức này: “Chúng tôi, những dân tộc của Liên Hợp Quốc, quyết tâm cứu những thế hệ mai sau khỏi thảm họa chiến tranh…”.

Thành viên

Tới năm 2011 có 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, gồm tất cả các quốc gia độc lập được thế giới công nhận. Trong số những nước không phải thành viên, đáng chú ý nhất là Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), ghế của họ tại Liên Hiệp Quốc đã được chuyển giao cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1971; Tòa Thánh (thực thể quản lý Thành Vatican), vốn đã từ bỏ quy chế thành viên nhưng vẫn là một quốc gia quan sát viên; Nhà nước Palestine (là một quan sát viên cùng với Chính quyền Quốc gia Palestine). Hơn nữa, những dân tộc dưới chủ quyền nước ngoài và các quốc gia không được công nhận cũng không hiện diện tại Liên Hiệp Quốc, như Transnistria. Thành viên mới nhất của Liên Hiệp QuốcNam Sudan, chính thức gia nhập ngày 14 tháng 7 năm 2011.
Liên Hiệp Quốc đã vạch ra các nguyên tắc cơ bản cho tư cách thành viên:

  1. Tư cách thành viên của Liên Hiệp Quốc mở rộng cho tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình và chịu chấp nhận các nguyên tắc được đặt ra trong Hiến chương hiện thời và trong các phán quyết của Tổ chức, có thể và sẵn sàng thực thi những nguyên tắc đó.
  2. Sự thu nhận một quốc gia như thế vào Liên Hiệp Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi quyết định của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc với sự giới thiệu của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
    —Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Chương 2, Phần 4, http://www.un.org/aboutun/charter/

Trụ sở

Trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Thành phố New York

Toà nhà trụ sở Liên Hiệp Quốc hiện nay được xây dựng trên một khu đất rộng 16 acre tại Thành phố New York trong giai đoạn từ năm 1949 tới 1950, bên cạnh Khu phía Đông của thành phố. Khu đất này được John D. Rockefeller, Jr. mua với giá 8.5 triệu dollar, con trai ông Nelson là nhà thương thuyết chủ yếu với chuyên viên thiết kế William Zeckendorf, vào tháng 12 năm 1946. Sau đó John D. Rockefeller, Jr. tặng khu đất này cho Liên Hiệp Quốc.
Trụ sở được một đội các kiến trúc sư quốc tế gồm cả Le Corbusier (Thuỵ Sĩ), Oscar Niemeyer (Brasil) và đại diện từ nhiều nước khác thiết kế. Wallace K. Harrison, một cố vấn của Nelson Rockefeller, lãnh đạo đội. Đã xảy ra một vụ rắc rối giữa những người tham gia về thẩm quyền của từng người. Trụ sở Liên Hiệp Quốc chính thức mở cửa ngày 9 tháng 1 năm 1951. Trụ sở chính của Liên Hiệp Quốc nằm tại New York, trụ sở một số cơ quan khác của tổ chức này nằm tại Geneva, La Hay, Wien, Montréal, Copenhagen, Bonn và nhiều nơi khác.
Địa chỉ trụ sở Liên Hiệp Quốc là 760 United Nations Plaza, New York, NY 10017, USA. Vì những lý do an ninh, tất cả thư từ gửi tới địa chỉ trên đều được tiệt trùng.[1]
Các tòa nhà Liên Hiệp Quốc đều không được coi là các khu vực tài phán chính trị riêng biệt,[cần dẫn nguồn] nhưng thực sự có một số quyền chủ quyền. Ví dụ, theo những thỏa thuận với các nước chủ nhà Cơ quan quản lý thư tín Liên Hiệp Quốc được phép in tem thư để gửi thư tín trong nước đó. Từ năm 1951 văn phòng tại New York, từ năm 1969 văn phòng tại Geneva, và từ năm 1979 văn phòng tại Wien đã in ấn tem riêng của mình. Các tổ chức của Liên Hiệp Quốc cũng sử dụng tiền tố viễn thông riêng, 4U, và về mặt không chính thức, các trụ sở tại New York, Geneva và Wien được coi là các thực thể riêng biệt đối với các mục đích radio không chuyên.
Bởi trụ sở chính của Liên Hiệp Quốc đã trải qua một quá trình sử dụng khá dài, Liên Hiệp Quốc hiện đang trong quá trình xây dựng một trụ sở tạm do Fumihiko Maki thiết kế trên Đại lộ thứ nhất giữa Phố 41 và Phố 42 để dùng tạm khi công trình hiện nay đang được tu sửa.[2]
Trước năm 1949, Liên Hiệp Quốc sử dụng nhiều địa điểm tại Luân Đôntiểu bang New York.[3]

Tài chính

Top 15 đóng góp vào ngân sách Liên Hiệp Quốc, 2013[4]
Quốc gia thành viên Đóng góp
(% ngân sách LHQ)
 United States 22,000%
 Japan 10,833%
 Germany 7,141%
 France 5,593%
 United Kingdom 5,179%
 China 5,148%
 Italy 4,448%
 Canada 2,984%
 Spain 2,973%
 Brazil 2,934%
 Russia 2,438%
 Australia 2,074%
 South Korea 1,994%
 México 1,842%
 Netherlands 1,654%
Quốc gia thành viên khác 20,765%

Liên Hiệp Quốc hoạt động nhờ tiền đóng góp và tiền quyên tự nguyện từ các quốc gia thành viên. Những ngân sách chính thức hai năm của Liên hiệp quốc và các tổ chức chuyên biệt của họ lấy từ những khoản đóng góp. Đại hội đồng thông qua ngân sách chính thức và quyết định khoản đóng góp của mỗi quốc gia thành viên. Điều này dựa chủ yếu trên năng lực chi trả của mỗi nước, tính theo những số liệu thống kê thu nhập cùng với những yếu tố khác.
Đại hội đồng đã đưa ra nguyên tắc rằng Liên hiệp quốc sẽ không quá phụ thuộc vào bất kỳ một quốc gia thành viên nào trong lĩnh vực tài chính cần thiết cho những hoạt động của mình. Vì thế, có một mức “trần”, quy định khoản tiền tối đa một nước có thể đóng góp cho ngân sách. Tháng 12 năm 2000, Đại hội đồng đã sửa đổi tỷ lệ đóng góp để phản ánh chính xác hơn cục diện thế giới hiện tại. Như một phần của sự sửa đổi này, trần đóng góp được giảm từ 25% xuống 22%. Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất đóng góp ở mức trần, nhưng những khoản tiền họ còn thiếu lên tới hàng trăm triệu dollar (xem Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc). Theo mức đóng góp mới được thông qua năm 2000, các nước đóng góp lớn khác vào ngân sách Liên Hiệp Quốc năm 2001 là Nhật Bản (19.63%), Đức (9.82%), Pháp (6.50%), Anh (5.57%), Ý (5.09%), Canada (2.57%), Tây Ban Nha (2.53%) và Brasil (2.39%).[5]
Các chương trình đặc biệt của Liên Hiệp Quốc không được tính vào ngân sách chính thức của tổ chức này (ví dụ như UNICEFChương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc – UNDP), chúng hoạt động nhờ những khoản quyên góp tự nguyện từ các chính phủ thành viên. Một số các khoản đóng góp dưới hình thức các loại thực phẩm nông nghiệp viện trợ cho những người bị ảnh hưởng, nhưng chủ yếu vẫn là tiền mặt.

Ngôn ngữ

Liên Hiệp Quốc sử dụng sáu ngôn ngữ chính thức: tiếng Ả Rập, tiếng Hoa, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ngatiếng Tây Ban Nha.[6] Ban thư ký sử dụng hai ngôn ngữ làm việc: (tiếng Anhtiếng Pháp).
Khi Liên Hiệp Quốc được thành lập, năm ngôn ngữ chính thức được lựa chọn là: tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Nga. Tiếng Ả Rập được đưa vào thêm năm 1973. Hiện có những tranh cãi trái chiều về việc liệu có nên giảm bớt số lượng ngôn ngữ chính thức (ví dụ chỉ giữ lại tiếng Anh) hay nên tăng thêm con số này.[cần dẫn nguồn] Áp lực đòi đưa thêm tiếng Hindi thành ngôn ngữ chính thức đang ngày càng gia tăng.[cần dẫn nguồn] Năm 2001, các nước nói tiếng Tây Ban Nha phàn nàn rằng tiếng Tây Ban Nha không có tư cách ngang bằng so với tiếng Anh.[7] Những nỗ lực chống lại sự tụt giảm vị thế của tiếng Pháp trong tổ chức này cũng rất to lớn;[8] vì thế tất cả các Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đều phải biết dùng tiếng Pháp và rõ ràng việc Tổng thư ký mới Ban Ki-Moon gặp khó khăn để có thể nói trôi chảy ngôn ngữ này trong buổi họp báo đầu tiên của ông [9] bị một số người coi là một sự mất điểm [10].
Tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc đối với các tài liệu bằng tiếng Anh (Hướng dẫn xuất bản Liên Hiệp Quốc) tuân theo quy tắc của tiếng Anh. Liên Hiệp Quốc và tất cả các tổ chức khác là một phần của hệ thống Liên Hiệp Quốc sử dụng phương pháp đánh vần Oxford. Tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc về tiếng Hoa (Quan thoại) đã thay đổi khi Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) phải nhường ghế cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1971. Từ năm 1945 đến 1971 kiểu chữ phồn thể được sử dụng, và từ năm 1971 kiểu chữ giản thể đã thay thế.
Trong số các ngôn ngữ chính thức của Liên Hiệp Quốc, tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của 52 quốc gia thành viên, tiếng Pháp của 29 thành viên, tiếng Ả Rập là 24, tiếng Tây Ban Nha là 20, tiếng Nga tại 4 và tiếng Trung Quốc tại 2 nước. Tiếng Bồ Đào Nhatiếng Đức là những ngôn ngữ được sử dụng ở khá nhiều nước thành viên Liên Hiệp Quốc (8 và 6) nhưng lại không phải là ngôn ngữ chính thức của tổ chức này.

Các mục đích và hoạt động

Các mục đích của Liên Hiệp Quốc

Những mục đích được nêu ra của Liên Hiệp Quốc là ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ nhân quyền, cung cấp một cơ cấu cho luật pháp quốc tế, và để tăng cường tiến bộ kinh tế, xã hội, cải thiện các điều kiện sống và chống lại bệnh tật.[11] Liên Hiệp Quốc tạo cơ hội cho các quốc gia nhằm đạt tới sự cân bằng trong sự phụ thuộc lẫn nhau trên bình diện thế giới và giải quyết các vấn đề quốc tế. Nhằm mục đích đó, Liên Hiệp Quốc đã phê chuẩn một Tuyên ngôn Chung về Nhân Quyền năm 1948.[12]

Các hội nghị quốc tế

Các quốc gia Liên Hiệp Quốc và các cơ quan đặc biệt của nó — “những stakeholder” của hệ thống — đưa ra hướng dẫn và quyết định về những vấn đề lớn và vấn đề hành chính trong những cuộc gặp thông lệ được tổ chức suốt năm. Các cơ cấu quản lý được hình thành từ các quốc gia thành viên, không chỉ gồm Đại hội đồng, Hội đồng Kinh tế Xã hội và Hội đồng Bảo an, mà còn cả các cơ cấu tương đương chịu trách nhiệm quản lý tất cả các cơ quan khác của Hệ thống Liên Hiệp Quốc. Ví dụ Đại hội đồng Y tế và Ban Chấp hành quản lý công việc của Tổ chức Y tế Thế giới.
Khi một vấn đề được coi là có tầm quan trọng đặc biệt, Đại hội đồng có thể triệu tập một phiên họp đặc biệt để tập trung sự chú ý toàn cầu và xây dựng một phương hướng hành động chung. Những ví dụ gần đây gồm:

Trụ sở Liên Hiệp Quốc ở Châu Âu tại Geneva, Thuỵ Sĩ

Những năm quốc tế và những vấn đề liên quan

Liên Hiệp Quốc tuyên bố và điều phối “Năm quốc tế…” nhằm tập trung sự chú ý của thế giới vào các vấn đề quan trọng. Sử dụng hình tượng Liên Hiệp Quốc, một logo được thiết kế đặc biệt cho năm đó, và cơ sở hạ tầng của Hệ thống Liên Hiệp Quốc nhằm phối hợp các sự kiện trên khắp thế giới, nhiều năm đã trở thành điểm xúc tác cho những vấn đề quan trọng trên phạm vi thế giới.

Mục tiêu kiểm soát và giải giáp vũ khí

Hiến chương năm 1945 của Liên Hiệp Quốc dự định đưa ra một hệ thống quy định sẽ đảm bảo “sự chi tiêu nhỏ nhất các nguồn tài nguyên con người và kinh tế thế giới cho vũ khí”. Phát minh ra các loại vũ khí hạt nhân xảy ra chỉ vài tuần sau khi Hiến chương được ký kết và ngay lập tức thúc đẩy ý tưởng hạn chế và giải giáp vũ khí. Trên thực tế, nghị quyết đầu tiên của phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng (ngày 24 tháng 1 năm 1946) có tiêu đề “Sự thành lập một Ủy ban giải quyết các Vấn đề Phát sinh do sự Phát minh ra Năng lượng Nguyên tử” và kêu gọi đưa ra những đề xuất khoa học cho “sự hạn chế trang bị các loại vũ khí nguyên tử và tất cả các loại vũ khí chính khác với mục đích hủy diệt hàng loạt”.
Liên Hiệp Quốc đã lập ra nhiều diễn đàn nhằm giải quyết các vấn đề giải giáp vũ khí đa biên. Các diễn đàn chính là Ủy ban Thứ nhất của Đại hội đồng và Cao ủy về Giải giáp vũ khí Liên Hiệp Quốc. Những vấn đề được đưa vào chương trình nghị sự gồm việc ước tính những giá trị có được sau những hiệp ước cấm thử hạt nhân, kiểm soát vũ khí không gian, những nỗ lực nhằm ngăn chặn các loại vũ khí hóa học, giải giáp vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, những khu vực không vũ khí hạt nhân, giảm bớt ngân sách quân sự, và các biện pháp nhằm tăng cường an ninh quốc tế.
Hội nghị Giải giáp là một diễn đàn được cộng đồng thế giới lập ra để đảm phán về các thỏa thuận kiểm soát vũ khí đa bên và giải giáp vũ khí. Diễn đàn có 66 thành viên đại diện cho mọi khu vực trên thế giới, gồm cả năm quốc gia hạt nhân chính (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Pháp, Nga, Anh Quốc và Hoa Kỳ). Tuy hội nghị không phải là một tổ chức chính thức của Liên Hiệp Quốc, nó kết nối với tổ chức này thông qua sự hiện diện cá nhân của Tổng thư ký; người đồng thời cũng là tổng thư ký của hội nghị. Những nghị quyết được Đại hội đồng thông qua thường yêu cầu hội nghị xem xét các vấn đề giải giáp riêng biệt. Đổi lại, hàng năm hội nghị thông báo các hoạt động của mình cho Đại hội đồng.

Giữ gìn hòa bình

Lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc được gửi tới nhiều vùng nơi các cuộc xung đột quân sự mới chấm dứt, nhằm buộc các bên tôn trọng các thỏa thuận hòa bình và ngăn chặn tình trạng thù địch tái diễn, ví dụ tại Đông Timor cho tới khi nước này giành độc lập năm 2001. Các lực lượng đó do các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc đóng góp, và việc tham dự vào các chiến dịch gìn giữ hòa bình là không bắt buộc; tới nay chỉ có hai quốc gia là CanadaBồ Đào Nha, đã tham gia vào tất cả các chiến dịch gìn giữ hòa bình.[cần dẫn nguồn] Liên Hiệp Quốc không duy trì bất kỳ một lực lượng quân sự độc lập nào. Tất cả các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc phải được Hội đồng bảo an thông qua.
Những người sáng lập Liên Hiệp Quốc đã thực sự hy vọng rằng tổ chức này sẽ hoạt động để ngăn chặn những cuộc xung đột giữa các quốc gia và các cuộc chiến tranh trong tương lai. Những hy vọng đó không hoàn toàn trở thành hiện thực. Trong thời Chiến tranh Lạnh (từ khoảng năm 1945 tới năm 1991), sự phân chia thế giới thành những phe thù địch khiến thỏa thuận gìn giữ hòa bình rất khó được thông qua. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, lại tái xuất hiện những lời kêu gọi biến Liên Hiệp Quốc trở thành một cơ quan đảm bảo hòa bình quốc tế, bởi hàng chục những cuộc xung đột quân sự vẫn tiếp tục diễn ra trên khắp thế giới. Nhưng sự tan vỡ của Liên bang Xô viết cũng khiến Hoa Kỳ có được vị thế thống trị toàn cầu duy nhất, tạo ra nhiều thách thức mới cho Liên Hiệp Quốc.
Các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc sử dụng nguồn tài chính từ các khoản đóng góp, tính theo công thức đóng góp tỷ lệ thông thường, nhưng gồm cả những chi phí cộng thêm đối với năm thành viên thường trực của Hội đồng bảo an, những nước có quyền thông qua việc tiến hành những chiến dịch gìn giữ hòa bình đó. Khoản thu thêm này sẽ bù đắp cho những khoản phí gìn giữ hòa bình của các quốc gia kém phát triển. Tháng 12 năm 2000, Liên Hiệp Quốc đã sửa đổi tỷ lệ đóng góp vào ngân sách hoạt động và ngân sách gìn giữ hòa bình. Tỷ lệ đóng góp cho việc gìn giữ hòa bình sẽ được thay đổi sáu tháng một lần và dự kiến là gần 27% cho năm 2003. Hoa Kỳ dự định đóng góp chi phí gìn giữ hòa bình ở mức thấp này và đang tìm kiếm sự ủng hộ pháp lý từ phía Nghị viện nhằm cho phép giải ngân các khoản góp họ còn nợ Liên Hiệp Quốc.
Các lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc (được gọi là Quân mũ nồi xanh) đã nhân được Giải Nobel năm 1998 cho công lao giữ gìn Hòa bình của họ. Năm 2001, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đã đoạt giải Nobel Hòa bình “vì nỗ lực cho một thế giới hòa bình và được tổ chức tốt hơn.”
Liên Hiệp Quốc có nhiều loại Huy chương Liên Hiệp Quốc để trao cho những thành viên quân sự tham gia vào việc gìn giữ các thỏa thuận hòa bình của tổ chức này. Huy chương đầu tiên ra đời là Huy chương Phục vụ Liên Hiệp Quốc, được trao cho các lực lượng Liên Hiệp Quốc tham gia vào cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Huy chương NATO cũng ra đời với mục tiêu như trên và cả hai loại này đều được coi là huy chương quốc tế chứ không phải huy chương quân sự.[cần dẫn nguồn]

Nhân quyền

Việc theo đuổi mục tiêu nhân quyền là một lý do chính của việc thành lập Liên Hiệp Quốc. Sự tàn bạo của Thế chiến thứ hai và nạn diệt chủng dẫn tới một kết luận chung rằng tổ chức mới này phải hoạt động để ngăn chặn bất kỳ một thảm kịch nào như vậy trong tương lai. Một mục tiêu ban đầu là tạo ra một khung pháp lý để xem xét và hành động trước những vấn đề về vi phạm nhân quyền.
Hiến chương Liên Hiệp Quốc bắt buộc tất cả các quốc gia thành viên phải khuyến khích “sự tôn trọng toàn diện, và sự tuân thủ, nhân quyền” và tiến hành “các hành động chung hay riêng rẽ” cho mục tiêu đó. Tuyên bố Chung về Nhân quyền, dù không chính thức ràng buộc, đã được Đại hội đồng thông qua năm 1948 như là một tiêu chuẩn chung để hướng tới đối với mọi nước thành viên. Đại hội đồng thường đề cập tới các vấn đề nhân quyền.
Ngày 15 tháng 3 năm 2006 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu với kết quả áp đảo để thay thế Uỷ ban nhân quyền (Human rights Commission) bằng Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc(Human Rights Council).[13] Mục tiêu của nó là giải quyết các vụ vi phạm nhân quyền. Uỷ ban nhân quyền đã nhiều lần bị chỉ trích vì thành phần thành viên của nó.[cần dẫn nguồn] Đặc biệt, chính nhiều nước thành viên của cơ quan này cũng có thành tích nhân quyền kém cỏi, gồm cả những nước có đại diện được bầu làm chủ tịch ủy ban.[cần dẫn nguồn]
Hiện có bảy Cơ cấu hiệp ước nhân quyền liên quan tới Liên Hiệp Quốc, gồm Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp QuốcỦy ban về Sự hạn chế và Ngăn chặn bạo hành chống Phụ nữ. Ban thư ký của sáu (trừ Ủy ban Hạn chế và ngăn chặn bạo hành chống phụ nữ) đều do văn phòng Cao Ủy nhân quyền Liên Hiệp Quốc điều hành.
Liên Hiệp Quốc và các cơ quan của mình là nhân tố chủ chốt thúc đẩy và áp dụng các nguyên tắc thiêng liêng trong Tuyên bố Chung về Nhân quyền. Một trường hợp như thế là việc Liên Hiệp Quốc hỗ trợ các nước đang trong quá trình chuyển tiếp sang chế độ dân chủ. Hỗ trợ kỹ thuật trong việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng, cải thiện các cơ cấu pháp lý, khởi thảo hiến pháp, huấn luyện các nhân viên nhân quyền, và chuyển các phong trào vũ trang thành các đảng chính trị đã đóng góp rất lớn vào quá trình dân chủ hóa trên khắp thế giới. Liên Hiệp Quốc đã giúp tổ chức các cuộc bầu cử tại những quốc gia vốn có thành tích dân chủ yếu kém, gồm cả hai quốc gia gần đây là AfghanistanĐông Timor.
Liên Hiệp Quốc cũng là một diễn đàn hỗ trợ quyền phụ nữ tham gia đầy đủ vào đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước họ. Liên Hiệp Quốc góp phần vào việc hướng sự chú ý của dư luận vào khái niệm nhân quyền thông qua các hiệp ước của nó và sự chú ý của tổ chức này vào những vụ lạm dụng đặc biệt thông qua các nghị quyết của Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an hay thông qua những quyết định của ICJ.
Đầu năm 2006, một nhóm hội thảo chống tra tấn tại Liên Hiệp Quốc đã đề xuất việc đóng cửa Nhà tù Vịnh Guantanamo và chỉ trích cái gọi là sự sử dụng những nhà tù bí mật và sự nghi ngờ việc vận chuyển tù nhân tới nước ngoài cho mục đích hỏi cung của Hoa Kỳ.[cần dẫn nguồn] Một số thành viên Đảng Dân chủ Hoa Kỳ và các nhóm nhân quyền cho rằng hệ thống nhà tù bí mật của CIA không cho phép giám sát được các vụ vi phạm nhân quyền và hy vọng chúng sẽ sớm bị đóng cửa.

Hỗ trợ nhân đạo và Phát triển quốc tế

Phối hợp với các tổ chức khác như Chữ thập đỏ, Liên Hiệp Quốc cung cấp thực phẩm, nước uống, nơi cư ngụ và các dịch vụ nhân đạo khác cho những người dân đang phải chịu nạn đói, phải rời bỏ nhà cửa vì chiến tranh, hay bị ảnh hưởng bởi các thảm họa khác. Các cơ quan nhân đạo chính của Liên Hiệp Quốc là Chương trình Lương thực Thế giới (đã giúp cung cấp thực phẩm cho hơn 100 triệu người mỗi năm ở hơn 80 quốc gia), Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn hiện điều hành các dự án ở hơn 116 nước, cũng như các chiến dịch gìn giữ hòa bình tại hơn 24 quốc gia. Nhiều lần, các nhân viên cứu trợ của Liên Hiệp Quốc đã trở thành mục tiêu của các vụ tấn công (xem Các vụ tấn công vào nhân viên cứu trợ nhân đạo).
Liên Hiệp Quốc cũng tham gia vào việc hỗ trợ phát triển, ví dụ thông qua việc đưa ra Các mục tiêu Thiên niên kỷ. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) là tổ chức đa bên lớn nhất tiến hành hỗ trợ kỹ thuật trên thế giới. Các tổ chức khác như WHO, UNAIDS, và Quỹ thế giới Phòng chống AIDS, Lao và Sốt rét — là các định chế hàng đầu trong cuộc chiến chống lại bệnh tật trên thế giới, đặc biệt tại các nước nghèo. Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc là nhà cung cấp chính các dịch vụ sinh sản. Quỹ này đã giúp giảm tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em tại 100 quốc gia.
Hàng năm Liên Hiệp Quốc đưa ra Chỉ số Phát triển Con người (HDI), một biện pháp so sánh xếp hạng quốc gia theo sự nghèo khổ, học vấn, giáo dục, tuổi thọ, và các yếu tố khác.
Liên Hiệp Quốc khuyến khích phát triển con người thông qua nhiều cơ quan và văn phòng của mình:

Ngày 9 tháng 3 năm 2006, Tổng thư ký Kofi Annan đã lập ra Quỹ Cứu trợ Khẩn cấp Trung ương (CERF) dành cho những người dân Châu Phi đang bị nạn đói đe doạ.[14]
Liên Hiệp Quốc cũng có một cơ quan gọi là Hội đồng Lương thực Thế giới với mục đích phối hợp các bộ nông nghiệp các nước nhằm giảm nhẹ nạn đói và suy dinh dưỡng. Tổ chức này tạm ngừng hoạt động năm 1993.

Các hiệp ước và luật pháp quốc tế

Liên Hiệp Quốc đàm phán các hiệp ước như Thỏa ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển nhằm tránh những nguy cơ xung đột quốc tế tiềm tàng. Những tranh cãi về việc sử dụng các đại dương có thể được phân xử tại một tòa án đặc biệt.
Tòa án Pháp lý Quốc tế (ICJ) là tòa án chính của Liên Hiệp Quốc. Mục tiêu của tòa án này là để phán xử những tranh cãi giữa các quốc gia thành viên. ICJ bắt đầu hoạt động năm 1946 và vẫn đang xem xét nhiều vụ việc. Các trường hợp đáng chú ý gồm:

  • Năm 1998 Đại hội đồng kêu gọi triệu tập một hội nghị tại Roma về việc thành lập một Tòa án Tội phạm Quốc tế (ICC), tại đây “Quy chế Roma” đã được thông qua. Tòa án Tội phạm quốc tế bắt đầu hoạt động năm 2002 và tiến hành phiên xử đầu tiên năm 2006.[16] Đây là tòa án quốc tế thường trực đầu tiên chịu trách nhiệm xét xử những người bị cho là phạm các tội ác nghiêm trọng theo luật pháp quốc tế gồm cả tội ác chiến tranh và diệt chủng. Tuy nhiên, hoạt động của ICC độc lập với Liên Hiệp Quốc cả về nhân sự và tài chính, dù một số cuộc gặp gỡ của cơ quan điều hành ICC, Đại hội đồng các Quốc gia tham gia Quy chế Roma, được tổ chức tại Liên Hiệp Quốc. Có một “thỏa thuận quan hệ” giữa ICC và Liên Hiệp Quốc để quy định mối quan hệ giữa hai định chế này với nhau.[17][18]

Cũng có một SCIU (Đơn vị Điều tra những Tội ác Nghiêm trọng) cho Đông Timor.

Những gương mặt nổi tiếng của Liên Hiệp Quốc

Nhiều cá nhân theo chủ nghĩa nhân đạo và người nổi tiếng đã cùng hoạt động với Liên Hiệp Quốc, gồm Amitabh Bachchan, Audrey Hepburn, Eleanor Roosevelt, Danny Kaye, Roger Moore, Peter Ustinov, Bono, Jeffrey Sachs, Angelina Jolie, Mẹ Teresa, Shakira, Jay ZNicole Kidman.

Cải cách

Những năm gần đây đã có nhiều lời kêu gọi cải cách Liên Hiệp Quốc. Nhưng vẫn chưa có nhiều triển vọng sáng sủa, chỉ riêng việc các nước chịu đồng thuận với nhau, về cách cải tổ như thế nào. Một số nước muốn Liên Hiệp Quốc đóng một vai trò lớn và hiệu quả hơn trong các công việc chung của thế giới, những nước khác muốn giảm xuống chỉ còn vai trò nhân đạo. Cũng có nhiều lời kêu gọi cải cách quy chế thành viên trong Hội đồng Bảo an nhằm phản ánh chính xác hơn tình thế địa chính trị quốc tế ngày nay (ví dụ tăng số thành viên Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á).[cần dẫn nguồn] Năm 2004 và 2005, những chứng cớ như quản lý kém và tham nhũng liên quan tới Chương trình đổi dầu lấy lương thực cho Iraq dưới thời Saddam Hussein khiến một lần nữa những lời kêu gọi cải cách lại dấy lên.[cần dẫn nguồn]
Một chương trình cải cách chính thức đã được Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đưa ra một thời gian ngắn sau khi ông nhậm chức trong nhiệm kỳ đầu tiên ngày 1 tháng 1 năm 1997. Những hành động cải cách liên quan tới việc thay đổi số lượng thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (hiện chỉ phản ánh quan hệ quyền lực năm 1945); biến quá trình hoạt động của bộ máy trở nên công khai hơn, nhấn mạnh trên hiệu quả; biến Liên Hiệp Quốc trở nên dân chủ hơn; và áp đặt một biểu thuế quốc tế trên các công ty sản xuất vũ khí toàn cầu.[cần dẫn nguồn]
Tháng 9 năm 2005, Liên Hiệp Quốc đã triệu tập một Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới với sự tham gia của hầu hết nguyên thủ quốc gia các nước thành viên, trong một khóa họp toàn thể của phiên họp toàn thể Đại hội đồng lần thứ 60. Liên Hiệp Quốc gọi cuộc họp thượng đỉnh là “một cơ hội hàng thế hệ mới có một lần nhằm đưa ra những quyết định quan trọng về phát triển, an ninh, nhân quyền và cải cáh liên hiệp quốc”.[19] Tổng thư ký Kofi Annan đã đề xuất hội nghị đồng ý về một “thỏa thuận cả gói” để cải cách Liên Hiệp Quốc sửa chữa lại các hệ thống quốc tế vì hòa bình và an ninh, nhân quyền và phát triển, để khiến chúng có khả năng giải quyết những thách thức rất lớn mà Liên Hiệp Quốc sẽ phải đối mặt trong thế kỷ 21. Các nhà lãnh đạo thế giới đã đồng thuận trên một văn bản về những vấn đề đáng chú ý đó như:

  • thành lập một Hội đồng xây dựng hòa bình để tạo lập một cơ cấu trung tâm nhằm giúp đỡ các quốc gia đang đứng trước nguy cơ xung đột;
  • thỏa thuận rằng cộng đồng quốc tế có quyền can thiệp khi các chính phủ quốc gia không thể hoàn thành trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ các công dân của mình khỏi những hành động tội ác;
  • một Ủy ban Nhân quyền (thành lập ngày 9 tháng 5 và sẽ bắt đầu hoạt động 19 tháng 6);[20]
  • một thỏa thuận cung cấp thêm những nguồn tài nguyên cho Văn phòng các Dịch vụ Giám sát Nội bộ Liên Hiệp Quốc;
  • nhiều thỏa thuận chi thêm hàng tỷ dollar nhằm đạt các Mục tiêu Thiên niên kỷ;
  • một sự lên án rõ ràng và không tham vọng với chủ nghĩa khủng bố “ở mọi hình thức và mọi kiểu”;
  • một quỹ dân chủ;
  • một thỏa thuận nhằm chấm dứt hoạt động của Hội đồng Ủy trị vì hội đồng này đã hoàn thành sứ mệnh của mình.[21]

Dù các nước thành viên Liên Hiệp Quốc chưa đạt được nhiều thành quả trên con đường cải cách sự quan liêu của tổ chức này, Annan vẫn tiếp tục tiến hành những cải cách trong phạm vi quyền hạn của mình. Ông đã lập ra các văn phòng đạo đức, chịu trách nhiệm trừng phạt những hành vi gian lận tài chính mới bị phanh phui và đề xuất những chính sách ngăn ngừa mới. Tới cuối tháng 12 năm 2005, ban thư ký đã hoàn thành việc xem xét lại toàn bộ ủy nhiệm của Đại hội đồng từ hơn năm năm trước. Việc điều tra này là cơ sở căn bản để các quốc gia thành viên quyết định tăng hay giảm các chương trình hoạt động theo hiệu quả của chúng.[cần dẫn nguồn]

Những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là tám mục tiêu mà toàn bộ 192 nước thành viên Liên Hiệp Quốc đã đồng ý sẽ hoàn thành vào năm 2015. Borgen Project ước tính rằng cần chi khoảng 40-60 tỷ dollar mỗi năm để đạt tám mục tiêu trên.
Tuyên bố thiên niên kỷ Liên Hiệp Quốc, được ký kết tháng 9 năm 2001, hứa hẹn:

  1. Loại trừ nghèo đói;
  2. Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học;
  3. Khuyến khích bình đẳng giới và tăng quyền cho phụ nữ;
  4. Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em;
  5. Cải thiện sức khỏe bà mẹ;
  6. Chiến đấu chống HIV/AIDS, sốt rét, và các bệnh tật khác;
  7. Đảm bảo môi trường bền vững;
  8. Khuyến khích một mối quan hệ đối tác phát triển quốc tế.

Những thành công và thất bại trong các vấn đề an ninh

Một phần lớn trong chi tiêu của Liên Hiệp Quốc là để giải quyết các vấn đề cốt lõi về hòa bình và an ninh của Liên Hiệp Quốc. Ngân sách gìn giữ hòa bình năm tài chính 2005-2006 gần 5 tỷ dollar (so với mức gần 1.5 tỷ dollar ngân sách chính của Liên Hiệp Quốc trong cùng giai đoạn)[cần dẫn nguồn], với khoảng 70.000 quân được triển khai cho 17 chiến dịch khắp thế giới. Báo cáo An ninh Con người 2005 [22], do Trung tâm An ninh Con người thuộc Đại học British Columbia đưa ra với sự hộ trợ từ nhiều chính phủ và quỹ khác cho thấy một sự sụt giảm lớn, nhưng phần lớn không được công nhận, trong số lượng các cuộc chiến, những vụ diệt chủng và những vụ vi phạm nhân quyền từ cuối giai đoạn Chiến tranh Lạnh. Những con số thống kê gồm:

  • Giảm 40% những cuộc xung đột bạo lực.
  • Giảm 80% những cuộc xung đột gây đổ máu nhiều nhất.
  • Giảm 80% những cuộc diệt chủng và thanh lọc chính trị.

Báo cáo, do Oxford University Press[cần dẫn nguồn], cho rằng sự tuyên truyền cho một học thuyết quốc tế – chủ yếu do Liên Hiệp Quốc đề xướng – là nguyên nhân chính mang lại sự sụt giảm những cuộc xung đột quân sự, dù bản báo cáo cho thấy bằng chứng về sự tranh cãi này đa phần chỉ mang tính hoàn cảnh.
Bản báo cáo chỉ ra nhiều khoản đầu tư riêng biệt đã chi:[23]

  • Tăng sáu lần số lượng các chiến dịch của Liên Hiệp Quốc được tiến hành để ngăn chặn chiến tranh trong giai đoạn 1990 tới 2002.
  • Tăng bốn lần cho các nỗ lực nhằm chấm dứt những cuộc xung đột đang diễn ra, từ năm 1990 tới 2002.
  • Tăng bảy lần số lượng ‘Bạn bè của Tổng thư ký’, ‘Các nhóm tiếp xúc’ và các cơ cấu do chính phủ đề xuất nhằm hỗ trợ các chiến dịch kiến tạo hòa bình và xây dựng hòa bình trong giai đoạn từ 1990 đến 2003.
  • Tăng mười một lần số lượng các lệnh trừng phạt kinh tế chống lại các chế độ cầm quyền trên khắp thế giới từ 1989 tới 2001.
  • Tăng bốn lần số lượng các chiến dịch gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, từ 1987 đến 1999.

Tính trung bình, những nỗ lực trên vừa nhiều vừa quá lớn lại phức tạp hơn những chiến dịch thời Chiến tranh Lạnh.
Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình, các thắng lợi gồm:

  • Văn phòng Giải trình Chính phủ Hoa Kỳ đã kết luận rằng việc gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc có chi phí ít hơn tám lần so với khoản chi cho lực lượng Hoa Kỳ.[24]
  • Một nghiên cứu năm 2005 của RAND Corp cho thấy Liên Hiệp Quốc thành công ở hai trong số ba chiến dịch gìn giữ hòa bình của mình. Nghiên cứu này cũng so sánh những nỗ lực xây dựng nhà nước của Liên Hiệp Quốc với cũng nỗ lực của Hoa Kỳ, và thấy rằng trong tám trường hợp của Liên Hiệp Quốc, bảy trường hợp diễn ra trong hòa bình, trong khi trong tám trường hợp của Hoa Kỳ, bốn diễn ra trong hòa bình, và bốn không hề hay chưa hề có hòa bình.[25]

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc bất đắc dĩ phải thực hiện các nghị quyết của Hội đồng Bảo an. Iraq được cho là đã vi phạm 17 nghị quyết của Hội đồng bảo an từ ngày 28 tháng 6 năm 1991 cũng như đã tìm cách né tránh những lệnh trừng phạt kinh tế của Liên Hiệp Quốc. Trong gần một thập kỷ, Israel bất chấp các nghị quyết kêu gọi tháo dỡ các khu định cư của họ tại Bờ TâyDải Gaza. Những thất bại đó xuất phát từ tình trạng phụ thuộc đa chính phủ của Liên Hiệp Quốc – ở nhiều khía cạnh đây là một tổ chức gồm 192 quốc gia thành viên và luôn cần phải có sự nhất trí, chứ không phải là một tổ chức độc lập. Thậm chí khi các hành động được 15 nước thành viên Hội đồng bảo an thông qua, Ban thư ký hiếm khi cung cấp đủ các nguồn tài nguyên cần thiết để thực hiện các sứ mệnh đó.
Những thất bại khác trong vấn đề an ninh gồm:

  • Thất bại trong việc ngăn chặn vụ Diệt chủng tại Rwanda năm 1994, dẫn tới cái chết của gần một triệu người, vì các thành viên của hội đồng bảo an từ chối thông qua bất kỳ một hành động quân sự nào.[26]
  • Thất bại của MONUC (Nghị quyết 1292 của UNSC) trong việc can thiệp một cách có hiệu quả vào cuộc Chiến tranh Congo lần thứ hai, liên quan tới gần năm triệu người tại Cộng hòa Dân chủ Congo, 1998-2002 (với những trận đánh vẫn đang tiếp diễn), và trong việc tiến hành cung cấp viện trợ nhân đạo.
  • Thất bại trong việc can thiệp vào Cuộc thảm sát Srebrenica năm 1995, dù sự thực là Liên hiệp quốc đã coi Srebrenica là một “thiên đường an toàn” cho những người tị nạn và phái 600 lính gìn giữ hòa bình Hà Lan tới bảo vệ nó.
  • Thất bại trong việc cung cấp thực phẩm tới những người dân đói khát tại Somalia; thực phẩm thường bị các lãnh chúa địa phương chiếm đoạt. Một nỗ lực của Hoa Kỳ/Liên Hiệp Quốc trong việc bắt giữ các vị lãnh chúa đó đã dẫn tới Trận Mogadishu năm 1993.
  • Thất bại trong việc thực hiện 1559Nghị quyết 1701 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải giáp các nhóm bán quân sự Liban như FatahHezbollah.
  • Lạm dụng tình dục của binh lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Binh lính gìn giữ hòa bình từ nhiều quốc gia đã bị thải hồi khỏi các chiến dịch gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc vì hành động lạm dụng và bóc lột tình dục các cô gái, thậm chí mới chỉ 8 tuổi, trong một số chiến dịch gìn giữ hòa bình khác nhau. Sự lạm dụng tình dục này vẫn diễn ra dù đã có nhiều sự phát hiện và bằng chứng từ Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Dịch vụ Giám sát Nội bộ.[27][28] Một cuộc điều tra nội bộ năm 2005 của Liên Hiệp Quốc cho thấy sự khai thác và lạm dụng tình dục đã được báo cáo tại ít nhất năm quốc gia nơi các binh lính gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc được triển khai, gồm Cộng hòa Dân chủ Congo, Haiti, Burundi, Côte d’IvoireLiberia.[29] BBC đã tiến hành một cuộc điều tra tương tự, và cũng chỉ ra một số thành viên Chương trình Lương thực Thế giới cũng có những hành vi lạm dụng.[30]

Chỉ trích và mâu thuẫn

Hội đồng bảo an

Xem bài chính tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc

Liên Hiệp Quốc đã bị chỉ trích vì không thể hoạt động một cách rõ ràng và kiên quyết khi đối đầu trước một vụ khủng hoảng. Những ví dụ gần đây gồm chương trình hạt nhân của Iran và sự diệt chủng trong cuộc xung đột Darfur, Sudan. Vì mỗi nước trong số năm thành viên thường trực của Hội đồng bảo an đều có quyền phủ quyết, và bởi vì họ thường bất đồng với nhau, đã rất nhiều lần không có bất kỳ một hành động nào được thông qua. Thông thường, nhưng không phải là luôn luôn, sự chia rẽ này xuất hiện giữa Hoa Kỳ ở một phía và Trung Quốc, Nga hay cả hai ở phía kia. Một số lần Hội đồng bảo an đồng thuận với nhau nhưng lại thiếu sự quyết tâm hay phương tiện để thực thi các nghị quyết của họ. Một ví dụ gần đây là Cuộc khủng hoảng Israel-Liban 2006, không hành động nào được thực hiện theo Nghị quyết 1559Nghị quyết 1701 để giải giáp các lực lượng du kích phi chính phủ như Hezbollah. Những lời chỉ trích đặt nghi vấn về hiệu năng và sự thích hợp của Hội đồng bảo an bởi vì khi vi phạm vào một nghị quyết do Hội đồng này đưa ra, thường cũng không xảy ra hậu quả nào cả. (Xem Cải cách Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.)

Giám sát nhân quyền

Các quốc gia như SudanLibya, với những nhà lãnh đạo rõ ràng có bảng thành tích nhân quyền kém cỏi vẫn(theo quan điểm của Mỹ và một số nước được là thành viên của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (HRC) cũ,[31][32] và việc Libya được bầu làm chủ tịch của Ủy ban này, đã từng là một vấn đề bàn cãi. Những nước đó cho rằng, các quốc gia phương tây, mà họ cho là có thái độ thù địch thực dân và tàn bạo, không có quyền đặt vấn đề về tư cách thành viên của họ trong Ủy ban này.
Tuy nhiên vào ngày 15 tháng 3 năm 2006 Đại hội đồng đã thông qua nghị quyết thành lập một cơ chế mới – Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc – để thay thế Ủy ban trên. Cơ quan này có các quy định chặt chẽ hơn về quy chế thành viên gìn giữ hòa bình gồm cả một bản thành tích chung về nhân quyền và tăng số lượng phiếu cần bầu cần thiết để một quốc gia có đủ tư cách tham gia, từ hình mẫu bầu theo danh sách vùng với Hội đồng kinh tế xã hội 53 thành viên chuyển sang tất cả một nửa trong số 192 thành viên của Đại hội đồng.
Ngày 9 tháng 5 năm 2006 47 thành viên mới được bầu vào hội đồng. Trong khi một số nước như Cuba, Pakistan, Nga, Ả Rập SaudiAzerbaijan được bầu[33][34][35], thì một số nước khác không có mặt trong Hội đồng mới như:

Vì những thay đổi trong cơ chế thành viên giữa Ủy ban và Hội đồng, số lượng quốc gia bị Hội đồng Tự do coi là “Không tự do” chiếm hơn một nửa.

Thiếu hiệu năng do tính quan liêu

Liên Hiệp Quốc đã bị cáo buộc thiếu tính hiệu năng và lãng phí vì cơ cấu cồng kềnh và quan liêu quá mức của nó. Trong thập niên 1990, Hoa Kỳ, nước hiện đóng góp nhiều nhất cho ngân sách tổ chức này, đã coi sự thiếu hiệu quả là một nguyên nhân khiến họ trì hoãn các khoản đóng góp. Việc chi trả những khoản thiếu này chỉ được thực hiện với điều kiện về sáng kiến cho một cuộc cải cách lớn. Năm 1994 Văn phòng Dịch vụ Giám sát Nội bộ (OIOS) được thành lập theo quyết định của Đại hội đồng nhằm đóng vai trò giám sát tính hiệu năng của tổ chức.[36] Một chương trình cải cách đã được đề xuất, nhưng vẫn chưa được Đại hội đồng thông qua.[37][38]

Sự phân biệt đối xử chống Israel

Liên Hiệp Quốc cũng đã bị cáo buộc thực hiện tiếp cận một chiều đối với các vấn đề Trung Đông và cuộc xung đột Israel-Palestine.[39][40][41] Những lời cáo buộc cho rằng Israel đã bị phân biệt đối xử trong tổ chức quốc tế này với cách đối xử chỉ trích một chiều độc nhất từ trước tới nay. Không giống như tất cả các nhóm người tị nạn khác, người Palestine có cơ quan riêng của họ bên trong Liên Hiệp Quốc (Cơ quan Cứu trợ và Việc làm Liên Hiệp Quốc cho người tị nạn Palestine) tách biệt với Văn phòng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn, vốn chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề người tị nạn trên thế giới.[42]
Cho tới tận năm 2000, Israel không có tư cách thành viên bên trong bất kỳ một nhóm cấp vùng nào của Liên Hiệp Quốc. Trên thực tế, điều này có nghĩa là Israel bị cấm hoạt động trong các cơ quan Liên Hiệp Quốc như Hội đồng Bảo an. Việc cho phép Israel tham gia đầy đủ hơn bên trong Liên Hiệp Quốc với tư cách là một quốc gia thành viên Tây Âu và các nhóm cấp vùng khác gần đây chỉ mang tính tạm thời và bắt buộc phải được gia hạn định kỳ. Israel chỉ được phép tham gia vào các hoạt động tại Thành phố New York của Liên Hiệp Quốc và bị loại trừ khỏi các văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Geneva, Nairobi, RomaWien là những văn phòng quản lý các vấn đề như nhân quyền và kiểm soát vũ khí. Việc chỉ trích Israel đã trở thành một công việc thường ngày đối với nhiều cơ quan Liên Hiệp Quốc như Hội đồng Nhân quyền.

Bất lực trước vấn đề diệt chủng và nhân quyền

Liên Hiệp Quốc cũng bị cáo buộc đã cố tình làm ngơ trước hoàn cảnh khó khăn của nhiều người trên khắp thế giới, đặc biệt tại nhiều vùng ở Châu Á, Trung ĐôngChâu Phi. Những ví dụ hiện tại gồm việc Liên Hiệp Quốc không hành động gì trước chính phủ Sudan tại Darfur,[43] việc thanh lọc sắc tộc của chính phủ Trung Quốc tại Tây TạngIsrael tại các vùng lãnh thổ Palestine.

Bê bối trong chương trình đổi dầu lấy lương thực

Chương trình đổi dầu lấy lương thực được Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 1995. Mục tiêu của nó là cho phép Iraq bán dầu ra thị trường thế giới để đổi lấy lương thực, thuốc men, và các đồ nhu yếu phẩm khác cho người dân Iraq bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận kinh tế quốc tế, mà không cho phép Chính phủ Iraq tái xây dựng lại lực lượng quân đội của mình sau cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất. Chương trình đã bị ngắt quãng vào cuối năm 2003 trước những lời cáo buộc ngày càng lan rộng về sự lạm dụng và tham những. Cựu giám đốc, Benon Sevan người Síp, là người đầu tiên bị đình chỉ chức vụ và sau đó phải từ chức khỏi Liên Hiệp Quốc, khi một bản báo cáo tạm thời của ban điều tra do Liên Hiệp Quốc hỗ trợ dưới sự lãnh đạo của Paul Volcker kết luận rằng Sevan đã nhận đút lót từ phía chính quyền Iraq và đề xuất việc bãi bỏ quyền bất khả xâm phạm thuộc Liên Hiệp Quốc của ông ta nhằm mở đường cho một cuộc điều tra tội phạm.[44]
Dưới sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc, số lượng dầu mỏ trị giá hơn 65 tỷ đôla của Iraq đã được bán ra thị trường thế giới. Về mặt chính thức, khoảng 46 tỷ đã được chi cho các mục đích nhân đạo. Số còn lại được dành trả cho những khoản bồi thường cho cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh thông qua một Quỹ Chi trả, số tiền quản lý và hoạt động của Liên Hiệp Quốc cho chương trình này chiếm 2,2%, và chương trình thanh sát vũ khí chiếm 0,8%.
Con trai của Kofi Annan là Kojo Annan cũng dính líu tới vụ này, với lời buộc tội đã kiếm được một cách b