Chào ngày mới 14 tháng 5

CNM365 Chào ngày mới 14 tháng 5 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Thống nhất Dân tộc tại LiberiaNăm 1643 – Quốc vương Henri IV của Pháp bị ám sát tại Paris bởi một phần tử tôn giáo cực đoan, con là Louis XIV kế vị. Năm 1804Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark khởi hành từ Trại Dubois gần Hartford, Illinois ngày nay. Năm 1868 Chiến tranh Boshin: Trận thành Utsunomiya kết thúc khi dư đảng của Mạc phủ Tokugawa triệt thoái về phía bắc. Năm 1948Israel tuyên bố là một nhà nước độc lập (hình: kế hoạch phân chia Palestine của Liên Hợp Quốc), các quốc gia Ả Rập lân cận liền tấn công Israel, khởi đầu chiến tranh Ả Rập-Israel. Năm 1955Chiến tranh Lạnh: Tám quốc gia cộng sản ký một hiệp ước phòng thủ chung là Hiệp ước Warszawa .

Israel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nhà nước Israel
מדינת ישראל (tiếng Hebrew)
Medīnat Yisrā (tiếng Hebrew)
دولة إسرائيل (tiếng Ả Rập)
Dawlat Isrā’īl (tiếng Ả Rập)
Flag of Israel.svg Emblem of Israel.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Israel
Khẩu hiệu
không có
Quốc ca
Hatikvah (The Hope; הַתִּקְוָה)

Trình đơn
0:00
Hành chính
Chính phủ Dân chủ nghị viện
 • Tổng thống
• Thủ tướng
Shimon Peres
Benjamin Netanyahu
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Hebrew, Ả Rập [2]
Thủ đô Jerusalem[1]
32°4′B, 34°46′Đ
Thành phố lớn nhất Jerusalem
Địa lý
Diện tích 22.072 km² (hạng 150)
Diện tích nước ≈2% %
Múi giờ IST (UTC+2); mùa hè: IDT (UTC+3)
Lịch sử
Độc lập
Ngày thành lập Từ Hội Quốc Liên (Anh)
14 tháng 5, 1948
(05 Iyar 5708)
Dân cư
Dân số ước lượng (2010) 7,653,600 người (hạng 95)
Dân số (2013) 8,134,100[2] người
Mật độ 365.3 người/km² (hạng 30)
Kinh tế
GDP (PPP) (2009) Tổng số: 206,430 tỉ Mỹ kim[3]
HDI (2003) 0,915 cao (hạng 23)
Đơn vị tiền tệ Sheqel Israel mới (ILS)
Thông tin khác
Tên miền Internet .il
Quốc giáo: Đạo Do Thái

Israel (phiên âm: Ixraen; cũng được gọi là Nhà nước Do Thái) là một quốc gia theo chế độ cộng hòa ở vùng Trung Đông bên cạnh Địa Trung Hải. Tên “Israel” có nghĩa là “đã được Thiên Chúa sửa”, nhưng do phiên âm sai nên đã thành ra “đã đấu với Thiên Chúa“, và tên đó bắt nguồn từ đoạn Sáng thế ký 32:28 của Kinh Thánh, trong đó Jacob được đổi tên là Israel sau khi đấu với một người tấn công thần bí vô danh. Tên Israel trong tiếng Do Thái (không có niqqud:מדינת ישראל; chuyển tự: Medinat Yisra’el), và trong tiếng Ả Rập là دَوْلَةْ إِسْرَائِيل (chuyển tự: Dawlat Israil).

Tên nước

Cái tên “Israel” bắt nguồn từ trong Kinh thánh Hebrew, Jacob, tổ phụ của dân tộc Do Thái, đã được đổi tên thành Israel sau khi chiến đấu với Đức Chúa Trời[4]. Đất nước theo kinh thánh này của Jacob sau đó được gọi là “những đứa con của Israel” hay “Israelites”. Các công dân của nước Israel hiện đại ngày nay, theo tiếng Anh, được gọi là “Israelis”.
Sau khi vua Solomon (973 – 937 TCN) (còn nhiều tranh cãi về niên đại chính xác) mất, Vương quốc Israel Thống nhất bị chia đôi thành: Vương quốc Israel (Samaria) ở miền bắc và Vương quốc Judah ở miền nam. Danh từ Judah được phiên âm sang tiếng Hán thành “Do Thái”. Nước Israel ở phía bắc có thủ đô là Samaria, tồn tại đến năm 721 TCN thì bị Đế quốc Assyria (nay ở miền bắc Iraq) tiêu diệt. Nước Judah ở phía nam có thủ đô là Jerusalem, tồn tại đến năm 587 TCN thì bị Đế quốc Tân Babylon (nay ở miền nam Iraq) tiêu diệt.

Lịch sử

Bài chi tiết: Lịch sử Israel

Các nguồn gốc lịch sử

Pháo đài Masada biểu tượng bất khuất của người Do Thái

Dân tộc Do Thái bắt đầu định cư ở vùng đất Israel ngày nay từ khoảng 1800 năm TCN, sau đó di cư sang Ai Cập trong 1 thời gian. Đến khoảng 1255 TCN, nhà tiên tri Moses dẫn dắt dân tộc Do Thái trở về đất nước Israel. Trong thời gian sau đó, người Israel liên tục phải chiến đấu chống lại quân du mục Philistine khi bộ tộc này bị đuổi khỏi quê hương của họ là đảo Crete.
Cái tên Israel có lẽ lúc ban đầu được nhắc tới để chỉ một nhóm dân tộc chứ không phải một địa điểm, nhóm dân đó là người Merneptah Stele Ai Cập từ khoảng năm 1210 TCN[5]. Trong hơn 3.000 năm, người Do Thái đã coi Vùng đất Israel là quê hương của họ, nó vừa là Đất thánh và là miền Đất hứa. Vùng đất Israel là vùng đất thiêng liêng đối với người Do Thái, gồm chứa những vị trí quan trọng nhất của Do Thái giáo – gồm cả những phần còn sót lại của Đền thứ nhấtĐền thứ hai, cũng như những nghi thức liên quan tới các đền đó[6]. Bắt đầu từ khoảng năm 1200, một loạt vương quốc và quốc gia Do Thái đã tồn tại liên tục trong vùng trong hơn một thiên niên kỷ. Vào năm 1028 TCN, Saoul, một quý tộc quân sự được các bộ tộc Hebrew tôn làm vua. Triều vua David (1012 – 972 TCN).
Dưới thời cai trị của Babylonia, Ba Tư Achaemenes, Hy Lạp, La Mã, Đông La Mã và (một thời gian ngắn) Ba Tư Sassanid, sự hiện diện của người Do Thái trong vùng bị thu hẹp vì các đế chế này đã trục xuất người Do Thái hàng loạt. Đặc biệt, thất bại của cuộc khởi nghĩa Bar Kochba chống lại Đế quốc La Mã đã dẫn tới sự trục xuất hàng loạt người Do Thái ở quy mô lớn. Chính trong giai đoạn này, người La Mã đã đặt tên Syria Palaestina cho mảnh đất này để cố gắng xoá bỏ các mối liên hệ của người Do Thái với nó. MishnahJerusalem Talmud, hai bản kinh tôn giáo quý giá nhất của Do Thái giáo, đã được viết ra ở vùng này và cũng trong giai đoạn này. Những người Hồi giáo chinh phục vùng đất từ tay Đế chế Byzantine năm 638. Vùng này nằm dưới sự cai trị của nhiều quốc gia Hồi giáo (chỉ bị ngắt quãng ở thời Thập tự chinh) trước khi trở thành đất thuộc Đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ năm 1517.

Chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zion) và Aliyah

Bản mẫu:Israelis

Bài chi tiết: Chủ nghĩa phục quốcAliyah

Theodor Herzl người sáng lập phong trào phục quốc Do Thái

Làn sóng di cư cận đại đầu tiên của người Do Thái tới Israel, hay Aliyah (עלייה) bắt đầu năm 1881 khi họ trốn chạy khỏi sự ngược đãi, hay đi theo những tư tưởng xã hội Zion của Moses Hess và những người khác về “sự cứu rỗi của đất đai”. Những người Do Thái mua đất đai từ Ottoman và những chủ đất người Ả Rập khác. Sau khi người Do Thái đã lập nên những khu định cư nông nghiệp, căng thẳng nảy sinh giữa người Do Thái và người Ả Rập.
Theodor Herzl (1860–1904), một người Do Thái đến từ Áo, đã lập ra Phong trào Zion. Năm 1896, ông xuất bản cuốn Der Judenstaat (Quốc gia Do Thái), trong đó kêu gọi thành lập một nhà nước Do Thái. Năm sau đó, ông góp phần triệu tập Hội nghị Zion quốc tế đầu tiên.
Sự thành lập chủ nghĩa phục quốc Do Thái dẫn tới Aliyah thứ hai (1904–1914) với số người Do Thái lên tới khoảng 40.000. Năm 1917, Bộ trưởng ngoại giao Anh Arthur J. Balfour đưa ra Tuyên bố Balfour “ủng hộ việc thành lập tại vùng đất Do Thái cũ đã bị người Palestine chiếm một nhà nước quê hương cho những người dân Do Thái”. Năm 1920, vùng này được giao cho Hội Quốc Liên và được quản lý bởi Anh.
Làn sóng di cư của người Do Thái lại tiếp tục lần thứ ba (1919–1923) và lần thứ tư (1924–1929) sau Thế chiến thứ nhất. Những cuộc bạo động ở Palestine năm 1929 của người Ả Rập đã giết chết 133 người Do Thái, gồm 67 người ở Hebron.
Sự trỗi dậy của Chủ nghĩa Phát xít năm 1933 dẫn tới làn sóng Aliyah thứ năm. Người Do Thái trong vùng tăng từ 11% của dân số năm 1922 lên tới 30% năm 1940. Việc tàn sát người Do Thái có tính chất diệt chủng ở châu Âu của Adolf Hitler khiến người dân Do Thái ở mọi miền châu Âu trốn chạy tạo nên làn sóng tỵ nạn mới. Tới cuối Thế chiến thứ hai, số lượng người Do Thái ở Palestine đã lên tới xấp xỉ 600.000.
Năm 1939, Anh đưa ra Sách trắng năm 1939, hạn chế sự tỵ nạn của người Do Thái trong thời gian diễn ra chiến tranh là 75.000 và hạn chế không cho người Do Thái mua nhiều đất, có lẽ nguyên nhân do có cuộc Khởi nghĩa Ả Rập vĩ đại (1936-1939). Cuốn sách trắng này bị cộng đồng Do Thái và những người theo chủ nghĩa phục quốc coi là phản bội, họ cho rằng nó trái ngược với Tuyên bố Balfour năm 1917. Người Ả Rập cũng không hoàn toàn hài lòng, họ muốn cuộc di cư của người Do Thái phải dừng lại vĩnh viễn. Tuy nhiên, chính sách của Anh vẫn bám chặt vào cuốn sách này cho tới tận cuối thời kỳ uỷ trị của họ.

Các nhóm Do Thái bí mật

Khi căng thẳng nổi lên giữa người Do Thái và người Ả Rập, và khi không có sự ủng hộ rõ ràng của chính quyền cai trị Anh, cộng đồng Do Thái nhận ra rằng họ phải tự lực để bảo vệ mình.
Sau những cuộc tấn công năm 1921 của người Ả Rập, Haganah được lập nên để bảo vệ những người định cư Do Thái. Haganah nói chung chỉ có tính chất phòng thủ, và đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều thành viên của nó ly khai và lập ra Irgun (ban đầu được gọi là Hagana Beth) năm 1931. Irgun trung thành với cách tiếp cận tích cực, gồm cả ám sátkhủng bố trong cách trả đũa những cuộc tấn công và bắt đầu những hành động vũ trang chống lại người Anh, trong khi Haganah thường tỏ ra ôn hoà hơn. Tính chất vũ trang của Irgun cũng được thể hiện trong nhiều kế hoạch tấn công khủng bố chống lại người Ả Rập, gồm cả dân thường. Một sự chia rẽ nữa lại diễn ra khi Avraham Stern rời Irgun để lập nên Lehi. Không giống như Irgun, Lehi từ chối bất kỳ một hợp tác nào với người Anh, thậm chí trong Thế chiến thứ hai, và những phương pháp hành động của nhóm này tỏ ra cực đoan hơn.
Những nhóm đó có một ảnh hưởng lớn đến những sự kiện ở khoảng thời gian trước Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, như Aliya Beth – cuộc di cư bí mật từ châu Âu, sự thành lập Lực lượng Phòng thủ Israel và sự rút lui của người Anh, cũng như việc thành lập những cơ chế nền tảng của các đảng chính trị vẫn còn tồn tại ở Israel ngày nay.

Thành lập quốc gia

kế hoạch phân chia Palestine của Liên Hợp Quốc

Năm 1947, khi xung đột vũ trang ngày càng gia tăng với các nhóm quân sự Do Thái và những nỗ lực hoà giải không thành công giữa người Do Thái và người Ả Rập, chính phủ Anh quyết định rút khỏi Lãnh thổ ủy trị Palestine của Hội Quốc Liên. Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua Kế hoạch phân chia năm 1947 của Liên hiệp quốc chia lãnh thổ đó làm hai quốc gia, với vùng Do Thái chiếm khoảng 55% diện tích và vùng Ả Rập khoảng 45%. Theo kế hoạch, Jerusalem sẽ trở thành một vùng do Liên hiệp quốc quản lý để tránh xung đột về trạng thái của nó.
Ngay sau khi kế hoạch phân chia của Đại hội đồng Liên hiệp quốc được thông qua ngày 29 tháng 10 năm 1947, David Ben-Gurion chưa dứt khoát chấp nhận nó, trong khi Liên đoàn Ả Rập từ chối nó. Nhiều cuộc tấn công của người Ả Rập vào dân cư Do Thái nhanh chóng biến thành xung đột khắp nơi giữa người Ả Rập và người Do Thái, các xung đột này là giai đoạn đầu tiên của Chiến tranh giành độc lập năm 1948.
Ngày 14 tháng 5 năm 1948, trước khi hết thời hạn uỷ trị của Anh tại Palestine vào lúc nửa đêm ngày 15 tháng 5 năm 1948, nhà nước Israel được tuyên bố thành lập.
Hoa Kỳ, Liên Xô và nhiều nước khác đã công nhận sự độc lập của Israel.

Chiến tranh giành độc lập và di dân

Sau khi nhà nước Israel được thành lập, quân đội Ai Cập, Syria, Jordan, LibanIraq tham gia chiến đấu và bắt đầu giai đoạn hai của Chiến tranh Ả rập-Israel 1948 bằng việc tấn công Israel từ mọi phía nhằm duy trì trật tự cũ. Từ phía bắc, Syria, Liban và Iraq tiến tới sát biên giới. Các lực lượng Jordan tiến vào từ phía đông, chiếm Đông Jerusalem và bao vây phần phía Tây thành phố. Tuy nhiên, các lực lượng Haganah, nhờ sự tài ba trong chiến thuật và điều hành đã ngăn chặn thành công đa số quân các nước Ả Rập, và các lực lượng của Irgun ngăn chặn thành công quân Ai Cập ở phía nam. Đầu tháng 6, Liên Hiệp Quốc tuyên bố một tháng ngừng bắn trong thời gian đó Lực lượng Phòng thủ Israel được chính thức lập ra. Sau nhiều tháng chiến tranh, người Israel đã đánh bại hoàn toàn Liên quân Ả Rập, một sự ngừng bắn được tuyên bố năm 1949 và các biên giới tạm thời, được gọi là Giới tuyến xanh, được lập ra. Israel đã có thêm được 26% lãnh thổ uỷ trị phía tây sông Jordan. Về phần mình, Jordan, chiếm các vùng núi rộng lớn của JudeaSamaria, sau này được gọi là Bờ Tây. Ai Cập giành quyền kiểm soát một dải đất nhỏ dọc theo bờ biển, sau này được gọi là Dải Gaza.
Trong và sau cuộc chiến, Thủ tướng lúc đó David Ben-Gurion bắt đầu lập ra luật lệ bằng cách giải tán tổ chức vũ trang Palmach và các tổ chức bí mật như IrgunLehi. Hai nhóm đó thậm chí còn bị xếp vào các tổ chức khủng bố sau khi giết hại một nhà ngoại giao Thuỵ Điển.
Một số lượng lớn người Ả Rập bị đẩy khỏi vùng đất Israel mới thành lập. (Những ước tính về con số người tị nạn cuối cùng trong khoảng 600.000-900.000 với con số chính thức của Liên hiệp quốc là 711.000[7]). Cuộc xung đột tiếp tục giữa Israel và thế giới Ả Rập gây ra sự chuyển dịch địa điểm sinh sống của dân cư và vẫn còn lại đến ngày nay.
Sự di cư của những nạn nhân còn sống sót sau sự diệt chủng và những người tị nạn Do Thái từ những vùng đất Ả Rập làm dân số Israel tăng lên gấp đôi chỉ sau một năm độc lập. Trong thập kỷ tiếp sau đó, gần 600.000 người Do Thái Mizrahi, những người đã phải bỏ chạy hay bị trục xuất khỏi các nước Ả Rập xung quanh và Iran đã nhập cư vào Israel.

Các chiến sĩ Israel trong cuộc chiến sáu ngày-1967

Thập kỷ 1950 và 1960

Từ 1954 đến 1955, Moshe Sharet làm thủ tướng, Giải pháp Lavon, một nỗ lực không thành công nhằm ném bom các mục tiêu ở Ai Cập, đã gây ra sự hổ thẹn chính trị cho Israel. Thêm vào đó, năm 1956, Ai Cập quốc hữu hoá kênh Suez, trước sự thất vọng của AnhPháp. Tiếp sau đó là một loạt các cuộc tấn công của Fedayeen, liên minh quân sự bí mật do Israel lập nên với sự hỗ trợ của hai đồng minh châu Âu đó và họ tuyên chiến với Ai Cập. Sau cuộc khủng hoảng kênh đào Suez, ba nước đồng minh phải đối mặt với sự chỉ trích quốc tế và Israel buộc phải rút các lực lượng của mình khỏi Bán đảo Sinai.
Năm 1955, Ben Gurion một lần nữa lại lên làm thủ tướng và giữ chức vụ này đến tận khi ông từ chức năm 1963. Sau sự kiện đó, Levi Eshkol được chỉ định làm thủ tướng.
Năm 1961, người tội phạm chiến tranh Phát xít Adolf Eichmann, chịu trách nhiệm chính về “Giải pháp Cuối cùng“, bị bắt và sau đó bị xét xử tại Israel. Eichmann là người duy nhất bị xử tử tại toà án Israel.
Trong lĩnh vực chính trị, căng thẳng lại nổi lên giữa Israel và các nước xung quanh vào tháng 5 năm 1967. Syria, Jordan và Ai Cập lại chuẩn bị chiến tranh, và Ai Cập trục xuất Các lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hiệp quốc ra khỏi Dải Gaza. Cuối cùng, Ai Cập đóng cửa eo Tiran đối với các tàu Israeli, mà Israel coi là một casus belli (sự khơi mào chiến tranh) và tấn công phủ đầu Ai Cập ngày 5 tháng 6. Sau Cuộc chiến sáu ngày giữa Israel và các nước Ả Rập, nhà nước Do Thái nhanh chóng giành được thắng lợi. Israel đã đánh bại toàn bộ quân đội của ba nước Ả Rập lớn và tiêu diệt hầu như toàn bộ không quân của họ. Về lãnh thổ, Israel chiếm được Bờ Tây, Dải Gaza, Bán đảo SinaiCao nguyên Golan. Giới tuyến xanh năm 1949 trở thành biên giới hành chính giữa Israel và Các vùng lãnh thổ chiếm đóng của họ, cũng được gọi là Các vùng lãnh thổ tranh chấp. Tuy nhiên, Israel đã mở rộng quyền cai trị hành chính của mình đến tận Đông Jerusalem và Cao nguyên Golan. Nhưng Israel trao trả lại Sinai cho Ai Cập.
Năm 1969, Golda Meir, nữ thủ tướng duy nhất của Israel cho tới nay, thắng cử chức vụ Thủ tướng Israel.

Thập kỷ 1970

Từ 1968 đến 1972 là giai đoạn được gọi là Chiến tranh tiêu hao, nhiều cuộc chiến nhỏ xảy ra dọc biên giới giữa Israel và Siria, Ai Cập. Hơn nữa, những năm đầu thập kỷ 1970, Các nhóm vũ trang Palestine lao vào một làn sóng tấn công mạnh mẽ nhất từ trước đó chống lại Israel và các mục tiêu của người Do Thái ở các nước khác. Đỉnh điểm của làn sóng này là vụ tấn công vào Thế vận hội Mùa hè 1972 tại München. Trong cuộc Thảm sát tại München, các phần tử vũ trang Palestine đã bắt làm con tin và giết hại các thành viên đoàn thể thao Israel. Israel trả đũa bằng chiến dịch sự giận giữ của Chúa trời, trong đó các nhân viên Mossad đã ám sát hầu hết những người có tham gia vào vụ thảm sát.
Cuối cùng, ngày 6 tháng 10 năm 1973, vào ngày nhịn ăn Yom Kippur của người Do Thái, quân đội của Ai Cập và Syria tung ra một cuộc tấn công bất ngờ vào Israel. Tuy nhiên, dù đã sắp đặt kế hoạch từ trước, Ai Cập và Syria sau những thành công ban đầu, quân đội Israel (IDF) phản kích mạnh và dần đưa Liên quân Ai Cập, Syria trở về vạch xuất phát, khiến họ không thể đạt được mục đích là chiếm lại các vùng lãnh thổ đã mất năm 1967. Tuy vậy, sau cuộc chiến này là một khoảng thời gian yên tĩnh kéo dài nhiều năm, góp phần làm không khí trong vùng bớt căng thẳng và Israel cùng Ai Cập đã có hoà bình với nhau.

Nữ thủ tướng Israel Golda Meir

Năm 1974, sau khi Meir từ chức, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng thứ năm của Israel. Sau đó, trong cuộc bầu cử Knesset (nghị viện của nhà nước Israel) năm 1977, Ma’arach đảng cầm quyền từ năm 1948, đã tạo ra một cơn bão chính trị khi rời khỏi chính phủ. Đảng Likud mới, do Menachem Begin lãnh đạo trở thành đảng cầm quyền.
Sau đó, vào tháng 10 năm ấy, Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat, đã thực hiện một cuộc viếng thăm lịch sử tới quốc gia Do Thái, phát biểu trước Knesset — lần đầu tiên Israel được công nhận từ phía các nước Ả Rập. Sau chuyến thăm đó, hai nước tiến hành các cuộc thương lượng dẫn tới việc ký kết Hiệp ước Trại David. Tháng 3 năm 1979, Begin và Sadat ký kết Hiệp ước hoà bình Israel-Ai CậpWashington, D.C.. Tuân thủ hiệp ước, Israel rút quân khỏi Bán đảo Sinai và phá huỷ các khu định cư đã lập nên ở đó từ thập kỷ 1970. Hai nước cũng đồng ý trao lại quyền tự trị cho người Palestine phía bên kia Giới tuyến xanh.

Thập kỷ 1980

Ngày 7 tháng 7 năm 1981, Lực lượng Không quân Israel ném bom lò phản ứng hạt nhân của Iraq tại Osiraq trong nỗ lực nhằm ngăn chặn ý định sản xuất bom nguyên tử của Iraq.
Một lần nữa, năm 1982 Israel tung ra một cuộc tấn công nhằm vào Liban, lúc ấy đang trong tình trạng nội chiến từ năm 1975. Lý do chính thức của cuộc tấn công là để bảo vệ những khu định cư ở phía cực bắc Israel khỏi những cuộc tấn công khủng bố, vốn thường xảy ra trước đó. Tuy nhiên, sau khi lập ra một vùng đệm 40 km, Lực lượng Phòng thủ Isreal tiếp tục tiến về phía bắc và thậm chí chiếm cả thủ đô Beirut. Các lực lượng Israel trục xuất các lực lượng của Tổ chức giải phóng Palestine ra khỏi Liban, buộc họ phải rời đến Tunis. Không thể giải quyết các căng thẳng phát sinh từ cuộc chiến đang diễn ra, Thủ tướng Begin từ chức năm 1983 và được thay thế bời Yitzhak Shamir. Dù Israel đã rút quân khỏi phần lớn Liban năm 1986, một vùng đệm vẫn được giữ lại cho đến tận tháng 5 năm 2002 khi Israel rút quân hoàn toàn khỏi Liban.
Những năm cuối thập kỷ 1980 là sự di chuyển quyền lực liên tục giữa cánh hữu do Yitzhak Shamir lãnh đạo cho cánh tả của Shimon Peres. Ví dụ, Peres là thủ tướng từ năm 1984, nhưng đã trao lại chức vụ cho Shamir năm 1986. Sau đó Phong trào Intifadah thứ nhất nổ ra năm 1987 kéo theo nhiều làn sóng bạo lực ở những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng. Sau khi cuộc bạo động bùng phát, Shamir một lần nữa lại được bầu làm thủ tướng năm 1988.

Thập kỷ 1990

Yitzhak RabinYasser Arafat bắt tay nhau sau khi ký kết Hiệp định Oslo, phía sau họ là Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton vào năm 1993.

Trong thời gian Chiến tranh vùng Vịnh, Israel bị Iraq dùng nhiều tên lửa tấn công, nhằm mục đích buộc Israel phải tuyên chiến. Tuy nhiên, Israel không trả đũa dù những vụ tấn công đó đã làm thiệt mạng hai người dân Israel.
Sau cuộc chiến, Hoa Kỳ tăng sức ép buộc các bên xung đột ở Trung Đông ngồi vào bàn đàm phán hoà bình. Hội nghị hoà bình Madrid khai mạc tháng 3 năm 1991. Các đảng cực hữu coi quá trình này là một sai lầm nghiêm trọng và lật đổ chính phủ của Shamir dẫn tới cuộc bầu cử năm 1992.
Những năm đầu của thập kỷ được đánh dấu bởi sự khỏi đầu của làn sóng nhập cư ồ ạt của những người Do Thái đến từ Xô viết. Theo đạo Luật về sự quay trở lại, những người này được trao quyền công dân Israel ngay khi đặt chân tới đất nước. Khoảng 380.000 người đã trở về chỉ riêng trong năm 1990-1991. Dù ban đầu ưa chuộng cánh hữu, những người mới nhập cư sau này đã trở thành mục tiêu để chinh phục của Đảng Lao Động thông qua một chiến dịch tranh cử. Đảng Lao Động công kích cách giải quyết vấn đề việc làm và nhà ở của người mới nhập cư của đảng cầm quyền Likud. Vì thế, trong cuộc bầu cử năm 1992, họ đã quay sang ủng hộ đảng Lao Động, dẫn tới chiến thắng đầy kịch tính 61:59 bên trong Knesset của đảng Lao Động.
Sau cuộc bầu cử, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng, lập nên chính phủ liên minh cánh tả. Trong thời gian tranh cử, đảng của ông đã hứa hẹn một sự cải thiện sâu rộng về vấn đề an ninh và tìm kiếm hoà bình với các nước Ả Rập “trong vòng 6 đến 9 tháng” sau cuộc bầu cử. Chính phủ đã thực hiện nhiều hành động mang tính chất “những bước xây dựng lòng tin”, nhưng không mang lại kết quả nào. Bởi vì sự an toàn của các công dân Israel ngày càng xấu đi, tỷ lệ ủng hộ Rabin giảm sút. Tới cuối năm 1993 chính phủ từ bỏ các sáng kiến sớm chết yểu của Madrid và ký một hiệp định đầy bất ngờ (Hiệp định Oslo) với Tổ chức giải phóng Palestine (PLO). Năm 1994 Jordan trở thành nước láng giềng thứ hai của Israel thoả thuận hoà bình với nước này.
Sự ủng hộ rộng rãi ban đầu của dân chúng đối với Hiệp định Oslo đã bắt đầu giảm sút khi Israel gặp phải một làn sóng tấn công khủng bố lớn nhất từ trước tới nay của các nhóm quân sự Hamas phản đối hiệp định. Sự ủng hộ của công chúng càng mất đi khi người Israel ngày càng tin tưởng rằng hiệp định được Yasser Arafat ký kết với ý đồ lừa gạt, bởi vì ông và các quan chức lãnh đạo PLO ca ngợi những hành động của Hamas và đưa ra những lời bình luận mang tính kích động, cũng như họ không thể kiềm chế nổi các nhóm quân sự.
Sự bất bình của dân chúng với chính sách đối ngoại của chính phủ cộng với nỗ lực bất thành của Rabin nhằm tiến hành một cuộc đối thoại với đối lập khiến cho sự thù địch với ông này sinh. Ngày 4 tháng 12 năm 1995, một người Do Thái cực đoan tên là Yigal Amir ám sát ông.
Sự mất tinh thần của dân chúng sau vụ ám sát đã tạo nên một phản ứng dữ dội chống lại những người không ủng hộ Hiệp định Oslo và tạo ra một cơ hội lớn chưa từng có cho Shimon Peres, người kế tục của Rabin và là kiến trúc sư của Hiệp định Oslo, để chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1996 sắp tới. Tuy nhiên, một làn sóng đánh bom tự sát mới cộng với những lời bình luận tán dương của Arafat dành cho người đạo diễn những vụ khủng bố là Yahya Ayyash, đã làm công chúng lại thay đổi ý kiến một lần nữa và vào tháng 5 năm 1996 Peres thất bại sít sao trước đối thủ thuộc đảng Likud là Benjamin Netanyahu.
Dù bị coi là người kiên quyết chống lại Hiệp định Oslo, Netanyahu đã rút quân khỏi Hebron và ký bản Giác thư sông Wye trao quyền kiểm soát rộng hơn cho Chính quyền quốc gia Palestine. Thời Netanyahu nắm quyền, Israel trải qua một giai đoạn yên tĩnh không xảy ra nhiều vụ khủng bố, nhưng những chính sách đầy mâu thuẫn của ông làm cho cả hai phe xa lánh và cuối cùng đã buộc ông phải rời chính phủ năm 1999.
Ehud Barak của đảng Lao Động, với hình ảnh đầy ấn tượng thời quân đội được những người cánh hữu ủng hộ, đánh bại Netanyahu với khoảng cách lớn trong cuộc bầu cử năm 1999 và lên làm thủ tướng.

Thập niên 2000

Sau đó Barak bắt đầu đơn phương rút quân khỏi Liban vào năm 2000. Thủ tướng Israel là Barak một lần nữa tiếp tục thương lượng với Tổng thống Bill Clinton vào tháng 7 năm 2000. Tuy nhiên những cuộc thương lượng không mang lại kết quả mà chỉ là sự tẩy chay từ phía Palestine đối với những đề xuất của Barak về một Nhà nước Palestine. Thất bại của các cuộc đàm phán khiến cả cánh tả, cánh hữu Israel rút lui sự ủng hộ của họ cho Barak vì có nghi ngờ đối với phong trào hoà bình.
Khi những cuộc đàm phán sụp đổ, các nhóm Palestine bắt đầu một cuộc nổi dậy thứ hai, được gọi là Al-Aqsa Intifadah, ngay sau khi lãnh đạo đối lập Ariel Sharon đến thăm Đền MountJerusalem. Sharon lên làm thủ tướng mới vào tháng 3 năm 2001 và sau đó tái cử cùng với đảng Likud trong cuộc bầu cử Knesset năm 2003. Dù trước đó là một người thuộc phe diều hâu, Sharon đã đưa ra sáng kiến về một kế hoạch đơn phương rút quân khỏi Dải Gaza. Dù gây nhiều tranh cãi, cuộc rút quân đã được tiến hành từ giữa tháng 8 và tháng 9 năm 2005.
Từ khi bắt đầu phong trào Al-Aqsa Intifadah, hơn 1.000 người Israel, đa số là dân thường, đã bị thiệt mạng trong các cuộc tấn công/khủng bố của người Palestine. Hơn 4.000 người Palestine bị giết, theo nguồn tin của Israel đa số họ là những kẻ khủng bố hoặc chiến binh, cho dù có một số lượng lớn dân thường, gồm cả trẻ em cũng thiệt mạng. Israel cũng xây dựng Bức tường Bờ Tây, với mục đích bảo vệ Israel khỏi tấn công và khủng bố. Bức tường này chạy quanh co và vượt ra ngoài Giới tuyến xanh, đã gặp phải nhiều sự chỉ trích từ phía cộng đồng quốc tế, dù nó tiếp tục được đa số dân Israel ủng hộ.

Địa lý

Bài chi tiết: Địa lý Israel

Bản đồ Israel

Bản đồ địa hình Israel

Bãi biển Tel Aviv lúc hoàng hôn

Tòa nhà Knesset, nghị viện của Israel

Israel có chung biên giới với Liban ở phía bắc, Syria, JordanBờ Tây ở phía đông, Ai CậpDải Gaza ở phía tây nam. Nó có đường bờ biển trông ra Địa Trung Hải ở phía tây và Vịnh Eilat (cũng được gọi là Vịnh Aqaba) ờ phía nam.
Trong cuộc Chiến tranh sáu ngày năm 1967, Israel chiếm Bờ Tây của Vương quốc Hashemite ở Jordan, Cao nguyên Golan của Syria, Dải Gaza (lúc ấy nằm dưới sự chiếm đóng của Ai Cập) và Sinai của Ai Cập. Israel rút toàn bộ quân đội và những người định cư khỏi Sinai năm 1982 và ra khỏi Dải Gaza vào ngày 12 tháng 12 năm 2005. Tương lai của tình trạng của Bờ Tây, Dải Gaza và Cao nguyên Golan vẫn còn chưa được xác định.
Tổng diện tích lãnh thổ Israel — không bao gồm những vùng đất Israel chiếm đóng năm 1967 — là 20.770 km² hay 8.019 mi² (dặm vuông); (1% nước). Tổng diện tích vùng nằm dưới quyền cai trị của luật pháp Israel — gồm Đông JerusalemCao nguyên Golan — là 22.145 km² hay 8.550 mi²; với chưa tới một phần trăm diện tích nước. Tổng diện tích vùng nằm dưới quyền kiểm soát của Israel — gồm cả kiểm soát quân sự và vùng đất thuộc quyền quản lý của người Palestine ở Bờ Tây — là 28.023 km² hay 10.820 mi² (~1% nước).

Các vùng thành thị

Năm 2004, Văn phòng trung ương thống kê Israel định nghĩa ba vùng thành thị là: Tel Aviv (dân số 2.933.300 người), Haifa (dân số 980.600 người) và Be’er Sheva (dân số 511.700 người)[8]. Jerusalem cũng có thể coi là một vùng thành thị, dù rất khó xác định các biên giới của nó bởi vì nó bao gồm những cộng đồng Israel và Bờ Tây, cả người Israel và Palestine, và thậm chí các biên giới của chính thành phố Jerusalem vẫn còn đang bị tranh cãi. Năm 2005, dân số thành phố Jerusalem là 706.368 người. Nazareth và các vùng phụ cận, với cộng đồng Hồi giáo Ả Rập chiếm đa số, thỉnh thoảng cũng được coi là phần phụ của vùng thành thị [3].

Chính trị và luật pháp

Bài chi tiết: Chính trị Israel

Israel là nước dân chủ cộng hoà với chế độ phổ thông đầu phiếu hoạt động dưới hệ thống nghị viện.

Lập pháp

Theo chế độ nhất viện (một cơ quan lập pháp, trái ngược với lưỡng viện), nghị viện của Israel được gọi là Knesset có 120 thành viên. Số thành viên bên trong Knesset được phân phối cho các đảng dựa theo tỷ lệ phiếu bầu của họ, thông qua một hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ. Bầu cử Knesset thường được tổ chức bốn năm một lần, nhưng Knesset có thể quyết định tự giải tán trước thời hạn khi được đa số thông qua, đây được gọi là bỏ phiếu bất tín nhiệm.

Hành pháp

Tổng thống Israel là người lãnh đạo quốc gia, phần lớn chỉ là lãnh đạo về mặt nghi thức. Tổng thống lựa chọn lãnh đạo của đảng chiếm đa số hay của liên minh cầm quyền trong Knesset làm Thủ tướng, tức là lãnh đạo chính phủ[9].

Thể chế và hệ thống pháp luật

Israel vẫn chưa hoàn thành một văn bản hiến pháp. Chính phủ Israel dựa trên các luật của Knesset, đặc biệt là “Các luật căn bản của Israel“, đó là các điều luật đặc biệt (hiện có 15 điều), do Knesset là cơ quan lập pháp đưa ra và sẽ trở thành hiến pháp chính thức trong tương lai. Giữa năm 2003, Uỷ ban Hiến pháp, Luật pháp và Hành pháp của Knesset bắt đầu soạn thảo một văn bản hiến pháp đầy đủ để đệ trình lên Knesset, tới đầu năm 2006 công việc này vẫn đang được tiến hành[10].

Tổng thống Israel Shimon Peres

Tuyên bố của Nhà nước Israel cũng có ảnh hưởng đáng kể đến hiến pháp. Hệ thống luật pháp Israel theo kiểu phương Tây nhưng có sự pha trộn của nhiều hệ thống: Anh-Mỹ, châu Âu và các nguyên tắc luật Do Thái.
Chiếu theo luật Anh-Mỹ, hệ thống luật pháp Israel dựa trên nguyên tắc stare decisis (tiền lệ). Nó là một hệ thống đối nghịch (adversarial), chứ không phải là kiểu hệ thống điều tra (inquisitorial), theo nghĩa rằng các bên (ví dụ, nguyên đơn và bị đơn) là những người đưa sự việc ra trước toà. Toà không hề tiến hành bất kỳ một điều tra độc lập nào về vụ việc này.
Chiếu theo các hệ thống luật châu Âu, hệ thống bồi thẩm đoàn không hề được chấp nhận ở Israel. Các vụ việc đưa ra trước toà được quyết định bởi những thẩm phán chuyên nghiệp. Những ảnh hưởng khác từ luật pháp Cựu lục địa cũng có thể thấy trong sự thực rằng nhiều đạo luật chính của Israel (như Luật Hợp đồng) được dựa trên các nguyên tắc của Luật Dân sự. Hệ thống luật pháp của Israel không bao gồm các bộ luật, mà là các điều luật riêng biệt. Tuy nhiên, phác thảo Luật Dân sự gần đây đã được hoàn thành, và nó sắp trở thành một dự luật.
Các toà án tôn giáo (Do Thái giáo, Sharia’a, Druze và Kitô giáo) có quyền lực thi hành rộng đối với việc huỷ bỏ hôn ước (li dị).

Tư pháp

Mặt trước của Tòa án tối cao Israel

Ngành tư pháp Israel gồm hệ thống toà án ba cấp. Cấp thấp nhất là Toà án địa phương, được thiết lập ở hầu như tất cả các thành phố. Trên nó là toà án vùng, vừa là toà thượng thẩm vừa là toà phúc thẩm (court of first instance), có tại năm thành phố: Jerusalem, Tel Aviv, Haifa, Be’er ShevaNazareth.
Ở trên cùng hệ thống tư pháp là Toà án tối cao Israel tại Jerusalem. Chánh án Toà án tối cao là Aharon Barak. Toà án tối cao vừa là toà án phúc thẩm cấp cao nhất vừa là một thể chế riêng biệt được gọi là Toà công lý cấp cao (HCOJ). HCOJ có trách nhiệm duy nhất là giải quyết những thỉnh nguyện đề đạt tới Toà của các cá nhân công dân. Bên bị của những thỉnh nguyện đó thường là các cơ quan chính phủ (gồm cả Lực lượng quốc phòng Israel). Phán quyết của các thỉnh nguyện, được kết luận bởi HCOJ, có thể dẫn tới việc cơ quan chính phủ buộc phải hành động theo cách đã được HCOJ đưa ra.
Một uỷ ban gồm các thành viên của Knesset, của Toà án pháp lý tối cao và của Luật sư đoàn Israel thực hiện bầu cử các thẩm phán. Luật toà án yêu cầu các thẩm phán phải nghỉ hưu ở tuổi 70. Chánh án Toà án tối cao, được Bộ trưởng Tư pháp phê chuẩn, chỉ định các viên chức (registrar) ở toà mọi cấp.

Đối ngoại

Israel hiện có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước trên thế giới. Ngoài ra, Israel cũng là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc (UN), Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), Tổ chức thương mại thế giới (WTO),… Ngoài việc tiếp tục duy trì quan hệ với các nước lớn như Mỹ và các nước phương Tây, Israel cũng đang thúc đẩy quan hệ với các nước khác ở châu Á, châu PhiMỹ Latin, trong đó có Việt Nam.

Quân đội

Quân đội Israel (IDF) là sự thống nhất của các Lực lượng Phòng thủ Israel (IDF), trong tiếng Hebrew viết tắt là Tzahal (צה”ל). Trong lịch sử, Israel không hề có binh chủng quân đội riêng biệt. Hải quân và Không quân đều thuộc quân đội. Cũng có các cơ quan bán quân sự chịu trách nhiệm bảo đảm một số lĩnh vực an ninh của Israel (như MagavShin Bet).

Các chiến sĩ Israel thuộc Tiểu đoàn Netzah Yehuda

Được coi là lực lượng quân sự mạnh nhất ở Trung Đông và cũng nằm trong danh sách những lực lượng quân sự được huấn luyện và trang bị tốt nhất trên thế giới, nó đã bảo vệ quốc gia qua năm cuộc chiến lớn. Sức mạnh chính của IDF là chất lượng huấn luyện binh sỹ và các chuyên gia xử lý tình huống, chứ không phải là sự sử dụng một lực lượng đông đảo. Nó cũng dựa nhiều vào những hệ thống vũ khí kỹ thuật cao, một số được chế tạo và phát triển tại Israel dành cho những nhu cầu đặc biệt của họ, và số khác được nhập khẩu (phần lớn từ Hoa Kỳ).

Tăng Merkava III của Israel-Một trong những loại xe tăng được thiết kế tốt nhất Thế giới

Đa số người Israel (nam và nữ) đều thực hiện nghĩa vụ quân sự ở tuổi 18. Một số ngoại trừ là những người Israel Ả Rập, những người đã được xác định chủ nghĩa hòa bình, những người không thể phục vụ trong quân ngũ vì thương tật hay không có khả năng và những phụ nữ theo đạo. Người Circassingười Bedouin cũng được vào quân đội. Từ năm 1956, người Druze cũng được nhập ngũ tương tự như người Do Thái, theo yêu cầu của cộng đồng Druze. Những người đàn ông sống cả đời trong nhà thờ cũng có thể được trì hoãn nhập ngũ. Đa số người Do Thái Haredi kéo dài thời hạn trì hoãn của mình tới khi họ đã quá già để nhập ngũ, một hành động gây nhiều tranh cãi ở Israel.
Sau thời gian phục vụ bắt buộc, đàn ông Israel trở thành lực lượng dự bị của IDF và mỗi năm thường phải phục vụ vài tuần trong quân ngũ với tư cách quân dự bị cho tới khi họ tới tuổi 40.
Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế tin rằng Israel là một nước có sở hữu vũ khí hạt nhân. Chính phủ nước này chưa bao giờ khẳng định có hay không. Israel chưa phê chuẩn Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhânQuy ước vũ khí hoá học (CWC) và họ cũng không ký vào Quy ước vũ khí sinh học và vũ khí chất độc (BWC).

Kinh tế

Bài chi tiết: Kinh tế Israel

Israel có một nền kinh tế thị trường phát triển cao cùng với sự điều tiết tích cực của chính phủ. Nước này nhập khẩu các nhiên liệu hoá thạch (dầu thô, khí tự nhiênthan đá), ngũ cốc, thịt bò, các nguyên liệu thô và trang thiết bị quân sự. Dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế, song trong 20 năm qua Israel vẫn đã luôn phát triển nhanh, nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Israel tự túc được phần lớn lương thực trừ ngũ cốc và thịt bò. Kim cương, kỹ thuật cao, trang thiết bị quân sự, phần mềm, dược phẩm, hoá chất tinh chế (fine chemical) và các nông sản (hoa quả, rau và hoa) là những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của nước này. Israel thường xuyên bị lớn thâm hụt tài khoản vãng lai, song chúng thường được bù đắp bằng các khoản tài trợ lớn từ nước ngoài và các khoản vay nước ngoài. Israel sở hữu nhiều cơ sở lọc dầu, đánh bóng kim cương và nhà máy sản xuất chất bán dẫn lớn. Theo điều tra của Nhóm Ngân hàng Thế giới, Israel là nền kinh tế có môi trường kinh doanh tốt nhất và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nghiêm nhất ở khu vực Trung Đông mở rộng. Tháng 5 năm 2007, Israel đã được mời gia nhập OECD.[11]
Khoảng một nửa khoản nợ của chính phủ là nợ Hoa Kỳ. Đây cũng là nước cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự chủ yếu cho Israel. Bình quân hàng năm, Israel nhận từ Mỹ khoảng 5,5 tỷ USD viện trợ. Một tỷ lệ lớn nợ nước ngoài của Israel do các nhà đầu tư cá nhân nắm giữ, thông qua chương trình Trái phiếu Israel. Những đảm bảo của Mỹ cho các khoản vay của Israel và các nhà đầu tư cá nhân có thể đầu tư trực tiếp vào đó giúp cho lãi suất của những khoản vay này rất thấp và thỉnh thoảng còn thấp hơn tỷ lệ thị trường.
Dòng người Do Thái nhập cư từ Liên bang Xô Viết cũ lên tới cực đại khoảng 750.000 người trong giai đoạn 19891999, khiến tổng số người Do Thái đến từ Liên Xô lên tới con số một triệu (1/6 tổng dân số), làm tăng thêm nguồn chuyên gia và nhà khoa học- nhân tố làm tăng đáng kể giá trị nền kinh tế trong tương lai. Dòng người nhập cư, cộng với sự mở cửa của những thị trường mới từ cuối Chiến tranh Lạnh, đã tạo thêm sức mạnh mới cho kinh tế Israel, làm nó tăng trưởng nhanh chóng trong những năm đầu thập kỷ 1990. Nhưng tăng trưởng đã chậm lại vào năm 1996 khi chính phủ áp đặt những chính sách tiền tệthuế chặt chẽ cũng như ngừng trợ cấp nhập cư. Các chính sách đó khiến lạm phát đã xuống mức thấp kỷ lục vào năm 1999.
Các ngành công nghiệp kỹ thuật cao đã chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong thập kỷ 1990. Những hạn chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và mức đầu tư cao cho giáo dục đã đóng vai trò lớn trong việc hướng công nghiệp vào lĩnh vực kỹ thuật cao, dẫn tới thành công của Israel trong phát triển các kỹ thuật tiên tiến trong phần mềm, thông tin và khoa học đời sống. Israel thường được coi là Thung lũng Silicon thứ hai.
Một ngành kinh tế hàng đầu khác là du lịch nhờ số lượng đông đảo các địa điểm di tích lịch sử của cả Do Thái giáo và Kitô giáo cũng như khí hậu ấm áp và khả năng tiếp cận các nguồn nước của Israel. Tầm quan trọng của công nghiệp kim cương cũng đang bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi về những điều kiện bên trong ngành công nghiệp và sự nổi lên của một số hoạt động công nghiệp vùng Viễn Đông.
Tự do hoá nền kinh tế, giảm thuế cũng như giảm chi tiêu đã khiến cho khoảng cách giàu – nghèo tăng lên. Năm 2005, 20,5% trong tổng số hộ gia đình Israel (và 34% trẻ em Israel) sống dưới mức nghèo khổ, dù khoảng 40% trong số họ sẽ thoát khỏi ngưỡng nghèo qua các khoản hỗ trợ (transfer payments).
GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Israel vào 28 tháng 7 năm 2005 là 19.248 Dollar Mỹ (đứng thứ 30 trên thế giới), còn GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương là 26.200 USD (cao thứ 26 trên thế giới). Khả năng sản xuất toàn thể (overall productivity) của Israel là 54.510,40 Dollar, và số lượng bằng phát minh được cấp là 74/1.000.000 người.

Dân cư

Nhân khẩu

Các binh sĩ Ả Rập Israel và thường dân tại Galilee, 1978

Theo Văn phòng trung ương thống kê Israel, tới cuối năm 2004, trong số 6,9 triệu người Israel, 77,2% là người Do Thái, 18,5% người Ả Rập và 4,3% “những nhóm người khác”[12]. Trong số người Do Thái, 68% là Sabras (s. ra tại Israel), đa số là các thế hệ người Israel thứ hai và thứ ba, số còn lại là olim – 22% từ châu Âuchâu Mỹ, và 10% từ châu Áchâu Phi, ngay cả từ thế giới Ả Rập[13].
Israel có hai ngôn ngữ chính thức; tiếng Hebrewtiếng Ả Rập. Tiếng Hebrew là ngôn ngữ chính và thứ nhất của quốc gia và đa số dân cư dùng tiếng này. Tiếng Ả Rập của thiểu số người Ả rập và một số thành viên cộng đồng Do Thái MizrahiTeimani. Tiếng Anh được dạy trong các trường học và đa phần dân cư coi đó là ngôn ngữ thứ hai. Các ngôn ngữ khác ở Israel gồm tiếng Nga, tiếng Yiddish, tiếng Ladino, tiếng Româniatiếng Pháp. Các chương trình giải trí của Mỹ và châu Âu thường xuyên được chiếu trên tivi và rạp chiếu bóng ở Israel. Báo chí cũng được xuất bản bằng nhiều thứ tiếng trên kể cả những tiếng khác như tiếng Farsi.
Tới năm 2004, 224.200 công dân Israel sống ở Bờ Tây trong nhiều khu định cư Israel, (gồm cả các thị trấn như Ma’ale AdummimAriel, và một số ít cộng đồng đã từng sống rất lâu ở đó trước Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948 và được tái định cư sau Chiến tranh sáu ngày như HebronGush Etzion). Khoảng 180.000 người Israel sống ở Đông Jerusalem[14] và thuộc sự cai quản của pháp luật Israel sau khi họ chiếm vùng đó từ Jordan trong Cuộc chiến sáu ngày. Khoảng 8.500 người Israel sống ở những khu định cư được xây dựng ở Dải Gaza, trước khi bị chính phủ buộc phải rời đi vào mùa hè năm 2005 một phần trong Kế hoạch rút quân đơn phương của Israel.

Văn hoá Israel

Bài chi tiết: Văn hoá Israel

Tôn giáo Israel

Bài chi tiết: Tôn giáo ở Israel

Những chàng trai người HarediJerusalem

Theo văn phòng trung ương thống kê Israel, tới cuối năm 2004, 76,2% người Israel là người theo Do Thái giáo, 16,1% là Hồi giáo, 2,1% Kitô giáo, 1,6% Druze và số còn lại 3,9% (gồm cả những người nhập cư từ Nga và một số người Do Thái) được xem là không tôn giáo[12].
Khoảng 12% người Do Thái Israel được xác định là haredim (những người theo tôn giáo chính thống); thêm 9% là “sùng đạo”; 35% tự coi mình là “những người theo truyền thống” (không gia nhập hoàn toàn vào Đạo Do Thái Halakha); và 43% là “thế tục” (thuật ngữ “hiloni”). Trong số những người thế tục, 53% tin ở Chúa.
Người Israel có khuynh hướng không theo một phong trào Do Thái giáo nào (như Do Thái giáo cải cách hay Do Thái giáo bảo thủ) nhưng lại muốn xác định mức độ theo tôn giáo của mình thông qua mối quan hệ theo mức độ thực hiện nghĩa vụ tôn giáo.
Trong số những người Israel Ả Rập, 82,6% là Hồi giáo, 8,8% Kitô giáo và 8,4% Druze[12].

Tham khảo và ghi chú

  1. ^ Jerusalem là thủ đô chính thức và là vị trí của chỗ ở tổng thống, các trụ sở chính phủ, và Nghị viện Israel (Knesset). Năm 1980, Nghị viện tuyên bố địa vị của Jerusalem là “thủ đô đời đời không thể chia” của quốc gia khi thông qua Đạo luận Cơ bản: Jerusalem — Thủ đô Israel. Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc không công nhận vậy. Phần lớn của cộng đồng quốc tế cho rằng thành phố này vẫn còn đang là một “vật thể ly thân” (Latinh: corpus separatum) quốc tế và cho rằng vấn đề Jerusalem sẽ được giải quyết trong các đàm phán Israel-Palestine vào tương lai. Phần nhiều quốc gia đặt tòa đại sứ ở Tel Aviv. [1]
  2. ^ Press release – First data from the 2008 Population Census – Completed in July, 2009, Israeli Central Bureau of Statistics (CBS), 30 tháng 9 năm 2009, truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010
  3. ^ Israel, International Monetary Fund, truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2010
  4. ^ Đối thủ của ông là “một con người”, và sau đó là “Chúa” theo Genesis 32:24–30 (cuốn đầu của Cựu Ước); hay “vị thần”, theo Hosea 12:4
  5. ^ “The Stones Speak: The Merneptah Stele”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006.
  6. ^ “The Land of Israel”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006.
  7. ^ General Progress Report and Supplementary Report of the United Nations Conciliation Commission for Palestine, Covering the Period from 11 December 1949 to 23 October 1950, published by the United Nations Conciliation Commission, October 23, 1950. (U.N. General Assembly Official Records, Fifth Session, Supplement No. 18, Document A/1367/Rev. 1) The Committee believed the estimate to be “as accurate as circumstances permit”, and attributed the higher number on relief to, among other things, “duplication of ration cards, addition of persons who have been displaced from area other than Israel-held areas and of persons who, although not displaced, are destitute”.
  8. ^ Central Bureau of Statistics, Government of Israel. “Localities, population and density per sq. km. in the metropolitan areas of Tel Aviv, Haifa and Beer Sheva”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006.PDF
  9. ^ Trong một giai đoạn ngắn thuộc thập kỷ 1990 Thủ tướng được bầu trực tiếp thông qua bầu cử. Thay đổi này không được coi là thành công và đã bị huỷ bỏ.
  10. ^ “Constitution for Israel”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006.
  11. ^ Israel invited to join the OECD. Retrieved on 2007-05-21
  12. ^ a ă â Central Bureau of Statistics, Government of Israel. “Population, by religion and population group” (PDF). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006.
  13. ^ Central Bureau of Statistics, Government of Israel. “Jews and others, by origin, continent of birth and period of immigration” (PDF). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006.
  14. ^ Settlements information, Foundation for Middle East Peace. “East Jerusalem Population and Area, 2000-2002”. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2006.

Danh sách chú giải về các nguồn thông tin đại chúng Israel

Tham khảo chung về truyền thông Israel:

Tiếng Anh:

  • Azure [4] English edition of the quarterly journal offering essays and criticism on Israeli and Jewish public policy, culture and philosophy
  • Globes [5] English-language website of Israel’s business and technology daily
  • Ha’Aretz [6] Online English edition of the relatively highbrow Hebrew-language newspaper, Haaretz has a liberal editorial stance similar to that of The Guardian.
  • IsraelInsider [7] – Independent, right wing outlet. Target audience is American Jewry.
  • Jerusalem Newswire [8] Independent, right-wing Christian-run news outlet
  • The Jerusalem Post [9] Israel’s oldest English-language newspaper, considered to have a right-of-center editorial slant
  • Jerusalem Report [10] Left-of-center English weekly newspaper
  • YNetNews [11] English-language website of Israel’s largest newspaper Yedioth Ahronoth

Tiếng Hebrew:

Tiếng Hebrew (tiếp):

Tiếng Đức:

  • Israel Nachrichten [19] The German-language daily from Tel Aviv for the 100,000 German-speaking Jews in Israel

Tiếng Ả Rập:

  • Al-Ittihad Arabic-language daily newspaper

Phát thanh truyền hình Israel:

Các nguồn Internet đáng chú ý:

Truyền thông Phi Israel liên quan:

Liên kết ngoài

Thông tin chung

Chính phủ

Knesset (Nghị viện)

Thể chế và hệ thống pháp luật

Lịch sử

Xin xem bài chính Lịch sử Israel

Kinh tế, khoa học và công nghệ

Các quan hệ nước ngoài và các cuộc xung đột hiện nay

For links on the Arab-Israeli conflict and the Israeli-Palestinian conflict, see Arab-Israeli Conflict: Liên kết ngoài

Xã hội

Ảnh

Những ghi chép lịch sử

  • Authentic historical Recordings – UN Partition Vote of 1947, Arab Rejection, “First” Hatikva, Ben-Gurion – On Independence, Arab Countdown to Six Day War, Moshe Dayan – Six Day War, Gen. Ariel Sharon – “Move forward!”, Nasser’s Infamous Phone call, Gen. Yitzhak Rabin – Six Day War, Abba Eban’s “Stalingrad” Speech
  • A cry from the bunkers – Dramatic and authentic recordings by IDF soldier Avi Yaffe from inside the IDF position, under attack at the outbreak of the Yom Kippur war.


Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948
Một phần của Cuộc xung đột Ả Rập-Israel
Thời gian Tháng 5 năm 1948 – tháng 3 năm 1949
Địa điểm Trung Đông
Nguyên nhân bùng nổ Bảo vệ quyền an ninh và tự chủ của cư dân sống tại Palestine trong một quốc gia độc lập[1]
Kết quả Israel chiến thắng, phe Ả Rập thất bại, ký kết Hiệp định ngưng bắn 1949
Thay đổi lãnh thổ Israel thành lập, Jordan chiếm Bờ Tây, Ai Cập chiếm Dải Gaza
Tham chiến
 Israel
Haganah
Irgun
Lehi
Palmach
Quân tình nguyện nước ngoài
Flag of Egypt (1922–1958).svg Ai Cập,
Flag of Syria (1932-1958; 1961-1963).svg Syria,
Flag of Jordan.svg Jordan,
 Liban,
Flag of Iraq (1921–1959).svg Iraq,
Flag of Saudi Arabia.svg Ả Rập Saudi,
Flag of the Mutawakkilite Kingdom of Yemen.svg Yemen[2],
Flag of Palestine.svg Palestine
Quân giải phóng Ả Rập
Chỉ huy
Cờ của Israel Yaakov Dori,
Cờ của Israel Yigael Yadin
Cờ của Jordan John Bagot Glubb,
Flag of Palestine.svg Abd al-Qadir al-Husayni,
Flag of Palestine.svg Hasan Salama,
Flag of Palestine.svg Fawzi Al-Qawuqji,
Flag of Egypt (1922–1958).svg Ahmed Ali al-Mwawi,
Flag of Egypt (1922–1958).svg Vua Farouk I
Lực lượng
 Israel: ban đầu 29.677 người, tới tháng 3 năm 1949 tăng lên 115.000 người Flag of Egypt (1922–1958).svg Ai Cập: ban đầu 10.000, sau tăng lên 20.000
Flag of Iraq (1921–1959).svg Iraq: ban đầu 5.000, sau tăng lên 15–18.000
Flag of Syria (1932-1958; 1961-1963).svg Syria: 2.500–5.000
Flag of Jordan.svg Jordan: 6.000–12.000
 Liban: ban đầu 1.000, sau tăng lên 2.000[3]
 Ả Rập Saudi: 800–1.200
Flag of the Mutawakkilite Kingdom of Yemen.svg Yemen: không rõ
Quân giải phóng Ả Rập: 3.500-6.000
Tổn thất
6.373 chết (4.000 binh lính và khoảng 2.400 thường dân) Không rõ (khoảng từ 10.000 đến 15.000 người)
.

Cuộc Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, được người Do Thái gọi là Chiến tranh giành độc lậpChiến tranh giải phóng, còn người Palestine gọi là al Nakba (tiếng Ả Rập: النكبة, “cuộc Thảm họa”) là cuộc chiến đầu tiên trong một loạt cuộc chiến giữa Israel và các nước Ả Rập láng giềng.
Cuộc chiến nổ ra ngay khi Chế độ ủy trị Anh tại Palestine kết thúc ngày 15 tháng 5 năm 1948, tiếp tục giai đoạn nội chiến 1947-1948, khi người Ả rập bác bỏ Nghị quyết 181 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhằm lập ra một quốc gia Ả rập và một quốc gia Do Thái trên mảnh đất này. Cuộc chiến diễn ra phần lớn trên lãnh thổ Ủy trị Palestine thuộc Anh và trong một thời gian ngắn tại bán đảo Sinai. Cuộc chiến kết thúc với Hiệp định ngưng bắn 1949, nhưng cuộc Xung đột Ả Rập-Israel vẫn tiếp diễn.

Nguồn gốc cuộc chiến

Sau khi Đế chế Ottoman bị đánh bại trong Đệ nhất thế chiến, phía Đồng minh nhóm họp tại San Remo, Ý ngày 18–26 tháng 4 để bàn bạc các điều khoản cho hiệp ước với Thổ Nhĩ Kỳ[4]. Kết luận của cuộc họp chủ yếu xác nhận các điều khoản của cuộc đàm phán London lần thứ nhất và thỏa thuận Sykes-Picot ngày 16 tháng 5 năm 1916 và Tuyên cáo Balfour ngày 12 tháng 11 năm 1917[5][6]. Theo thỏa thuận, Pháp được ủy nhiệm quản lý Syria còn Anh được ủy nhiệm quản lý vùng Lưỡng Hà và Palestine, đường biên giới sẽ được các cường quốc tham gia đàm phán xác lập[4].
Trong cuộc họp ở CairoJerusalem giữa Winston Churchill và hoàng tử Abdullah (sau là vua Abdullah đệ nhất của Jordan) tháng 3 năm 1921, họ đồng ý Abdullah sẽ cai quản lãnh thổ Transjordan (trong vòng 6 tháng) để đại diện cho phía Palestine. Tới mùa hè năm 1921, vùng Transjordan vẫn còn nằm trong Lãnh thổ ủy trị, nhưng không nằm trong các điều khoản về Quê hương cho người Do thái[7]. Ngày 24 tháng 7 năm 1922, Hội quốc liên chấp thuận các điều khoản về việc ủy nhiệm cho Anh các vùng đất Palestine và Transjordan. Ngày 16 tháng 9, Hội quốc liên chính thức phê chuẩn bản ghi nhớ của Huân tước Balfour, xác nhận ngoại trừ Transjordan trong các điều khoản về việc thành lập một quốc gia cho người Do thái[8].
Tới năm 1922, dân cư Palestine bao gồm khoảng 589.200 người Hồi giáo, 83.800 người Do Thái, 71.500 người Thiên chúa giáo và 7.600 người khác (thống kê năm 1922 [9]). Tuy nhiên, tại vùng này diễn ra một cuộc di cư lớn của người Do thái (đa phần chạy tị nạn khỏi sự truy bức tại châu Âu). Cuộc chạy tị nạn và lời kêu gọi thành lập quốc gia Do thái gây nên phản ứng quyết liệt từ phía dân cư Ả rập bản địa, vì người Ả rập đồn là người Do thái âm mưu nô dịch người Ả rập và trục xuất dân cư bản địa không phải là Do thái.
Dưới sự lãnh đạo của Amin al-Husayni, đại Giáo trưởng Hồi giáo ở Jerusalem, người Ả rập nổi lên chống lại người Anh và liên tục tấn công dân cư Do thái. Các cuộc tấn công lẻ tẻ bắt đầu từ cuộc nổi loạn của người Ả rập năm 1920 và cuộc nổi dậy ở Jaffa năm 1921. Trong cuộc nổi dậy năm 1929, 67 người Do thái bị giết tại Hebron, những người sống sót được nhà chức trách Anh di tản.

Cuộc nổi dậy của người Ả rập (1936–1939) và hệ quả

Cuối những năm 1920, đầu 1930, một số đảng phái của người Palestine trở nên mất kiên nhẫn với tình trạng bè phái, mất đoàn kết trong cộng đồng, cũng như sự bất lực của tầng lớp lãnh đạo người Palestine, nên bắt đầu một phong trào bài Anh và bài Do thái của giới bình dân, lãnh đạo bởi những đảng như Hội Thanh niên Hồi giáo. Họ cũng tổ chức tẩy chay và bất hợp tác theo hình mẫu Ấn Độ. Hầu hết những phong trào mới khởi phát này đều bị dập tắt bởi giới nhân sỹ địa phương hoạt động cho bộ máy chính quyền Anh, đặc biệt là “giáo trưởng Hồi giáo” và người bà con của ông là Jamal al-Husayni. Cái chết của nhà truyền giáo Izz ad-Din al-Qassam bởi tay của cảnh sát Anh tại Jenin tháng 11 năm 1935 làm cho người Hồi giáo đặc biệt tức giận. Một đám đông lớn đưa tiễn thi thể ông đi mai táng tại Haifa. Vài tháng sau, một cuộc tổng bãi công do người Ả rập khởi xướng đồng loạt diễn ra và kéo dài cho đến tháng 10 năm 1936. Trong mùa hè năm đó, hàng ngàn mẫu ruộng và vườn cây của người Do thái bị chặt phá, người Do thái bị tấn công và bị giết hại, khiến cho một số cộng đồng Do thái, như ở Beisan và Acre, phải bỏ chạy lánh nạn[10].
Tiếp theo cuộc tổng bãi công, cùng với khuyến nghị của phái đoàn Peel chia vùng này thành một tiểu quốc Do thái và một quốc gia Ả rập thống nhất với Jordan, một cuộc khởi nghĩa vũ trang nổ ra trên toàn lãnh thổ. Trong vòng 18 tháng tiếp theo, người Anh mất quyền kiểm soát Jerusalem, Nablus, và Hebron. Trong khoảng thời gian từ 1936–1939, quân Anh, được hỗ trợ bởi 6.000 cảnh sát Do thái vũ trang[11], đàn áp cuộc nổi dậy của người Ả rập. Kết quả là có 5.000 người Ả rập bị chết và 10.000 người bị thương. Tổng cộng, 10 phần trăm số đàn ông Ả rập trưởng thành bị chết, bị thương, bị bắt giữ hay phải bỏ trốn. Cộng đồng Do thái có 400 người chết, còn chính quyền Anh mất 200 người.
Một diễn biến quan trọng trong thời kỳ này, là việc viên sỹ quan cao cấp của Anh Charles Orde Wingate, (người ủng hộ chủ trương tái lập quốc gia cho người Do thái[12]), thành lập Đội đặc nhiệm đêm gồm thành viên của Haganah, chỉ huy bởi sỹ quan Anh, và đã giành được nhưng “thắng lợi quan trọng chống lại quân nổi loạn Ả rập tại vùng hạ Galilee và thung lũng Jezreel”[13], bằng cách đột kích vào các làng Ả rập. Haganah huy động đến 20.000 cảnh sát, quân dã chiến và các đội tuần tra đêm. Cũng phải kể đến việc từ năm 1936 đến năm 1945, đồng thời với việc hợp tác với Tổng bộ Do thái, chính quyền Anh tịch thu 13.200 súng từ người Ả rập, và 521 súng từ người Do thái[14].
Cuộc tấn công của người Ả rập vào cộng đồng dân cư Do thái có 3 hệ quả lâu dài: thứ nhất, người Do thái phát triển rộng thêm lực lượng dân quân bí mật, chủ yếu là Haganah (“Lực lượng phòng vệ”), mà sau này là nhân tố quyết định chiến thắng năm 1948. Thứ nhì là các cuộc tấn công làm người ta càng tin tưởng là hai cộng đồng này không thể chung sống hòa bình, nên ý tưởng phân chia lãnh thổ nảy sinh. Thứ ba là người Anh đối phó với sự chống đối của người Ả rập bằng cách phát hành sách trắng (trong đó công bố chính sách của chính quyền Anh) hạn chế ngặt nghèo người Do thái di cư. Tuy nhiên, với Đệ nhị thế chiến hiển hiện trước mắt, ngay cả số quota di cư hạn chế này cũng không thể nào đạt được. Sách trắng khiến cho một bộ phận người Do thái trở nên cực đoan, quyết không hợp tác với người Anh, sau khi Đại chiến thế giới kết thúc.

Bộ máy chính quyền Anh và việc huấn luyện quân sự cho người Do thái và Ả rập

Từ năm 1936 trở đi, chính quyền Anh tạo điều kiện huấn luyện, trang bị và tuyển mộ một loạt lực lượng an ninh và cơ sở tình báo hợp tác với Tổng bộ Do thái (tức chính quyền Do thái thời kỳ tiền lập quốc). Trong số đó phải kể đến lực lượng “Vệ binh”, bao gồm từ 6.000 đến 14.000 Cảnh sát trù bị Do thái[15], 6.000 đến 8.000 Cảnh sát Định cư tinh nhuệ[16] và Đội đặc nhiệm ban đêm[17], tiền thân của đơn vị Đặc nhiệm đường không của Anh[18]. Ngoài ra còn có lực lượng xung kích tinh nhuệ FOSH, tức Đại đội dã chiến[16], với khoảng 1.500 thành viên để thay thế lực lượng HISH (tức “Lực lượng dã chiến”) đông đảo hơn vào năm 1939[16][19]. Cơ quan SHAI, tức cục tình báo và chống phản gián của Haganah, là tiền thân của Mossad (cơ quan tình báo Israel sau này)[20].
Chính quyền Anh cũng tuyển mộ chừng 6.000 người Ả rập Palestine trong thời kỳ Đệ nhị thế chiến và 1.700 người khác được tuyển vào lực lượng cảnh sát biên giới Liên-Jordan, hay T.J.F.F.[21]. Thêm vào đó, người Anh cung cấp sỹ quan cho đạo quân Lê Dương Ả rập của Jordan, và cấp cho quân đội Ai Cập xe tải, súng trường và phi cơ. Người Anh như vậy rất nghịch lý là đã trang bị cho cả hai phe trong cuộc xung đột sắp nổ ra.

Đệ nhị thế chiến

Ngày 6 tháng 8 năm 1940, Anthony Eden, Bộ trưởng Chiến tranh của Anh, thông báo cho Quốc hội Anh là Chính phủ đã quyết định tuyển mộ người Ả rập và Do thái vào các tiểu đoàn Royal East Kent Regiment (còn gọi là the “Buffs”)[22]. Trong buổi ăn trưa với tiến sỹ Chaim Weizmann (lãnh tụ người Do thái) ngày 3 tháng 9, Winston Churchill chấp thuận việc tuyển mộ trên qui mô lớn người Do thái sống trong vùng lãnh thổ Ủy nhiệm của Anh tại Palestine và huấn luyện sỹ quan Do thái. Hơn 10 ngàn người khác (trong đó không quá 3 ngàn người từ Palestine) sẽ được tuyển mộ và huấn luyện tại Anh.
Đối mặt với đà tiến công của Nguyên soái Đức Rommel ở Ai Cập, người Anh quyết định cho 10.000 binh lính Do thái “Buffs” vốn phân thành từng đại đội thống nhất thành các đơn vị ở mức tiểu đoàn, đồng thời động viên thêm 10.000 binh lính nữa, cùng với 6.000 Cảnh sát trù bị và từ 40.000 cho đến 50.000 vệ binh. Kế hoạch được phê chuẩn bởi Nguyên soái John Dill. Lực lượng tác chiến đặc biệt (SOE) ở Cairo chấp nhận đề nghị của Haganah tiến hành các hoạt động du kích ở miền bắc Palestine do bộ phận Palmach của Haganah thực hiện, để bảo vệ lãnh thổ, đồng thời từ đó đột kích các tuyến liên lạc và tiếp tế của Đức quốc xã, nếu cần. Tình báo Anh cũng huấn luyện một mạng lưới thông tin viên sử dụng radio dưới quyền Moshe Dayan để chuẩn bị hoạt động gián điệp chống quân chiếm đóng Đức[23]
Sau nhiều lần do dự, ngày 3 tháng 7 năm 1944, chính phủ Anh đồng ý thành lập Lữ đoàn Do thái, với các sỹ quan gồm cả Do thái và không phải Do thái được tuyển chọn kỹ càng. Ngày 20 tháng 9 năm 1944, một sỹ quan thông tin thuộc Văn phòng chiến tranh thông báo việc thành lập Cụm Lữ đoàn Do thái trong Quân đội Anh. Lá cờ Zion của người Do thái được chính thức chấp nhận làm chiến kỳ của Lữ đoàn. Lực lượng này bao gồm hơn 5.000 quân tình nguyện Do thái từ Palestine, chia làm ba tiểu đoàn bộ binh và một số đơn vị hỗ trợ[24].
Ngay khi chiến tranh kết thúc, người Anh quay ngoắt lại với chính sách thực hiện trước chiến tranh. Họ tịch thu vũ khí, và một số thành viên của Haganah bị bắt và bị đưa ra tòa, trong đó phải kể đến trường hợp Eliahu Sacharoff, bị kết án 7 năm tù chỉ vì sở hữu 2 viên đạn nhiều hơn so với giấy phép[25].

Bản đồ phân chia Palestine của Liên hiệp quốc

Kế hoạch phân chia lãnh thổ của Liên Hiệp Quốc

Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại hội đồng Liên hiệp quốc chấp thuận nghị quyết số 181, giải quyết cuộc xung đột Ả rập-Do thái bằng cách phân chia Palestine thành hai quốc gia, Do thái và Ả rập. Mỗi quốc gia sẽ bao gồm 3 vùng lãnh thổ chính, liên kết bởi các dải lãnh thổ đặc quyền hẹp; người Ả rập cũng sẽ được vùng đất Jaffa nằm lọt trong lãnh thổ của người Do thái. Với chừng 32% dân số, người Do thái sẽ được 56% lãnh thổ, trong đó có 499.000 người Do thái và 438.000 người Palestine cư ngụ, mặc dù phần lãnh thổ này tính cả hoang mạc Negev ở phía nam. Người Palestine được 42% lãnh thổ, với dân cư gồm 818.000 người Palestine và 10.000 người Do thái. Vì tính chất tôn giáo thiêng liêng của Jerusalem, nên vùng này, bao gồm cả Bethlehem, với 100.000 dân Do thái và cũng khoảng chừng ấy dân Ả rập sẽ được quản trị bởi Liên hiệp quốc[26].
Mặc dù một số người Do thái chỉ trích kế hoạch này, bản nghị quyết được đông đảo nhân dân Do thái ủng hộ. Ban lãnh đạo Zion chấp nhận nghị quyết như là “sự cần thiết tối thiểu”[27], vui mừng là họ nhận được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế, dù rằng họ vẫn lấy làm tiếc là họ không được chia nhiều lãnh thổ hơn[28].
Cho rằng kế hoạch phân chia không công bằng với người Ả rập, khi tính đến tỷ trọng dân cư, đại diện của người Ả rập Palestine và Liên đoàn Ả rập chống đối quyết liệt kế hoạch của Liên hiệp quốc, thậm chí bác bỏ quyền của Liên hiệp quốc can thiệp vào cuộc xung đột[29]. Họ nhất định cho rằng “quyền cai quản Palestine phải thuộc về cư dân của nó, theo các điều khoản Hiến chương Liên hiệp quốc”[30]. Theo Điều 73b của Hiến chương, Liên hiệp quốc phải dựng lên chính quyền tự quản của chính dân cư sống trong lãnh thổ.

Nội chiến 1947–1948 trong vùng đất ủy trị

Ngay sau khi Liên hợp quốc chấp thuận kế hoạch phân chia, cộng đồng Do thái như vỡ tung lên vì hoan hỉ, trong khi cộng đồng Ả rập tỏ ra hết sức bất mãn. Chẳng bao lâu sau, xung đột nổ ra và ngày càng lan rộng, chém giết, báo thù và phản báo trả thù nối tiếp nhau, khiến cho hàng chục người ở cả hai phe thiệt mạng.
Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 1947 cho tới hết tháng 1 năm 1948, ước tính có khoảng 1000 người bị giết và 2000 người bị thương[31]. Tới cuối tháng 3, thương vong đã lên tới 2000 người chết và 4000 người bị thương[32], tương đương với khoảng 100 người chết và 200 người bị thương mỗi tuần, với dân số chỉ vỏn vẹn 2 triệu người.
Từ tháng 1 trở đi, các hoạt động ngày càng mang tính quân sự, với hàng trung đoàn Quân giải phóng Ả rập can thiệp vào phía người Palestine, bố trí quanh một số thị trấn ven biển cũng như củng cố các vùng GalileeSamaria[33]. Abd al-Qadir al-Husayni cũng đến từ Ai Cập tham chiến với vài trăm thành viên của Quân đội thánh chiến.
Sau khi tuyển mộ được vài ngàn quân tình nguyện, al-Husayni tổ chức phong tỏa 100.000 cư dân Do thái ở Jerusalem[34]. Để đáp lại, ban lãnh đạo Yishuv tìm cách tiếp tế cho thành phố với đoàn xe tiếp viện lên tới 100 xe bọc thép, nhưng chiến dịch tiếp viện ngày càng trở nên thiếu thực tế, vì càng ngày càng có nhiều người bị giết trong chiến dịch tiếp tế. Tới tháng 3, chiến thuật của Al-Hussayni mang lại thành công, hầu hết đoàn xe tiếp tế bị phá hủy, cuộc phong tỏa trở nên toàn diện, và hàng trăm thành viên Haganah tham gia cứu viện thành phố bị giết[35]. Tình hình những người bị kẹt lại trong các khu Do thái ở vùng hoang mạc Negev và miền bắc trở nên khốn quẫn.
Vì những người Do thái được chỉ thị phải bám trụ bằng mọi giá[36], tình hình bất ổn trên toàn quốc ảnh hưởng đến người Ả rập còn nặng nề hơn, chừng 100.000 Palestine, chủ yếu là những người ở tầng lớp trung lưu khá giá, chạy ra nước ngoài hoặc chuyển đến Samaria để tránh chiến tranh.[37]
Tình hình này buộc nước Mỹ phải xem xét lại sự ủng hộ mà họ dành cho kế hoạch Phân chia, làm cho Liên đoàn Ả rập tin rằng, người Palestine, với sự hỗ trợ của Quân giải phóng Ẩ rập, có thể phá hỏng kế hoạch Phân chia. Mặc khác, người Anh lại ra quyết định ngày 17 tháng 2 năm 1948 ủng hộ việc sát nhập các lãnh thổ Ả rập vào Jordan[38].
Thủ lĩnh người Do thái Ben-Gurion tái tổ chức Haganah, ban hành nghĩa vụ quân sự bắt buộc, tất cả phụ nữ và đàn ông đều phải tham gia huấn luyện quân sự. Nhờ vào nguồn tài chính do Golda Meir quyên góp được từ những cảm tình viên ở Mỹ, và sự hỗ trợ của Stalin cho phong trào Zion, đại diện Do thái ký được những hợp đồng mua vũ khí quan trọng. Các nhân viên Haganah thu mua vũ khí tồn kho từ thời Đệ nhị thế chiến để góp phần trang bị cho quân đội. Cuối tháng ba, lần đầu tiên họ tiến hành chiến dịch Balak để chuyển vũ khí và trang thiết bị về Palestine.
Ben-Gurion cũng giao nhiệm vụ cho Yigal Yadin lên kế hoạch đối phó trong trường hợp các quốc gia Ả rập can thiệp vũ trang. Kết quả là kế hoạch Dalet ra đời và được đưa vào thực hiện kể từ tháng 4, mà với kế hoạch đó, kể từ giai đoạn thứ hai của cuộc chiến, Haganah chuyển từ thế phòng ngự sang phản công.
Chiến dịch đầu tiên, mật danh Nachshon, bao gồm việc phá vỡ cuộc phong tỏa Jerusalem. Một ngàn năm trăm chiến sỹ lữ đoàn Guivati thuộc Haganah và lữ đoàn Harel thuộc Palmach tham gia chiến dịch mở đường từ ngày 5 tháng 4 tới ngày 20 tháng 4. Chiến dịch thành công với khoảng hai tháng lương thực được chuyển tới Jerusalem để phân phát cho dân chúng[39] Thành công của chiến dịch càng lớn bởi Al-Hassayni bị chết trận. Cùng thời gian, binh sỹ thuộc IrgunLehi (ngoài vòng kiểm soát của Haganah) tiến hành thảm sát hơn một trăm người Ả rập, đa phần là dân thường tại Deir Yassin, gây chấn động cộng đồng Ả rập, khiến cho các thủ lĩnh Do thái phải lo ngại và lên tiếng chỉ trích
Cũng trong thời gian đó, chiến dịch lớn đầu tiên của Quân giải phóng Ả rập bị “thất bại thảm hại”, vì bị đánh tơi tả tại Mishmar Ha’emek[40], và còn bị đồng minh là bộ tộc người Druze đào ngũ bỏ sang phe Do thái[41].
Theo kế hoạch Dalet, các lực lượng Haganah, PalmachIrgun tiến chiếm các khu vực dân cư hỗn hợp Ả rập-Do thái. Các thành phố Tiberias, Haifa, Safed, Beisan, JaffaAcre lần lượt thất thủ, khiến cho hơn 250.000 người Palestine phải chạy tị nạn[42].
Cùng thời gian, người Anh về cơ bản đã rút quân, tình hình khiến cho lãnh đạo các quốc gia Ẩ rập phải can thiệp, nhưng họ chưa hoàn toàn sẵn sàng, và không thể tập trung kịp lực lược cần thiết để đảo ngược tình hình chiến sự. Đa phần người Palestine kỳ vọng vào đạo quân Lê Dương Ả rập của vua Jordan là Abdullah I, nhưng ông không muốn tạo ra một quốc gia của người Palestine, mà chỉ muốn sát nhập lãnh thổ ủy nhiệm Palestine vào Jordan, nên tiến hành bắt cá hai tay, giữ liên lạc với cả ban lãnh đạo người Do thái và Liên đoàn Ẩ rập.
Để chuẩn bị phản công, Haganah mở chiến dịch Yiftah[43] và Ben-‘Ami[44] để củng cố các khu định cư Do thái tại Galilee, và chiến dịch Kilshon, thiết lập một mặt trận liên tục quanh Jerusalem.
Golda Meir và vua Abdullah I gặp mặt ngày 10 tháng 5 để thảo luận, nhưng cuộc họp không mang lại kết quả cụ thể gì, mà cả những thỏa thuận trước đó cũng không được xác lập lại. Ngày 13 tháng 5, quân Lê Dương Ả rập, được dân quân hỗ trợ, tấn công và đánh chiếm Kfar Etzion. Trong tổng số 131 người Do thái tham gia phòng thủ có 127 người tử trận, quân Ả rập tàn sát hết số người sống sót bị bắt làm tù binh.
Ngày 14 tháng 5 năm 1948, David Ben-Gurion tuyên bố quốc gia độc lập Israel ra đời, ngày hôm sau quân đội các quốc gia Ả rập can thiệp, cuộc chiến tranh 1948 bước vào giai đoạn hai.

Lực lượng tham chiến ban đầu

Đánh giá lực lượng

Benny Morris cho rằng, dù người Ả rập “e ngại một cách có lý” khả năng quân sự của người Do thái, họ vẫn tin rằng trong vòng vài thập niên, hoặc vài thế kỷ, “người Do thái, cũng như các vương quốc Thập tự chinh, cuối cùng cũng sẽ bị thế giới Ả rập đè bẹp”[45].
Vào thời điểm trước khi chiến tranh bùng nổ, khối Ả rập dường như sẽ huy động khoảng 23.000 binh lính (10.000 quân Ai Cập, 4.500 quân Jordan, 3.000 quân Iraq, 3.000 quân Syria, 2.000 quân tình nguyện Quân giải phóng Ả rập ALA, 1.000 quân Liban và một số quân Ả rập Saudi, cộng với lực lượng dân quân Palestine tại chỗ. Lực lượng Yishuv Do thái bao gồm 35.000 quân thuộc Haganah, 3.000 người của Stern và Irgun cộng với vài ngàn người định cư có vũ trang[46].
Dù rằng dân số Israel nhỏ hơn rất nhiều lần so với dân số các quốc gia Ả rập tham chiến, nhưng người Do thái chiến đấu vì sự tồn vong của chính mình, cộng với tổ chức hợp lý và ban lãnh đạo thống nhất nên đã có thể tập trung cao độ sức người sức của cho cuộc chiến. Các quốc gia Ả rập tham chiến để giúp đỡ người Ả rập Palestine không có sự phối hợp hành động, mục tiêu và quyền lợi không phù hợp nhau, thiếu một động cơ mạnh mẽ thúc đẩy họ chiến đấu như người Do thái nên khi điều kiện trở nên bất lợi thì tinh thần chiến đấu nhanh chóng sa sút. Hơn thế nữa, phe Ả rập thiếu sự chuẩn bị chu đáo, nên dù được tăng viện rất đáng kể thì càng về sau tương quan lực lượng càng sút kém so với người Israel. Người Israel nhận được sự tiếp trợ quân sự hữu hiệu từ cộng đồng Israel hải ngoại, cộng với đoàn người tị nạn Do thái tiếp tục đổ về Palestine, đa phần trong số đó là những người sống sót sau cuộc diệt chủng trong Đệ nhị thế chiến, nên tinh thần quyết chiến rất cao vì họ không còn đường lùi nữa.
Ngày 12 tháng 5 David Ben-Gurion được trưởng cố vấn quân sự, do ước tính sai-phóng đại lực lượng và năng lực quân Ả rập, thông báo là khả năng chiến thắng của Israel chỉ là 50-50[47].

Lực lượng Yishuv

Tới tháng 11 năm 1947, Haganah từ một lực lượng dân quân bán vũ trang đã trở thành một tổ chức quân đội quốc gia được tổ chức chặt chẽ. Lực lượng này gồm có một cánh quân cơ động gọi là HISH, với 2.000 chiến binh thường trực cả nam lẫn nữ và 10 ngàn quân dự bị, tuổi từ 18 đến 25, cùng một lực lượng tinh nhuệ Palmach, bao gồm khoảng 2.100 chiến binh và một ngàn quân dự bị. Quân dự bị được huấn luyện khoảng 3-4 ngày một tháng, còn lại thì sinh hoạt như dân thường. Lực lượng cơ động có thể nhận hỗ trợ từ lực lượng đồn trú HIM (Heil Mishmar, hay lực lượng vệ binh), bao gồm những người tuổi ngoài 25. Tổng cộng Yishuv có khoảng 35.000 quân với từ 15.000 cho tới 18.000 chiến binh và 20.000 binh sỹ đóng trong doanh trại.[48]. Hai tổ chức bí mật IrgunLehi có khoảng từ 2.000–4.000 và 500–800 thành viên. Có vài ngàn người đã từng phục vụ trong quân đội Anh thời Đệ nhị thế chiến, dù không phải là thành viên của bất kỳ tổ chức bí mật nào, nhưng sẽ đóng góp kinh nghiệm quân sự quan trọng cho cuộc chiến[49] Walid Khalidi cho rằng Yishuv còn có lực lượng Cảnh sát định cư Do thái, khoảng 12.000 người, các tiểu đoàn Thanh niên Gadna, và người định cư vũ trang[50]. Chỉ có rất ít trong số các đơn vị kể trên được huấn luyện quân sự trước thời điểm tháng 12 năm 1947.[51]
Năm 1946, Ben-Gurion quyết định là lực lượng Yishuv phải tự bảo vệ lấy mình trong trường hợp cả người Ả rập Palestine và các quốc gia Ả rập láng giềng tiến hành một “chiến dịch thu mua vũ khí qui mô lớn tại các nước phương Tây”. Tới tháng 9 năm 1947 Haganah có “10.489 súng trường, 702 súng máy hạng nhẹ, 2.666 tiểu liên, 186 súng máy hạng trung, 672 cối cỡ nòng 50mm và 92 cối cỡ nòng 76 mm”, và còn mua được thêm nhiều vũ khí khác trong vòng vài tháng đầu nổ ra chiến sự. Lực lượng Yishuv cũng có “cơ sở sản xuất vũ khí tương đối tân tiến”, và trong khoảng thời gian từ tháng 10 1947 đến tháng 7 1948 “sản xuất được 3 triệu viên đạn súng trường, 150.000 lựu đạn, 16.000 súng tiểu liên Sten và 210 quả đạn cối 76mm”[52]. Thoạt đầu, Haganah không có súng máy hạng nặng, xe bọc thép, vũ khí chống tăng hay pháo phòng không, cũng như không có xe tăng và máy bay chiến đấu[53][54].
Người ta không nhất trí được về số lượng vũ khí Yishuv sở hữu khi chế độ ủy nhiệm chấm dứt. Theo Karsh, trước khi chuyến hàng vũ khí từ Tiệp Khắc chuyển đến, cứ 3 chiến sỹ thì chỉ có một khẩu súng, và thậm chí với lực lượng Palmach, cứ 3 chiến sỹ thì chỉ có hai súng[55]. Theo Collins và LaPierre, tới tháng 4 năm 1948, Haganah có trong tay 20.000 súng trường và tiểu liên Sten cho 35.000 binh sỹ trên danh sách[56], còn theo Walid Khalidi thì “các lực lượng trên có thừa vũ khí”.[50]

Lực lượng Ả rập

Cộng đồng Ả rập không có một lực lượng quân sự thống nhất trên toàn quốc, mà có hai tổ chức thanh niên bán vũ trang, lực lượng thân Husayni Futuwa và lực lượng chống Husayni Najjada (“quân đoàn trù bị”). Theo Karsh, các nhóm trên có khoảng 11.000–12.000 thành viên[57], nhưng theo Morris thì Najjada với đại bản doanh đặt tại Jaffa và có từ 2.000–3.000 thành viên, đã bị tan rã trong thời kỳ trước khi chiến tranh 1948 nổ ra, khi Husayni tìm cách giành lấy quyền kiểm soát tổ chức này, còn lực lượng Futuwa chưa bao giờ đông hơn vài trăm người[58] Khi chiến sự bùng nổ, các nhóm dân quân địa phương mọc ra như nấm ở các thành phố và thị trấn, dưới quyền Hội đồng Quốc gia Ả rập địa phương[59].
Tháng 12, Abd al-Qadir Husseini đến Jerusalem với vài trăm quân được huấn luyện ở Syria làm hạt nhân cho đạo quân Thánh chiến Hồi giáo. Lực lượng của ông đa phát triển với hàng trăm thành viên mới là thanh niên từ các làng xung quanh và một số cựu binh phục vụ trong quân đội Anh[60].
Trang bị của lực lượng Palestine khá nghèo nàn, người Anh đã tịch thu phần lớn vũ khí của họ trong cuộc nổi dậy 1936–39 và Đệ nhị thế chiến[61] Một báo cáo năm 1942 của tình báo Haganah ước tính số lượng vũ khí nằm trong tay người Palestine vào khoảng 50 ngàn khẩu súng, nhưng có lẽ đây chỉ là con số phóng đại[62][63].
Quân giải phóng Ả rập (Jaysh al-Inqadh al-Arabi) được Liên đoàn Ả rập thành lập với lực lượng gồm khoảng 6.000 quân tình nguyện, chỉ huy bởi Fawzi al-Qawuqji, địa bàn hoạt động theo kế hoạch là miền bắc Palestine, bao gồm cả Samaria.
Đạo quân Lê Dương Ả rập của Jordan được đanh giá là đơn vị tinh nhuệ nhất của phe Ả rập. Họ được vũ trang, huấn luyện và chỉ huy bởi sỹ quan Anh, gồm khoảng 8.000–12.000 người, chia làm bốn trung đoàn bộ binh/cơ giới hỗ trợ bởi 40 pháo và 75 xe bọc thép. Tới tháng 1 năm 1948, họ được tăng cường thêm 3.000 lính biên phòng Liên-Jordan[62]. Quân Lê Dương Ả rập tham chiến tháng 5 năm 1948 và chỉ đánh nhau ở các khu vực mà vua Abdullah muốn sáp nhập vào Jordan: vùng Bờ Tây và Đông Jerusalem.
Năm 1948 quân đội Iraq gồm 21.000 người chia làm 12 lữ đoàn và khoảng 100 máy bay Anh. Ban đầu, Iraq gửi 3.000 [64] đến 5.000 quân tham chiến, bao gồm 4 lữ đoàn bộ binh, một tiểu đoàn xe bọc thép và lực lượng hậu cần. Quân Iraq được đặt dưới quyền điều động của Jordan[65] Khi cuộc ngưng bắn đầu tiên diễn ra, quân Iraq tăng lên 10.000 người[66]. Quân viễn chinh Iraq cao điểm lên tới từ 15.000 đến 18.000 người[67].
Các đơn vị Iraq đầu tiên đến Jordan tháng 4 1948 dưới quyền chỉ huy của tướng Nur ad-Din Mahmud. Ngày 15 tháng 5 công binh Iraq xây cầu phao vượt sông Jordan và tấn công khu định cư Gesher nhưng không thành công. Sau thất bại đó quân Iraq tiến về tam giác chiến lược NablusJeninTulkarm, nhưng bị đánh tổn thất nặng nề trong cuộc tấn công của người Do thái vào Jenin từ ngày 3 tháng 6, nhưng vẫn bám trụ lại được. Hoạt động quân sự của quân Iraq chấm dứt kể từ thời điểm này[68]
Năm 1948 Ai cập chỉ có thể tung ra được 40.000 quân, 80% thanh niên trong độ tuổi quân dịch không đủ tiêu chuẩn để nhập ngũ, còn bộ máy hậu cần còn sơ khai của Ai Cập chỉ có thể tiếp tế rất ít cho các đơn vị bộ binh triển khai ngoài biên giới. Ban đầu, lực lượng viễn chinh 10.000 người được gửi đến Palestine dưới quyền tướng Ahmed Ali al-Mwawi. Lực lượng này bao gồm 5 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn xe bọc thép được trang bị xe tăng Mark IV và Matilda của Anh, một tiểu đoàn pháo binh 16 pháo 25 bảng, và một tiểu đoàn 8 pháo 6 bảng, một tiểu đoàn súng máy hạng trung, cùng với lính hậu cần. Không quân Ai Cập có hơn 30 máy bay Spitfire, 4 Hawker Hurricane và 20 C-47 Skytrain cải tiến thành máy bay ném bom. Cho tới cuộc ngưng bắn thứ hai, Ai Cập đã có 20.000 quân, chia làm 13 tiểu đoàn, vũ trang bởi 135 xe tăng và 90 pháo[69].
Syria có 12.000 quân tham chiến khi chiến tranh nổ ra, chia làm 3 lữ đoàn bộ binh và một tiểu đoàn xe tăng. Không quân Syrian có 50 máy bay, 10 chiếc mới nhất trong số đó là những máy bay từ thế hệ Đệ nhị thế chiến. Ngày 14 tháng 5 quân Syria tràn vào Palestine với Lữ đoàn bộ binh số 1 hỗ trợ bởi một tiểu đoàn xe bọc thép, một đại đội xe tăng R 35 và R 37 Pháp, một tiểu đoàn pháo binh và các đơn vị khác. Trong ngày 15-16 họ tấn công làng Zemach, tới ngày 18 họ lại tấn công tiếp và chiếm được làng, nhưng họ phải bỏ làng này sau khi quân Syrian bị đánh bại tại Degania vài ngày sau. Tiếp đó, quân Syria giành được thắng lợi tại Mishmar HaYarden ngày 10 tháng 6, rồi chuyển sang phòng ngự, chỉ thỉnh thoảng tấn công vài khu định cư nhỏ, đơn lẻ của Israel[70]
Quân Liban là đạo quân nhỏ nhất, chỉ gồm 3.500 người[62] Theo Gelber, tháng 6 năm 1947 Ben-Gurion “đạt được thỏa thuận với các giới chức tôn giáo Maronite (một nhánh Ky-tô giáo ở Liban) để quân Liban không tham chiến”[71]. Một lực lượng tượng trưng gồm 1.000 quân Liban vượt biên giới vào miền bắc Galilee và bị quân Israeli đẩy lui rồi còn tiến chiếm một dải đất hẹp ở miền nam Liban cho tới khi hiệp định ngưng bắn được ký kết[72].
Ả rập Saudi gửi chừng 800 lính[73]–1.200[74] tham chiến cùng quân Ai Cập, Yemen cũng gửi một đạo quân nhỏ tới tham chiến.

Chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948

Giai đoạn 1: 14 tháng 5 tới 11 tháng 6 năm 1948

Chế độ ủy trị của Anh tại Palestine theo kế hoạch sẽ chấm dứt vào ngày 15 tháng 5, nhưng ban lãnh đạo Do thái, cầm đầu bởi Thủ tướng tương lai David Ben-Gurion, tuyên bố độc lập ngày 14 tháng 5 và được Liên Xô, Mỹ và nhiều nước khác nhanh chóng công nhận ngay sau đó

1948 Arab Israeli War - May 15-June 10.svg

Trong vòng vài ngày sau, chừng 1.000 quân Liban, 5.000 quân Syria, 5.000 quân Iraq, 10.000 quân Ai Cập tấn công quốc gia Israel non trẻ. Bốn ngàn quân Jordan tấn công “Khu vực phân cách”, bao gồm Jerusalem và vùng phụ cận, cũng như các khu vực thuộc về quốc gia Ả rập theo kế hoạch phân chia của Liên hiệp quốc. Họ cũng nhận được hỗ trợ từ các đội quân tình nguyện từ Ả rập Saudi, LibyaYemen.
Trong bản điện tín chính thức từ Tổng thư ký liên đoàn Ả rập cho Tổng thư ký Liên hiệp quốc ngày 15 tháng 5 năm 1948, các quốc gia Ả rập công khai tuyên bố mục tiêu của họ là thiết lập một “quốc gia Palestin thống nhất” thay cho hai quốc gia Do thái và Ả rập như kế hoạch của Liên hiệp quốc. Họ tuyên bố kế hoạch này vô giá trị, vì bị người Ả rập chiếm đa số bác bỏ, đồng thời nhất mực cho là sự vắng mặt chính quyền hợp pháp ở đây khiến cho việc can thiệp quân sự để bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản cho người Ả rập[75].
Israel, Mỹ và Liên Xô lên án các quốc gia Ả rập can thiệp vào Palestine là hành động hiếu chiến bất hợp lệ, trong khi Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Trygve Lie gọi đó là “hoạt động hiếu chiến đầu tiên mà thế giới chứng kiến kể từ khi Đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc”. Trong khi đó thì Trung Quốc lại ủng hộ phía Ả rập. Cả hai phe tăng cường nhân lực trong những tháng tiếp theo, nhưng Israel giành được ưu thế do việc tổng động viên và phần nào do dòng người tị nạn Do thái tiếp tục đổ về Israel tới 10.000 người mỗi tháng.

Lực lượng Israel năm 1948[76]
Lực lượng ban đầu 29.677
4 tháng 6 40.825
17 tháng 7 63.586
7 tháng 10 88.033
28 tháng 10 92.275
2 tháng 12 106.900
23 tháng 12 107.652
30 tháng 12 108.300

Ngày 26 tháng 5 năm 1948, Lực lượng phòng vệ Israel (IDF) được chính thức thành lập; Haganah, Palmach và Irgun giải tán và sát nhập vào quân đội nhà nước Do thái non trẻ.
Cùng với sự phát triển chiến sự, IDF nỗ lực mở rộng lực lượng lớn mạnh hơn lực lượng Ả rập tham chiến. Tới tháng 7 năm 1948, IDF đã có 63.000 quân, tới đầu mùa xuân năm 1949 là 115.000 quân. Lực lượng Ả rập có khoảng 40.000 quân vào tháng 7 năm 1948, tăng lên 55.000 vào tháng 10 năm 1948, và nhiều hơn một chút vào mùa xuân năm 1949.
Tất cả cơ sở hàng không của người Do thái đều được đặt dưới sự điều khiển của Sherut Avir (“Dịch vụ đường không”, hay SA) từ tháng 10 năm 1947. Đoàn bay Galilee được thành lập tại Yavne’el tháng 3 năm 1948 và đoàn bay Negev được thành lập tại Nir-Am tháng 4. Ngày 10 tháng 5, SA đã có 3 phân đội máy bay, bộ chỉ huy không quân, cơ sở bảo dưỡng và hậu cần. Khi giao tranh bùng nổ ngày 15 tháng 5, SA trở thành Không quân Israel -IAF, nhưng trong những tuần đầu của chiến tranh, máy bay Israel[77] bao gồm các phi cơ hạng nhẹ không phải là đối thủ của không quân Ả rập với máy bay T-6, Spitfire, C-47 và Avro Anson. Phần lớn tổn thất của không quân Ả rập là từ cuộc không tập của Ai Cập vào sân bay cũ của người Ramat David[78] gần Haifa ngày 22 tháng 5, với 5 máy bay Spitfire bị bắn rơi. Cũng trong thời kỳ đó, cán cân không lực chuyển về IAF với việc Israel mua được 25 máy bay Avia S-199 từ Tiệp Khắc, tạo nên tình trạng nghịch lý là phi công Israel lái máy bay chế tạo theo nguyên mẫu Đức Bf-109 đối đầu với máy bay Spitfire của Anh do phi công Ai Cập lái. Cuộc không tập đầu tiên vào một thủ đô của người Ả rập diễn ra đêm 31 tháng 5/ngày 1 tháng 6, khi 3 máy bay Israel ném bombombed Amman[79]. Tới mùa thu năm 1948, IDF giành được quyền làm chủ bầu trời, cũng như chiếm ưu thế áp đảo về hỏa lực và đội phi công dày dặn kinh nghiệm, với rất nhiều người phục vụ trong thời kỳ Đệ nhị thế chiến[80].
Nhiệm vụ đầu tiên của IDF là chặn quân đội Ả rập, không cho phép họ tàn phá các khu định cư Do thái, cho tới khi quân cứu viện và vũ khí được chuyển đến.

Thủ tướng đầu tiên của Israel Ben Gurion

Các cuộc giao tranh quyết liệt nhất diễn ra ở Jerusalem và trên con đường nối Jerusalem và Tel Aviv, giữa quân Lê Dương Ả rập và lực lượng Israel. Vua Abdullah hạ lệnh cho Glubb Pasha, chỉ huy quân Lê Dương Ả rập tiến vào Jerusalem ngày 17 tháng 5, và các cuộc giao tranh quyết liệt giành giật từng căn nhà diễn ra từ 19 tháng 5 tới 28 tháng 5, với kết quả là quân Lê Dương Ả rập giành được thắng lợi, đánh bật lực lượng Israel khỏi khu Ả rập cũng như khu Do thái ở khu vực Thành phố Cổ. Tất cả dân chúng Do thái ở Thành phố Cổ đều bị quân Jordan trục xuất. Quân Iraq thất bại khi tấn công các khu định cư Do thái (đáng kể nhất là trận đánh tại Mishmar HaEmek), nên chuyển sang phòng thủ quanh Jenin, Nablus, và Tulkarm.
Ngày 24 tháng 5 năm 1948, lực lượng IDF tại Latrun, bao gồm Lữ đoàn bọc thép số 7 và Lữ đoàn Alexandroni tấn công quân Lê Dương Ả rập trong chiến dịch “Bin-Nun A”, rồi tới ngày 1 tháng 6, lại tấn công tiếp, nhưng cả hai cuộc tấn công đều thất bại và bị tổn thất nặng nề với 139 người bị giết.
Ở phía bắc, quân Syria có cả xe bọc thép bị chặn đứng ở kibbutz Degania bởi người định cư chỉ có vũ khí hạng nhẹ. Một xe tăng bị đánh bất khiển dụng bởi chai xăng cháy Molotov, tới giờ vẫn còn nằm lại ở kibbutz này. Sau đó, một cuộc pháo kích bởi các cỗ pháo cổ từ thế kỷ 19 khiến cho quân Syria phải tháo lui. Trong những tháng tiếp theo, quân Syria, cũng như dân quân Palestine và quân ALA bị đẩy lùi.
Ở phía nam, quân Ai Cập mở cuộc tấn công và chọc thủng được tuyến phòng thủ của một số kibbutz của người Do thái, nhưng bị tổn thất nặng, và cuối cùng bị chặn lại ở gần Ashdod. Lực lượng vũ trang Israel không những đã bảo toàn được các vùng đất nằm trong tay mình, mà còn mở rộng các lãnh thổ kiểm soát được.

Cuộc ngưng bắn thứ nhất (11 tháng 6 tới 8 tháng 7 năm 1948)

Nhà thương thuyết của Liên hiệp quốc, bá tước Folke Bernadotte, bị ám sát năm 1948

Liên hiệp quốc tuyên bố ngưng bắn ngày 29 tháng 5, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 11 tháng 6 và sẽ kéo dài 28 ngày. Lệnh ngưng bắn được theo dõi bởi nhà thương thuyết của Liên hiệp quốc là bá tước Thụy Điển Folke Bernadotte. Một lệnh cấm vận vũ khí cũng được ban bố với dụng ý không cho phép bên nào được lợi dụng lệnh ngưng bắn. Tới thời gian cuối cuộc ngưng bắn, Bá tước Bernadotte đệ trình kế hoạch phân chia mới, theo đó vùng Galilee sẽ thuộc về người Do thái còn vùng Negev về người Ả rập, nhưng cả hai phe đều bác bỏ kế hoạch này. Ngày 8 tháng 7, ngay trước khi lệnh ngưng bắn hết hiệu lực, tướng Ai cập Naguib cho tái chiến bằng cách tấn công Negba[81].

Giai đoạn hai (8 tháng 7 tới 18 tháng 7 năm 1948)

Trong mười ngày giữa mùa hè năm 1948, giữa hai cuộc ngưng bắn, người Israel tổ chức một loạt chiến dịch tấn công lớn, còn người Ả rập thì quay ra phòng ngự. Chiến dịch Dani là chiến dịch quan trọng nhất, nhằm bảo vệ và mở rộng hành lang nối liền Jerusalem và Tel Aviv bằng cách đánh chiếm các thị trấn dọc theo hàng lang này là Lydda (sau này đổi tên thành Lod) và Ramle. Sau khi các thị trấn này thất thủ, 50.000 cư dân Ả rập bị buộc phải rời bỏ thị trấn, là cuộc chạy tị nạn lớn nhất trong suốt cuộc chiến.
Trong giai đoạn hai của chiến dich, theo kế hoạch người Do thái sẽ đánh chiếm vị trí chiến lược được phòng ngự cẩn mật Latrun, khống chế con đường Tel Aviv-Jerusalem, và thành phố Ramallah, nhưng chiến dịch này thất bại.
Chiến dịch thứ nhì là chiến dịch Dekel nhằm chiến vùng hạ Galilee, bao gồm cả Nazareth. Kế hoạch thứ ba, với lực lượng tham gia ít hơn, là chiến dịch Kedem với mục tiêu đánh chiếm khu Thành cổ Jerusalem.[82].

Chiến dịch Dani

Lod được bảo vệ phần lớn bởi quân đội Jordan, nhưng lực lượng dân quân Palestine và Quân giải phóng Ẩ rập cũng có mặt. Thị trấn bị tấn công từ phía bắc từ hướng Majdal al-Sadiqal-Muzayri’a, và từ phía đông từ hướng Khulda, al-Qubab, JimzuDanyal. Lần đầu tiên trong cuộc chiến, máy bay ném bom được sử dụng để oanh kích thị trấn. Ngày 11 tháng 7 năm 1948 IDF chiếm được thành phố. Ngày hôm sau, đến lượt Ramle cũng rơi vào tay người Israel.
Ngày 15 tháng 716 tháng 7, người Israel tổ chức tấn công vào Latrun nhưng không chiếm được thành phố. Một đơn vị thuộc lữ đoàn Yiftach, trang bị xe bọc thép – trong đó có hai xe tăng Cromwell, liều lĩnh tấn công một lần nữa, nhưng cũng bị thất bại. Mặc dù cuộc ngưng bắn lần thứ nhì bắt đầu từ ngày 18 tháng 7, người Israel tiếp tục nỗ lực nhằm đánh chiếm thành phố cho tới ngày 20 tháng 7.

Chiến dịch Dekel

Trong khi chiến dịch Dani đang diễn ra ở miền trung, thì ở miền bắc chiến dịch Dekel mở màn. Nazareth bị chiếm ngày 16 tháng 7, rồi sau khi cuộc ngưng bắn lần thứ nhì bắt đầu từ 19:00 ngày 18 tháng 7, toàn bộ miền hạ Galilee từ vịnh Haifa cho đến biển Galilee rơi vào tay người Israel.

Chiến dịch Kedem

Theo kế hoạch ban đầu, chiến dịch nhằm chiếm Jerusalem sẽ diễn ra vào ngày 8 tháng 7, ngay sau cuộc ngưng bắn đầu tiên, do lực lượng Irgun và Lehi tiến hành. Tuy nhiên, David Shaltiel trì hoãn chiến dịch, có lẽ vì ông nghi ngờ khả năng họ giành được thắng lợi nếu thiếu sự hỗ trợ từ Haganah, như trận thất bại Deir Yassin.
Lực lượng Irgun được chỉ huy bởi Yehuda Lapidot (Nimrod) được lệnh đột phá từ “Cổng mới”, Lehi đột phá qua bức tường kéo dài từ “Cổng mới” đến Cổng Jaffa, còn tiểu đoàn Beit Hiron thì tấn công từ núi Zion.
Trận chiến dự kiến bắt đầu từ ngày lễ Sabbath, lúc 20:00 giờ ngày thứ sáu 16 tháng 7, một ngày trước cuộc ngưng bắn thứ hai. Chiến dịch bị trở ngại ngay từ đầu, và phải hoãn lại, đầu tiên là tới 23:00 giờ, rồi sau đó là nửa đêm. Mãi đến lúc 02:30 sáng trận đánh mới bắt đầu nổ ra. Binh lính của Irgun đột phá được qua Cửa mới, nhưng các cánh quân khác đều không thực hiện được mục tiêu, nên đến 05:45 sáng, Shaltiel hạ lệnh rút lui và ngưng bắn.

Cuộc ngưng bắn thứ hai: 18 tháng 7 tới 15 tháng 10 năm 1948

Tới 19:00 giờ ngày 18 tháng 7, cuộc ngưng bắn thứ hai có hiệu lực sau những nỗ lực ngoại giao căng thẳng của Liên hiệp quốc
Ngày 16 tháng 9, Bá tước Bernadotte đệ trình một bản kế hoạch mới theo đó Jordan sẽ sát nhập các vùng đất Ả rập bao gồm Negev, al-Ramla, và Lydda. Quốc gia Do thái mới sẽ bao gồm toàn bộ vùng Galilee, Jerusalem sẽ do cộng đồng quốc tế quản lý, và người tị nạn sẽ được hồi hương hoặc được bồi thường. Kế hoạch này lại bị cả hai phe bác bỏ. Ngày hôm sau, Bá tước Bernadotte bị nhóm Lehi ám sát, và phó của ông là Ralph Bunche, người Mỹ, thay thế ông.

Giai đoạn ba (15 tháng 10 năm 1948 tới 20 tháng 7 năm 1949)

Israel tổ chức tấn công

Từ ngày 15 tháng 10 tới ngày 20 tháng 7 Israel mở một loạt chiến dịch tấn công để đẩy lùi các đạo quân Ả rập và củng cố biên giới của Israel.

Các trận đánh tháng 10 1948

Ngày 24 tháng 10, IDF mở chiến dịch Hiram và đánh chiếm toàn bộ vùng Thượng Galilee, đánh quân ALA và quân Liban lùi về Liban. Chiến dịch thành công mỹ mãn, và tới cuối tháng, Israel không những giành được toàn bộ vùng Galilee mà còn tiến sâu vào Liban 5 dặm (8,0 km) tới tận sông Litani.
Ngày 15 tháng 10 IDF mở chiến dịch Yoav ở phía bắc hoang mạc Negev với mục tiêu chia cắt các cánh quân Ai cập dọc theo miền duyên hải và tuyến đường BeershebaHebron-Jerusalem, nhằm chiếm lấy toàn bộ vùng Negev. Chỉ huy chiến dịch Yoav là chỉ huy Mặt trận miền nam Yigal Allon. Chiến dịch thành công rực rỡ, đánh tan tác hàng ngũ quân Ai cập, buộc quân Ai cập phải rút khỏi miền bắc Negev, Beersheba và Ashdod. Ngày 22 tháng 10, đặc công của Hải quân Israeli đánh chìm kỳ hạm Ai Cập Amir Faruk.
Ngày 22 tháng 12, IDF đánh lùi các lực lượng Ai Cập còn lại khỏi lãnh thổ Israel với chiến dịch Horev (còn gọi là chiến dịch Ayin). Mục tiêu chiến dịch nhằm giải phóng toàn bộ miền Negev khỏi quân Ai Cập, loại trừ hiểm họa từ phía quân Ai Cập khỏi sườn phía nam Israel và buộc Ai Cập phải chấp nhân một lệnh ngưng bắn một khi toàn bộ hoang mạc Negev đã được giải phóng. Chiến dịch này mang lại thắng lợi quyết định cho Israel, cùng với các cuộc đột kích của Israel vào Nitzanabán đảo Sinai buộc quân đội Ai Cập đang bị vây hãm ở dải Gaza phải chấp thuận rút lui và ngưng bắn. Ngày 7 tháng 1, lệnh tạm ngưng bắn được chấp thuận, quân Israel rút khỏi bán đảo Sinai và dải Gaza do sức ép từ cộng đồng quốc tế.
Ngày 5 tháng 3, chiến dịch Uvda mở màn, tới ngày 10 tháng 3 quân đội Israel đã tiến tới Umm Rashrash (sau này là Eilat) và chiếm được nó mà không phải nổ một phát súng. Các lữ đoàn Negev và Golani tham gia chiến dịch dựng lá cờ Israel tô tạm bằng mực lên để tuyên bố chủ quyền tại Umm Rashrash, đồng thời cũng đánh dấu chiến tranh kết thúc.

Vũ khí

Cả hai bên sử dụng vũ khí tồn kho từ Đại chiến thế giới lần thứ hai. Ai Cập sử dụng một số trang thiết bị của Anh, còn Syria sử dụng loại của Pháp, Israel sử dụng vũ khí của Anh, Tiệp Khắc và Đức[83].

Type Quân đội Ả rập IDF
Xe tăng Matilda, Mark IV, R-39, FT-17, R35, Panzer IV(đặt dưới hầm và như ổ hỏa lực cố định bởi quân Ai Cập) Xe tăng Cromwell, H39, Valentines.
APCs/IFVs British WW2 Era Trucks, Humber Mk III & IV, Automitrailleuses Dodge of the Bich type, Improvised Armoured Car/Truck, Marmon-Herrington Armoured Car, Universal Carrier, Lloyd Towing Carriers British WW2 Era Trucks, Improvised Armoured Car/Truck, White M3A1 Scout Car, Daimler Armoured Car, IHC M14 half-track, M5 half-track, M3 Half-track
Pháo binh Mortars, 15 cm sIG33 auf Pz II, 25 mm anti-tank guns on Bren carriers, Improvised self-propelled guns used by Syrians in 1948-49, 65 mm mountain gun on Chenillette Lorraine 38L 2-pounder anti-tank gun, 6-pounder anti-tank gun, Mortars, converted 19th century museum pieces, 2 inch British mortars 65 mm French Howitzers “Napoleonchiks”, 120 mm French mortars, Davidka artillery pieces
Máy bay Spitfires, T-6 Texan, C-47 Dakotas, Hawker Hurricane and Avro Ansons Spitfires, Avia S-199, B-17 Flying Fortresses
Vũ khí hạng nhẹ Súng trường Lee Enfield tiểu liên Sten, lựu đạn Mill, súng carbin 98k (mẫu Tiệp Khắc)

Kết cục

Năm 1949, Israel ký các hiệp ước ngưng bắn riêng rẽ với Ai Cập ngày 24 tháng 2, Liban ngày 23 tháng 3, Jordan ngày 3 tháng 4, và Syria ngày 20 tháng 7. Biên giới mới của Israel, như theo thỏa thuận được ký kết, bao gồm chừng 78% lãnh thổ ủy nhiệm Palestine. Tuy nhiên nếu tính đến lãnh thổ ủy nhiệm nguyên thủy của Anh (bao gồm cả Jordan cho tới mùa hè năm 1921), thì Israel chỉ chiếm 18% lãnh thổ Palestine và Jordan, (nhưng nhiều hơn kế hoạch phân chia của Liên hiệp quốc 50%). Tuyến ngưng bắn về sau được biết đến với tên gọi “Tuyến xanh”. Dải Gaza và vùng Bờ Tây do Ai Cập và Jordan chiếm giữ.
Israel mất chừng 1% dân số trong cuộc chiến: 6.373 người thiệt mạng, với 4.000 binh lính và số còn lại là thường dân. Không có số liệu chính xác về thiệt hại của phía Ả rập, nhưng ước tính khoảng từ 10 đến 15 ngàn người thiệt mạng.
Trong thời kỳ Nội chiến 1947-1948 tại lãnh thổ ủy trị và thời kỳ chiến tranh Ả Rập – Israel, có chừng 750.000 người Palestine bỏ chạy hoặc bị trục xuất. Năm 1951 ủy ban Hòa giải của Liên Hiệp Quốc ước tính số người tị nạn Palestine rời bỏ Israel vào khoảng 711.000 người[84]. Số này không bao gồm những người Palestine sống trong vùng lãnh thổ do Israel kiểm soát. Danh sách các làng mạc bị bỏ hoang sau cuộc chiến gồm hơn 400 làng Ả Rập bị bỏ hoang, và khoảng 10 làng và khu phố Do thái.
Nguyên nhân cuộc di tản của người Palestine là vấn đề gây tranh cãi trong giới sử gia, về việc các lãnh đạo Ả rập phải chịu bao nhiêu phần trách nhiệm, (vì họ kêu gọi dân chúng di tản, hứa hẹn sẽ đưa người Ả rập trở lại sau khi đã quét sạch người Do thái) và liệu cuộc di tản nằm trong kế hoạch của ban lãnh đạo Yishuv hay chỉ là “kết quả của chiến tranh”[85][86].
Vấn đề người tị nạn Palestine và cuộc tranh cãi quanh quyền hồi hương của họ là một chủ đề lớn trong cuộc xung đột Ả rập-Israel. Người Palestine hàng năm vẫn tổ chức biểu tình ngày 15 tháng 5, số lượng người tham gia thay đổi hàng năm, dù rằng thời gian gầy đây, sau thất bại của cuộc hòa đàm Trại David năm 2000, số người tham gia biểu tình phản đối Israel tăng lên.
Trong cuộc chiến, khoảng 10 ngàn người Do thái bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ[87], nhưng trong vòng 3 năm sau cuộc chiến, khoảng 700.000 người định cư Do thái đến lập nghiệp tại Israel, chủ yếu dọc theo vùng biên giới và các vùng đất vốn thuộc người Ả Rập[88]. Khoảng 136.000 người trong số này nằm trong số 250.000 người Do thái phải tha hương sau Đệ nhị thế chiến[89]. Phần lớn số còn lại nằm trong số 758.000 cho đến 900.000 người Do thái sinh sống trong các quốc gia Ả rập phải rời bỏ nhà cửa do các cuộc tấn công của dân chúng nhằm vào người Do thái[90].

Chú thích

  1. ^ UN Doc. S/745, reprinted in 3 UN SCOR, Supp. for tháng 5 năm 1948, at 83-88
  2. ^ Arab states against israel, 1948 – A map from New York Times including Mutawakkilite Yemen
  3. ^ Pollack, 2004; Sadeh, 1997
  4. ^ a ă Geddes, 1991, pp. 79-81
  5. ^ Theo Tuyên cáo Balfour, chính phủ Anh nghiêng về việc tái lập quốc cho người Do thái
  6. ^ Karsh & Karsh, 1999, pp. 254-258
  7. ^ Gelber, 1997, pp. 6-15
  8. ^ Sicker, 1999, p. 164
  9. ^ Bickerton and Hill, 2003, p. 43. Cited from census figures quoted in Janowsky, 1975.
  10. ^ Gilbert, 1998, p. 80
  11. ^ Gilbert, 1998, p. 85. The Jewish Settlement Police were set up and equipped with trucks and armored cars by the British working with the Jewish Agency.
  12. ^ van Creveld, 2004, p. 45.
  13. ^ Black, 1992, p. 14.
  14. ^ Khalidi, 1987, p. 845 (cited in Khalidi, 2001).
  15. ^ Bowyer Bell, 1996, p. 33
  16. ^ a ă â Katz, 1988, pp. 3–4.
  17. ^ Kaniuk, 2001, p. 19.
  18. ^ Brown and Louis, 1999, p. 193
  19. ^ Oring, 1981, p. 14.
  20. ^ Richelson, 1997, p. 238
  21. ^ Netanel Lorch, The Edge of the Sword: Israel’s war of independence, Jerusalem: 1961, p. 21
  22. ^ Israel Foreign Ministry et al, 2000, p. 51. Approximately 26.000 Palestinian Jews served in the British Army. The three companies of Jewish volunteers in the Buffs became the Palestine Regiment. In tháng 9 năm 1944 the Jewish Brigade was formed. Its 5.000 volunteers saw service in Egypt, Northern Italy and North-West Europe. According to Moshe Shertok by 1943 of the 500.000 Jews in Palestine 30.000 had joined the British Army; a further 20.000 worked for the army as civilians and another 20.000 worked on army contracts in factories
  23. ^ Israeli and Penkower, 2002, pp. 112–113.
  24. ^ Beckman, 1999, pp. 42–43
  25. ^ “The Palestine Problem II—New Factors In The Racial Balance Of Power, Growth Of Jewish Underground Groups”, From a Special Correspondent Lately in Palestine. The Times, Wednesday, 26 tháng 9 1945; pg. 5; Issue 50257; col F
  26. ^ Pappe, 2006, p. 35
  27. ^ El-Nawawy, 2002, p. 1-2
  28. ^ Morris, ‘Righteous Victims …’, 2001, p. 190
  29. ^ Gold, 2007, p. 134
  30. ^ Arab League Declaration on the Invasion of Palestine 15 tháng 5 năm 1948, Jewish Virtual Library
  31. ^ Special UN commission (16 tháng 4 năm 1948), § II.5
  32. ^ Yoav Gelber (2006), p.85
  33. ^ Yoav Gelber (2006), pp.51-56
  34. ^ Dominique Lapierre et Larry Collins (1971), chap.7, pp.131-153
  35. ^ Morris (2003), p.163
  36. ^ Dominique Lapierre et Larry Collins (1971), p.163
  37. ^ Morris (2003), p.67
  38. ^ Henry Laurens (2005), p.83
  39. ^ Dominique Lapierre et Larry Collins (1971), pp.369-381
  40. ^ Morris (2003), pp.242-243
  41. ^ Morris (2003), p.242
  42. ^ Henry Laurens (2005), pp.85-86
  43. ^ Morris (2003), pp.248-252
  44. ^ Morris (2003), pp.252-254
  45. ^ Morris, 2003, p. 32
  46. ^ D. Kurzman, ‘Genesis 1948’, 1970, p.282
  47. ^ Morris, 2003, p. 35
  48. ^ Gelber, p. 73; Morris, 2003, p. 16; Karsh, p. 25.
  49. ^ Karsh, p. 25.
  50. ^ a ă W. Khalidi, ‘Plan Dalet: Master Plan for the Conquest of Palestine’, J. Palestine Studies 18(1), p. 4-33, 1988 (reprint of a 1961 article)
  51. ^ Morris, p.16.
  52. ^ Morris, 2003, p.16.
  53. ^ Karsh, p.25.
  54. ^ Morris, ‘Birth… revisited’, p.16.
  55. ^ is this also according to ‘Karsh, p.25.’?
  56. ^ Collins and LaPierre, 1973 p.355
  57. ^ Karsh, 2002, p. 26.
  58. ^ Morris, 2003, p. 29.
  59. ^ Levenberg, 1993, p. 181.
  60. ^ Gelber, pp. 36-37.
  61. ^ Gelber, p. 13.
  62. ^ a ă â Karsh, p. 27.
  63. ^ Gelber, p. 39.
  64. ^ D. Kurzman, ‘Genesis 1948’, 1972, p. 382.
  65. ^ I. Pappe, ‘The ethnic cleansing of Palestine’, 2006, p. 129.
  66. ^ D. Kurzman, ‘Genesis 1948’, 1972, p. 556.
  67. ^ Pollack, 2002, p. 150.
  68. ^ Pollack, 2002, pp. 149–155.
  69. ^ Pollack, 2002, 15–27.
  70. ^ Pollack, 2002, pp. 448–457.
  71. ^ Yoav Gelber, 2006, “Sharon’s Inheritance”
  72. ^ Rogan & Shlaim, 2001, p. 8.
  73. ^ Gelber, p.55
  74. ^ Uthman Hasan Salih, DAWR AL-MAMLAKA AL-`ARABIYYA AL-SA`UDIYYA FI HARB FILASIN 1367H/1948 (The role of Saudi Arabia in the Palestine war of 1948), Revue d’Histoire Maghrébine [Tunisia] 1986 13(43–44): 201-221. ISSN: 0330-8987.
  75. ^ ‘The Origins and Evolution of the Palestine Problem: 1917–1988. Part II, 1947–1977.
  76. ^ Bregman, 2002, p. 24 citing Ben Gurion’s diary of the war
  77. ^ http://www.aeroflight.co.uk/waf/israel/iaftypes.htm
  78. ^ Ramat David – Israel Airfields
  79. ^ Aloni, 2001, pp. 7–11.
  80. ^ Morris, 2001, pp. 217–18.
  81. ^ Alfred A. Knopf. A History of Israel from the Rise of Zionism to Our Time. New York. 1976. p. 330. ISBN 0-394-48564-5.
  82. ^ Map of the Attacks
  83. ^ http://www.balagan.org.uk/war/ai/weapons.htm Weapons of the Arab-Israeli Wars
  84. ^ General Progress Report and Supplementary Report of the United Nations Conciliation Commission for Palestine, Covering the Period from 11 tháng 12 năm 1949 to 23 tháng 10 năm 1950, published by the United Nations Concilation Commission, 23 tháng 10, 1950. (U.N. General Assembly Official Records, 5th Session, Supplement No. 18, Document A/1367/Rev. 1)
  85. ^ See eg, Eugene Rogan and Avi Shlaim, The War for Palestine: Rewriting the History of 1948
  86. ^ The different analysis and theories concerning the events are described in the causes of the 1948 Palestinian exodus
  87. ^ “Jewish Refugees of the Israeli Palestinian Conflict”. Mideast Web. Truy cập 16 tháng 3 năm 2007.
  88. ^ Benny Morris, Righteous Victims, chap.VI
  89. ^ Displaced Persons truy cập 29 tháng 10 năm 2007 from the US Holocaust Museum.
  90. ^ Stearns, 2001, p. 966.

Tài liệu tham khảo

  • Aloni, Shlomo (2001). Arab-Israeli Air Wars 1947-82. Osprey Publishing. ISBN 1-84176-294-6
  • Beckman, Morris (1999). The Jewish Brigade: An Army With Two Masters, 1944-45. Sarpedon Publishers. ISBN 188511956
  • Ben-Ami, Shlomo (2006). Scars of War, Wounds of Peace: The Israeli-Arab Tragedy. Oxford University Press. ISBN 0-19-518158-1
  • Benvenisti, Meron (2002). Sacred Landscape. University of California Press. ISBN 0-520-23422-7
  • Bickerton, Ian and Hill, Maria (2003). Contested Spaces: The Arab-Israeli Conflict. McGraw-Hill. ISBN 0-07-471217-9
  • Black, Ian (1992). Israel’s Secret Wars: A History of Israel’s Intelligence Services. Grove Press. ISBN 0-8021-3286-3
  • Bowyer Bell, John (1996). Terror Out of Zion: The Fight For Israeli Independence. Transaction Publishers. ISBN 1-56000-870-9
  • Bregman, Ahron (2002). Israel’s Wars: A History Since 1947. London: Routledge. ISBN 0-415-28716-2
  • Brown, Judith and Louis, Roger (1999). The Oxford History of the British Empire. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-820564-3
  • Creveld, Martin van Creveld (2004). Moshe Dayan. Weidenfeld & Nicholson. ISBN 0-297-84669-8
  • Collins, Larry and Lapierre, Dominique (1973) O Jerusalem!’, Pan Books. ISBN 0-330-23514-1
  • El-Nawawy, Mohammed (2002), The Israeli-Egyptian Peace Process in the Reporting of Western Journalists, Ablex/Greenwood, ISBN 1-56750-544-9
  • Flapan, Simha (1987), ‘The Birth of Israel: Myths and Realities’, Pantheon Books, New York,
  • Geddes, Charles L. (1991). A Documentary History of the Arab-Israeli Conflict. Praeger. ISBN 0-275-93858-1
  • Gelber, Yoav (1997). Jewish-Transjordanian Relations 1921-48: Alliance of Bars Sinister. London: Routledge. ISBN 0-7146-4675-X
  • Gelber, Yoav (2006). Palestine 1948. WAr, Escape and the Emergnece of the Palestinian Refugee Problem. Sussex Academic Press. ISBN 1-84519-075-0
  • Gilbert, Martin (1976). The Arab-Israeli Conflict Weidenfeld & Nicholson. ISBN 0-297-77241-4
  • Gilbert, Martin (1998). Israel: A History. Black Swan. ISBN 0-552-99545-2
  • Gold, Dore Gold (2007), The Fight for Jerusalem: Radical Islam, the West, and the Future of the Holy City, Regnery Publishing, ISBN 1-59698-029-X
  • Israel Foreign Ministry, Foreign Ministry of the Russian Federation, Israel State Archives, Russian Federal Archives, Cummings Center for Russian Studies Tel Aviv University, Oriental Institute (2000). Documents on Israeli Soviet Relations, 1941-53. London: Routledge. ISBN 0-7146-4843-4
  • Israeli, Raphael and Penkower, Monty Noam (2002). Decision on Palestine Deferred: America, Britain and Wartime Diplomacy, 1939-1945. London: Routledge. ISBN 0-7146-5268-7
  • Kaniuk, Yoram (2001). Commander of the Exodus. Grove Press. ISBN 0-8021-3808-X
  • Karsh, Efraim (2002). The Arab-Israeli Conflict. The Palestine War 1948. Osprey Publishing. ISBN 1-84176-372-1
  • Karsh, Inari & Karsh, Efraim (1999). Empires of the Sand: The Struggle for Mastery in the Middle East, 1789-1923. Harvard University Press. ISBN 0-674-00541-4
  • Katz, Sam (1988). Israeli Units Since 1948. Osprey Publishing. ISBN 0-85045-837-4
  • Khalidi, Rashid (2001). The Palestinians and 1948: the underlying causes of failure. In Eugene Rogan and Avi Shlaim (eds.). The War for Palestine (pp. 12–36). Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0-521-79476-5
  • Khalidi, Walid (1987). From Haven to Conquest: Readings in Zionism and the Palestine Problem Until 1948. Institute for Palestine Studies. ISBN 0-88728-155-9
  • Kurzman, Dan (1970), Genesis 1948 – the first Arab-Israeli war, New York American Library, New York, Library of Congress CCN: 77-96925
  • Landis, Joshua. “Syria and the Palestine War: fighting King ‘Abdullah’s ‘Greater Syria plan.'” Rogan and Shlaim. The War for Palestine. 178-205.
  • Levenberg, Haim (1993). Military Preparations of the Arab Community in Palestine: 1945-1948. London: Routledge. ISBN 0-7146-3439-5
  • Masalha, Nur (1992). Expulsion of the Palestinians: The Concept of “Transfer” in Zionist Political Thought, 1882-1948, Institute for Palestine Studies, ISBN 0-88728-235-0
  • Morris, Benny (1988), The Birth of the Palestinian Refugee Problem, 1947 – 1949, Cambridge Middle East Library,
  • Morris, Benny (1994), 1948 and after; Israel and the Palestinians,
  • Morris, Benny (2001). Righteous Victims: A History of the Zionist-Arab Conflict, 1881-2001. Vintage. ISBN 0-679-74475-4
  • Morris, Benny (2004), The Birth of the Palestinian Refugee Problem Revisited, Cambridge University Press, Cambridge UK, ISBN 0-521-81120-1
  • Oring, Elliott (1981). Israeli Humor-The Content: The Content and Structure of the Chizbat of the Palmah. SUNY Press. ISBN 0-87395-512-9
  • Pappe, Ilan (2006), The Ethnic Cleansing of Palestine, Oneworld Publications Limited, Oxford, England, ISBN 1-85168-467-0
  • Pollack, Kenneth (2004). Arabs at War: Military Effectiveness, 1948-1991. University of Nebraska Press. ISBN 0-8032-8783-6
  • Richelson, Jeffery T. (1997). A Century of Spies: Intelligence in the Twentieth Century. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-511390-X
  • Rogan, Eugene L., ed., and Avi Shlaim, ed. The War for Palestine: Rewriting the History of 1948. Cambridge: Cambridge UP, 2001.
  • Rogan, Eugene L. “Jordan and 1948: the persistence of an official history.” Rogan and Shlaim. The War for Palestine. 104-124.
  • Sadeh, Eligar (1997). Militarization and State Power in the Arab-Israeli Conflict: Case Study of Israel, 1948-1982. Universal Publishers. ISBN 0-9658564-6-1
  • Sachar, Howard M. (1979). A History of Israel, New York: Knopf. ISBN 0-679-76563-8
  • Sayigh, Yezid (2000). Armed Struggle and the Search for State: The Palestinian National Movement, 1949-1993. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-829643-6
  • Sela, Avraham. “Abdallah Ibn Hussein.” The Continuum Political Encyclopedia of the Middle East. Ed. Avraham Sela. New York: Continuum, 2002. pp. 13–14.
  • Shapira, Anita (1992). Land and Power: Zionist Resort to Force, 1881-1948. Oxford University Press. ISBN 0-19-506104-7
  • Shlaim, Avi (2001). Israel and the Arab Coalition. In Eugene Rogan and Avi Shlaim (eds.). The War for Palestine (pp. 79–103). Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0-521-79476-5
  • Sheleg, Yair (2001). A Short History of Terror Haaretz.
  • Sicker, Martin (1999). Reshaping Palestine: From Muhammad Ali to the British Mandate, 1831-1922. Praeger/Greenwood. ISBN 0-275-96639-9
  • Stearns, Peter N. Citation from The Encyclopedia of World History Sixth Edition, Peter N. Stearns (general editor), © 2001 The Houghton Mifflin Company, at Bartleby.com.
  • Tripp, Charles. “Iraq and the 1948 War: mirror of Iraq’s disorder.” Rogan and Shlaim. The War for Palestine. 125-150.
  • Zertal, Idith (2005). Israel’s Holocaust and the Politics of Nationhood. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0-521-85096-7

Liên kết ngoài

Maps


Liberia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Cộng hoà Liberia
Republic of Liberia (tiếng Anh)
Flag of Liberia.svg Coat of arms of Liberia.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Liberia
Khẩu hiệu
The love of liberty brought us here
(Tiếng Anh: “Tình yêu tự do đã đưa chúng ta đến đây”)
Quốc ca
All Hail, Liberia, Hail!
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa
 • Tổng thống
Thủ tướng
Ellen Johnson-Sirleaf
Joseph Boakai
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Anh
Thủ đô Monrovia
6°19′B, 10°48′T
Thành phố lớn nhất Monrovia
Địa lý
Diện tích 96.320 km² (hạng 102)
Diện tích nước 13,514% %
Múi giờ GMT (UTC+0)
Lịch sử
Thành lập
Ngày thành lập 26 tháng 7, 1847
Dân cư
Dân số ước lượng (2005 (tháng 7)) 3.482.211 người (hạng 127)
Mật độ 31 người/km² (hạng 140)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: 2,903 tỷ Mỹ kim
HDI (2003) “unranked” (hạng –)
Đơn vị tiền tệ Đô la Liberia (LRD)
Thông tin khác
Tên miền Internet .lr

Cộng hòa Liberia là một quốc gia nằm ở Tây Phi. Nó có biên giới với Sierra Leone, Guinée, và Côte d’Ivoire. Liberia nghĩa là nước tự do.

Từ nguyên

Lịch sử

Liberia được thành lập năm 1822 như là vùng định cư cho những người nô lệ được giải phóng từ Mỹ trở về, trở thành quốc gia độc lập năm 1847. Thủ đô Monrovia được đặt theo tên của Tổng thống Hoa Kỳ James Monroe (1758-1831). Tuy nhiên những người bán xứ vẫn là dân tộc chiếm phần lớn ở Liberia gồm có 16 sắc tộc khác nhau. Đời sống chính trị ở quốc gia này tương đối ổn định trong một thời gian dài mặc dầu có sự đối kháng giữa những người Mỹ gốc Phi và dân tộc bản xứ. Từ năm 1885 đến năm 1910, các đường biên giới quốc gia được ấn định thông qua các hiệp ước với AnhPháp.
Từ sau 1920, đất nước đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc tiến sâu vào nội địa. Tiến trình này được xúc tiến mạnh nhờ việc xây dựng 69 km đường xe lửa từ Monrovia đến Bomi Hills. Tháng 7 năm 1971, Tổng thống William V. Tubman qua đời sau ca mổ. Phó Tổng thống William R. Tolbert tiếp tục lãnh đạo đất nước.
Tháng 4 năm 1980, cuộc đảo chính quân sự lật đổ chế độ của William Tolbert, Samuel K. Doe lên cầm quyền, nhưng chính Doe cũng bị lật đổ và bị ám sát trong cuộc nội chiến bùng nổ năm 1990. Xung đột kết thúc năm 1996 và cuộc tuyển cử đa đảng đã diễn ra năm 1997. Lãnh đạo đảng Mặt trận Dân tộc Yêu nước, Charles Taylor, trở thành Tổng thống. Năm 2000, Liên hiệp châu Âu đình chỉ tài trợ cho Charles Taylor vì cho rằng Taylor ủng hộ quân nổi dậy ở Sierra Leone.
Vào tháng 8 năm 2003, một hiệp định hoà bình toàn diện đã kết thúc 14 năm nội chiến và thúc đẩy việc từ chức của tổng thống tiền nhiệm Charles Taylor người phải sống lưu vong ở ppNigeria[[. Sau 2 năm cầm quyền của chính phủ quá độ, các cuộc bầu cử dân chủ đã đưa tổng thống Ellen Johnson-Sirleaf lên cầm quyền vào cuối năm 2005. Bầu cử tổng thống và hiến pháp diễn ra tự do và công bằng khắp nơi bất chấp luận điệu không trung thực từ George Weah – đối thủ của Johnson-Sirleaf. Uỷ ban Liên Hiệp quốc ở Liberia (UNMIL) có mặt ở mọi nơi tại nước này đã hoàn thành xong chương trình giải giáp vũ khí đối với những binh lính trước đây vào cuối năm 2004, tuy nhiên tình hình an ninh vẫn bất ổn và quá trình tái thiết cơ cấu kinh tế xã hội quốc gia bị chiến tranh tàn phá này vẫn rất chậm chạp.

Người bản xứ tây Phi

Công dân từ Mỹ

Sự kiện giữa thế kỷ hai mươi quan trọng

Nội chiến 1989 và 1999

Chính phủ chuyển tiếp và cuộc bầu cử

Tổng thống Ellen Johnson-Sirleaf

Tình trạng nhân quyền

Chính trị và chính phủ

Theo thể chế Cộng hoà tổng thống, chế độ lưỡng viện (từ năm 1847).
Hiến pháp hiện hành được ban hành ngày 6 tháng 1 năm 1986.
Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4 năm; 26 thành viên của Thượng nghị viện được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 9 năm và 64 thành viên của Hạ nghị viện được bầu bằng tuyển cử phổ thông phêíu đầu, nhiệm kỳ 6 năm. Tổng thống bổ nhiệm của thành viên của Nội các.

Hành chính

Liberia được chia thành 15 tỉnh, sau đó lần lượt được chia thành các hạt. Các quận lâu đời nhất là Grand BassaMontserrado, cả hai được thành lập vào năm 1839 trước khi Liberia độc lập. Gbarpolu là hạt mới nhất, được thành lập vào năm 2001. Nimba là hạt lớn nhất với diện tích 4.460 dặm vuông (11.551 km2), trong khi Montserrado là nhỏ nhất với 737 dặm vuông (1.909 km2).[1] Montserrado cũng là quận đông dân nhất với 1.144.806 người dân.[1]
Mười lăm tỉnh được quản lý bởi các Thống đốc do Tổng thống bổ nhiệm. Hiến pháp kêu gọi cuộc bầu cử các lãnh đạo khác nhau ở cấp tỉnh và hạt, nhưng các cuộc bầu cử đã không xảy ra từ năm 1985 do chiến tranh và những khó khăn tài chính.[2]

STT# Tỉnh Thủ phủ Dân số (2008)[3] Diện tích[3] Năm thành lập
1 Bomi Tubmanburg 82,036 750 sq mi (1.942 km2) 1984
2 Bong Gbarnga 328,919 3.387 sq mi (8.772 km2) 1964
3 Gbarpolu Bopulu 83,758 3.741 sq mi (9.689 km2) 2001
4 Grand Bassa Buchanan 224,839 3.064 sq mi (7.936 km2) 1839
5 Grand Cape Mount Robertsport 129,055 1.993 sq mi (5.162 km2) 1844
6 Grand Gedeh Zwedru 126,146 4.048 sq mi (10.484 km2) 1964
7 Grand Kru Barclayville 57,106 1.504 sq mi (3.895 km2) 1984
8 Lofa Voinjama 270,114 3.854 sq mi (9.982 km2) 1964
9 Margibi Kakata 199,689 1.010 sq mi (2.616 km2) 1985
10 Maryland Harper 136,404 887 sq mi (2.297 km2) 1857
11 Montserrado Bensonville 1,144,806 737 sq mi (1.909 km2) 1839
12 Nimba Sanniquellie 468,088 4.460 sq mi (11.551 km2) 1964
13 Rivercess Rivercess 65,862 2.160 sq mi (5.594 km2) 1985
14 River Gee Fish Town 67,318 1.974 sq mi (5.113 km2) 2000
15 Sinoe Greenville 104,932 3.914 sq mi (10.137 km2) 1843

Địa lý

Quốc gia ở Tây Phi, bên bờ Đại Tây Dương, Tây Bắc giáp Sierra Leone, Đông Bắc giáp Guinea, Đông giáp Côte d’Ivoire. Lãnh thổ Liberia có rất nhiều sông, vùng cao nguyên lượn sóng ở phía Đông Bắc được bao quanh bởi dãy Guinea thoải dần về phía vùng đồng bằng ven biển và bãi biển thấp ở vùng Tây Nam. Các khu rừng rậm ở Liberia tương ứng với các vùng nằm trong miền khí hậu cận xích đạo, rất ẩm ướt.

Kinh tế

Nguồn tài nguyên ở Liberia tương đối đa dạng nông sản nhiệt đới gồm có dầu cọ, cà phê, ca cao, cao su; khoáng sản gồm có kim cương, vàng và nhất là quặng sắt, khai thác gỗ ở các khu rừng rậm. Vận tải tàu biển cửa Liberia là một ngành quan trọng, đứng hàng thứ hai trên thế giới. Cuộc nội chiến từ năm 1990 đã tàn phá nền kinh tế đất nước.
Công nghiệp chiếm 15%, nông nghiệp 50% và dịch vụ 35% GDP.
Có 3/4 lực lượng lao động làm nông nghiệp, sản xuất sắnlúa gạo. Cao su, cà phêca cao được trồng để xuất khẩu. Liberia xuất khẩu một khối lượng quan trọng quặng sắt. Cuộc nội chiến, năm 1990, đã làm đảo lộn nền kinh tế của Liberia, từ đó thương mại của Liberia bị giảm sút. Xuất khẩu đạt 39 triệu USD, nhập khẩu: 142 triệu USD; nợ nước ngoài: 3 tỷ USD.
Nội chiến và sự quản lý yếu kém của chính phủ đã tàn phá nền kinh tế Liberia, đặc biệt là cơ sở hạ tầng trong và xung quanh thủ đô Monrovia, trong khi lệnh trừng phạt quốc tế vẫn còn hiệu lực đối với xuất khẩu gỗkim cương sẽ tiếp tục hạn chế triển vọng tăng trưởng trong tương lai. Nhiều doanh nhân đã bỏ chạy khỏi đất nước mang theo tiền bạcchất xám. Một số quay trở lại nhưng nhiều người sẽ không quay về. Được ban tặng nguồn nước, khoáng sản, rừng và khí hậu thì rất phù hợp với nông nghiệp, Liberia đã trở thành một nước sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm cơ bản – chủ yếu là gỗ chưa chế biến và cao su. Chế tạo trong nước, chủ yếu là do nước ngoài đầu tư chỉ chiếm quy mô nhỏ. Sự ra đi của tổng thống tiền nhiệm Charles Taylor sang Nigeria vào tháng 8 năm 2003, việc thành lập chính phủ quá độ và sự có mặt của Uỷ ban Liên Hiệp Quốc đã giúp giảm bớt cuộc khủng hoảng chính trị, nhưng không giúp nhiều cho việc khuyến khích phát triển kinh tế. Các nhà tài trợ quốc tế giàu có luôn sẵn sàng trợ giúp cho những nỗ lực tái thiết giờ rút lại ý định tài trợ trừ khi Quốc hội Liberia thực sự cai quản và thực hiện kế hoạch hành động quản lý kinh tế. Kế hoạch này được Nhóm Liên hệ quốc tế vì Liberia lập ra tháng 10 năm 2005 nhằm giúp đảm bảo việc thu và phân bổ một cách trong sạch – một điều không có được dưới chế độ của chính phủ quá độ và điều đó đã ngăn cản sự hồi phục của nền kinh tế Liberia. Công cuộc tái thiết cơ sở hạ tầng và việc tăng thu nhập của nền kinh tế bị tàn phá này sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự trợ giúp tài chính và sự trợ giúp kỹ thuật hảo tâm từ các nước viện trợ.
Tăng trưởng GDP của Liberia trong giai đoạn 5 năm gần đây đạt mức tăng trưởng ổn định khá cao. Năm 2010, GDP của Liberia đạt 977 triệu USD (theo tỷ giá quy đổi), đạt mức tăng trưởng 6% và GDP bình quân đầu người là 500 USD, khá cao trong khu vực.
Hoạt động ngoại thương của Liberia khá phát triển, năm 2006, Liberia xuất khẩu được 1,19 tỷ USD đến các nước Malaysia 22,1%, Nam Phi 18,1%, Ba Lan 14,9%, Đức 9,2%, Mỹ 8,4%, Tây Ban Nha 6,6%, Hàn Quốc 4,8%, Na Uy 4,4% với các mặt hàng chính là cao su, gỗ, thép, kim cương, ca cao, cà phê… Tuy nhiên nhập khẩu của Liberia có kim ngạch khá lớn so với xuất khẩu, hơn 7,143 tỷ USD gồm các mặt hàng xăng dầu, hoá chất, máy móc thiết bị, lương thực thực phẩm, các bạn hàng nhập khẩu chính của Liberia là Hàn Quốc 38,2%, Singapore 19,4%, Nhật 13,1%, Trung Quốc 10,2%.

Nhân khẩu

Tính đến năm 2008, Liberia là quê hương của 3.476.608 người.[4] Trong đó, 1.118.241 sống ở tỉnh Montserrado, là tỉnh đông dân nhất cả nước và cũng là nơi có thủ đô Monrovia với dân số 970.824 người. Nimba là tỉnh đông dân nhất tiếp theo với 462.026 cư dân. Đến năm 2006, Liberia là nước có tốc độ tăng trưởng dân số cao nhất trên thế giới (4,50% mỗi năm). Tương tự như các nước láng giềng, nước này có một lượng dân số trẻ lớn, với một nửa dân số ở độ tuổi dưới 18.
Dân số bao gồm 16 nhóm dân tộc thiểu số bản địa và nước ngoài khác nhau. Người dân bản địa chiếm khoảng 95% dân số, lớn nhất trong số đó là các sắc tộc Kpelle sống ở miền trung và miền tây Liberia. Người Americo-Liberia, là con cháu của những người định cư ở Mỹ gốc Phi, chiếm 2,5%, và người Congo, con cháu của những người hồi hương từ Congo và da đen nô lệ ở Caribe trở về năm 1825, chiếm khoảng 2,5%.[5][6] Cũng có một số lượng khá lớn người Liban, Ấn Độ, và các nước Tây Phi khác, những người tạo nên một phần quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp Liberia. Một số ít nữa là người gốc châu Âu cư trú ở trong nước. Hiến pháp Liberia hạn chế quyền công dân của người nước ngoài là những người không có nguồn gốc châu Phi da đen.[7]
Có 31 ngôn ngữ bản địa được nói tại Liberia.[8] Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức và là ngôn ngữ chung của đất nước.[9]

Văn hóa

Giáo dục

Tỉ lệ biết chữ ở Liberia ngày càng tăng do hệ thống trường học được tăng cường. Theo quy định của luật giáo dục cưỡng chế năm 1912, giáo dục bắt buộc và miễn phí đối với trẻ em (từ 6-16 tuổi). Tuy nhiên, tỉ lệ trẻ em đến trường vẫn còn rất thấp. Liberia có một trường đại họcthủ đô Monrovia và một số trường cao đẳng khác.

Những người Liberia nổi tiếng

Nữ Tổng thống Liberia Ellen Johnson Sirleaf, người đã đạt giải nobel hòa bình năm, 2011. Bà nữ Tổng thống dân cử đầu tiên ở châu Phi (và hiện nay (2011) là nhà nữ lãnh đạo duy nhất tại châu lục này) – bà Tổng thống Liberia Sirleaf. Người phụ nữ 72 tuổi này gắn với nhiều danh hiệu như: Người đàn bà thép châu Phi, Linh hồn của cách mạng Liberia, nhà cải cách và kiến tạo hòa bình Liberia…

Xem khác

Tham khảo

Liên kết ngoài

Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khaoch xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s