Chào ngày mới 6 tháng 4

Tập tin:Buddha Yodfa Chulaloke portrait.jpg

CNM365 Chào ngày mới 6 tháng 4 Wikipedia Ngày này năm xưa  Ngày Chakri tại Thái Lan. Năm 1630 – tháng 3 năm Canh Ngọ, Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục từ núi Trường Dục đến phá Hạc Hải nhằm ngăn chặn quân Trịnh ngược dòng sông Nhật Lệ vào đánh xứ Đàng Trong.  Năm 1782Maha Kshatriyaseuk (hình) lật đổ Quốc vương Taksin, đăng cơ làm tân vương, sáng lập ra vương triều Chakri. Năm 1920Cộng hoà Viễn Đông được thành lập nhằm tạo vùng đệm giữa nước Nga Xô viết với khu vực do Nhật Bản kiểm soát. Năm 1941Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Đức bắt đầu tiến công Nam TưHy Lạp. Năm 2009 – Một trận động đất có chấn tâm nằm tại vùng Abruzzo của Ý, khiến hơn 300 người thiệt mạng.

Đào Duy Từ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đào Duy Từ
Sinh 1572
Tĩnh Gia, Thanh Hóa
Mất 1634 (63 tuổi)
Công việc Chính trị gia, Nhà thơ, Nhà quân sự
Quốc gia Việt Nam

Đào Duy Từ (chữ Hán: 陶維慈, 15721634) là nhà quân sự, nhà thơ[1] và nhà văn hóa, danh thần thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, ông chỉ làm quan với Chúa Nguyễn có tám năm. Nhưng trong tám năm đó, ông đã xây dựng cho họ Nguyễn một cơ sở xã hội vững chắc, và một quân đội hùng mạnh. Vì vậy ông được coi là đệ nhất khai quốc công thần của họ Nguyễn và được thờ ở nhà Thái miếu.[2]

Thời trẻ

Đào Duy Từ, hiệu là Lộc Khê, quê ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hoa, Đại Việt[3]. Cha ông tên là Đào Tá Hán, một xướng hát chuyên nghiệp. Mẹ ông là người họ Nguyễn. Ông thông minh, và học rộng biết nhiều. Ông đi thi hương ở Thanh Hoa. Hiếu ty cho Đào Duy Từ là con nhà phường chèo, gạch bỏ tên không cho vào thi. Ông buồn bực quay về, căm giận chế độ vô lý của họ Trịnh lúc bấy giờ.[4]

Vào nam

Một hôm ông nói với bạn rằng: Tôi nghe chúa Nguyễn hùng cứ đất Thuận Quảng, làm nhiều việc nhân đức, lại có lòng yêu kẻ sĩ, trọng người hiền… Nếu ta theo vào giúp thì chẳng khác gì Trương Lương về Hán, Ngũ Viên sang Ngô, có thể làm tỏ rạng thanh danh, ta không đến nỗi phải nát cùng cây cỏ, uổng phí một đời…. Rồi mùa đông năm Ất Dậu (1627). Đào Duy Từ trốn được vào xứ Đàng Trong. Đầu tiên, ông ở huyện Vũ Xương hơn một tháng để nghe ngóng tình hình. Sau biết khám lý Hoài Nhân là Trần Đức Hòa là người có mưu trí được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng, ông vào Hoài Nhân, đi ở chăn trâu cho một phú ông ở xã Tùng Châu. Phú ông thấy Đào Duy Từ học rộng tài cao, biết ông không phải là người thường, liền đem nói với Trần Đức Hòa. Trần Đức Hòa cho gọi Đào Duy Từ đến hỏi chuyện. Thấy mọi chuyện ông đều thông hiểu, liền giữ ông lại và gả con gái cho ông. Khi Trần Đức Hòa xem bài Ngọa Long cương của Đào Duy Từ liền nói rằng: Đào Duy Từ là Ngọa Long đời này chăng.[4]

Làm quan chúa Nguyễn

Một hôm, Trần Đức Hòa đem bài Ngọa Long cương cho Nguyễn Phúc Nguyên xem, và nói: Bài này là do thầy đồ của nhà tôi là Đào Duy Từ làm. Đọc bài Ngọa Long cương, chúa Nguyễn biết Đào Duy Từ là người có chí lớn liền cho gọi Duy Từ đến. Mấy hôm sau, Đào Duy Từ và Trần Đức Hòa cùng vào ra mắt Nguyễn Phúc Nguyên. Thấy chúa Nguyễn Phúc Nguyên chỉ mặc áo trắng sơ sài và đứng cửa nách đợi; Duy Từ dừng lại không vào. Thấy vậy, chúa liền vào thay đổi triều phục, áo mũ chỉnh tề rồi mở cửa lớn ra đón Duy Từ vào nói chuyện. Đào Duy Từ cao đàm hùng luận, tỏ ra rất am hiểu việc đời. Nguyễn Phúc Nguyên mừng lắm, liền sau đó chúa họp bàn đình thần phong cho Đào Duy Từ làm Nha úy Nội Tán, tước Lộc Khuê Hầu, trông coi việc quân cơ ở trong và ở ngoài, tham lý quốc chính.

Từ đấy Duy Từ nói gì chúa Nguyễn cũng nghe. Ông bày mưu vạch kế giúp chúa Nguyễn làm nên nhiều việc lớn. Chúa Nguyễn thường nói với mọi người: Đào Duy Từ thật là Tử PhòngKhổng Minh ngày nay.[5]

Tháng 3 năm Canh Ngọ (1630), Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục từ núi Trường Dục đến pha Hạc Hải nhằm ngăn chặn quân Trịnh ngược dòng sông Nhật Lệ vào đánh xứ Đàng Trong. Năm Tân Mùi (1631), theo lời Đào Duy Từ, chúa Nguyễn lại cho đắp một cái lũy nữa kiên cố hơn, dài 18 km bắt đầu từ núi Đâu Mâu qua cửa biển Nhật Lệ tiến lên phía đông bắc đến làng Đông Hải. Nhờ có hai cái lũy trên, chúa Nguyễn đã ngăn chặn được các cuộc tiến công của quân Trịnh trong một thời kỳ dài.

Ngoài giúp chúa Nguyễn đối phó chúa Trịnh, Đào Duy Từ còn nhiều lần khuyên khéo được chúa Nguyễn việc chính sự, ngoài ra còn tiến cử con rể của mình là Nguyễn Hữu Tiến cho chúa Nguyễn. Nguyễn Hữu Tiến về sau cũng trở thành một công thần của chúa Nguyễn như cha vợ mình.

Tháng 9 năm Canh Ngọ (1630), theo đề nghị của Đào Duy Từ, Nguyễn Phúc Nguyên cho mở cuộc tấn công vào châu Nam Bố chánh, và chiếm được châu này.[5]

Qua đời

Tháng mười năm Giáp Tuất (1634), Đào Duy Từ lâm bệnh nặng rồi mất, thọ 63 tuổi [5]. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đích thân đến thăm viếng. Đào Duy Từ khóc rồi thưa: “Thần gặp được thánh minh, chưa báo đáp được mảy may, nay bệnh đến thế này còn biết nói chi nữa” rồi Đào Duy Từ qua đời, thọ 63 tuổi[6], phụ chính cho chúa Nguyễn được 8 năm[7]. Chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc, cho táng tại Tùng Châu và phong làm “Hiệp đồng mưu đức công thần, đặc tiến Kim tử Vinh Lộc đại phu[6]. Đến năm thứ 5 đời vua Gia Long thì tùng tự ở Thái Miếu, đến thời vua Minh Mạng truy phong là Hoằng quốc công[6]. Năm 1836, cho sửa sang mộ phần.[7]

(Đền thờ Đào Duy Từ ở ở Phụng Du, Hoài Hảo, Hoài Nhơn. Trãi qua thời gian và chiến tranh, lăng mộ của Người bị hư hại nhiều. Lần sửa sang gần đây nhất năm 1999. ảnh Văn Lưu, Báo Bình Định).

Tác phẩm

  • “Ngọa Long cương vãn”, bài thơ Duy Từ hay ngâm lúc chưa làm quan để ví mình như Gia Cát Lượng.
  • Hổ trướng khu cơ“, là tác phẩm do Đào Duy Từ soạn ra để dạy các tướng sĩ của xứ Đàng Trong. Đó là một bộ sách về nghệ thuật quân sự duy nhất của người Việt Nam còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Giai thoại

Cha ông mất năm Duy Từ lên 5 tuổi, ông được mẹ là bà Vũ Kim Chi nuôi ăn học[3]. Duy Từ tỏ ra là người thông minh sáng dạ, năm 14 tuổi ông vào học trường của Hương cống Nguyễn Đức Khoa[3]. Nhưng Duy Từ không được thi Hương vì luật lệ của nhà Lê bấy giờ cấm con kép hát đi thi vì tục bấy giờ cho rằng xướng ca vô loài, mẹ Duy Từ phải nhờ một viên xã trưởng là Lưu Minh Phương khai đổi họ cho ông từ Đào Duy Từ thành Vũ Duy Từ theo họ mẹ[3]. Viên xã trưởng nhân thế, ép mẹ Duy Từ phải cưới mình mới giúp, mẹ Duy Từ bàn lẩn đi bằng cách bảo khi nào Duy Từ thi đậu mới tiến hành cưới xin[3]. Khoa thi Hương năm Quý Tị (1593), Duy Từ thi đậu Á Nguyên; viên xã trưởng Lưu Minh Phương bèn đòi cưới bà Kim Chi nhưng bà viện lý do Duy Từ mới thi đậu mà mẹ đã tái giá thì xấu hổ mà từ chối, rồi bảo rằng Minh Phương hãy cho con gái lớn về lấy Duy Từ thay thế[3]. Giận dữ, Lưu Minh Phương nộp đơn kiện bà Kim Chi làm lộ việc đổi họ của Duy Từ, viên quan huyện thụ đơn sau đi báo lại cho quan Hiến Sát.[8]

Lúc bấy giờ, Duy Từ đang ở Hội văn trên Thăng Long dự thi. Khi quan thái phó Nguyễn Hữu Liêu đang phân vân chấm Duy Từ vì một số bài bàn về cải cách chính trị có hơi trái ý chúa Trịnh Tùng thì bộ Lễ truyền lệnh xóa tên Vũ Duy Từ, đánh tuột Á Nguyên, lột mũ áo[8]. Nghe tin này, bà Kim Chi cắt cổ tự vẫn[8]. Duy Từ vừa hỏng thi vừa mất mẹ nên đau buồn lâm bệnh nặng, nằm lại tại nhà trọ.[9]

Gặp Nguyễn Hoàng

Đoan quận công Nguyễn Hoàng bấy giờ đang trấn Thuận Hóa, được vua Lê Thế Tông triệu về Đông Đô bàn việc[9]. Nhân dịp, Nguyễn Hoàng đến thăm Nguyễn Hữu Liêu; ông Nguyễn Hữu Liêu bèn kể trường hợp của Duy Từ và lấy bài vở của Duy Từ ra cho Nguyễn Hoàng xem[9]. Đọc bài của Duy Từ, Nguyễn Hoàng biết đây là nhân tài có thể thu dụng cho việc ở Nam phương của mình nên âm thầm đến nhà trọ giúp đỡ tài chính chạy chữa của Duy Từ rồi mời ông vào Nam giúp mình.[9]

Khi Duy Từ vừa bệnh dậy, đích thân Nguyễn Hoàng đến thăm. Nhân trên tường có treo bức tranh anh em Lưu Bị đến Long Trung cầu Gia Cát, Nguyễn Hoàng và Đào Duy Từ bèn ra một bài thơ liên ngâm:[10]

Nguyễn Hoàng đọc:

Vó ngựa sườn non đá chập chùng
Cầu hiền lặn lội biết bao công
Duy Từ tiếp thơ:

Đem câu phò Hán ra dò ý
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng
Nguyễn Hoàng tiếp:

Lãnh thổ đoán chia ba xứ sở
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông
Duy Từ đóng:

Ví chăng không có lời Nguyên Trực
Thì biết đâu mà đón Ngọa Long.”

Nguyễn Hoàng và Duy Từ rất hiểu ý nhau. Nhưng Nguyễn Hoàng không dám đón Duy Từ ngay vì sợ lộ cơ mưu, ông nói với Duy Từ:[11]

Lão phu về trước, xin đắp sẵn đàn bái tướng chờ đợi tiên sinh. Năm nay lão phu hơn 70 tuổi, nếu có thất lộc cũng xin di ngôn cho con cháu phải đón tiên sinh về dạy bảo

Duy Từ bái tạ nhận lời rồi hai người chia tay. Sau đó mấy năm, Duy Từ vào Nam.[11]

Vào Nam

Khi mới vào Nam, ông đi tìm chúa Nguyễn nhưng đến nơi thì không gặp do chúa đã đi xa để kinh lý. Hết tiền tiêu, Duy Từ phải tìm đường khác: ông dò được là Khám lý Trần Đức Hòa vốn là một thân tín của chúa Nguyễn nên đi đến Quy Nhơn để kiếm cơ lập thân[11]. Ông đi đến thôn Tùng Châu (nay thuộc thị trấn Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) để ở chăn trâu cho nhà phú hộ Chúc Trịnh Long cách nhà Trần Đức Hòa một con sông nhỏ[11]. Tâm ý của Duy Từ là ẩn mình, chờ đợi thờ cơ đồng thời dò xét chính sự Đàng Trong[11]. Con trai của vị phú hộ, tên là Chúc Hữu Minh, mở Tùng Châu thi xã, lấy Duy Từ làm thư đồng để phục vụ các bằng hữu văn chương[11]. Có lần khi Duy Từ đánh trâu về, cầm roi đối đáp văn sử xưa nay với các danh sĩ, chứng tỏ mình thông hiểu mọi điều[12]. Phú hộ Chúc Trịnh Long bèn kể chuyện này cho Trần Đức Hòa; ông Trần Đức Hòa bèn tìm tới hỏi chuyện Duy Từ. Thấy Duy Từ có tài học rộng, ông mời về dạy học rồi gả con gái cho[12]. Thời gian này, Duy Từ thường ngâm bài “Ngọa Long cương vãn” bằng quốc âm để tự sánh mình với Gia Cát Lượng khi xưa.[12]

Ta không nhận sắc

Năm 1629, chúa Trịnh Tráng muốn lấn vào Nam bèn sai Nguyễn Khắc Minh đi mang tiếng là phong tước cho chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét, Đào Duy Từ khi này là Tham Tán bèn khuyên chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận phong để hòa hoãn với chúa Trịnh. Chúa Trịnh cũng đồng thời đòi chúa Nguyễn cho con ra Bắc chầu, nộp 30 voi đực và 30 chiến thuyền để đi cống nhà Minh bên Trung Quốc, Duy Từ khuyên là không thực hiện rồi bày kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để phòng thủ. Chúa Nguyễn nghe theo và thực hiện ngay.[13]

Về sắc phong, vào năm 1630 Duy Từ cho người làm một mâm đồng hai đáy bên trong đựng sắc của chúa Trịnh, trên phủ lụa vàng rồi sai Trần Văn Khuông đi sứ[14]. Trần Văn Khuông theo lời Duy Từ dặn dò, đối đáp, dâng mâm cho chúa Trịnh, rồi kiếm cớ trốn về[15]. Chúa Trịnh thấy sứ đoàn đi vội sinh nghi, bèn cho lục mâm đồng thì thấy tờ sắc trước kèm bài thơ:[16]

Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch!

Cả triều không ai hiểu. Giai thoại kể rằng[a] chúa Trịnh cho mời Phùng Khắc Khoan(1528 -1613, trong khi sự kiện này xảy ra năm 1630 nên không chính xác) đến hỏi thì mới vỡ lẽ, trong chữ Hán, chữ mâu viết không có dấu phết thì thành chữ . Chữ mịch mà bỏ chữ kiến là chữ bất. Chữ ái nếu viết thiếu chữ tâm thì ra chữ thụ. Chữ lực để cạnh chữ lai sẽ thành chữ sắc. Thế thì bốn câu trên là: dư bất thụ sắc (ta không nhận sắc). Chúa Trịnh hiểu ý trả sắc phong, nổi giận cho người đuổi theo sứ đoàn chúa Nguyễn thì cả sứ đoàn đã đi hết.

Ở Nam, để tăng cường phòng thủ, Duy Từ bèn bày cho chúa Nguyễn đánh chiếm phía nam Sông Gianh rồi đắp Lũy Thầy để phòng thủ[17]. Lũy Thầy và Lũy Trường Dục là hai chiến lũy quan trọng, giúp chúa Nguyễn có thể phòng thủ hiệu quả trước chúa Trịnh.[18]

Thông tin khác

Ông có con rể là Nguyễn Hữu Tiến, danh tướng của chúa Nguyễn.

Chú thích

  1. ^ http://www.baobinhdinh.com.vn/binhdinhquaanh/2009/5/75746/
  2. ^ Viện sử học, Binh thư yếu lược, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1970, trang 22
  3. ^ a b c d e f Tôn Thất Bình 2001, tr. 9
  4. ^ a b Viện sử học, trang 21
  5. ^ a b c Viện sử học, trang 22
  6. ^ a b c Phan Khoang 2001, tr. 144
  7. ^ a b Tôn Thất Bình 2001, tr. 36
  8. ^ a b c Tôn Thất Bình 2001, tr. 10
  9. ^ a b c d Tôn Thất Bình 2001, tr. 11
  10. ^ Tôn Thất Bình 2001, tr. 11-12
  11. ^ a b c d e f Tôn Thất Bình 2001, tr. 12
  12. ^ a b c Tôn Thất Bình 2001, tr. 13
  13. ^ Phan Khoang 2001, tr. 137-138
  14. ^ Phan Khoang 2001, tr. 138
  15. ^ Phan Khoang 2001, tr. 139-140
  16. ^ Tôn Thất Bình 2001, tr. 18
  17. ^ Tôn Thất Bình 2001, tr. 18-19
  18. ^ Tôn Thất Bình 2001, tr. 19

Thư mục

  • Tôn Thất Bình (2001), 12 danh tướng triều Nguyễn, Nhà xuất bản Thuận Hóa.
  • Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học.

Liên kết ngoài

Vương triều Chakri

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Biểu tượng của triều Chakri

LỊCH SỬ THÁI LAN
PB Grand Palace Bangkok.jpg
Thời tiền sử
Thời sơ sử
Trước khi người Thái tới
Raktamaritika
Langkasuka
Srivijaya
Tambralinga
Dvaravati
Lavo
Supannabhum
Hariphunchai
Phù Nam
Đế quốc Khmer
Những nhà nước Thái đầu tiên
SinghanavatiLan NaNanPhayao
KaoNakhon Si ThammaratSukhothai
Vương quốc Ayutthaya (1351–1767)
Vương triều Thonburi (1768–1782)
Vương triều Chakri (1782 – nay)
Vương quốc Rattanakosin (1768-1932)
Thời kỳ 1932-1973
Thời kỳ 1973-nay
sửa

Triều đại Chakri cai trị Thái Lan kể từ khi thiết lập thời đại Ratthanakosin năm 1782 sau khi vua Taksin của Thonburi đã bị tuyên bố là điên và kinh đô của Xiêm được dời đến Bangkok. Sử Việt thời nhà Nguyễn phiên âm là Chất Tri. Biểu tượng của triều Chakri được sử dụng làm tên gọi và huy hiệu của vương triều Chakri gồm một cài đĩa (Chakra) có cây đinh ba (Trisula) xuyên qua. Đây là vũ khí của thần Narai (một avatar của Vishnu), một vị thần mà vua Xiêm được xem là một hóa thân..
Trước khi thành lập triều đại này, Phật vương Buddha Yodfa Chulalok đại đế (Rama I), đã giữ tước hiệu của Chao Pharaya Chakri trong hơn 10 năm. Tước hiệu này đã được nắm giữ bởi các quân phiệt vĩ đại nhất của Ayuthaya và có nghĩa là sự phản ánh lòng dũng cảm của người nắm giữ nó trên chiến trường. Vua Rama I đã chọn tên và huy hiệu này cho triều đại của mình.

Những vị vua Chakri

Cây gia phả của Vương triều Chakri

Những vị vua Rama đầu tiên

Khi vương quốc Ayutthaya sụp đổ, một vị tướng người Xiêm có tên là Taksin cũng đang ở đó. Tập hợp những người ủng hộ mình thành một đội quân, một năm sau đó ông đã chiếm lại được thành phố, nhưng Ayutthaya đã bị tàn phá trơ trụi đến nỗi ông quyết định dời thủ đô ra xa hơn, xuôi theo dòng sông đến Thonburi.
Với sự giúp sức của hai vị tướng khác là anh em Chao Phraya ChakriChao Phraya Surasih, Taksin đã chinh phục được các nước chư hầu hung tợn, đẩy lui sự tấn công của người Miến Điện và chiếm lại vùng miền Bắc. Nhưng những thành công liên tiếp rốt cuộc đã khiến ông ta mất hết lý trí, và trở nên tàn ác cực kỳ. Những viên tướng thuộc hạ đã truất ngôi và giết ông vào năm 1782.
Chao Phraya Chakri, thường được biết nhiều hơn dưới cái tên Rama I, đã trở thành vị vua mới. Ông là người khai sinh triều đại Chakri vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay. Rama I lại dời đô, lần này là về Bangkok, ông cho xây dựng thành phố theo kiểu mẫu Ayutthaya. Ông cũng làm hồi sinh nền nghệ thuật và văn hóa Thái Lan, một phần dựa vào trí nhớ của những người già cả đã đào thoát được khi Ayutthaya bị hủy diệt.
Châu Âu thời đó đang bận rộn với cuộc chiến tranh Napoléon. Nhưng từ năm 1818, Xiêm lại mở cửa và tiếp xúc với phương Tây, bắt đầu bằng một hiệp định với người Bồ Đào Nha.
Đồng thời cả AnhPháp bắt đầu chiếm đóng các nước láng giềng của Xiêm. Ở vào thời điểm quyết định này, Xiêm may mắn được cai trị bởi hai vị xuất sắc, là vua Rama I và vua Rama II, những người đã quá rành các thủ đoạn của phương Tây. Họ đã bảo tồn được nền độc lập của đất nước bằng việc khởi xướng những cuộc cải cách sinh tử để hiện đại hóa và làm cho quốc gia trở nên hùng cường.
Dưới hai triều vua đầu tiên, Rama I và Rama II, Xiêm tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh xâm lược của Miến Điện, từng bước phát triển kinh tế, mở rộng ngoại thương (đến cuối thời Rama II thì bắt đầu mở cửa với các nước châu Âu), tăng cường sức mạnh quân sự, củng cố và nâng cao vị thế quốc gia đối với các nước láng giềng như: Miến Điện, Campuchia, các tiểu quốc ở Lào và các tiểu quốc Hồi giáo ở bán đảo Mã lai.[1]

Rama III

Rama III, trị vì vào khoảng (1824-1851), là hoàng tử trưởng của Rama II nhưng không phải là con của Chính cung hoàng hậu, được hội đồng hoàng gia họp quyết định đưa lên ngôi vua lúc 37 tuổi, thay vì theo luật là phải chọn hoàng tử Mongkút là con của Chính cung hoàng hậu. Vì Rama II khi mất không để lại di chúc, hội đồng hoàng gia thấy nước Xiêm cần có một vị vua vừa quyết đoán nhưng cũng vừa phải ứng xử linh hoạt với phương Tây (các nước thực dân Âu – Mỹ), nên đã quyết định chọn ông.
Dưới thời của vua Rama III, vương quốc Xiêm tiếp tục chính sách mở cửa với phương Tây. Với mục tiêu chung là giành được những điều khoản buôn bán tối huệ và những đặc quyền đặc lợi khác, hai nước AnhMỹ đã ký kết các hiệp ước với Xiêm vào các năm 1826 và năm 1833.

Rama IV

Vua Mongkut, hay còn gọi là Rama IV (1851 – 1868). Vốn là một nhà sư từng đi đây đi đó rất nhiều, ông đã cho xây dựng nhiều đường sá và thuê những giáo viên người nước ngoài đến đây dạy dỗ người Thái.

Vua Chulalongkorn (Rama V)

Người lên kế vị ông, vua Chulalongkorn, cai trị cho đến năm 1910. Chulalongkorn đã bãi bỏ tục lệ thần dân phải quỳ lại trước mặt ông, thủ tiêu chế độ nô lệ, cải thiện nền hành chính ở địa phương và trên toàn quốc, giám sát việc phát triển các ngành đường sắt, xe điện, ôtô, và thuê các cố vấn người nước ngoài đến phục vụ trong triều đình của ông.

Rama VI

Người trị vì tiếp theo là Rama VI (1910 – 1925). Ông đã đưa Xiêm gia nhập lực lượng của phe Đồng minh vào thời Thế chiến thứ Nhất. Sự kiện này đã dẫn đến việc ký kết một bản hiệp ước cải thiện được rất nhiều địa vị của Xiêm trong quan hệ với Mỹ và Pháp.
Rama VI cũng đã ban hành tên họ cho người Xiêm và áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc. Và Xiêm là quốc gia đầu tiên ở Châu Á thực hiện chế độ này. Lúc bấy giờ Xiêm đã bắt kịp với thế giới các nước phát triển. Tuy nhiên, một tầng lớp xã hội mới không chịu an phận đang ngày một nhiều lên, họ coi nền quân chủ chuyên chế là một trở lực cho tương lai phát triển của Thái Lan.

Rama VII

Dưới thời Rama VII, cuộc khủng hoảng chính trị của Xiêm đã lên đến đỉnh điểm. Cuộc Đại Suy thoái những năm 30 đã khiến cho ngành xuất khẩu gạo đặc biệt khó khăn, gây ra những rắc rối lớn về tài chính. Nhà vua cố gắng giải quyết vấn đề này bằng một sắc thuế mới đánh vào thu nhập, nhưng điều đó đã khiến cho dân chúng nổi giận. Năm 1932, một nhóm sĩ quan và trí thức được đào tạo ở Châu Âu đã đảo chính cướp chính quyền và tuyên bố thành lập một nhà nước quân chủ lập hiến, họ muốn bằng cách đó giới hạn quyền lực của nhà vua.

Rama VIII

Trị vì: 2 tháng 3 năm 1935 – 9 tháng 6 năm 1946)

Bhumibol Adulyadej đại đế (Rama IX)

Trì vị: 9 tháng 6 năm 1946 – đến nay

Danh sách các vua

Chú thích

Tham khảo

  • Nhiều tác giả- Các nhân vật lịch sử cổ trung đại – Nhà xuất bản vụ trung học – năm 1998.
  • Lịch sử Thái Lan qua các thời kỳ- tạp chí Xưa và Nay – nhiều số – năm 2002.
  • Bài viết trích từ khóa luận tốt nghiệp “Bài thuyết minh xây dựng tuyến điểm đất nước Thái Lan” – tác giả Phan Minh Châu – Lưu tại thư viện trường Đại học dân lập Hùng Vương. Phần lịch sử Thái Lan.[1]
  • G.S Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Đông Nam Á, nhà Xuấn Bản Khoa Học Xã Hội. Xuất bản năm 2000
  • Trịnh Huy Hóa (biên dịch), Đối thoại với các nền văn hóa – Thái Lan, Nxb Trẻ. Phần Thái Lan. Xuất bản năm 2003.
  • Ts. Đỗ Quốc Thông, Giáo trình địa lý du lịch thế giới. Giáo trình của trường Đại học dân lập Hùng Vương.
  • Ts.Trần Văn Thông, Quy hoạch du lịch, Nhà xuất bản giáo dục. Xuất bản năm 2005.
  • Elvis,English – Thai – English, Top. Bk.th, trang 198, Năm 2003
  • Khumudriemsop, Hi-ed publishing, Spicy Co.ltd.
  • Nangsudonthang, Panrawat Sumkhuthong, Bangkok Book.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s