Chào ngày mới 28 tháng 4

CNM365 Chào ngày mới 28 tháng 4 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày liệt sĩ của Người lao động Quốc tế; ngày Anh hùng Dân tộc tại Barbados.  Năm 1945Benito Mussolini cùng phu nhân bị đội du kích Ý hành quyết khi đang tìm cách trốn khỏi đất nước này. Năm 1952Nhật BảnTrung Hoa Dân QuốcHiệp ước Đài Bắc, chính thức chấm dứt Chiến tranh Trung-Nhật. Năm 1978Cách mạng Saur: Quân đội Cách mạng Afghanistan kiểm soát hoàn toàn thủ đô Kabul, sát hại Tổng thống Mohammed Daoud Khan. Năm 1984 – Bắt đầu trận Lão Sơn giữa Quân Giải phóng Nhân dân Trung QuốcQuân đội Nhân dân Việt Nam ở khu vực biên giới Văn SơnHà Giang. Năm 2004Đại lộ Ngôi sao (hình) tại Hồng Kông được mở cửa cho công chúng, nhằm vinh danh các nhân vật nổi tiếng của điện ảnh Hồng Kông.

Đại lộ Ngôi sao (Hồng Kông)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đại lộ Ngôi sao (chữ Hán: 星光大道, Hán Việt: Tinh quang đại đạo, tiếng Anh: Avenue of Stars) là một con đường chạy dọc cảng Victoria thuộc khu Tiêm Sa Chủy, Hồng Kông. Được xây dựng từ năm 1982, đến năm 2003 đại lộ Ngôi sao được cải tạo phỏng theo Đại lộ Danh vọng Hollywood để vinh danh các nhân vật nổi tiếng của điện ảnh Hồng Kông.

Lịch sử

Năm 1982, tập đoàn New World cho đầu tư xây dựng một con đường dạo mát bên bờ cảng Victoria cạnh trung tâm mua sắm New World Centre (thuộc Tiêm Sa Chủy, Cửu Long, Hồng Kông). Đến năm 2003 tập đoàn này tuyên bố đầu tư 40 triệu HKD để cải tạo con đường dạo mát trở thành “Đại lộ Ngôi sao”, một điểm thu hút khách du lịch với đề tài là nền điện ảnh Hồng Kông, đây là dự án lấy hình mẫu từ Đại lộ Danh vọng Hollywood, Hoa Kỳ. Ý tưởng này của tập đoàn New World đã được chính quyền Hồng Kông, Cục Du lịch Hồng Kông (Hong Kong Tourism Commission), Ủy ban Văn hóa và Giải trí Hồng Kông (Hong Kong Leisure and Cultural Services Department) và Hiệp hội Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông ủng hộ.
Con đường mới được chính thức khánh thành ngày 28 tháng 4 năm 2004 với sự có mặt của nhiều quan chức trong chính quyền Hồng Kông cũng như các nhân vật có tên tuổi trong ngành giải trí Hồng Kông. Trong buổi lễ này người ta cũng tuyên bố danh sách 73 “ngôi sao” đầu tiên được khắc tên trên đại lộ.

Mô tả

Đại lộ Ngôi sao thuộc khu vực tập trung rất nhiều điểm thăm quan du lịch ở khu Tiêm Sa Chủy dọc cảng Victoria, ngoài New World Centre còn có Bảo tàng Nghệ thuật Hồng Kông, Bảo tàng Không gian Hồng Kông, Trung tâm Văn hóa Hồng KôngTháp đồng hồ Tiêm Sa Chủy (Clock Tower). Vào buổi tối đứng từ con đường này người ta có thể quan sát toàn cảnh vịnh Hồng Kông, vì vậy đây là địa điểm rất thuận lợi để theo dõi các buổi trình diễn ánh sáng Huyền thoại vịnh Hương Giang (幻彩詠香江).
Tại điểm bắt đầu của con đường ở vườn Salisbury, người ta dựng một phiên bảo của bức tượng Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông (Kim tượng) cao 4,5 m. Trong suốt chiều dài 440 m của đại lộ Ngôi sao, người ta cũng cho dựng một số bức tượng khác miêu tả quá trình làm phim như tượng đạo diễn, nhà quay phim, xe chiếu phim lưu động. Ngoài ra lịch sử của điện ảnh Hồng Kông cũng được tóm tắt trên 9 cột sơn đỏ dọc Đại lộ. Điểm thu hút nhất của con đường là các viên gạch có hình ngôi sao khắc tên (bằng Hán tựtiếng Anh) của các “ngôi sao” trong nền điện ảnh Hồng Kông, kèm theo dấu tay và chữ ký của những nhân vật còn sống. Ngày 27 tháng 11 năm 2005, nhân kỉ niệm ngày sinh lần thứ 65 của ngôi sao võ thuật Lý Tiểu Long, một bức tượng mô tả nhân vật của Lý Tiểu Long trong Long tranh hổ đấu (龍爭虎鬪, 1973) đã được khánh thành trên đại lộ.

Avenue of Stars movie camera.JPG Avenue of Stars2.jpg Hong kong bruce lee statue.jpg Avenue of Stars1.jpg
Đại lộ Ngôi sao Kim tượng Tượng Lý Tiểu Long Người quay phim và đạo diễn
Avenue of Stars Bruce Lee.jpg Avenue of Stars Maggie Cheung.JPG Avenue of Stars John Woo.jpg Jackie Chan star.JPG
Ngôi sao của diễn viên Lý Tiểu Long, chỉ khắc tên Ngôi sao của diễn viên Trương Mạn Ngọc, có tên và dấu tay, chữ ký Ngôi sao của đạo diễn Ngô Vũ Sâm Ngôi sao của diễn viên Thành Long

Danh sách nhân vật

Dưới đây là danh sách các nhân vật được vinh danh tại đại lộ Ngôi sao trong 5 đợt: tháng 4 năm 2004 (73 người), tháng 11 năm 2005 (10 người), tháng 11 năm 2006 (10 người),tháng 6 năm 2007 (8 người)và tháng 12 năm 2012 (6 người), các nhân vật được vinh danh sẽ có một ngôi sao gắn trên con đường, bên cạnh ngôi sao là chữ ký, dấu tay của người đó. Với các nhân vật đã qua đời, sẽ chỉ có ngôi sao khắc tên của họ (cả bằng Hán tựtiếng Anh) được gắn trên đường.

Nhân vật Vai trò
Tháng 4 năm 2004
01 Lê Dân Vĩ
(黎民伟)
Cha đẻ của điện ảnh Hồng Kông
Đạo diễn Trang Tử thí thê, bộ phim đầu tiên của Hồng Kông
02 Lâm Sở Sở
(林楚楚)
03 Hồ Điệp
(胡蝶)
04 Thiệu Dật Phu
(邵逸夫)
Người sáng lập hãng phim Thiệu Thị
05 Hoàng Mạn Lê
(黄曼梨)
06 Châu Thạch Lân
(朱石麟)
07 Tào Đạt Hoa
(曹达华)
Diễn viên tiên phong của thể loại kiếm hiệp
08 Lư Đôn
(盧敦)
09 Nhạc Phong
(岳枫)
10 Quan Đức Hưng
(关德兴)
11 Trương Hoạt Du
(张活游)
12 Ngô Sở Phàm
(吴楚帆)
13 Tư Mã Sư Tằng
(新马师曾)
14 Bạch Yến
(白燕)
15 Chu Tuyền
(周璇)
Diễn viên, vai nữ chính trong Mã Lộ thiên sử
16 Trương Anh
(张瑛)
17 Lý Thiết
(李铁)
18 Hồ Bằng
(胡鹏)
19 Nhậm Kiến Huy
(任剑辉)
Diễn viên phim kiếm hiệp
20 Thạch Kiên
(石坚)
Diễn viên tiên phong của thể loại kiếm hiệp
21 Lý Lệ Hoa
(李丽华)
22 Bạch Quang
(白光)
Diễn viên
23 Ngô Hồi
(吴回)
24 Bạch Tuyết Liên
(白雪仙)
25 Hồng Tuyến Nữ
(红线女)
26 Tần Kiếm
(秦剑)
27 Vu Tố Thu
(于素秋)
Nữ diễn viên phim kiếm hiệp
28 Lương Tỉnh Ba
(梁醒波)
29 Đặng Kí Trần
(邓寄尘)
30 Đặng Bích Vân
(邓碧云)
31 Phương Diễm Phân
(芳艳芬)
32 Hạ Mộng
(夏梦)
Diễn viên
33 Lâm Đại
(林黛)
34 Hồ Phong
(胡枫)
35 Vưu Mẫn
(尤敏)
36 Tạ Hiền
(谢贤)
Diễn viên, đạo diễn
(cha của Tạ Đình Phong)
37 Lý Hàn Tường
(李翰祥)
Người sáng lập hãng Cathay Organisation
38 Lục Vận Đào
(陆运涛)
39 Kiều Hoành
(乔宏)
40 Lâm Phượng
(林凤)
41 Trương Triệt
(张彻)
Diễn viên, đạo diễn
Đạo diễn, biên kịch của Độc thủ đại hiệp
42 Sở Nguyên
(楚原)
43 Hồ Kim Thuyên
(胡金铨)
Đạo diễn, đạo diễn của Long Môn khách sạn
44 Lăng Ba
(凌波)
45 Trần Bảo Châu
(陈宝珠)
Ngôi sao thiếu nhi của điện ảnh Hồng Kông thập niên 1960
46 Tiêu Phương Phương
(萧芳芳)
Diễn viên
47 Phùng Bảo Bảo
(冯宝宝)
Diễn viên
48 Vương Vũ
(王羽)
Diễn viên, vai chính trong Độc thủ đại hiệp
49 Địch Long
(狄龙)
Diễn viên phim kiếm hiệp
50 Khương Đại Vệ
(姜大卫)
51 Hà Quan Xương
(何冠昌)
52 Trâu Văn Hoài
(邹文怀)
Người sáng lập hãng Golden Harvest
53 Lý Tiểu Long
(李小龙)
Diễn viên
54 Ngô Tư Viễn
(吴思远)
Đạo diễn, nhà sản xuất
55 Hứa Quan Văn
(许冠文)
Diễn viên, đạo diễn
56 Hứa Quan Kiệt
(许冠杰)
Diễn viên
(em trai của Hứa Quan Văn)
57 Lâm Thanh Hà
(林青霞)
Diễn viên
58 Hồng Kim Bảo
(洪金宝)
Diễn viên, đạo diễn
59 Thành Long
(成龙)
Diễn viên, đạo diễn
60 Ngô Vũ Sâm
(吴宇森)
Đạo diễn, nhà sản xuất
61 Viên Hòa Bình
(袁和平)
Đạo diễn, chỉ đạo võ thuật
62 Hứa An Hoa
(许鞍华)
Đạo diễn
63 Từ Khắc
(徐克)
Đạo diễn, nhà sản xuất
64 Chu Nhuận Phát
(周润发)
Diễn viên
65 Trương Quốc Vinh
(张国荣)
Diễn viên
66 Lưu Đức Hoa
(刘德华)
Diễn viên
67 Lý Liên Kiệt
(李连杰)
Diễn viên
68 Trương Mạn Ngọc
(张曼玉)
Diễn viên
69 Mai Diễm Phương
(梅艳芳)
Diễn viên
70 Lương Triều Vĩ
(梁朝伟)
Diễn viên
71 Dương Tử Quỳnh
(杨紫琼)
Diễn viên
72 Vương Gia Vệ
(王家卫)
Đạo diễn
73 Chu Tinh Trì
(周星驰)
Diễn viên, đạo diễn
Tháng 11 năm 2005
01 Tử La Liên
(紫罗莲)
02 Vương Thiên Lâm
(王天林)
03 Lâm Gia Thanh
(林家声)
04 Bảo Phương
(鲍方)
05 Lưu Gia Lương
(刘家良)
06 Thạch Tuệ
(石慧)
07 Phó Kì
(傅奇)
08 Cát Lan
(葛兰)
09 Gia Linh
(嘉玲)
10 Quan Sơn
(关山)
Tháng 11 năm 2006
01 Nghê Khuông
(倪匡)
02 La Duy
(羅維)
03 Đường Giai
(唐佳)
04 Hoàng Triêm
(黃霑)
05 Mạch Gia
(麥嘉)
06 Tằng Chí Vĩ
(曾志偉)
Diễn viên
07 Trương Thúc Bình
(張叔平)
08 Lương Gia Huy
(梁家輝)
Diễn viên
09 Hoàng Thu Sinh
(黃秋生)
Diễn viên
10 Trương Bá Chi
(張栢芝)
Diễn viên
Tháng 6 năm 2007
01 Trương Học Hữu
(张学友)
Diễn viên
02 Trương Ngải Gia
(张艾嘉)
Diễn viên
03 Củng Lợi
(巩俐)
Diễn viên
04 Lưu Thanh Vân
(刘青云)
Diễn viên
05 Tằng Giang
(曾江)
06 Quách Phú Thành
(郭富城)
Diễn viên
07 Lê Minh
(黎明)
Diễn viên
08 Lê Bắc Hải
(黎北海)
Tháng 12 năm 2012
01 Diệp Đức Nhàn
(葉德嫻)
Diễn viên
02 Lưu Gia Linh
(劉嘉玲)
Diễn viên
03 Nhậm Đạt Hoa
(任達華)
Diễn viên
04 Tạ Đình Phong
(謝霆鋒)
Diễn viên, ca sĩ
(con của Tạ Hiền)
05 Cổ Thiên Lạc
(古天樂)
Diễn viên
06 Huệ Anh Hồng
(惠英紅)
Diễn viên

Liên kết ngoài

Xung đột biên giới Việt Nam-Trung Quốc 1979-1990

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Xung đột biên giới Việt Nam – Trung Quốc
Thời gian 19791990
Địa điểm Biên giới giữa Việt NamTrung Quốc
Kết quả Trung Quốc rút khỏi một số vùng đất mà họ chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam.
Bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc năm 1990.
Thay đổi lãnh thổ Trung Quốc chiếm giữ một số vị trí trên biên giới thuộc Việt Nam rồi rút dần.
Trung Quốc chiếm giữ một số đảo tại quần đảo Trường Sa.
Tham chiến
Flag of the People's Republic of China.svg Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Flag of Vietnam.svg Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chỉ huy
Flag of the People's Republic of China.svg Dương Đắc Chí
Flag of the People's Republic of China.svg Hứa Thế Hữu
Flag of Vietnam.svg Văn Tiến Dũng
Lực lượng
Nhiều quân đoàn luân phiên Nhiều sư đoàn luân phiên
Tổn thất
Không rõ
Theo Việt Nam:
Khoảng 15.000 chết hoặc bị thương, bắt 325 tù binh[cần dẫn nguồn]
100 khẩu pháo, 100 súng cối các cỡ, 13 trận địa pháo-cối, 170 xe vận tải, 130 kho tàng bị tiêu diệt, phá hủy[cần dẫn nguồn]
Không rõ, ước tính khoảng 2.000 chết, 4.420 bị thương[cần dẫn nguồn]
.

Xung đột biên giới Việt Nam – Trung Quốc 1979-1990 là một chuỗi các cuộc đụng độ quân sự nổ ra giữa hai nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt NamCộng hòa Nhân dân Trung Hoa, diễn ra ngay sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và kéo dài cho đến năm 1990.
Khi Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1979 sau cuộc chiến tranh biên giới, Trung Quốc tuyên bố họ không tham vọng dù “chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam”.[1] Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km2 lãnh thổ[2] có tranh chấp mà Việt Nam kiểm soát trước khi chiến sự nổ ra. Tại một số nơi như khu vực quanh Hữu Nghị Quan gần Lạng Sơn, quân Trung Quốc chiếm đóng các mảnh đất không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng quan trọng. Tại các nơi khác, quân Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam.[3]
Việc Trung Quốc chiếm đóng các lãnh thổ biên giới làm cho Việt Nam căm giận, và giữa hai phía nổ ra một loạt trận giao tranh nhằm giành quyền kiểm soát các khu vực đó. Xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp diễn cho đến năm 1988, đỉnh điểm là các năm 1984-1985.[4] Tới đầu những năm 1990, cùng với việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Liên Xô sụp đổ, quan hệ giữa hai nước dần trở lại bình thường. Với việc ký Hiệp định phân mốc lãnh thổ năm 2009, Trung Quốc dần thực hiện việc rút quân khỏi các vị trí đã chiếm đóng của Việt Nam trong thời gian trước.

Bối cảnh

Kể từ năm 1979, có ít nhất sáu đợt giao tranh lớn diễn ra tại một số điểm trên biên giới Việt-Trung, là các đợt tháng 6 năm 1980, tháng 5 năm 1981, tháng 4 năm 1983, tháng 4 năm 1984, tháng 6 năm 1985 và đợt từ tháng 10 năm 1986 đến tháng 1 năm 1987. Tất cả các cuộc giao tranh trên đều do Trung Quốc khiêu khích hay gây hấn trước, nhằm phục vụ cho các mục tiêu chính trị của họ.[5]
Mặt trận Vị Xuyên là mặt trận diễn ra các cuộc chạm trán ác liệt nhất. Tại mặt trận này có gồm nhiều đơn vị quân của cả hai phía luân phiên tham chiến. Về phía Việt Nam có các Trung đoàn bộ binh 981, 982, 983 và các Sư đoàn 313, 314, 316, 356 thuộc Quân khu 1, và một số các đơn vị pháo binh, công binh, vận tải, đặc công, trinh sát khác. Các Sư đoàn bộ binh 312, 325, 31 cũng từng tham chiến tại mặt trận này. Về phía Trung Quốc, các lực lượng bao gồm nhiều quân đoàn thuộc 7 đại quân khu cũng được luân chuyển qua mặt trận này để “vuốt đuôi hổ”, tức huấn luyện trận mạc, theo chủ trương của Đặng Tiểu Bình.
Bên cạnh sử dụng quân chính quy, Trung Quốc còn trang bị và huấn luyện các lực lượng vũ trang người thiểu số chống lại chính phủ Việt Nam và Lào hoạt động tại các vùng biên giới phía Bắc. Các hoạt động này kéo dài tới năm 1988 mới kết thúc khi Trung Quốc chấm dứt sự hỗ trợ của họ cho các lực lượng nổi dậy thiểu số này (đặc biệt là của người H’Mông).[6][7]

Năm 1980: Pháo kích Cao Bằng

Từ đầu năm 1980, Việt Nam tiến hành các chiến dịch tấn công mùa khô quy mô nhỏ nhằm càn quét các lực lượng Khmer Đỏ còn nằm rải rác trên biên giới Campuchia – Thái Lan. Để gây sức ép lên Việt Nam nhằm buộc Việt Nam phải rút quân từ Campuchia về, Trung Quốc tăng áp lực lên khu vực biên giới bằng cách triển khai nhiều quân đoàn đối diện với biên giới Việt Nam. Trung Quốc cũng tiến hành huấn luyện quân sự cho khoảng 5.000 quân thuộc các lực lượng người H’Mông chống đối Lào tại tỉnh Vân Nam và sử dụng lực lượng này đánh phá khu vực Muong Sing ở Tây Bắc Lào gần biên giới Trung Quốc.[8] Tuy nhiên Việt Nam cũng đã tăng cường lực lượng đồn trú tại biên giới, và Trung Quốc không còn có được ưu thế về người như khi họ tiến hành chiến dịch tháng 2 năm 1979.
Tháng 6 năm 1980, Quân đội Nhân dân Việt Nam vượt biên giới Thái Lan trong khi truy kích quân Khmer Đỏ tháo chạy.[5] Dù quân Việt Nam nhanh chóng rút khỏi lãnh thổ Thái Lan sau đó, thì việc này cũng khiến Trung Quốc cảm thấy họ phải hành động để ứng cứu đồng minh Thái Lan và Khmer Đỏ. Trong các ngày từ 28 tháng 6 cho tới 6 tháng 7, bên cạnh lớn tiếng chỉ trích Việt Nam trên mặt ngoại giao, quân Trung Quốc liên tục bắn pháo vào lãnh thổ Việt Nam tại tỉnh Cao Bằng. Các cuộc bắn phá của Trung Quốc không nhằm vào một mục tiêu quân sự chiến lược nào cả, không có ảnh hưởng lớn lên Việt Nam và chỉ mang tính tượng trưng. Việt Nam cảm thấy việc tiến hành các hoạt động quân sự quy mô lớn trên biên giới nằm ngoài khả năng của Trung Quốc, nên Việt Nam có thể rảnh tay tiến hành các hoạt động quân sự tại Campuchia. Tuy nhiên, các cuộc nã pháo của Trung Quốc cũng định hình kiểu xung đột trên biên giới với Việt Nam trong suốt 10 năm sắp tới.

Năm 1981: Tấn công các cao điểm ở Lạng Sơn và Hà Giang

Vị trí giao tranh tại Cao điểm 400, Lạng Sơn, tháng 5 năm 1981

Ngày 2 tháng 1 năm 1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam đề nghị ngưng bắn để đón năm mới. Đề nghị này bị phía Trung Quốc bác bỏ ngày 20 tháng 1.[5] Tuy vậy, hai phía vẫn tiến hành trao đổi tù binh. Tình hình mặt trận tương đối yên tĩnh trong mấy tháng tiếp theo.
Tới tháng 5, giao tranh ác liệt đột ngột bùng lên với việc quân Trung Quốc ở cấp trung đoàn tiến công đánh chiếm một dải đất hẹp ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn được phía Việt Nam gọi là Cao điểm 400 (mà Trung Quốc gọi là Pháp Tạp Sơn – 法卡山 hay Fakashan). Trung Quốc cũng tấn công và đánh chiếm các điểm cao chiến lược (có số hiệu 1800a, 1800b, 1688 và 1509) tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên. Giao tranh diễn ra hết sức đẫm máu với hàng trăm người thuộc cả hai bên thiệt mạng. Để biện minh cho các hoạt động quân sự này, Trung Quốc tuyên bố họ tấn công để trả đũa các hành vi gây gấn của Việt Nam trong thời gian quý 1 năm đó.[5]
Để trả đũa, bộ binh Việt Nam đột kích vào Trung Quốc ở hướng tỉnh Quảng Tây trong các ngày 5 và 6 tháng 5. Một đại đội quân Việt Nam cũng đánh vào khu vực hợp tác xã Mengdong, huyện Malipo, tỉnh Vân Nam. Trung Quốc tuyên bố đã đánh lui năm đợt tấn công xuất phát từ Việt Nam và tiêu hao hàng trăm quân Việt Nam tấn công vào Quảng Tây. Tới ngày 22 tháng 5, họ lại tuyên bố tiêu diệt 85 quân Việt Nam đánh vào khu vực Koulin thuộc Vân Nam. Tổng cộng Trung Quốc tuyên bố đã tiêu diệt khoảng 300 quân Việt Nam trong các cuộc giao chiến qua lại trên biên giới.[5]
Dù chiến cuộc bùng phát dữ dội, Trung Quốc thực sự không muốn leo thang[5] và chỉ dùng các lực lượng biên phòng chứ không huy động quân chủ lực cho các trận đánh. Các quan sát viên phương Tây nhận định: “Dù tình hình căng thẳng tại biên giới gia tăng, khó có khả năng diễn ra một ‘bài học’ của Trung Quốc cho Việt Nam. Cái giá sẽ phải trả bằng nhân mạng, tiền của và uy tín chính trị (của Trung Quốc) là quá đắt, đặc biệt là khi Việt Nam đã tăng cường lực lượng quân chính quy tại biên giới và giành được ưu thế rõ rệt về trang thiết bị”.[9] Các nhà phân tích khác chỉ ra rằng mùa mưa sắp tới, và việc Trung Quốc mới cắt giảm ngân sách quốc phòng không cho phép họ tiến hành một cuộc xâm lược quy mô lớn.[10]

Năm 1984: Xâm lấn biên giới ở Vị Xuyên

Chiến sự tại Vị Xuyên, Hà Giang, 1984-1986

Tới năm 1984, quân Trung Quốc lại mở các đợt tấn công lớn vào Lạng Sơn. Ngày 6 tháng 4, để hỗ trợ cho các lực lượng Khmer Đỏ tại Campuchia, Trung Quốc mở cuộc tấn công ở cấp trung đoàn vào các vị trí của Việt Nam. Cuộc tấn công lớn nhất diễn ra tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, với nhiều tiểu đoàn quân Trung Quốc đánh vào các cao điểm 820 và 636 gần đường tiến quân năm 1979 tại Hữu Nghị Quan. Dù lực lượng hùng hậu, nhưng tới ngày hôm sau, các đợt tấn công của họ đều bị đánh lui hoặc phải bỏ các vị trí đã chiếm được.[11]
Tại Hà Tuyên, trong tháng 4 đến tháng 7 năm 1984, quân Trung Quốc đánh vào dải đồi thuộc huyện Vị Xuyên, mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn (老山 hay Laoshan) , gần cột mốc biên giới số 13. Lão Sơn thực ra là một dãy đồi chạy từ tây sang đông, từ ngọn đồi ở bình độ 1800 ở phía tây tới đồi bình độ 1200 ở phía đông. Ngọn đồi 1200 này phía Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn (者阴山 hay Zheyinshan), và đây cũng là ngọn đồi duy nhất nơi chiến sự xảy ra ở phía đông sông Lô. Tất cả các cuộc giao tranh khác tại Vị Xuyên đều diễn ra ở phía tây của sông Lô chảy vào Việt Nam.
Trung Quốc mở màn cuộc tấn công lúc 5 giờ sáng ngày 28 tháng 4 năm 1984 sau một đợt pháo kích ác liệt. Sư đoàn 40 thuộc Quân đoàn 14 của Trung Quốc vượt biên giới theo bờ tây sông Lô, còn Sư đoàn 49 (có lẽ thuộc Quân đoàn 16 từ Quân khu Nam Kinh), tấn công và đánh chiếm Cao điểm 1200.[12] Lực lượng phòng ngự Việt Nam bao gồm bộ binh từ Sư đoàn 313 và khẩu đội pháo binh từ Lữ đoàn pháo binh 168 đành rút lui khỏi các ngọn đồi này.[13]
Quân Trung Quốc chiếm được ấp Na La và các cao điểm 226, 685, và 468,[14] tạo nên một vùng lồi kéo dài khoảng 2,5 km tại Cao điểm 468 hướng về phía Việt Nam. Vị trí này được bảo vệ bởi vách đá dựng đứng có rừng bao phủ và dòng suối Thanh Thủy ở phía nam, chỉ có thể tiếp cận được bằng cách băng qua khoảng đất trống thung lũng sông Lô ở phía đông, và như vậy rất thuận lợi cho phòng ngự.[15] Tuy nhiên tại các nơi khác, chiến sự diễn ra giằng co từ ngày 28 tháng 4 cho tới 15 tháng 5, và các cao điểm 1509 (tức Núi Đất, Trung Quốc gọi là Lão Sơn[16]), 772, 233, 1200 (tức Giả Âm Sơn), 1030 (tức Đông Sơn) liên tục đổi chủ. Sau ngày 15 tháng 5, chiến sự tạm dừng sau khi phía Trung Quốc bước đầu làm chủ được các ngọn đồi này; đến ngày 12 tháng 7, giao tranh lại bùng lên khi quân Việt Nam tổ chức phản công tái chiếm các vị trí đã mất nhưng không thành. Sau đó chiến sự dừng hẳn, chỉ có các cuộc chạm trán hoặc đọ pháo lẻ tẻ.
Để phòng ngự các khu vực chiếm được, Trung Quốc duy trì hai quân đoàn tại khu vực Vị Xuyên, bao gồm bốn sư đoàn bộ binh, hai sư đoàn pháo binh và vài trung đoàn xe tăng. Sư đoàn pháo binh Trung Quốc bố trí tại khu vực này gồm pháo 130 mm và bích kích pháo (lựu pháo) 155 mm, cũng như hỏa tiễn 40 nòng. Các trung đoàn bộ binh có pháo 85 mm và cối 100 mm. Các cuộc giao tranh ở đây diễn ra chủ yếu là đấu pháo, với các đơn vị quân Việt Nam ở mức đại đội xâm nhập tìm cách đánh chiếm lại các cao điểm.[17] Trong một số trận đụng độ, Trung Quốc đưa cả xe tăng vào giao chiến.
Kết quả, quân Trung Quốc chiếm được một số ngọn đồi thuộc dải đồi này, gồm 29 điểm trong lãnh thổ Việt Nam. Trong số các vị trí mà quân Trung Quốc chiếm được có các cao điểm 1509, 772 ở phía tây sông Lô và các cao điểm 1250 (Núi Bạc[16]), 1030 và đỉnh Si Cà Lá ở phía đông sông Lô.[5] Chiến sự diễn ra dọc tuyến biên giới dài khoảng 11 km, và nơi quân Trung Quốc chiếm được sâu nhất trong lãnh thổ Việt Nam là Cao điểm 685 và Cao điểm 468, nằm cách biên giới khoảng 2 km.
Giao tranh kéo dài dai dẳng, nhưng không có nơi nào quân Trung Quốc tiến sâu được hơn vào lãnh thổ Việt Nam quá 5 km, dù quân đông hơn nhiều.[18] Theo tin tình báo Hoa Kỳ, Việt Nam không thành công trong nỗ lực tái chiếm 8 mỏm núi, và Trung Quốc đã cho quân đóng giữ ở các mỏm núi này.[19] Theo công bố chính thức của Việt Nam, họ đã tiêu diệt một trung đoàn và 8 tiểu đoàn quân Trung Quốc, “loại khỏi vòng chiến đấu” 5.500 quân Trung Quốc.[20] Tới tháng 8, Việt Nam tuyên bố nâng tổng số quân Trung Quốc bị loại ra khỏi vòng chiến đấu lên đến 7.500 quân trong vòng 4 tháng.[21] Trung Quốc tuyên bố loại khỏi vòng chiến khoảng 2.000-4.000 quân Việt Nam, còn về phía mình Trung Quốc có 939 lính và 64 dân công chết.[16][17] Phía Việt Nam xác nhận trong trận đánh ngày 12 tháng 7, chỉ riêng Sư đoàn 356 của họ đã có khoảng 600 binh sĩ thiệt mạng.[22]

Tháng 10 năm 1986 – tháng 1 năm 1987: “Chiến tranh giả”

Nếu như trong năm 1985, Trung Quốc bắn khoảng 800.000 phát đạn pháo vào Vị Xuyên, trong tổng số khoảng 1 triệu phát đạn pháo trên toàn biên giới, thì số vụ bắn phá trong năm 1986 cho tới đầu năm 1987 giảm hẳn, chỉ còn chừng vài chục ngàn viên đạn pháo một tháng. Đây có lẽ là kết quả của việc Liên Xô, mà cụ thể là Tổng bí thư Gorbachev kêu gọi bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong bài diễn văn tại Vladivostok. Tới tháng 10 năm 1986, Trung Quốc cũng thành công trong việc thuyết phục Liên Xô tiến hành đàm phán về vấn đề Campuchia trong vòng đàm phán thứ 9 giữa Liên Xô và Trung Quốc.[23]
Tuy nhiên, giữa lúc các tín hiệu ngoại giao đang có xu thế trở nên tích cực, thì tình hình biên giới đột nhiên trở lại căng thẳng. Ngày 14 tháng 10 năm 1986, Việt Nam tố cáo Trung Quốc bắn 35.000 phát đạn pháo vào Vị Xuyên, và có những hành động lấn chiếm lãnh thổ. Việt Nam cho biết đã đẩy lui ba đợt tấn công của quân Trung Quốc tại Cao điểm 1100 và cầu Thanh Thủy. Đây có thể là phản ứng của Trung Quốc trước việc Liên Xô từ chối gây sức ép đòi Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia,[24] hoặc để đáp lại các hoạt động quân sự mùa khô mà Việt Nam đang chuẩn bị tại Campuchia. Trong các ngày 5 đến 7 tháng 1 năm 1987, Việt Nam cho biết Trung Quốc tăng cường bắn phá và đưa quân xâm lấn lãnh thổ. Quân Trung Quốc đã bắn hàng chục ngàn phát đạn pháo và mở 15 đợt tấn công với lực lượng tham gia cỡ sư đoàn đánh vào các vị trí quân Việt Nam tại các mỏm 233, 685, 1100 và 1509.[5] Phía Việt Nam cho biết đã gây 1.500 thương vong vào quân Trung Quốc. Ngược lại, Trung Quốc cũng tuyên bố đã gây 500 thương vong vào quân Việt Nam, và cho rằng tuyên bố của Việt Nam là phóng đại. Trung Quốc cho biết tổng số thương vong của họ thấp hơn 500.
Theo Carlyle A. Thayer nhận định, giao tranh lần này chỉ mang tính một cuộc “chiến tranh giả”.[5] Dù chiến sự diễn ra kịch liệt tại Vị Xuyên, tình hình tại các tỉnh biên giới khác của Việt Nam khá yên tĩnh, và quân Trung Quốc không huy động các đơn vị quân chủ lực trong suốt thời gian xung đột bùng nổ. Tương quan quân sự của hai nước tại vùng biên giới không thay đổi trong thời gian này.

Năm 1988: Hải chiến Trường Sa

Hải chiến Trường Sa 1988 là tên gọi của cuộc chiến trên biển Đông năm 1988 khi Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đưa quân chiếm đóng một số đảo, đảo chìm, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa và Hải quân Nhân dân Việt Nam đưa quân ra bảo vệ, đánh trả và cuộc chiến nổ ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1988. Kết quả thắng lợi thuộc về Trung Quốc, phía Việt Nam mất 3 tàu vận tải hải quân, 64 thủy thủ Việt Nam đã hy sinh và quan trọng hơn cả là kể từ đó Trung Quốc đã chiếm đóng thêm một số lãnh thổ mà Việt Nam luôn cho là chủ quyền của mình. Trong các tài liệu của Hải quân Nhân dân Việt Nam, sự kiện này được biết đến với tên gọi CQ-88 (Chủ quyền-88).

Kết quả

Kể từ tháng 4 năm 1987, quân Trung Quốc giảm quy mô các hoạt động quân sự tại Việt Nam, dù quân của họ tiếp tục tuần tra tại Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Từ tháng 4 năm 1987 tới tháng 10 năm 1989 họ chỉ tiến hành 11 cuộc tấn công, chủ yếu là pháo kích. Tới năm 1992, quân chính quy Trung Quốc rút khỏi Lão Sơn và Giả Âm Sơn.[25]
Hàng ngàn người thuộc cả hai phía thiệt mạng trong cuộc chiến. Tại nghĩa trang quân đội Vị Xuyên ở tỉnh Hà Giang, có hơn 1.600 nấm mộ liệt sỹ Việt Nam hy sinh trong suốt các giai đoạn cuộc chiến cho tới tận năm 1990.[26]
Trung Quốc dần thực hiện việc rút quân khỏi các vị trí đã chiếm đóng của Việt Nam trong thời gian trước. Từ năm 1989, Trung Quốc rút khỏi một số điểm ở phía bắc suối Thanh Thủy. Ngày 13 tháng 3 năm 1989, họ rút khỏi 20 vị trí và đến tháng 9 năm 1989, họ rút khỏi 9 điểm còn lại. Tại Cao điểm 1509 mà Trung Quốc gọi là Lão Sơn (lưu ý có 2 cao điểm cùng tên là 1509, 1 mỏm thuộc Việt Nam và 1 thuộc Trung Quốc theo Hiệp ước Pháp – Thanh), họ cho tiến hành xây cất công sự bê tông tại các vị trí thuộc phần lãnh thổ của mình sau khi chiến sự kết thúc, chỉ để lại các công sự đất tại phần thuộc Việt Nam, được trao trả theo hiệp định biên giới năm 2009 giữa hai nước.

Chú thích

  1. ^ Nayan Chanda, “End of the Battle but Not of the War”, Far Eastern Economic Review, 16 tháng 3 năm 1979, tr. 10. Chanda trích lời quan chức Trung Quốc tuyên bố rút lui ngày 5 tháng 3 năm 1979
  2. ^ Edward C. O’Dowd, tr. 91
  3. ^ Nayan Chanda, “End of the Battle but Not of the War”, tr. 10. Khu vực có giá trị tượng trưng tinh thần nhất là khoảng 300m đường xe lửa giữa Hữu Nghị Quan và trạm kiểm soát biên giới Việt Nam.
  4. ^ François Joyaux, tr. 242
  5. ^ a ă â b c d đ e ê Carlyle A. Thayer, Security Issues in Southeast Asia: The Third Indochina War
  6. ^ Alex Peter Schmid, Political terrorism, 2nd edition (March 8, 2005)
  7. ^ “Gặp người bị phỉ treo giải chặt đầu”, báo Gia đình & Xã hội, cập nhật 19 tháng 07 năm 2009
  8. ^ John McBeth, “Squeezing the Vietnamese”, Far Eastern Economic Review, 19 tháng 12 năm 1980, tr. 9
  9. ^ Michael Weisskopf và Howard Simmons, “A Slow Burn on the Sino-Vietnam Border”, Asiaweek (22 tháng 5 năm 1981), tr. 24.
  10. ^ Michael Weisskopf điện về từ Bắc Kinh, International Herald Tribune, 25 tháng 5 năm 1981.
  11. ^ Edward C. O’Dowd, tr. 98
  12. ^ Ziwei Huanji, Counterattack in Self-Defense Against Vietnam, B.P. Mahony, làm việc cho Phân cục Tình báo của Cảnh sát Liên bang Úc được tiếp cận các tài liệu mật, cho biết có ít nhất 3 sư đoàn quân Trung Quốc tham gia tấn công (B.P. Mahony, Sino-Vietnamese Security Issues: Second Lesson Versus Stalemate, trình bày tại cuộc họp ‘Asian Studies Association of Australia’ tại University of Sydney, 12–16 tháng 5, 1986). Các nguồn khác xác định Sư đoàn 31 thuộc Quân đoàn 11 là đơn vị đánh Cao điểm 1200. Không ngoại trừ trường hợp cả hai đơn vị này đều tham gia tấn công. Thậm chí nếu họ chỉ dùng hai sư đoàn để tấn công, quân Trung Quốc cũng có lợi thế về số lượng, với 24.000 quân chống lại chừng 10.000 quân của Sư đoàn 313 của Việt Nam.
  13. ^ Ziwei Huanji. Phía Trung Quốc cho biết các trung đoàn đơn lẻ thuộc các Sư đoàn 316, 312, và 345 của Việt Nam tham gia trong trận phòng ngự này.
  14. ^ Lịch sử Lữ đoàn pháo binh 168, 1978–1998 trang 32–43.
  15. ^ B.P. Mahony, Sino-Vietnamese Security Issues: Second Lesson Versus Stalemate, tr. 14
  16. ^ a ă â “Trận Núi Đất” theo BBC
  17. ^ a ă Xiaobing Li, tr. 260
  18. ^ Edward C. O’Dowd, trang 100
  19. ^ “Intelligence”, Far Eastern Economic Review, 2 tháng 8 năm 1984
  20. ^ Paul Quinn-Judge, “Borderline Cases”, Far Eastern Economic Review, 21 tháng 6 năm 1984, tr. 26
  21. ^ Đài phát thanh Hà Nội, trích bởi The Nation Review [Bangkok], 7 tháng 8 năm 1984
  22. ^ “Tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Truông Bồn, biên giới phía Bắc”, báo Đất Việt, cập nhật 15 tháng 7 năm 2013.
  23. ^ AFP điện từ Bắc Kinh, The Canberra Times, 6 tháng 10 năm 1986.
  24. ^ “A Crescendo for Withdrawal”, Asiaweek, 2 tháng 11 năm 1986, tr. 11.
  25. ^ Xiaobing Li, tr. 263
  26. ^ Edward C. O’Dowd, tr. 101

Tài liệu tham khảo

Thể loại:

Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khaoch xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con

Chào ngày mới 27 tháng 4

CNM 365 Chào ngày mới 27 tháng 4. Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Kiến trúc Việt Nam, ngày Tự do tại Nam Phi, ngày Quốc vương tại Vương quốc Hà Lan, ngày Độc lập tại Sierra LeoneTogoNăm 909Hậu Lương Thái Tổ phong tước Mân vương cho Vương Thẩm Tri, Mân trở thành một quốc gia chư hầu của triều đình Trung Nguyên. Năm 1521 – Nhà thám hiểm Fernão de Magalhães bị người dân bản địa sát hại tại đảo Mactan thuộc Philippines ngày nay. Năm 1909 – Sultan Abdul Hamid II của Ottoman bị lật đổ, kế vị là em trai Mehmed V. Năm 2005 – Máy bay phản lực lớn nhất thế giới Airbus A380 (hình) hoàn thành chuyến bay đầu tiên với khả năng chuyên chở hành khách là 840 người.

Airbus A380

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Airbus A380
Logo Airbus A380.svg
Airbus A380 overfly.jpg
Máy bay Airbus A380-800
Kiểu Máy bay hành khách
Hãng sản xuất Airbus
Chuyến bay đầu tiên 27 tháng 4, 2005
Được giới thiệu 25 tháng 10, 2007
Tình trạng Được chứng nhận 12 tháng 12, 2006
Hãng sử dụng chính Emirates
Singapore Airlines
Qantas
Lufthansa
Hãng sử dụng đầu tiên Singapore Airlines
Được chế tạo 2004–nay
Số lượng được sản xuất 124 (2/2014)
Chi phí máy bay 403,9 triệu đô la Mỹ (tương đương 300 triệu Euro hay 252 triệu Bảng Anh)

Airbus A380 là một loại máy bay hai tầng, bốn động cơ do Airbus S.A.S. sản xuất. Nó bay thử lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 4 năm 2005 từ Toulouse, Pháp. Sau 15 tháng thử nghiệm, đã bắt đầu có các chuyến bay thương mại vào đầu năm 2007 khi Airbus chuyển giao máy bay đầu tiên để đi vào sử dụng cho Singapore Airlines. Trong hầu hết quá trình thiết kế và chế tạo, chiếc máy bay này được gọi là Airbus A3XX, và tên hiệu Superjumbo cũng đã trở thành một tên gọi khác của A380. Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, các phương tiện truyền thông đại chúng lẫn các chuyên gia ngành kỹ thuật, hàng không còn đặt biệt danh khác cho loại máy bay này là “Khách sạn bay 5 sao” vì đây là loại máy bay dân dụng duy nhất trên thế giới có các phòng ngủ với giường nệm, nhà hàng, quầy bar, phòng tắm spa, phòng giải trí sang trọng, các TV LED tại các phòng và các ghế hành khách với hơn 500 kênh truyền hình trên toàn thế giới, hơn 1000 game 3D và hàng chục nghìn bài hát, bản nhạc, phim ảnh được lưu trữ trên máy bay, hệ thống mạng Wifi tốc độ cao, khe cắm USB kết nối với máy tính, khe cắm phích sạc pin điện thoại để phục vụ mục đích giải trí và làm việc
Máy bay A380 có hai tầng, với tầng trên kéo dài toàn bộ chiều dài của thân máy bay. Điều này cho phép một khoang cabin rộng rãi, cấu hình tiêu chuẩn với ba cấp hành khách có thể đạt sức chứa 555người, tối đa là 853 người nếu chỉ có các hành khách thông thường (economy class)[1].
Có hai kiểu A380 sẽ được đưa vào sử dụng. Loại A380-800, loại chở hành khách, là máy bay chở khách lớn nhất thế giới [2], lớn hơn cả Boeing 747[2]. Loại thứ hai, A380-800F, sẽ là máy bay vận tải, là một trong những máy bay vận tải lớn nhất thế giới sau Antonov An-225, An-124C-5 Galaxy[3]. Phiên bản mới nhất do Airbus công bố (2010) là A380-900 với kích cỡ lớn hơn phiên bản A380-800 và sức chuyên chở hành khách tối đa lên đến hơn 900 hành khách
Máy bay A380-800 có tầm bay xa cực đại là 16.000 km (8.000 mi) đủ để bay không nghỉ từ Chicago đến Sydney, và một tốc độ bay bình thường khoảng Mach 0,85 (1.050 km/h)[2], giống như máy bay Boeing 747[4].

Phát triển

Bối cảnh

Mùa hè năm 1988, một nhóm các kỹ sư của hãng Airbus được lãnh đạo bởi Jean Roeder đã bí mật bắt đầu việc nghiên cứu và phát triển một siêu máy bay chở khách (UHCA), với hai mục tiêu là để hoàn thiện danh mục các sản phẩm của Airbus cũng như đánh đổ sự thống trị của Boeing trong phân khúc thị trường này với mẫu Boeing 747.[5] Khác với MacDonnell Douglas trong việc thương mại hóa mẫu máy bay nhỏ hai boong MD-12[6][7] Roeder đã được chấp thuận bởi UHCA cho các nghiên cứu tiếp theo sau một bài thuyết trình chính thức tới Chủ tịch và Giám đốc điều hành của hãng vào tháng 06/1990. Dự án được công bố tại Farnborough Air Show năm 1990, với mục tiêu được nêu là sẽ giảm bớt 15% chi phí vận hành so với mẫu Boeing 747 cùng loại.[8] Airbus đã tổ chức bốn nhóm thiết kế, từ bốn đối tác của EADS (Aérospatiale, DaimlerChrysler Aerospace,. British Aerospace, EADS CASA) cùng nghiên cứu và đề xuất những công nghệ tiên tiến nhất để áp dụng cho mẫu máy bay mới trong tương lai. Các mẫu thiết kế sẽ được trình bày trong năm 1992 và những thiết kế xuất sắc nhất sẽ được sử dụng [9].
Tháng 1/1993, Boeing và một số công ty trong tập đoàn của Airbus đã bắt đầu một nghiên cứu và phát triển chung một mẫu siêu máy bay chở khách cơ lớn nhằm mục tiêu hình thành một quan hệ đối tác để chia sẻ thị trường hạn chế.[10][11] Nghiên cứu đã bị huỷ bỏ hai năm sau đó, lãi suất của Boeing cũng bị giảm sút.[12]
Trong tháng 6/1994, Airbus đã bắt đầu phát triển riêng cho mình một mẫu máy bay chở khách cỡ lớn, thuộc phân hạng A3XX.[13][14] Airbus đã nghiên cứu một số mẫu thiết kế, bao gồm cả sự kết hợp hai từ thân máy bay A340, mẫu máy bay phản lực lớn nhất của Airbus tại thời điểm đó [15]. Các A3XX được thiết kế để chạnh tranh với nghiên cứu của Boeing và mẫu máy bay 747 rất thành công.[16][17] Từ 1997-2000, khi cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đã phủ bóng đêm lên toàn bộ thị trường, Airbus đã thay đổi thiết kế với mục tiêu giảm từ 15-20% chi phí vận hành hiện tại trên các máy bay Boeing 747-400. Thiết kế A3XX bao gồm hai boong, cho phép chuyên chở được nhiều hành khách hơn so với thiết kế một boong truyền thống.[18][19]

Các giai đoạn thiết kế

Ngày 19/12/2000, Ban giám sát mới được tái cơ cấu của Airbus đã thống nhất chương trình xây dựng A3XX trị giá 8,8 tỷ euro, đổi tên mẫu máy bay mới là A380,[18][20] với 50 đơn đặt hàng từ sáu công ty khách hàng.[21][22] Thiết kế của A380 là sự thay đổi lớn so với các thành viên còn lại của Airbus, là kết quả của việc phát triển từ mẫu A300 đến A340. Nó đã được lựa chọn bởi vì số 8 giống với mục chéo hai sàn tàu, và là con số may mắn theo quan niệm của một số nước chau Á, thị trường mục tiêu của A380 [15]. Các tính năng của A380 đã được hoàn thiện vào đầu năm 2001, bộ phận cánh của máy bay được bắt đầu đưa vào sản xuất vào ngày 23/1/2002. Chi phí phát triển của A380 là đã tăng lên đến 11 tỷ euro tính cho đến khi chiếc máy bay đầu tiên được xuất xưởng [11].

Thử nghiệm

Chiếc A380 đầu tiên, số MSN001 và đăng ký F-WWOW, đã được công bố tại một buổi lễ ở Toulouse ngày 18 tháng 1 năm 2005.[23][24] Chuyến bay đầu tiên của nó diễn ra lúc 08:29 UTC (10:29 giờ địa phương) ngày 27 Tháng Tư năm 2005.[25] Chiếc máy bay này được trang bị động cơ Trent 900, cất cánh từ Sân bay quốc tế Toulouse Blagnac với một phi hành đoàn gồm sáu phi công thử nghiệm chính do Jacques Rosay điều khiển. Và hạ cánh thành công sau ba giờ và 54 phút sau thử nghiệm..[26] Ngày 01 tháng 12 năm 2005 của A380 đạt được tốc độ thiết kế tối đa Mach 0,96 (so với tốc độ bay bình thường là Mach 0,85).[25] Ngày 10 tháng một năm 2006 của A380 đã vượt Đại Tây Dương đầu tiên chuyến bay đến Medellín ở Colombia, để kiểm tra hiệu suất động cơ tại một sân bay độ cao lớn. Nó đã bay đến Bắc Mỹ vào ngày 06 tháng hai, hạ cánh tại Iqaluit, NunavutCanada đễ thử nghiệm trong thời tiết lạnh.[26]
Airbus đã công bố thay đổi thêm 30 kg cho cánh để cung cấp sức mạnh cần thiết sau lượt kiểm tra không thành công hồi đàu năm 2006.[27] Ngày 26 tháng 3 2006 A380 đã trải qua chứng nhận sơ tán ở Hamburg. Với 8 trong số 16 thoát khỏi bị chặn, 853 hành khách và phi hành đoàn 20 rời máy bay trong 78 giây, ít hơn 90 giây yêu cầu của tiêu chuẩn chứng nhận.[28] Ba ngày sau, A380 đã nhận được phép từ Cơ quan An toàn Hàng không châu Âu (EASA) và Cục Hàng không liên bang Hoa Kỳ(FAA) phê duyệt để thực hiện lên đến 853 hành khách.[29] Các chuyến bay đầu tiên của A380 đầu tiên sử dụng GP7200, số serial động cơ MSN009 và đăng ký F-WWEA -diễn ra vào ngày 25 Tháng 8, 2006.[30][31] Vào ngày 04 tháng chín năm 2006, lần đầu tiên mang đầy đủ hành khách chuyến bay thử nghiệm đã diễn ra.[32] Chiếc máy bay đã bay từ Toulouse với 474 nhân viên Airbus trên tàu, trong các đầu tiên của một loạt các chuyến bay để kiểm tra các cơ sở hành khách và thoải mái.[32] Trong tháng 11 năm 2006 một loạt hơn nữa của các tuyến đường bay minh đã diễn ra để chứng minh máy bay thực hiện của các đối 150 chuyến bay giờ theo điều kiện hoạt động hàng không điển hình.[33]

Sản xuất

Phần lớn cấu trúc của A380 được chế tạo tại Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và Vương quốc Anh. Do kích thước rất lớn nên các bộ phận của A380 được vận chuyển đến lắp ráp tại xưởng của Airbus tại Toulouse, Pháp bằng tàu thủy, mặc dù một số phần được chuyển bằng A300-600ST Beluga, máy bay được sử dụng trong việc xây dựng các mẫu Airbus khác.[34] Các bộ phận của A380 được cung cấp bởi các nhà cung cấp từ khắp nơi trên thế giới; năm nhà cung cấp lơn nhất tính theo giá trị là Rolls-Royce, SAFRAN, United Technologies, General Electric, và Goodrich [18].
Các phần phía trước và phía sau của thân máy bay được chuyển lên tàu vận tải của Airbus bằng trục lăn, cảng Ville de Bordeaux, tại Hamburg ở miền bắc nước Đức, từ đó họ được chuyển đến Vương quốc Anh [35][36]. Cánh của máy bay được sản xuất tại Filton ở Bristol và Broughton, miền bắc xứ Wales; được vận chuyển bằng sà lan đến cảng Mostyn và sau đó được chuyển lên các tàu chở hàng. Tại Saint-Nazaire ở phía Tây nước Pháp, các tàu chở những phần thân của máy bay từ Hamburg đẻ lắp ráp lại với nhau. Trong đó bao gồm cả một số bộ phận ở mũi máy bay. Sau đó các bộ phận này được chuyển đến và dỡ xuống cảng Bordeaux. Các tàu này tiếp tục bốc các phần bụng và đuôi của máy bay tại nhà máy Construcciones Aeronáuticas SA tại Cádiz phía Nam của Tây Ban Nha và sau đó lại chuyển về cảng Bordeaux.[37] Airbus sized the production facilities and supply chain for a production rate of four A380s per month.[38] Từ đó, các bộ phận A380 được vận chuyển bằng sà lan đến Langon và được vận chuyển đến điểm láp ráp cuối cùng tại Toulouse. Các tuyến đường và kênh đào để vận chuyển các bộ phận của A380 đều đã được mở rộng và sử chữa. Sau khi hoàn thành công đoạn lắp ráp, nó sẽ bay đến sân bay Hamburg Finkenwerder (XFW) để được hoàn thiện và sơn. Mất khoảng 3600 lít sơn để che phủ 3.100 m2 bên ngoài của A380. Năng lực sản xuất A380 là vào khoảng 04 chiếc mỗi tháng.[35][39][40]

Các đặc điểm

So sánh kích thước 4 máy bay lớn nhất

(Loại vận tải 800F bằng chữ nâu)[2][3]

Các đặc điểm tổng quát
  • Phi hành đoàn: 2
  • Khả năng chuyên chở: 555 trong 3 cấp hay 853 hành khách 1 cấp, với 66,4 tấn (146.400 lb) hàng hoá trong 38 LD3 hay 13 pallet
    • 152,4 tấn (336.000 lb) hàng hoá (158 t option)
  • Động cơ: 4×311 kN (70.000 lbf) turbofan. Hoặc Rolls-Royce Trent 900 hay là Engine Alliance GP7200
    • 4×340 kN (76.500 lbf)
Kích thước
  • Dài: 73 m (239 ft 6 in)
  • Sải cánh: 79,8 m (261 ft 10 in)
  • Cao: 24,1 m (79 ft 1 in)
  • Diện tích cánh: 845 m² (9.100 ft²)
Trọng lượng và dung tích nhiên liệu
  • Trọng lượng lúc trống: 276.800 kg (610.200 lb)
    • 252.200 kg (556.000 lb)
  • Trọng lượng tối đa lúc cất cánh: 560.000 kg (1.235.000 lb)
    • 590.000 kg (1.300.000 lb)
  • Nhiên liệu chứa tối đa: 310.000 litres (81.890 US gal)
    • 310.000 l (352.000 l option)
Vận hành
  • Tốc độ bay bình thường: 0.85 Mach (khoảng 1050 km/h, 647 mph, 562 kt)
  • Tốc độ bay tối đa: 0,89 Mach
  • Tầm xa: 16.000 km (8.000 nmi)
    • 10.400 km (5.600 nmi)
  • Độ cao phục vụ: 13.100 m (43.000 ft)

Đặt hàng

Có 17 hãng hàng không đã đặt hàng A380 tính đến 6 tháng 4 năm 2006 bao gồm cả đơn đặt hàng từ bộ phận cho thuê máy bay của AIG, ILFC. Hiện nay, tổng số đơn đặt A380 đứng ở 163, bao gồm cả 27 chiếc loại vận tải. Điểm hòa vốn được ước tính từ 250 đến 300 chiếc. CEO của Airbus, Noël Forgeard, nói ông ta dự đoán sẽ bán được 750 chiếc. Vào năm 2006, giá một chiếc A380 là 295 triệu US$[41][42].

Hãng hàng không Năm đưa vào sử dụng Kiểu Động cơ
A380-800 A380-800F Lựa chọn EA RR
Flag of France.svg Air France 2008 10 4 *
Flag of the People's Republic of China.svg China Southern Airlines 2011 5 *
Flag of the United Arab Emirates.svg Emirates 2008[43][44] 43 *
Flag of the United Arab Emirates.svg Etihad Airways 2012 4 *
Flag of the United States.svg FedEx 2010[44] 10 10 *
Flag of the United States.svg ILFC 5 5 4
Flag of India.svg Kingfisher Airlines 2012 5
Flag of South Korea (bordered).svg Korean Air 2009 5 3 *
Flag of Germany.svg Lufthansa 2008 15 10 *
Flag of Malaysia.svg Malaysia Airlines 2010 6 *
Flag of Australia.svg Qantas 2009 12 10 *
Flag of Qatar.svg Qatar Airways 2009 2 2
Flag of Singapore.svg Singapore Airlines 2007 10 15 *
Flag of Thailand.svg Thai Airways International Năm 2012 đến 2015 6
Flag of the United States.svg UPS 2011 10 10
Flag of the United Kingdom.svg Virgin Atlantic 2012 6 6 *
Cộng 138 25 74 72 63
Tổng 163 135

Chú thích

  1. ^ Market challenges facing Airbus’ giant, John Cronin, BBC News, 25 April 2005
  2. ^ a ă â A380 Specifications Airbus S.A.S.
  3. ^ a ă A380 Freight Specifications Airbus S.A.S.
  4. ^ “Technical Characteristics — Boeing 747-400”, Boeing Commercial Aircraft, truy cập 11 tháng 6 2006
  5. ^ Norris, 2005. p. 7.
  6. ^ “MDC brochures for undeveloped versions of the MD-11 and MD-12”. md-eleven.net. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2008.
  7. ^ “McDonnell Douglas Unveils New MD-XX Trijet Design”. McDonnell Douglas. 4 tháng 9 năm 1996.
  8. ^ Norris, 2005. p. 16-17.
  9. ^ Norris, 2005. p. 17-18.
  10. ^ Norris, 2005. p. 31.
  11. ^ a ă Wallace, James (24 tháng 10 năm 2007). “Airbus all in on need for jumbo — but Boeing still doubtful”. Seattle PI.
  12. ^ “Boeing, partners expected to scrap Super-Jet study”. Los Angeles Times. 10 tháng 7 năm 1995.
  13. ^ Bowen, David (4 tháng 6 năm 1994). “Airbus will reveal plan for super-jumbo: Aircraft would seat at least 600 people and cost dollars 8bn to develop”. The Independent (London).
  14. ^ Sweetman, Bill (1 tháng 10 năm 1994). “Airbus hits the road with A3XX”. Interavia Business & Technology.
  15. ^ a ă Norris, Guy; Mark Wagner (2005). Airbus A380: Superjumbo of the 21st Century. Zenith Press. ISBN 978-0-7603-2218-5.[liên kết hỏng]
  16. ^ “Aviation giants have Super-jumbo task”. Orlando Sentinel. 27 tháng 11 năm 1994.
  17. ^ Norris, Guy (10 tháng 9 năm 1997). “Boeing looks again at plans for NLA”. Flight International.
  18. ^ a ă â Babka, Scott (5 tháng 9 năm 2006). “EADS: the A380 Debate” (PDF). Morgan Stanley. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2006.
  19. ^ Lawler, Anthony (4 tháng 4 năm 2006). “Point-To-Point, Hub-To-Hub: the need for an A380 size aircraft”. Leeham.net. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2010.
  20. ^ “The Casino in the Sky”. Associated Press. 19 tháng 12 năm 2000.
  21. ^ “Airbus jumbo on runway”. CNN. 19 tháng 12 năm 2000.
  22. ^ “Virgin orders six A3XX aircraft, allowing Airbus to meet its goal”. Wall Street Journal. 15 tháng 12 năm 2000.
  23. ^ Kingsley-Jones, Max (20 tháng 12 năm 2005). “A380 powers on through flight-test”. Flight International. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2007.
  24. ^ Madslien, Jorn (18 tháng 1 năm 2005). “Giant plane a testimony to ‘old Europe’”. BBC News.
  25. ^ a ă “A380, the 21st century flagship, successfully completes its first flight”. Airbus. 27 tháng 4 năm 2005.
  26. ^ a ă “A380 Successfully completes its first flight”. Flug Revue. 27 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2008.[liên kết hỏng]
  27. ^ “Airbus to reinforce part of A380 wing after March static test rupture”. Flight International. 23 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2008.
  28. ^ Daly, Kieran (6 tháng 4 năm 2006). “Airbus A380 evacuation trial full report: everyone off in time”. Flight International. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2006.
  29. ^ “Pictures: Airbus A380 clears European and US certification hurdles for evacuation trial”. Flight International. 29 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2006.
  30. ^ “GE joint venture engines tested on Airbus A380”. Business Courier. 25 tháng 8 năm 2006.
  31. ^ “First GP7200-Powered Airbus A380 Takes Its First Flight”. PR Newswire. 25 tháng 8 năm 2006.
  32. ^ a ă “Airbus A380 completes test flight”. BBC News. 4 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2006.
  33. ^ Ramel, Gilles (11 tháng 11 năm 2006). “Airbus A380 jets off for tests in Asia from the eye of a storm”. USA Today.
  34. ^ “Airbus delivers first A380 fuselage section from Spain”. Airbus. 6 tháng 11 năm 2003.[liên kết hỏng]
  35. ^ a ă “Ciudad De Cadiz delivered”. Höegh Autoliners. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010.
  36. ^ “A380: topping out ceremony in the equipment hall. A380: special transport ship in Hamburg for the first time”. Airbus Press Centre. 10 tháng 6 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2009.
  37. ^ “Airbus starts painting first A380”. Airbus. 11 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2009.
  38. ^ Lỗi chú thích
  39. ^ “Convoi Exceptionnel”. Airliner World (Key Publishing Limited). Tháng 5 năm 2009.
  40. ^ “A380 convoys”. IGG.FR. 28 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2007.
  41. ^ Airbus A380 News, URL truy cập 11 June 2006
  42. ^ Orders & Deliveries to 30 June
  43. ^ Late landing for Emirates’ A380 jets.” Al Deen, M. E. Gulf News. 5 tháng 4 2006.
  44. ^ a ă Airbus A380 Freighter Delayed as Emirates Switches Orders to Passenger Variant.” Kingsley-Jones, M. Flight International. 16 tháng 5 2006.

Liên kết ngoài

Fernão de Magalhães

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ferdinand Magellan
Sinh Fernão de Magalhães
1480
Sabrosa, Vương quốc Bồ Đào Nha
Mất tháng 4 27, 1521 (40–41 tuổi)
Cebu, Philippines
Quốc gia Bồ Đào Nha
Nổi tiếng vì Thuyền trưởng đầu tiên thực hiện chuyến đi vòng quanh thế giới.
Chữ ký

Fernão de Magalhães hay thường được biết đến rộng rãi với tên Anh hóa Ferdinand Magellan (tiếng Tây Ban Nha: Fernando de Magallanes; mùa xuân 148027 tháng 4 năm 1521) là một nhà thám hiểm hàng hải người Bồ Đào Nha.Ông sinh ra tại Sabrosa, miền bắc Bồ Đào Nha, nhưng sau đó đã từ bỏ quốc tịch Bồ Đào Nha để nhập quốc tịch Tây Ban Nha nhằm mục đích phục vụ cho Vua Carlos I của Tây Ban Nha trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ cho chuyến đi về hướng tây đến “Quần đảo Gia vị” (ngày nay là quần đảo Maluku ở Indonesia).
Chuyến hải hành trong khoảng thời gian 1519–1522 của Magellan đã đi vào lịch sử như là chuyến đi đầu tiên bằng đường biển của con người từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương (cái tên có nghĩa “biển bình yên” này được đặt bởi Magellan; đồng thời nơi nối giữa hai Đại dương được mang tên Eo biển Magellan), và là chuyến đi đầu tiên băng qua Thái Bình Dương. Chuyến đi này cũng đánh dấu sự kiện con người lần đầu tiên đi vòng quanh Trái Đất thành công, mặc dù chính bản thân Magellan cũng không hoàn thành chuyến đi của ông do bị giết trong Trận chiến Mactan ở Philippines. Tuy nhiên, do Magellan đã từng đi theo hướng đông đến Bán đảo Mã Lai trong một chuyến hải hành trước đó, nên ông trở thành nhà thám hiểm đầu tiên đi qua tất cả đường kinh tuyến của quả địa cầu. Trong số 237 thủy thủ khởi hành trên năm con tàu, chỉ còn lại 18 người hoàn thành chuyến đi và xoay xở để quay trở về Tây Ban Nha vào năm 1522,[1][2] dưới sự dẫn dắt của nhà hàng hải xứ Basque Juan Sebastián Elcano, người đã nhận trách nhiệm chỉ huy thủy thủ đoàn sau cái chết của Magellan. Mười bảy thủy thủ nữa sau đó cũng về được Tây Ban Nha: mười hai người bị Bồ Đào Nha bắt ở Cape Verde vài tuần trước đó trong khoảng thời gian giữa năm 1525 và 1527, năm người sống sót còn lại trở về trên con tàu Trinidad.
Magellan cũng đặt tên mình cho Chim cánh cụt Magellan, vốn được ông là người châu Âu đầu tiên ghi chép lại,[3]Đám mây Magellan, ngày nay được biết đến là một thiên hà lùn.

Thời niên thiếu và những chuyến đi

Magellan sinh vào khoảng năm 1480 tại Sabrosa, gần Vila Real, tỉnh Trás-os-Montes, Bồ Đào Nha. Cha ông là Rui de Magalhães (ông nội là Pedro Afonso de Magalhães và bà nội Quinta de Sousa) và mẹ Alda de Mesquita, gia đình ông có các anh em Duarte de Sousa, Diogo de Sousa và Isabel de Magalhães. Sau khi ba mẹ mất vào năm ông lên mười, ông trở thành cậu bé giúp việc cho Hoàng hậu Leonor trong triều đình Hoàng gia Bồ Đào Nha theo truyền thống của gia đình.
Vào tháng 3, 1505, ở tuổi 25, Magellan gia nhập hạm đội gồm 22 tàu, đứng đầu là Francisco de Almeida Phó Vương đầu tiên của Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha. Mặc dù tên của ông không được tìm thấy trong biên niên sử các cuộc chiến tranh ở Ấn Độ, những điều còn lại người ta biết về ông là ông đã trải qua tám năm ở Goa, Cochin và Quilon. Ông đã tham dự một vài trận đánh, bao gồm trận Cannanore năm 1506, nơi ông đã bị thương. Năm 1509, ông dự trận đánh Diu[4] và sau đó đi cùng thủy thủ đoàn của Diogo Lopes de Sequeira với tư cách Sứ thần đầu tiên của Bồ Đào Nha đến Malacca. Trong thủy thủ đoàn còn có bạn ông và có thể là người anh em họ Francisco Serrão.[5] Tháng 9, sau khi đến Malacca, chuyến đi trở thành thảm họa khi họ rơi vào một âm mưu tấn công và phải rút lui. Trong dịp này Magellan đóng một vai trò then chốt giúp không cho đoàn hải hành không bị tiêu diệt hoàn toàn, ông đã cảnh báo Sequeira và chiến đấu dũng cảm cứu Francisco Serrão, người vốn đã lên bờ trước cuộc tấn công.[6] Sau đó, ông được chú ý tới và thăng chức.
Năm 1511, dưới quyền của vị Thống sứ mới là Afonso de Albuquerque, Magellan và Serrão tham gia vào cuộc chinh phục bán đảo Malacca, đồng thời phục hận cho thất bại của Sequeira. After the conquest their ways parted: Magellan was promoted, with a rich plunder, and in the company of a Malay he had indentured and baptised Enrique of Malacca, returned to Portugal in 1512. Serrão departed in the first expedition sent to find the “Spice Islands” in the Moluccas, where he remained, having married a woman from Amboina and becoming a military advisor to the Sultan of Ternate, Bayan Sirrullah. His letters to Magellan would prove decisive, giving information about the spice-producing territories.[7][8]

Chuyến thám hiểm cuối cùng

Trong các năm 15051512 ông tham gia các chuyến hải hành của Bồ Đào Nha đến Ấn Độ Dương, 2 lần đến Malacca (nay là Malaysia) trong các năm 15091511. Thiết lập dự án bơi bằng con đường phía Tây đến quần đảo Molucca (nay thuộc Indonesia), nhưng ông bị loại bởi vua Bồ Đào Nha, do chuyến hải hành của Vasco da Gama, một con đường phía đông gần hơn đã được lập nên. Trong năm 1517, dự án này đã được nhận bởi vua Tây Ban Nha, và vào ngày 20 tháng 9 năm 1519, 5 chiếc tàu với hải đoàn 265 người dưới sự lãnh đạo của Magalhães khởi hành từ cảng San Lucar de Barrameda (những con sông nhỏ Guadalquivir) đi tìm eo biển Tây Nam từ Đại Tây Dương đến “biển Nam”, khám phá bởi Vasco Nunes de Balboa. Ngoài ra theo chỉ đạo của vua Carlos I:

Theo Trẫm biết thì trên quần đảo Moluccas có nhiều gia vị, do đó Trẫm phái Khanh đi chính là để tìm kiếm chúng, và nguyện vọng của Trẫm là Khanh hãy đi thẳng đến quần đảo đó.
—Carlos I

Đoàn tàu của Magalhães gồm những tàu sau:

  • Trinidad (tải trọng 110 tấn, 55 người) dưới sự điều khiển của Magalhães;
  • San Antonio (120 tấn, 60 người) dưới sự điều khiển của Juan de Cartegena;
  • Concepción (90 tấn, 45 người) dưới sự điều khiển của Gomez;
  • Victoria (85 tấn, 42 người) dưới sự điều khiển của Gaspar de Quesada; và
  • Santiago (75 tấn, 32 người) dưới sự điều khiển của Luis de Mendoza.

Vinh danh

Tên ông được đặt cho:

Chú thích

  1. ^ Swenson 2005.
  2. ^ Stanley 1874, tr. 39, 162.
  3. ^ Hogan 2008
  4. ^ James A. Patrick, “Renaissance and Reformation”, tr. 787, Marshall Cavendish, 2007, ISBN 0-7614-7650-4
  5. ^ William J. Bernstein, “A Splendid Exchange: How Trade Shaped the World”, tr 183-185, Grove Press, 2009, ISBN 0-8021-4416-0
  6. ^ Zweig, Stefan, “Conqueror of the Seas – The Story of Magellan”, tr 44-45, READ BOOKS, 2007, ISBN 1-4067-6006-4
  7. ^ Zweig, Stefan, “Conqueror of the Seas – The Story of Magellan”, p.51, READ BOOKS, 2007, ISBN 1-4067-6006-4
  8. ^ R. A. Donkin, “Between east and west: the Moluccas and the traffic in spices up to the arrival of Europeans”, p.29, Volume 248 of Memoirs of the American Philosophical Society, DIANE Publishing, 2003 ISBN 0-87169-248-1

Liên kết ngoài



Cảnh báo: Từ khóa xếp mặc định “Magalhães, Fernão” ghi đè từ khóa trước, “Magellan, Ferdinand”.

Vương Thẩm Tri

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Vương Thẩm Tri
Uong Sing-di.JPG
Vương Thẩm Tri
Vua nước Mân
Tại vị 27/4/909[1][2][chú 1] – 30/12/925
Kế nhiệm Vương Diên Hàn
Thông tin chung
Tên đầy đủ Vương Thẩm Tri (王審知)
Tước hiệu Mân vương
Niên hiệu của Hậu Lương
Khai Bình (開平, 4/909-4/911)
Càn Hóa (乾化, 5/911-10/915)
Trinh Minh (貞明, 11/915-4/921)
Long Đức (龍德, 5/921-3/923)
của Hậu Đường
Đồng Quang (同光, 4/923-925)
Thụy hiệu Trung Ý Vương (忠懿王)
Chiêu Vũ Hiếu hoàng đế (昭武孝皇帝)
Miếu hiệu Thái Tổ (太祖)
Hoàng tộc Mân
Sinh 862[3]
Mất 30 tháng 12 năm 925[2][4]
Phúc Châu, Trung Quốc

Vương Thẩm Tri (Trung văn giản thể: 王审知; phồn thể: 王審知; bính âm: Wáng Shěnzhī; Bạch Thoại tự: Ông Sím-ti; 862–30 tháng 12 năm 925), tự Tín Thông (信通) hay Tường Khanh (詳卿), gọi theo thụy hiệu là Mân Trung Nghĩa Vương, sau tiếp tục được truy phong là Mân Thái Tổ, là vị quân chủ khai quốc của nước Mân thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Thân thế

Vương Thẩm Tri sinh năm 862, dưới triều đại của Đường Ý Tông.[3] Tổ tiên năm đời của ông là Vương Diệp (王曄) giữ chức Cố Thủy[chú 2] [huyện] lệnh, được dân chúng yêu mến, và ông ta cùng gia đình định cư tại Cố Thủy. Gia đình này sau đó trở nên vẻ vang với nghiệp kinh doanh.[5] Cha ông tên là Vương Nhẫm (王恁), mẹ ông là Đổng thị.[6][chú 3] Ông có hai anh là Vương Triều và Vương Thẩm Khuê (王審邽).[7]

Phụng sự Vương Tự

Năm 881, Đại Đường chìm đắm trong các cuộc khởi nghĩa nông dân, Vương Tự và Lưu Hành Toàn (劉行全) tiến hành nổi dậy và chiếm Thọ châu[chú 4], sau đó là Quang châu[chú 5]– bao gồm huyện Cố Thủy. Vương Tự được Phụng Quốc[chú 6] tiết độ sứ Tần Tông Quyền bổ nhiệm làm Quang châu thứ sử. Vương Tự buộc các đàn ông địa phương phải nhập ngũ, ba anh em Vương Triều, Vương Thẩm Khuê và Vương Thẩm Tri trở thành binh lính dưới quyền Vương Tự.[7]
Sau đó, Tần Tông Quyền quay sang phản lại triều đình Đường, xưng làm hoàng đế, đem quân tiến công Vương Tự. Vương Tự lo sợ nên tập hợp 5.000 binh sĩ Quang châu và Thọ châu và buộc người dân phải vượt sang bờ nam Trường Giang. Vào mùa xuân năm 885, Vương Tự tiếp tục tiến về phía nam và khi Vương Tự tiến đến Chương châu[chú 7], đội quân của ông ta cạn kiệt lương thực. Do địa hình Phúc Kiến gồ ghề, Vương Tự ra lệnh bỏ lại những người già yếu. Tuy nhiên, Vương Thẩm Tri cùng hai anh vẫn đưa Đổng thị đi cùng. Vương Tự trách mắng họ và đe dọa giết Đổng thị. Ba anh em cầu xin tha mạng cho Đổng thị, đề nghị được chết thay bà, các thuộc hạ khác cũng nói giúp cho họ, khiến Vương Tự mủi lòng.[6]
Khi đội quân tiến đến Nam An[chú 8], Vương Triều cùng tướng tiền phong quay sang chống lại Vương Tự, họ tiến hành phục kích và bắt được Vương Tự. Vương Triều trở thành thủ lĩnh của đội quân. Sau đó Vương Triều được Phúc Kiến quan sát sứ Trần Nham (陳巖) bổ nhiệm làm Tuyền châu[chú 9] thứ sử.[6]

Phụng sự Vương Triều

Năm 891, Trần Nham qua đời, Vương Tự và Đô tướng Phạm Huy (范暉) tranh giành quyền cai quản Phúc Kiến. Năm 892, Vương Triều bổ nhiệm em họ là Vương Ngạn Phục (王彥復) làm Đô thống, Vương Thẩm Tri làm Đô giám, đem binh công Phúc châu. Theo ghi chép thì người Hán tự quyên lương thực, còn các dân tộc khác đem binh thuyền trợ giúp quân của Vương Triều.[8]
Tuy nhiên, việc bao vây Phúc châu bị sa lầy do thành phòng thủ vững chắc, Phạm Huy cầu cứu Uy Thắng[chú 10] tiết độ sứ Đổng Xương– có quan hệ thông qua hôn nhân với Trần Nham. Đổng Xương phái 5.000 quân của Ôn châu, Đài châu và Vụ châu đến cứu Phúc châu. Vương Ngạn Phục và Vương Thẩm Tri hay tin, thấy thành Phúc châu kiên cố, quân sĩ chết và bị thương nhiều, quyết định báo lại cho Vương Triều và thỉnh cầu bãi binh, song Vương Triều từ chối. Khi họ thỉnh Vương Triều tự đến hành doanh, Vương Triều trả lời: “Binh hết thì thêm binh, tướng hết thì thêm tướng. Binh tướng đều hết, ta sẽ tự đến”[8]
Vương Ngạn Phục và Vương Thẩm Tri lo sợ bị trách mắng nên tăng cường tiến công. Đến tháng 5 ÂL năm 893, Phúc châu cạn nguồn lương thực, Phạm Huy trao ấn cho giám quân rồi bỏ thành chạy trốn rồi bị binh sĩ giết chết, quân Uy Thắng vẫn đang trên đường đến song khi hay tin thì trở về Uy Thắng. Ngày Canh Tý, Vương Ngạn Phục cùng tướng sĩ tiến vào thành Phúc châu. Vương Triều tiến vào Phúc châu, xưng là lưu hậu. Năm 896, Đường Chiêu Tông thăng Phúc Kiến thành Uy Vũ quân (威武), bổ nhiệm Vương Triều làm tiết độ sứ.[9]
Trong khi Vương Triều giữ chức tiết độ sứ, Vương Thẩm Tri giữ chức quan sát phó sứ. Theo ghi chép, khi Vương Thẩm Tri phạm lỗi, sẽ bị Vương Triều đánh, song Vương Thẩm Tri không oán giận. Khi Vương Triều nằm trên giường bệnh vào năm 897, thay vì giao lại quyền lực cho một trong bốn con (Vương Diên Hưng (王延興), Vương Diên Hồng (王延虹), Vương Diên Phong (王延豐), Vương Diên Hưu (王延休)), ông ta lại giao phó quân phủ sự cho Vương Thẩm Tri. Ngày Đinh Mùi tháng 12 ÂL, Vương Triều qua đời.[10]
Sau khi Vương Triều qua đời, Vương Thẩm Tri đề nghị giao lại quyền hành cho anh là Tuyền châu thứ sử Vương Thẩm Khuê, song Vương Thẩm Khuê từ chối vì cho rằng Vương Thẩm Tri có công lao lớn hơn. Sau đó, Vương Thẩm Tri xưng là lưu hậu, rồi được Đường Chiêu Tông bổ nhiệm làm tiết độ sứ.[10]

Uy Vũ tiết độ sứ

Ngày Nhâm Thân tháng 2 ÂL năm 900, Đường Chiêu Tông ban chức Đồng bình chương sự (tể tướng trên danh nghĩa) cho Vương Thẩm Tri.[11] Sau đó ông lại được nhậm chức kiểm hiệu tư khôngkiểm hiệu tư đồ. Năm 902, Vương Thẩm Tri cho xây ngoại quách thành Phúc châu. Năm 904, Đường Chiêu Tông phong tước Lang Da vương cho Vương Thẩm Tri, thực ấp 4.000 hộ, thực phong 100 hộ; thăng chức kiểm hiệu thái bảo.[12][13]
Năm 907, Tuyên Vũ[chú 11] tiết độ sứ Chu Toàn Trung soán vị Đường Ai Đế, trở thành Hậu Lương Thái Tổ, lập ra triều Hậu Lương. Vương Thẩm Tri công nhận Chu Toàn Trung là Thiên tử, sau đó được ban cho chức Thị trung.[14] Ngày Canh Tý (5) tháng 4 năm Kỉ Tị (27 tháng 4 năm 909), Hậu Lương Thái Tổ phong tước Mân vương cho Vương Thấm Tri,[1] cùng chức Trung thư lệnh.[12]

Thời kỳ đầu trị vì

Cũng vào năm 909, Hoằng Nông (tức Ngô) khiển sứ giả Trương Tri Viễn (張知遠) sang Mân xây dựng quan hệ hòa hảo. Vương Thẩm Tri thấy Trương Tri Viễn hỗn láo nên quyết định xử trảm Trương Tri Viễn, thượng biểu nói rằng từ nay tuyệt giao với Hoằng Nông (nước này vốn không công nhận Hậu Lương).[1]
Theo ghi chép, Vương Thẩm Tri có tính tiết kiệm, thường đi giày gai, phủ chật hẹp và chưa từng tu bổ. Ông khoan dung trong hình phạt, trưng thu thuế ở mức thấp; công tư đều thịnh vượng, đất Mân an bình. Ông nộp cống phẩm hàng năm cho Hoàng đế Hậu Lương thông qua đường biển, cập bến ở Đăng châu (登州) và Lai châu (萊州)[chú 12], song có đến 40-50% thuyền bị lật chìm.[1]
Năm 916, Vương Thẩm Tri gả một con gái cho Tiền Truyền Hướng (錢傳珦, sau gọi là Tiền Nguyên Hướng (錢元珦)- con của Ngô Việt vương Tiền Lưu. Tiền Truyền Hướng đích thân đến Mân rước dâu, sau cuộc hôn nhân này, Mân và Ngô Việt càng thêm hữu hảo.[15] Cũng vào năm 916, Vương Thẩm Tri bắt đầu cho đúc tiền bằng chì, và sau đó, tiền chì được lưu thông song song với tiền đồng truyền thống.[12]

Thời kỳ cuối trị vì

Năm 917, Lưu Nghiễm gả Thanh Viễn công chúa Lưu Hoa làm vợ của Vương Diên Quân– nhị tử của Vương Thẩm Tri, thắt chặt quan hệ giữa hai nước.[16][17]
Năm 918, Ngô vương Dương Long Diễn khiển tướng Lưu Tín (劉信) suất quân đi tiến công Bách Thắng[chú 13] tiết độ sứ Đàm Toàn Bá (譚全播) — người trên danh nghĩa quy phục cả Ngô và Hậu Lương — nhằm thôn tính Bách Thắng. Đàm Toàn Bá cầu viện Mân, cũng như Ngô Việt và Sở. Quân Mân tiến đến đóng tại Vu Đô[chú 14] để cứu viện Đàm Toàn Bá, Ngô Việt và Sở cũng phái binh đến. Đến khi Lưu Tín đánh bại quân Sở, quân Mân và quân Ngô Việt cũng triệt thoái. Sau đó, Lưu Tín chiếm được Kiền châu, Ngô nay kiểm soát trực tiếp Bách Thắng quân.[16]
Sau khi Vương Thẩm Khuê qua đời, Vương Thẩm Tri cho phép con của ông ta là Vương Diên Bân (王延彬) kế tập cai quản Tuyền châu, sau đó ban cho Diên Bân chức Bình Lô[chú 15] tiết độ sứ (mặc dù Mân không kiểm soát quân này). Vương Diên Bân cai quản Tuyền châu trong vòng 17 năm, tình hình an định. Tuy nhiên, sau khi nhận được một bạch lộc và tử chi, ông ta trở nên kiêu nạo, tin tưởng vào lời của tăng Hạo Nguyên (浩源) rằng mình sẽ trở thành vương giả. Vương Diên Bân còn bí mật khiển sứ giả đến triều đình Hậu Lương triều cống, mong được bổ nhiệm làm Tuyền châu tiết độ sứ. Vương Thẩm Tri phát hiện ra sự việc vào năm 920, ông cho giết Hạo Nguyên cùng đồng đảng, truất chức vụ của Vương Diên Bân, buộc về sống trong tư em.[18]
Năm 922, Lưu Nghiễm đến Mai Khẩu[chú 16] để tránh tà, do Mai Khẩu nằm gần biên giới giữa Mân và Nam Hán,[18] tướng Mân là Vương Diên Mỹ (王延美)- có lẽ là con của Vương Thẩm Tri hoặc Vương Thẩm Khuê,[17] quyết định tập kích Lưu Nghiễm. Tuy nhiên, Lưu Nghiễm biết trước tin tức và chạy trốn kịp thời.[18]
Năm 923, Lý Tồn Úc xưng là hoàng đế Hậu Đường, tức Hậu Đường Trang Tông, sau đó chiếm được kinh đô Đại Lương của Hậu Lương, triều Hậu Lương diệt vong.[19] Sau đó, Mân và Hậu Đường trao đổi sứ giả, Vương Thẩm Tri công nhận quyền bá chủ của Hậu Đường Trang Tông.[12]
Năm 924, Nam Hán tiến công Mân, Hoàng đế Lưu Nghiễm tiến đến Đinh châu và Chương châu của Mân, tuy nhiên kết quả là chiến bại trước quân Mân và phải triệt thoái.[20]
Năm 925, Vương Thẩm Tri lâm bệnh, mệnh trưởng tử là Vũ Uy tiết độ phó sứ Vương Diên Hàn nắm quyền cai quản quân phủ sự[20] (Đương thời có tin đồn nói rằng Vương Thẩm Tri bị bệnh là do bị hạ độc bởi vợ Thôi thị của Vương Diên Hàn.)[17] Ngày Tân Mùi tháng 12 ÂL năm đó, Vương Thẩm Tri qua đời, Vương Diên Hàn nắm quyền cai quản nước Mân, tự xưng là Uy Vũ lưu hậu.[4] Ông được an táng tại Tuyên Lăng (nay tại núi Liên HoaPhúc Châu, Phúc Kiến), thụy hiệu là Trung Ý, miếu hiệu là Thái Tổ.
Ông được lịch sử đánh giá là người hòa thuận với các nước lân bang, giữ yên bờ cõi; giảm nhẹ lao dịch, cắt giảm sưu thuế; phát triển sản xuất khiến kinh tế trở nên phồn thịnh; mở cửa các cảng, khuyến khích thông thương với nước ngoài; chiêu hiền nạp sĩ, phát triển giáo dục.[21]

Gia đình

Vợ
Vợ lẽ
  • Hoàng Huệ Cô (黃惠姑), Lỗ quốc phu nhân, sinh Vương Diên Quân, năm 933 được tôn làm hoàng thái hậu, năm 936 được tôn làm thái hoàng thái hậu
  • Trần Kim Phượng (陳金鳳), sau trở thành hoàng hậu của Vương Diên Quân
Con
Con nuôi
Nữ
  • Lang Da quận quân, vợ của Lý Mẫn (李敏)
  • Vương thị, vợ của Trương Tư Tề (張思齊)
  • Lang Da quận quân, vợ của Tiền Nguyên Hướng (錢元珦)- con của Ngô Việt vương Tiền Lưu
  • Vương thị, vợ của Dư Đình Ẩn (余廷隱)
  • Tam nữ khác

Chú thích

  1. ^ Hậu Lương Thái Tổ phong tước Mân vương cho Vương Thẩm Tri vào năm 909. Ông cai quản Phúc Kiến sau khi Vương Triều qua đời vào ngày 2 tháng 1 năm 898, song khi đó ông không mang tước hiệu.
  2. ^ 固始, nay thuộc Tín Dương, Hà Nam
  3. ^ Bia mộ của Vương Triều ghi chính thất của Vương Nhẫm là Từ thị và ghi rằng bà là mẹ của Vương Triều và các em. Tuy nhiên, bia mộ cũng ghi rằng Từ thị được an táng tại Cố Thủy, mâu thuẫn với việc Vương Triều và các em đưa mẹ đến Phúc Kiến. Tư trị thông giám ghi mẹ của Vương Thẩm Tri là Đổng thị, có vẻ như Đổng thị là mẹ thân sinh của Vương Thẩm Tri và là vợ kế hoặc thiếp của Vương Nhẫm, song về mặt chính thức thì Từ thị được xem là mẹ hợp lễ của ông do là vợ cả.
  4. ^ 壽州, nay thuộc Lục An, An Huy
  5. ^ 光州, nay thuộc Tín Dương Hà Nam
  6. ^ 奉國, trị sở nay thuộc Trú Mã Điếm, Hà Nam
  7. ^ 漳州, nay thuộc Chương Châu, Phúc Kiến
  8. ^ 南安, nay thuộc Tuyền Châu, Phúc Kiến
  9. ^ 泉州, trị sở nay thuộc Tuyền Châu, Phúc Kiến
  10. ^ 威勝, trị sở nay thuộc Thiệu Hưng, Chiết Giang
  11. ^ 宣武, trị sở nay thuộc Khai Phong, Hà Nam
  12. ^ nay đều thuộc Yên Đài, Sơn Đông
  13. ^ 百勝, trị sở nay thuộc Cám Châu, Giang Tây
  14. ^ 雩都, nay thuộc Cám Châu
  15. ^ 平盧, trị sở nay thuộc Duy Phường, Sơn Đông
  16. ^ 梅口, nay thuộc Mai Châu, Quảng Đông

Tham khảo

  1. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 267.
  2. ^ a ă Viện Nghiên cứu Trung Ương (Đài Loan) Chuyển hoán lịch Trung-Tây 2000 năm.
  3. ^ a ă Tân Ngũ Đại sử, quyển 68.
  4. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 274.
  5. ^ Tân Đường thư, quyển 190.
  6. ^ a ă â Tư trị thông giám, quyển 256.
  7. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 254.
  8. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 259.
  9. ^ Tư trị thông giám, quyển 260.
  10. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 261.
  11. ^ Tư trị thông giám, quyển 262.
  12. ^ a ă â b Thập Quốc Xuân Thu, quyển 90.
  13. ^ “王审知”. 山东省情网.
  14. ^ Tư trị thông giám, quyển 266.
  15. ^ Tư trị thông giám, quyển 269.
  16. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 270.
  17. ^ a ă â Thập Quốc Xuân Thu, quyển 94.
  18. ^ a ă â Tư trị thông giám, quyển 271.
  19. ^ Tư trị thông giám, quyển 272.
  20. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 273.
  21. ^ Công tội Mân Thái tổ Vương Thẩm Tri, Chính sử Trung Quốc qua các triều đại, Thương Thánh, tr.375

Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khaoch xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con

Chào ngày mới 26 tháng 4

CNM365 Chào ngày mới 26 tháng 4  Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Sở hữu trí tuệ thế giớiNăm 1925Paul von Hindenburg đánh bại Wilhelm Marx trong vòng hai cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đầu tiên của Cộng hòa Weimar. Năm 1942 – Tai nạn hầm mỏ do một vụ nổ tại Mỏ than Bản Khê Hồ, Mãn Châu Quốc khiến 1.549 thợ mỏ bị thiệt mạng. Năm 1954Hội nghị Genève nhằm lập lại hoà bình ở Đông DươngTriều Tiên khai mạc tại Genève, Thụy Sĩ. Năm 1964TanganyikaZanzibar hợp nhất thành Tanzania. Năm 1986 – Một trong các lò phản ứng của nhà máy điện hạt nhân tại Chernobyl, Ukraina, Liên Xô phát nổ (hình:Carl Montgomery), gây nên thảm hoạ hạt nhân nghiêm trọng nhất trong lịch sử.

Thảm họa Chernobyl

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thảm họa Chernobyl
ChernobylMIR.jpg
Hình khu vực sự cố tháng 4/1997,
chụp từ trạm vũ trụ Hòa Bình.
Địa điểm Chernobyl, CHXHCNXV Ukraina, Liên Xô,
giờ là Ukraina
Tọa độ 51,389553°B 30,099147°Đ
Thời gian 26 tháng 4, 1986
01:23:45 (UTC+3)
Tên gọi khác Vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl năm 1986

Thảm hoạ nguyên tử Chernobyl xảy ra vào ngày 26 tháng 4 năm 1986 khi nhà máy điện nguyên tử ChernobylPripyat, Ukraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô viết) bị nổ. Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân. Do không có tường chắn, đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên bang Xô viết, ĐôngTây Âu, Scandinavia, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ. Nhiều vùng rộng lớn thuộc Ukraina, BelarusNga bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn tới việc phải sơ tán và tái định cư cho hơn 336.000 người. Khoảng 60% đám mây phóng xạ đã rơi xuống Belarus [1]. Theo bản báo cáo năm 2006 của TORCH, một nửa lượng phóng xạ đã rơi xuống bên ngoài lãnh thổ ba nước cộng hoà Xô viết [2]. Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima.
Vụ tai nạn làm dấy lên những lo ngại về sự an toàn trong ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân Xô viết, làm đình trệ sự phát triển của ngành này trong nhiều năm, đồng thời buộc chính phủ Xô viết phải công bố một số thông tin. Các quốc gia: Nga, Ukraina, Belarus, ngày nay là các quốc gia độc lập, đã phải chịu chi phí cho nhiều chiến dịch khử độc và chăm sóc sức khoẻ cho những người bị ảnh hưởng từ vụ Chernobyl. Rất khó để kiểm kê chính xác số người đã thiệt mạng trong tai nạn này, bởi vì sự che đậy thông tin thời Xô viết gây khó khăn cho việc truy ra những nạn nhân. Danh sách này không đầy đủ, và chính quyền Xô viết sau đó đã cấm các bác sĩ được ghi chữ “phóng xạ” trong giấy chứng tử [cần dẫn nguồn]. Tuy nhiên, đa số những căn bệnh nguy hiểm về lâu dài có thể dự đoán trước như ung thư, trên thực tế vẫn chưa xảy ra, và sẽ rất khó để gắn nó có nguyên nhân trực tiếp với vụ tai nạn. Những ước tính và những con số đưa ra khác nhau rất xa. Một bản báo cáo năm 2005 do Hội nghị Chernobyl, dưới quyền lãnh đạo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đưa ra cho rằng có 56 người chết ngay lập tức; 47 công nhân và 9 trẻ em vì ung thư tuyến giáp, và ước tính rằng có khoảng 9.000 người, trong số gần 6.6 triệu, cuối cùng sẽ chết vì một loại bệnh ung thư nào đó.[3] Riêng tổ chức Hoà bình xanh ước tính tổng số người chết là 93.000 nhưng đã ghi trong bản báo cáo của họ rằng “Những con số được đưa ra gần đây nhất cho thấy rằng chỉ riêng ở Belarus, Nga và Ukraina vụ tại nạn có thể đã dẫn tới cái chết thêm của khoảng 200.000 người trong giai đoạn từ 1990 đến 2004.” [4]

Nhà máy

Nhà máy điện nguyên tử Chernobyl mang tên V. I. Lenin (Чернобыльская АЭС им. В.И.Ленина) ( 51°23′14″B, 30°06′41″Đ) nằm ở thị trấn Pripyat, Ukraina, cách 18 km về phía tây bắc thành phố Chernobyl, 16 km từ biên giới Ukraina và Belarus, và khoảng 110 km phía bắc Kiev. Nhà máy có bốn lò phản ứng, mỗi lò có thể sản xuất ra 1 gigawatt (GW) điện (3,2 gigawatts nhiệt điện), và cả bốn lò phản ứng sản xuất ra khoảng 10% lượng điện của Ukraina ở thời điểm xảy ra vụ tai nạn. Việc xây dựng nhà máy được bắt đầu từ thập kỷ 1970, lò phản ứng số 1 bắt đầu hoạt động năm 1977, tiếp theo là lò phản ứng số 2 (1978), số 3 (1981), và số 4 (1983). Thêm hai lò phản ứng nữa (số 5 và số 6, mỗi lò cũng có khả năng sản xuất 1 gigawatt) đang được xây dựng ở thời điểm xảy ra tai nạn. Bốn tổ máy phát điện đó sử dụng lò phản ứng kiểu RBMK-1000.
Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl vẫn tiếp tục sản xuất điện thêm 14 năm sau thảm hoạ và chỉ đóng cửa hoàn toàn vào năm 2000 do sức ép của quốc tế. Một vùng cách ly có bán kính 30 km được thiết lập quanh Chernobyl và đây là một trong những điểm nhiễm phóng xạ đậm đặc nhất trên hành tinh hiện nay.[5]

Vụ tai nạn

Thứ bảy ngày 26 tháng 4, 1986, lúc 1:23:40 sáng giờ địa phương, lò phản ứng số 4 nhà máy điện Chernobyl — được gọi là Chernobyl-4 — xảy ra một vụ nổ hơi lớn gây cháy, một loạt các vụ nổ tiếp sau đó, và xảy ra hiện tượng tan chảy lõi lò phản ứng hạt nhân.

Các nguyên nhân

Có hai giả thuyết chính thức xung đột với nhau về nguyên nhân gây tai nạn. Giả thuyết đầu tiên được đưa ra vào tháng 8 năm 1986 và chỉ buộc tội những người điều hành nhà máy điện. Giả thuyết thứ hai do Valeri Legasov ủng hộ và được đưa ra năm 1991, coi nguyên nhân vụ tai nạn là do những yếu kém trong thiết kế lò RBMK, đặc biệt là các thanh điều khiển. Cả hai giả thiết này đều được nhiều nhóm ủng hộ, gồm cả các nhà thiết kế lò phản ứng, những người điều hành nhà máy điện Chernobyl, và chính phủ. Một số chuyên gia độc lập hiện nay tin rằng không một giả thiết nào trong số hai giả thiết trên là hoàn toàn chính xác.
Một nhân tố quan trọng góp phần vào vụ tai nạn là những người điều hành không được thông báo về những vấn đề của lò phản ứng. Theo một người trong số họ, Anatoliy Dyatlov, những người thiết kế đã biết rằng lò phản ứng sẽ gặp phải nguy hiểm ở một số điều kiện nhưng đã cố tình che đậy thông tin đó. Một lý do khác là ban quản lý nhà máy điện phần lớn gồm những người chưa được đào tạo về kiểu lò RBMK: giám đốc, V.P. Bryukhanov, có kinh nghiệm và đã được đào tạo về nhà máy nhiệt điện dùng than. Kỹ sư trưởng của ông, Nikolai Fomin, cũng là người đã làm việc tại một nhà máy phát điện thông thường. Chính Anatoliy Dyatlov, phó kỹ sư trưởng của các lò phản ứng số 3 và số 4, chỉ có “một số kinh nghiệm về những lò phản ứng hạt nhân loại nhỏ”, cụ thể là những lò phản ứng nhỏ kiểu VVER được thiết kế cho các tàu ngầm hạt nhân của Liên xô. Đặc biệt:

  • Lò phản ứng có một hệ số trống dương lớn rất nguy hiểm. Theo cách hiểu thông thường, điều này có nghĩa là nếu các bong bóng hơi nước hình thành trong nước làm mát của lò phản ứng, phản ứng hạt nhân sẽ tăng tốc, dẫn tới việc phản ứng xảy ra dễ dàng hơn nếu không có một cơ chế kiểm soát khác. Một điều tồi tệ hơn, khi lò phản ứng sản xuất điện ở mức thấp, hệ số trống dương này không được bù đắp bằng những nhân tố khác, nó làm lò phản ứng mất ổn định và nguy hiểm. Việc lò phản ứng gặp nguy hiểm khi nó sản xuất điện ở mức thấp là điều hoàn toàn xa lạ với trực giác của những người điều hành và họ cũng chưa từng biết đến điều đó.
  • Một chỗ yếu kém đáng lưu ý khác của lò phản ứng là thiết kế các thanh điều khiển. Trong một lò phản ứng hạt nhân, các thanh điều khiển được đưa vào trong lò để làm chậm quá trình phản ứng. Tuy nhiên, trong thiết kế lò RBMK, đầu mút của thanh điều khiển được làm bằng graphit, những phần kéo dài ra (phần thuộc thanh điều khiển ở bên trên các đầu mút, dài khoảng 1 mét) là rỗng và chứa đầy nước, trong khi sự cân bằng của thanh điều khiển – phần thực sự hoạt động, hấp thụ các nơtron và do đó ngăn chặn phản ứng – được làm bằng cacbua bo. Trong vài khoảnh khắc đầu tiên khi các thanh điều khiển kiểu này được đưa vào trong lò, nước làm mát bị những đầu mút bằng graphit chiếm chỗ. Vì thế, (nước) làm mát, một chất hấp thụ nơtron, bị graphit chiếm chỗ, một cơ cấu điều tiết nơtron – là một vật chất có tác dụng làm tăng phản ứng hạt nhân chứ không phải làm chậm nó lại. Trong vài giây đầu tiên khi vận hành, các thanh điều khiển “làm tăng” tốc độ phản ứng, chứ không phải làm giảm như mong muốn. Những người điều hành nhà máy điện không hề biết tới điều đó.
  • Những người điều hành đã thiếu cẩn trọng và vi phạm các quy trình quản lý nhà máy, một phần vì họ thiếu thông tin về những điểm yếu trong thiết kế của lò. Nhiều hành động trái quy tắc khác cũng góp phần vào nguyên nhân gây ra tai nạn. Một nguyên nhân là sự thiếu trao đổi thông tin giữa những nhân viên phụ trách an toàn và những người điều hành lò vào tối hôm đó.

Cũng cần phải chú ý rằng những người điều hành đã tắt nhiều hệ thống an toàn của lò phản ứng, điều này nói chung là bị cấm ngặt theo những hướng dẫn kỹ thuật điều hành nhà máy.
Theo báo cáo của Uỷ ban chính phủ được đưa ra tháng 8 năm 1986, những người điều hành đã rời ít nhất 204 thanh điều khiển khỏi tâm lò (trong tổng số 211 thanh của kiểu lò này), chỉ còn để lại bảy thanh. Những hướng dẫn kỹ thuật như vừa đề cập ở trên cũng cấm điều hành lò RBMK-1000 khi có ít hơn 15 thanh điều khiển bên trong vùng tâm lò phản ứng.

Các sự kiện

Ngày 25 tháng 4, 1986, lò phản ứng số 4 được dự định dừng hoạt động cho công việc bảo dưỡng thông thường. Và vì thế, người ta đã muốn tận dụng cơ hội này để thử nghiệm khả năng tua bin phát điện của lò vẫn cấp đủ điện cho hệ thống an toàn của lò phản ứng (đặc biệt là các bơm nước) trong trường hợp nhà máy bị cắt nguồn điện từ bên ngoài. Các lò phản ứng như kiểu Chernobyl có hai máy phát điện diesel luôn để dự phòng, nhưng chúng không thể hoạt động ngay lập tức, vì thế lò phản ứng được dùng để phát động tua bin, tới khi tua bin có thể cắt khỏi lò phản ứng và tự chạy theo lực quay quán tính của nó, và mục đích của việc thử nghiệm này là kiểm tra xem các tua bin khi đang ở tình trạng chạy theo quán tính có thể cung cấp đủ điện cho các máy bơm hay không trong khi khởi động các máy phát điện dự phòng. Cuộc thử nghiệm này trước đó từng thành công ở một lò phản ứng khác (với đầy đủ mọi quy chuẩn an toàn) và dòng xuất là âm (có nghĩa là, các tua bin phát ra đủ điện trong tình trạng chạy theo quán tính để cung cấp cho các máy bơm), nhưng những cải tiến thêm đã được thực hiện để các tua bin có thể cung cấp đủ năng lượng cho một kiểm nghiệm khác.
Công suất của lò phản ứng Chernobyl-4 được giảm từ mức thông thường 3.200 MW nhiệt xuống 1.000 MW nhiệt để có thể tiến hành thử nghiệm ở mức độ năng lượng thấp hơn và an toàn hơn. Tuy nhiên, vì có sự chậm trễ trong quá trình thử nghiệm thực tế và lỗi của những người điều hành nên công suất đã giảm xuống quá nhanh, và công suất thực tế giảm xuống còn 30 MW nhiệt. Vì thế, sự tập trung sản phẩm chất thành tạo hạt nhânxenon-135 tăng lên (sản phẩm này thường chỉ được dùng trong lò phản ứng hạt nhân ở những điều kiện phát năng lượng lớn). Dù tỷ lệ giảm năng lượng gần tới mức tối đa do các quy định an toàn đề ra, những người điều hành lại không ngừng hoạt động của lò mà tiếp tục thực nghiệm. Hơn nữa, họ đã quyết định ‘làm tắt’ cuộc thực nghiệm và chỉ tăng công suất lên 200 MW. Nhằm thoát khỏi tình trạng hấp thụ hạt nhân dư thừa xenon-135, các thanh điều khiển được kéo ra khỏi lò nhiều hơn so với mức cho phép trong các quy định an toàn. Lúc 1:05 sáng ngày 26 tháng 4, như một phẩn thực nghiệm, các máy bơm nước được dẫn động bằng máy phát tua bin được bật lên; dòng nước do chúng tạo ra vượt quá mức các quy định an toàn cho phép. Dòng nước tăng lên lúc 1:19 sáng—bởi vì nước cũng hấp thu nơtron, nó càng làm tăng dòng nước cần thiết để có thể kéo các thanh điều khiển ra một cách thủ công, tạo ra một tình trạng hoạt động rất không ổn định và nguy hiểm.
Lúc 1:23:04 sáng, cuộc thực nghiệm bắt đầu. Tình trạng không ổn định của lò không hề được thể hiện theo bất kỳ cách nào trên thanh điều khiển, và có lẽ không một ai trong đội điều hành biết rõ hoàn toàn về mức độ nguy hiểm. Điện cấp cho các máy bơm nước bị ngắt, và khi chúng đang chạy nhờ vào máy phát điện tua bin chạy theo quán tính, dòng nước bơm giảm đi. Tua bin bị ngắt khỏi lò phản ứng, làm tăng lượng hơi trong lõi lò. Khi nước làm mát nóng lên, các bong bóng hơi hình thành bên trong dòng nước làm mát. Thiết kế đặc biệt điều khiển phản ứng bằng graphit của lò RBMK ở Chernobyl có hệ số trống dương rất lớn, có nghĩa là năng lượng của lò phản ứng tăng lên nhanh chóng khi không có hiệu ứng hấp thu neutron của nước, và trong trường hợp đó, hoạt động của lò phản ứng dần trở nên bất ổn định và nguy hiểm. Lúc 1:23:40 sáng, những người điều hành ấn nút AZ-5 (“Bảo vệ nguy hiểm khẩn cấp 5”) điều khiển một “SCRAM” — một thiết bị ngắt của lò phản ứng, đưa toàn bộ các thanh điều khiển, gồm cả các thanh điều khiển vận hành thủ công vốn đã được rút ra một cách khinh xuất từ trước vào trong lò phản ứng. Vẫn chưa biết rõ liệu đây có phải là một hành động phản ứng khẩn cấp, hay nó chỉ đơn giản là một biện pháp thông thường để ngắt lò phản ứng khi đã hoàn thành một thực nghiệm (lò phản ứng đã được định giờ ngắt cho bảo dưỡng thông thường). Thường mọi người cho rằng SCRAM được dùng để đối phó với trường hợp tăng năng lượng quá nhanh. Mặt khác, Anatoly Dyatlov, là kỹ sư trưởng nhà máy điện nguyên tử Chernobyl khi xảy ra tai nạn, đã viết trong cuốn sách của ông:

“Trước 01:23:40, những hệ thống kiểm soát trung tâm… không ghi nhận bất kỳ thay đổi thông số nào cho thấy cần thiết phải sử dụng SCRAM. Hội đồng… đã thu thập và phân tích rất nhiều số liệu và, như đã được chỉ ra trong bản báo cáo của họ, không thể xác định lý do tại sao những người điều hành lại sử dụng SCRAM. Không cần thiết phải biết được lý do đó. Lò phản ứng đơn giản là được ngắt khi thực nghiệm đã hoàn thành.” [6]

Vì tốc độ chậm chạp của cơ cấu đưa thanh điều khiển vào trong (18–20 giây để hoàn thành), những đầu rỗng của các thanh và sự chiếm chỗ tạm thời của nước làm mát, SCRAM làm cho mức độ phản ứng tăng lên. Năng lượng được sản xuất ra tăng lên gây ra biến dạng đường dẫn thanh điều khiển. Các thanh điều khiển bị tắc lại sau khi mới chỉ được đưa vào trong một phần ba, và vì thế không thể dừng phản ứng lại được. Lúc 1:23:47 lò phản ứng nhảy lên mức 30 GW, gấp mười lần công suất hoạt động thông thường. Các thanh nhiên liệu bắt đầu chảy ra và áp lực hơi nhanh chóng tăng lên gây ra một vụ nổ hơi lớn, làm bắn tung và phá huỷ nắp lò phản ứng, làm vỡ các ống dẫn nước làm mát và sau đó thổi bay một mảng trần.
Để giảm giá thành xây dựng và vì kích cỡ to lớn của lò phản ứng, nó chỉ được xây dựng tường chắn một phần. Điều này làm cho chất ô nhiễm phóng xạ thoát ra ngoài không khí sau khi vụ nổ thổi bay lớp vỏ đầu tiên. Sau đó, một phần mái sụp xuống, ôxy tràn vào — cộng với nhiệt độ cực cao của nhiên liệu lò phản ứng và graphit của bộ phận điều tiết — gây cháy graphit. Đám cháy này góp phần lớn vào sự lan tràn nhiên liệu phóng xạ và các nguyên tố gây ô nhiễm ra các vùng xung quanh.
Có một số mâu thuẫn về những sự kiện chính xác đã xảy ra sau 1:22:30 (theo giờ địa phương) vì có sự trái ngược giữa những lời kể của nhân chứng và những thông tin lưu trữ của nhà máy. Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi là những sự kiện được liệt kê ở trên. Theo giả thuyết này, vụ nổ đầu tiên xảy ra vào khoảng 1:23:47, bảy giây sau khi những người vận hành lò phản ứng kích hoạt “SCRAM“. Thỉnh thoảng cũng có ý kiến cho rằng vụ nổ đã xảy ra ‘trước khi’ hay ngay lập tức sau khi vận hành SCRAM (đây cũng là quan điểm của Uỷ ban Xô viết điều tra vụ tai nạn). Sự phân biệt này là quan trọng, bởi vì nếu lò phản ứng đạt tới tình trạng tới hạn trong vài giây sau khi vận hành SCRAM, thì lý do có thể bị gán cho thiết kế của các thanh điều khiển, trong khi nếu vụ nổ xảy ra lúc vận hành SCRAM thì lỗi sẽ được quy cho những người điều hành. Quả thực, vụ nổ giống như với một trận động đất yếu, tương đương với cường độ của một trận động đất 2,5 độ, đã được ghi lại lúc 1:23:39 ở vùng Chernobyl. Tình hình càng phức tạp bởi sự thực là nút điều khiển đã được ấn nhiều hơn một lần, và người bấm nút đó đã chết hai tuần sau đó vì bị nhiễm độc phóng xạ.
Tháng 1, 1993, IAEA đưa ra một phân tích đã sửa đổi về tai nạn Chernobyl, cho rằng lý do chính của vụ này là thiết kế lò phản ứng chứ không phải lỗi của những người điều hành. Bản phân tích của IAEA năm 1986 đã cho rằng những hành động của những người điều hành là nguyên nhân chính gây ra tai nạn.

Phát tán phóng xạ

Lượng gamma ngoài đối với một người đứng không có vật chắn gần địa điểm Chernobyl.

  • Báo cáo ngắn của cơ quan OSTI về lượng phóng thích của đồng vị phóng xạ [7]
  • Báo cáo chi tiết từ OECD (1,85 MB PDF) [8]

Tại mỗi thời điểm khác nhau sau vụ nổ, những đồng vị phóng xạ khác nhau đưa đến những cường độ phóng xạ khác nhau. Chỉ có thể đo lường được độ ảnh hưởng phóng xạ tia gamma cho người đứng lộ thiên. Còn người núp trong nhà thì khó dự đoán hơn.
Ảnh hưởng của các sản phẩm phân rã hạt nhân sẽ được tham khảo nơi khác, bài này chỉ chú tâm đến các loại đồng vị phóng xạ tụng ra trong vụ nổ Chernobyl.
Những loại đồng vị phóng xạ của nguyên liệu nguyên tử được phóng thích theo nhiệt độ sôi của từng chất, phần lớn độ phóng xạ nằm trong lõi lò nguyên tử được giữ yên trong đó.

  • Những khí hiếm như KrXe trong lò bị thả tung ra khí quyển trong đợt nổ hơi nước đầu tiên.
  • Khoảng 55% chất phóng xạ iốt bị tung ra trong thể hơi, thể đặc nhỏ li ti và trong thể các phân tử sinh hóa có iốt.
  • Xezitelua bị phóng thích dưới dạng dung khí
  • Có hai dạng tinh thể được phóng thích, loại nhỏ (0,3 – 1,5 micromet) và loại lớn (10 micromet). Loại lớn chứa 80-90% các chất phóng xạ khó thành hơi (95Zr, 95Nb, 140La, 144Ce) và các nguyên tố trên urani (neptuni, plutoni và các actini phụ) đính vào trong lưới ôxít urani.
Airdosechernobyl2.jpg

Đối phó thảm hoạ tức thời

Mức độ thảm họa vượt quá khả năng đối phó của các quan chức địa phương không có sự chuẩn bị cũng như sự thiếu thốn thiết bị thích hợp. Hai trong số bốn máy đo liều lượng tại lò phản ứng số bốn đều có các giới hạn 1 milliröntgen trên giây. Hai chiếc kia có giới hạn 1.000 R/s; sau vụ nổ mọi người không thể vào tiếp cận một máy, còn chiếc kia bị hỏng khi được bật lên. Vì thế kíp kỹ thuật viên tại chỗ chỉ biết chắc chắn rằng mức độ phóng xạ tại đa số các vị trí trong lò phản ứng vượt quá 4 R/h (mức độ thật sự lên tới 20.000 roentgen trên giờ ở một số vị trí; mức gây chết người ở khoảng 500 roentgen trên 5 giờ).
Điều này khiến người chỉ huy kíp kỹ thuật viên, Alexander Akimov, cho rằng lò phản ứng còn nguyên vẹn. Bằng chứng về các mảnh graphit và nhiên liệu rơi vung vãi quanh khu vực bị bỏ qua, và những kết quả lấy được từ các máy đo liều lượng khác vào lúc 4:30 sáng giờ địa phương bị gạt bỏ vì ông cho rằng các máy đo đã báo sai. Akimov tiếp tục ở lại với kíp kỹ thuật viên tới sáng, tìm cách bơm nước vào trong lò phản ứng. Không một ai trong số họ mặc quần áo bảo hộ. Đa số họ, gồm cả chính Akimov, đều chết vì tiếp xúc phóng xạ ba tuần sau thảm hoạ.
Một thời gian ngắn sau vụ tai nạn, những người lính cứu hỏa tới nơi và tìm cách dập lửa. Họ không được thông báo về mức độ nguy hiểm từ những đám khói phóng xạ và các loại mảnh vụn ở đó. Tới 5 giờ sáng ngọn lửa được dập tắt, nhưng nhiều lính cứu hỏa đã bị nhiễm phóng xạ liều cao. Ủy ban do chính phủ thành lập điều tra vụ tai nạn tới Chernobyl vào buổi chiều ngày 26 tháng 4. Khi đó, 2 người đã chết và 52 người đang nằm trong bệnh viện. Trong đêm ngày 26 tháng 427 tháng 4— hơn 24 giờ sau vụ nổ — Ủy ban đối mặt với nhiều bằng chứng cho thấy mức độ phóng xạ rất cao và một số ca nhiễm phóng xạ, nhận thức được sự cần thiết phải phá bỏ lò phản ứng và ra lệnh sơ tán dân cư ở thành phố Pripyat lân cận. Để giảm bớt số hành lý mang theo, người dân ở đó được thông báo rằng sự sơ tán chỉ là tạm thời, trong ba ngày. Vì thế, tại Pripyat vẫn còn nhiều đồ đạc cá nhân không bao giờ được chuyển đi nữa vì nhiễm phóng xạ. Theo những người lính cứu hỏa tận mắt chứng kiến khi tham gia cứu nạn trước khi họ qua đời (như được đưa tin trong loạt phim truyền hình Nhân chứng của BBC), một người cho rằng ông thấy phóng xạ có “vị như kim loại”, và thấy cảm giác tương tự cảm giác của gim và kim đâm trên mặt.
Trong nỗ lực vô ích nhằm dập tắt đám cháy, số nước được vội vã bơm vào lò phản ứng đã ngấm xuống mặt đất bên dưới lò. Vấn đề là các loại nhiên liệu và nguyên liệu khác đã bắt đầu âm ỉ cháy theo cách của chúng thông qua sàn lò, việc ném các loại nhiên liệu khác từ trực thăng xuống càng gây ủ kín đám cháy khiến nhiệt độ tăng thêm. Nếu nguyên liệu này tiếp xúc với nước, nó có thể gây ra một vụ nổ nhiệt có thể còn nguy hiểm hơn cả vụ nổ đầu tiên và theo ước tính có thể biến một vùng đất có bán kính hàng trăm dặm từ nhà máy trở thành nơi không thể ở được trong vòng ít nhất 100 năm.[cần dẫn nguồn]
Để ngăn chặn trường hợp này, “đội xử lý”—các thành viên quân đội và những công nhân khác— được chính phủ Xô viết gửi tới để dọn sạch hiện trường. Hai trong số đó được trang bị đồ bảo hộ ướt để mở các cổng xối nhằm thông hơi cho số nước nhiễm phóng xạ, nhờ thế ngăn chặn khả năng nổ nhiệt.[9] Những người đó, và những người khác thuộc đội xử lý cũng như các lính cứu hỏa tham gia dọn dẹp không được thông báo về sự nguy hiểm họ phải đối mặt.
Số rác phóng xạ nguy hiểm nhất được tập hợp bên trong phần còn đứng vững của lò phản ứng. Chính lò phản ứng cũng được bao phủ ngoài bằng các bao cát, chìbo ném xuống từ máy bay trực thăng (khoảng 5.000 tấn trong tuần lễ sau vụ tai nạn). Tới tháng 12 năm 1986 một quan tài bê tông lớn đã được dựng lên, để phủ kín lò phản ứng và những rác phóng xạ bên trong.(The Social Impact of the Chernobyl Disaster, 1988, p166, by David R. Marples ISBN 0-333-48198-4)
Nhiều phương tiện do đội xử lý sử dụng bị bỏ lại rải rác xung quanh vùng Chernobyl cho đến tận ngày nay.[10]

Những ảnh hưởng của vụ thảm hoạ

Xem bài chính: Những hậu quả của thảm hoạ Chernobyl

Những hậu quả tức thời

Hiện tượng tan chảy hạt nhân gây ra một đám mây phóng xạ lan rộng tới Nga, BelarusUkraina, ngoài ra còn thêm những vùng khác tại châu Âu như một phần Thổ Nhĩ Kỳ, Moldova, Litva, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển, Áo, Cộng hòa SécCộng hòa Slovak, Slovenia, Thụy Sĩ, Đức, Italia, Pháp (gồm cả Corsica [11]) và Anh [12].. Trên thực tế, bằng chứng đầu tiên xuất hiện tại các nước khác là hiện tượng phát tán phóng xạ đã xảy ra không chỉ từ Xô viết mà cả từ Thụy Điển, ngày 27 tháng 4 các công nhân làm việc tại Nhà máy điện nguyên tử Forsmark (gần 1.100 km từ Chernobyl) đã phát hiện thấy các hạt phóng xạ trên quần áo của họ. Chính việc người Thụy Điển tìm kiếm nguồn gốc phát tán phóng xạ và xác định rằng nhà máy điện nguyên tử của họ không bị rò rỉ khiến bắt đầu có những ý kiến lo ngại về một tai nạn hạt nhân nghiêm trọng ở phía tây Liên bang Xô viết. Tại Pháp, nước này cho rằng đám mây phóng xạ đã dừng lại ở biên giới Đức, Italia. Vì thế, một số loại thực phẩm đã bị cấm sử dụng ở Italia vì nguyên nhân phóng xạ (đặc biệt là nấm), chính quyền Pháp không đưa ra bất kỳ một biện pháp đối phó nào, với mục đích ngăn chặn nỗi sợ hãi của người dân.
Ô nhiễm từ tai nạn Chernobyl lan ra các vùng nông thôn xung quanh ở mức độ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết. Các báo cáo từ phía các nhà khoa học Xô viết và phương Tây cho thấy Belarus tiếp nhận 60% lượng ô nhiễm của toàn bộ Liên bang Xô viết cũ. Tuy nhiên báo cáo TORCH 2006 cho thấy một nửa số hạt hay hơn đã rơi xuống bên ngoài Ukraina, Belarus và Nga. Một diện tích đất đai rộng của Liên bang Nga phía nam Bryansk và nhiều vùng khác phía tây bắc Ukraina cũng bị ô nhiễm.
Hai trăm linh ba người phải vào viện ngay lập tức, trong số đó 31 người đã chết (28 trong số này vì nhiễm phóng xạ cấp tính) [cần dẫn nguồn]. Đa số họ là các nhân viên cứu hỏa và những người cứu nạn tìm cách kiểm soát vụ tai nạn, họ không hiểu rõ mức độ nguy hiểm của việc bị nhiễm phóng xạ (từ khói) (để thảo luận về những đồng vị quan trọng hơn trong bụi phóng xạ, xem các sản phẩm phân rã hạt nhân). 135.000 người phải sơ tán khỏi vùng, gồm 50.000 người từ thị trấn Pripyat cạnh đó. Các quan chức y tế dự đoán rằng trong vòng 70 năm tiếp theo tỷ lệ mắc bệnh ung thư sẽ tăng thêm 2% trong số những người đã tiếp xúc 5–12 (tùy theo nguồn) EBq ô nhiễm phóng xạ thoát ra từ lò phản ứng. Khoảng 10 người nữa cũng đã chết vì ung thư do nguyên nhân từ vụ tai nạn. [cần dẫn nguồn]
Các nhà khoa học Xô viết thông báo rằng lò phản ứng số 4 của nhà máy Chernobyl chứa khoảng 180-190 tấn nhiên liệu và các sản phẩm phân rã hạt nhân điôxít urani. Ước tính số lượng đã phát tán chiếm từ 5 đến 30%, nhưng một số thành viên đội xử lý đã vào trong quan tài bê tông che phủ ngoài và cả lò phản ứng – như Usatenko và Karpan [cần dẫn nguồn] – cho rằng không quá 5-10% nhiên liệu còn lại bên trong; quả thực, các bức ảnh chụp vỏ lò phản ứng cho thấy nó hầu như trống rỗng. Bởi vì sức nóng mạnh liệt của ngọn lửa, đa số nhiên liệu đã bị đẩy bay lên cao vào khí quyển (vì không có tường chắn ô nhiễm để giữ chúng lại).
Những người công nhân tham gia vào quá trình cứu chữa và dọn dẹp sau tai nạn được gọi là “thành viên đội xử lý“, nhận những liều phóng xạ cao. Theo các ước tính của Liên Xô, khoảng từ 300.000 tới 600.000 thành viên đội xử lý tham gia vào việc sơ tán một vùng rộng 30 km quanh lò phản ứng, nhưng nhiều người trong số họ vẫn đi vào khu vực này trong thời gian hai năm kể từ vụ tai nạn…[13]
Một số trẻ em trong các vùng bị ô nhiễm bị nhiễm phóng xạ ở mức cao tới 50 gray (Gy) vì nhiễm phóng xạ iốt-131, một chất đồng vị có thời gian tồn tại khá ngắn, với thời gian bán rã 8 ngày, do sử dụng sữa bị nhiễm phóng xạ sản xuất trong vùng. Nhiều cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp trong trẻ em tại Belarus, Ukraina và Nga đã tăng rõ rệt. Ngoài ra cũng có thể nhận thấy số lượng người bị bệnh bạch cầu tăng cao, nhưng điều này sẽ được coi thêm là một bằng chứng trong vài năm tới khi số người mắc các chứng ung thư khác cũng tăng. Chưa có bằng chứng về bất thường trong sinh sản hay những bệnh tật do phóng xạ khác trong dân chúng cả ở vùng bị ô nhiễm hay các vùng lân cận được chứng minh liên quan trực tiếp tới vụ Chernobyl [cần dẫn nguồn].

Những ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ

Bản đồ thể hiệm ô nhiễm xezi-137 tại Belarus, Nga, và Ukraina. Curie trên mét vuông (1 curie bằng 37 gigabecquerels (GBq) hay chính xác 37 tỷ becquerels.

Ngay sau vụ nổ, người ta lo sợ về tác hại sức khỏe của chất phóng xạ iốt, với chu kỳ bán rã là 8 ngày. Hiện nay thì có lo ngại về chất stronti-90 và xezi-137 ô nhiễm trong đất, với chu kỳ bán rã là 30 năm. Xezi-137 qua đất thấm vào cây cỏ, sâu bọ, các giống nấm, lẫn vào thực phẩm địa phương. Nhiều khoa học gia tiên đoán rằng ảnh hưởng phóng xạ sẽ có tác hại đền nhiều thế hệ trong tương lai.
36 tiếng đồng hồ sau vụ nổ, chính quyền Xô viết tổ chức di tản dân cư sinh sống chung quanh nhà máy điện hạt nhân Chernobyl.[14] [15] Đến tháng 5 1986, dân cư trong vòng bán kính 30 km – khoảng 116.000 người – được di tản định cư nơi khác. Khu vực bỏ trống gọi là “Khu vực xa lánh”. Tuy nhiên, tác hại phóng xạ đi xa hơn vòng bán kính 30 km này.
Vấn đề tác hại lâu dài với sức khỏe dân chúng hiện nay vẫn chưa ngã ngũ. Ngoài 300.000 người tái định cư vì tai nạn này; hàng triệu vẫn sinh sống trong khu vực bị nhiễm xạ. Tuy thế, phần lớn những người bị tác hại thường bị ít và không có bằng chứng cụ thể chứng minh tăng số tử vong, quái thai và bệnh tật bẩm sinh, ung thư trong những người này. Nếu có xét nghiệm một vài trường hợp, không thể khẳng định nguyên nhân là do tai nạn lò nguyên tử.
Một điều đáng ghi nhận là nghiên cứu về tác hại sực khỏe dân chúng trong thảm họa này bị cản trở bởi chính quyền Xô viết lúc bấy giờ, và các khảo cứu khoa học thường thiếu minh bạch dân chủ. Tại Belarus năm 1999, khi khoa học gia Yuri Bandazhevsky đặt câu hỏi về ước tính chính thức hậu quả của thảm họa Chernobyl và sự xác đáng của giới hạn tối đa chính thức 1.000 Bq/kg, ông đã bị đàn áp về mặt chính trị, bị bỏ tù từ năm 2001 cho đến 2005 về tội nhận hối lộ, sau khi ông công bố báo cáo năm 1999 phê phán nghiên cứu chính thức đã bị dàn xếp đối với thảm họa Chernobyl.

Những hạn chế về thực phẩm

Một ngôi làng bị bỏ hoang tại Prypiat, cạnh Chernobyl

Hai mươi năm sau thảm hoạ, những quy định hạn chế về sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ thực phẩm bị ô nhiễm bụi phóng xạ Chernobyl vẫn có hiệu lực. Tại Anh quốc, 374 trang trại với diện tích 750 km2 và 200.000 con cừu thuộc diện hạn chế này. Tại nhiều vùng tại Thụy Điển và Phần Lan, các quy định được áp dụng cho các loại động vật nuôi, gồm cả tuần lộc, trong tự nhiên và gần tự nhiên. Theo bản báo cáo TORCH 2006, “tại một số vùng thuộc Đức, Áo, Italia, Thụy Điển, Phần Lan, Latvia và Ba Lan, các loại thú hoang dã (gồm lợn lòi và hươu), các loại nấm rừng, trứng cá và cá ăn sâu bọ từ có hàm lượng xezi-137 trên mỗi kg trọng lượng lên tới hàng ngàn Bq”, trong khi “tại Đức, mức độ xezi-137 trong thịt lợn lòi hoang ở mức 40.000 Bq/kg. Mức độ trung bình là 6.800 Bq/kg, lớn gấp mười lần giới hạn của EU là 600 Bq/kg”. Ủy ban châu Âu cho rằng “Vì thế các quy định đối với một số loại thực phẩm từ một số quốc gia thành viên cần phải được duy trì trong nhiều năm nữa”.[12]
Năm 2006, các trang trại nuôi cừu ở một số vùng tại Anh vẫn là đối tượng thanh tra, có thể khiến chúng bị cấm tham gia thị trường thực phẩm của con người bởi lượng ô nhiễm tăng lên do nguyên nhân vụ thảm hoạ:

“Một số chất phóng xạ, chủ yếu là xezi-137 phóng xạ, đã tích tụ tại một số vùng cao nguyên nước Anh, nơi thường có các trang trại nuôi cừu. Vì những đặc tính hóa học và vật lý đặc biệt của các kiểu đất than bùn tại các vùng đó, xezi phóng xạ vẫn có thể dễ dàng chuyển từ đất vào trong cây cỏ và vì thế tích tụ trong thịt cừu. Một giới hạn tối đa ở mức 1.000 Becquerel xezi phóng xạ trên 1 kilôgam (Bq/kg) đã được áp đặt trên thịt cừu để bảo vệ người tiêu dùng. Giới hạn này được Anh quốc đưa ra năm 1986, dựa trên sự tư vấn từ nhóm chuyên gia của Ủy ban châu Âu theo Điều 31. Theo quyền được quy định trong Luật Bảo vệ Môi trường và Thực phẩm 1985 (FEPA), Các quy định khẩn cấp đã được sử dụng từ năm 1986 để đưa ra những áp đặt giới hạn trên việc vận chuyển và bán thịt cừu vượt mức giới hạn tại một số vùng của Cumbria, Bắc Wales, ScotlandBắc Ireland… Khi các quy định khẩn cấp được đưa ra áp dụng năm 1986, các vùng hạn chế rất rộng, bao gồm tới 9.000 trang trại và hơn 4 triệu con cừu. Từ năm 1986, các vùng buộc phải tuân theo quy định hạn chế đã giảm nhiều và hiện chỉ còn 374 trang trại, hay một phần các trang trại với khoảng 200.000 con cừu. Con số này có nghĩa số lượng trang trại đã giảm tới 95% kể từ năm 1986, chỉ một số vùng tại Cumbria, Tây Nam Scotland và Bắc Wales, vẫn phải tuân thủ giới hạn này. [16]

Tại Na Uy, người Sami bị ảnh hưởng bởi thực phẩm ô nhiễm (tuần lộc đã bị nhiễm phóng xạ khi ăn địa y, vốn là loài rất nhạy cảm với phóng xạ) [17]

Tranh cãi về những ước tính thương vong

Báo cáo của Diễn đàn Chernobyl

Tháng 9 năm 2005, một bản thảo báo cáo vắn tắt của Diễn đàn Chernobyl, gồm một số cơ quan Liên hiệp quốc như Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), các tổ chức Liên hiệp quốc khác và các chính phủ Belarus, Liên bang Nga và Ukraina, đưa ra con số dự đoán tổng số người chết vì vụ tai nạn là 4.000 [3]. Con số do WHO đưa ra gồm 47 công nhân đã chết vì hội chứng phóng xạ cấp tính là nguyên nhân trực tiếp của phóng xạ từ vụ thảm họa và 9 trẻ em chết vì ung thư tuyến giáp, trong tổng số 4.000 trường hợp ung thư được xảy ra với tổng số 600.000 người bị phơi nhiễm ở mức độ cao nhất.[18] Bản báo cáo đầy đủ về các hiệu ứng với sức khỏe người dân của WHO được Liên hiệp quốc chấp nhận và được xuất bản tháng 4 năm 2006, gồm có cả việc dự đoán thêm 5.000 trường hợp ảnh hưởng thêm từ những vùng bị ô nhiễm tại Belarus, Nga và Ukraina và cho rằng, tổng số 9.000 sẽ chết vì ung thư trong 6,8 triệu người Xô viết bị nhiễm độc nặng nhất [19].

Báo cáo năm 2006 của TORCH

Thành viên Đảng Xanh Đức MEP (thành viên của Nghị viện châu Âu) Rebecca Harms, đã tiến hành lập một bản báo cáo (TORCH, The Other Report on Chernobyl) năm 2006 hưởng ứng theo bản báo cáo của Liên hiệp quốc; trong đó cho rằng:

“Về diện tích đất đai Belarus (với 22% tổng diện tích) và Áo (13%) là những nước bị ảnh hưởng ô nhiễm ở mức cao nhất. Các nước khác cũng bị ảnh hưởng trầm trọng; ví dụ như, hơn 5% diện tích Ukraina, Phần Lan và nhiều vùng rộng lớn tại Thụy Điển bị ô nhiễm ở mức cao (> 40.000 Bq/m2 xezi-137). Hơn 80% Moldova, phần tại châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ, Slovenia, Thụy Sĩ, Áo và Cộng hoà Slovak bị ảnh hưởng ở mức độ thấp hơn (> 4.000 Bq/m2 xezi-137). 44% nước Đức và 34% Anh quốc cũng bị ảnh hưởng ở mức độ tương tự.” (Xem bản đồ phân bố xezi-137 tại châu Âu) [12]

IAEA/WHO và UNSCEAR lưu tâm tới những vùng bị ảnh hưởng ở mức cao hơn 40.000 Bq/m2; bản báo cáo của TORCH cũng bao gồm những vùng bị ảnh hưởng ở mức lớn hơn 4.000 Bq/m2 of Cs-137. Bản báo cáo TORCH 2006 “ước tính rằng hơn một nửa lượng iốt-131 từ Chernobyl [làm tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp] rơi bên ngoài lãnh thổ Liên bang Xô viết cũ. Có lẽ liên quan tới con số thông báo về những ca ung thư tuyến giáp tăng cao ở Cộng hoà Czech và Anh quốc, nhưng vẫn cần tiến hành nghiên cứu thêm để đánh giá về tác động gây ung thư tuyến giáp tại châu Âu”. Bản báo cáo dự đoán rằng sẽ có thêm 30.000 tới 60.000 vụ ung thư gây chết người và cảnh báo rằng những dự đoán về con số thiệt hại nhân mạng do ung thư đó phụ thuộc nhiều vào yếu tố nguy cơ được sử dụng; và dự đoán những ca ung thư tuyến giáp tăng thêm sẽ ở trong khoảng 18.000 và 66.000 tại riêng Belarus phụ thuộc vào hình mẫu phát sinh nguy cơ [20]

Bản đồ phân bố phóng xạ xezi-137 sau thảm họa Chernobyl. Tính theo kilo Becquerel (kBq) trên mét vuông. Bản quyền của J.Smith và N.A. Beresford, “Chernobyl: Thảm họa và những Hậu quả” (Praxis, Chichester, 2005). Xem thêm ở đây để có tấm bản đồ phân bố phóng xạ xezi-137, của Viện bảo vệ phóng xạ và an toàn hạt nhân Pháp

Tổ chức Hoà bình xanh

Tổ chức Hòa bình xanh đã chỉ ra những trái ngược trong các bản báo cáo của Diễn đàn Chernobyl, cho rằng một cuộc nghiên cứu năm 1998 của WHO được trích dẫn trong bản báo cáo năm 2005, đưa ra con số 212 người chết trong tổng số 72.000 người nhiễm [21]. Trong bản báo cáo của mình, Hòa bình xanh cho rằng sẽ có thêm 270.000 ca ung thư có liên quan tới vụ Chernobyl và rằng 93.000 người trong số đó sẽ ở mức nguy hiểm, nhưng cũng nói rõ trong bản báo cáo của họ rằng “Những con số được đưa ra gần đây nhất cho thấy chỉ riêng tại Belarus, và Ukraina thảm họa có thể gây ra khoảng 200.000 cái chết nữa trong giai đoạn 1990 và 2004.”. Blake Lee-Harwood, giám đốc điều hành của Hòa bình xanh, tin rằng ung thư dường như là nguyên nhân của chưa tới một nửa những ca bệnh nặng và rằng “các vấn đề về ruột, tim và hệ tuần hoàn, hô hấp, nội tiết, và đặc biệt là các hiệu ứng trên hệ miễn dịch,” cũng gây ra các ca bệnh nặng.

Báo cáo tháng 4 năm 2006 của IPPNW

Theo một bản báo cáo tháng 4 năm 2006 của chi nhánh Các thầy thuốc quốc tế ngăn chặn chiến tranh hạt nhân (IPPNW) tại Đức, với tiêu đề “Hiệu ứng sức khỏe của Chernobyl”, hơn 10.000 người hiện bị ảnh hưởng với bệnh ung thư tuyến giáp và 50.000 ca khác sẽ xảy ra trong tương lai. Bản báo cáo tin rằng hàng chục ngàn cái chết sẽ xảy ra trong số những người nhiễm. Tại châu Âu, có lẽ 10.000 ca dị dạng đã được quan sát thấy trong số trẻ mới sinh vì nguyên nhân phóng xạ từ vụ Chernobyl, với 5.000 ca tử vong trong số trẻ sơ sinh. Họ cũng cho rằng hàng trăm ngàn người làm việc tại địa điểm đó sau khi thảm họa xảy ra hiện đang bị bệnh vì phóng xạ, và hàng chục nghìn người đã chết [22][23].

Các nghiên cứu khác

  • Năm 2006 Bộ Y tế Ukraina cho rằng hơn 2,4 triệu người Ukraina, trong đó có 428.000 trẻ em, gặp phải các vấn đề sức khỏe liên quan tới thảm hoạ Chernobyl [11]. Ảnh hưởng tâm lý hậu thảm hoạ, như bản báo cáo năm 2006 của Liên hiệp quốc chỉ ra, cũng ảnh hưởng tới những người rời chỗ nội bộ.
  • Một nghiên cứu khác đưa ra tỷ lệ tử vong tại Thụy Điển cao hơn [24].
  • Theo Liên minh Chernobyl, tổ chức chính của những người bị nhiễm phóng xạ, 10% trong số 600.000 người nhiễm hiện đã chết, và 165.000 người tàn tật.[25]

So sánh với các thảm hoạ khác

Thảm họa Chernobyl đã được so sánh với Thảm họa Bhopal năm 1984. Ngày 3 tháng 12, 1984, một nhà máy hóa chất của Union Carbide tại Bhopal, Ấn Độ đã để rò rỉ 40 tấn khí độc isoxyanat metyl, gây ra cái chết của ít nhất 15.000, và làm bị thương khoảng từ 150.000 tới 600.000 người khác.
Các thảm họa khác có nguyên nhân từ con người với số tử vong cao gồm:

Các vụ tai nạn hạt nhân và phóng xạ khác đã nhiều lần xảy ra, dù không vụ nào đạt tới mức ảnh hưởng rộng lớn như thảm hoạ Chernobyl. Các vụ tai nạn hạt nhân dân sự có gây thiệt hại nhân mạng đã xảy ra tại Charlestown, đảo Rhode (Hoa Kỳ) ngày 24 tháng 7 năm 1964 (một vụ tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại nhà máy, giết chết một người) [26][27]; tại Buenos Aires, Argentina, ngày 23 tháng 9 năm 1983 (một người chết) [28], và gần đây nhất là tại nhà máy tái xử lý nhiên liệu hạt nhân Tokaimura Nhật Bản ngày 30 tháng 9 năm 1999 (hai người chết).[29] Những vụ tai nạn hạt nhân nghiêm trọng trước đây gồm vụ cháy lò phản ứng Windscale 1957 tại Anh và vụ tan chảy hạt nhân năm 1979 tại nhà máy hạt nhân Three Mile Island Hoa Kỳ, cả hai đều không gây thiệt hại nhân mạng.

Chernobyl sau thảm hoạ

Vấn đề của nhà máy Chernobyl không chấm dứt với thảm họa tại Lò phản ứng số 4. Lò phản ứng bị hư hại đã được hàn kín bằng 200 mét khối bê tông đặt giữa nơi xảy ra thảm họa và các tòa nhà điều hành. Chính phủ Ukraina tiếp tục cho ba lò phản ứng còn lại hoạt động vì tình trạng thiếu hụt năng lượng trong nước. Một đám cháy đã bùng phát tại Lò phản ứng số 2 năm 1991; chính quyền sau đó tuyên bố rằng lò phản ứng bị hư hại tới mức không thể sửa chữa và cho nó ngừng hoạt động. Lò phản ứng số 1 được cho ngừng chạy tháng 11 năm 1996 như một phần của thỏa thuận giữa chính phủ Ukraina và các tổ chức quốc tế như IAEA với mục đích chấm dứt hoàn toàn hoạt động của cả nhà máy. Tháng 11 năm 2000, Tổng thống Ukraina Leonid Kuchma đã đích thân bấm nút dừng hoạt động của lò phản ứng hạt nhân số 3 trong một buổi lễ, chính thức chấm dứt hoạt động của toàn bộ nhà máy.

Nhu cầu tái thiết tương lai

Quan tài bê tông không phải là một phương án hàn kín hữu hiệu lâu dài cho lò phản ứng đã bị hủy hoại. Việc xây dựng vội vàng, và trong nhiều trường hợp là do các rô bốt công nghiệp tiến hành, khiến nó nhanh chóng lão hoá, và nếu nó sụp đổ, một đám mây bụi phóng xạ khác sẽ được giải phóng. Quan tài bê tông đã hư hại nặng tới mức chỉ cần một rung động nhẹ của Trái Đất hay những trận gió mạnh cũng có thể khiến trần của nó sụp đổ. Một số kế hoạch đã được thảo luận nhằm xây dựng một bức tường bao phủ có độ tin cậy lớn hơn.
Theo những ước tính chính thức, khoảng 95% nhiên liệu (khoảng 180 tấn) trong lò phản ứng tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn vẫn còn lại bên trong quan tài bê tông, với tổng lượng phóng xạ lên tới gần 180 triệu curie (670 PBq). Vật liệu phóng xạ gồm các mảnh lõi, bụi và “những vật liệu chứa nhiên liệu” (FCM) kiểu dung nham chảy qua lò phản ứng hạt nhân đã bị hư hại trước khi cứng lại dưới dạng gốm. Theo những ước tính thận trọng, ít nhất có bốn tấn bụi phóng xạ bên trong quan tài. Tuy nhiên, những ước tính gần đây đã gây nghi ngờ lớn về những con số được đưa ra từ trước về số lượng nhiên liệu còn lại trong lò. Một số ước tính hiệu nay cho rằng tổng lượng nhiên liệu trong lò phản ứng chỉ khoảng 70% nhiên liệu nạp ban đầu, tuy nhiên IAEA vẫn cho rằng chưa tới 5% nhiên liệu đã thất thoát do vụ nổ. Hơn nữa, một số người tham gia vào việc cứu hộ ước tính rằng chỉ 5-10% nguyên liệu nạp ban đầu còn lại bên trong quan tài bê tông.
Nước vẫn tiếp tục chảy vào trong quan tài, khiến các vật liệu phóng xạ rò rỉ qua lò phản ứng đã bị hư hại và có thể cả vào trong nước ngầm tại các khu vực quanh đó. Móng của lò phản ứng dần chứa đầy nước đã bị ô nhiễm nhiên liệu hạt nhân và bị coi là loại rác có mức độ phóng xạ cao. Dù các công việc sửa chữa đã được tiến hành tại một số lỗ lớn nhất bên trên mái quan tài, nó vẫn không tài nào hàn kín được toàn bộ, và tình trạng mái sẽ ngày càng tồi tệ thêm.
Quan tài bê tông, không hoàn toàn kín với không khí bên ngoài, sẽ nóng lên nhanh hơn khi nó lạnh đi. Điều này khiến lượng ẩm bên trong quan tài tăng lên. Lượng ẩm cao lại ăn mòn bê tông và cốt thép của nó.
Hơn nữa, bụi đang ngày càng trở thành một vấn đề bên trong quan tài bê tông. Các nguyên tử phóng xạ ở mọi kích thước, lượng bụi tro chiếm tỷ lệ lớn bên trong đó. Những dòng đối lưu hòa lẫn với dòng khí xâm nhập từ bên ngoài ngày càng khuấy đảo và đưa thêm vào không khí các nguyên tử phóng xạ. Việc lắp đặt các hệ thống lọc khí năm 2001 có làm giảm bớt nguy cơ này, nhưng không hoàn toàn triệt tiêu được nó.

Những hậu quả khi nó hư hỏng thêm trong tương lai

Quan tài bê tông hiện nay được xây dựng bên trên đống đổ nát của lò phản ứng. Hai “Xà lớn” đỡ mái quan tài tựa trên kết cấu yếu ớt của bức tường phía tây lò phản ứng vốn đã bị hư hại do vụ nổ. Nếu bức tường của lò phản ứng và cả mái quan tài sụp đổ, những lượng bụi phóng xạ và nguyên tử lớn sẽ được giải phóng trực tiếp vào khí quyển, gây ra một vụ phát tán phóng xạ lớn khác vào môi trường xung quanh.
Một nguy cơ khác đối với quan tài là phiến bê tông hình thành nên “Khiên sinh vật học bên trên” (UBS), và được đặt trên lò phản ứng trước khi vụ tai nạn xảy ra. Tấm bê tông này đã bị vụ nổ đẩy lên cao và hiện nằm nghiêng 15 độ theo chiều dọc. Vị trí của tấm khiên sinh vật học bị coi là không an toàn, bởi nó chỉ được chống đỡ theo chiều gần thẳng đứng bởi bụi rác. Nếu tấm sinh học này đổ nó sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng bụi bên trong quan tài và có thể làm phát tán một lượng vật liệu phóng xạ ra ngoài, cũng như có thể gây hư hại cho chính quan tài bê tông.
Quan tài bê tông không được thiết kế để tồn tại trong khoảng thời gian 100.000 năm cần thiết để giữ lượng phóng xạ còn sót lại bên trong lò phản ứng số 4. Những thiết kế hiện nay về một bức tường bao phủ mới chỉ có tuổi thọ 100 năm, khoảng thời gian đó chỉ là một nháy mắt so với khoảng thời gian tuổi thọ của vật liệu phóng xạ bên trong. Việc xây dựng một quan tài có khả năng chôn vùi vĩnh viễn những thứ bên trong lò phản ứng số 4 rõ ràng là một thách thức cho các kỹ sư ở nhiều thế hệ sau này.

Quỹ Chernobyl và Kế hoạch xây dựng tường chắn mới

Quỹ Chernobyl được thành lập năm 1997 trong cuộc họp thượng đỉnh G7 lần thứ 23 ở Denver để cung cấp vốn cho Kế hoạch xây dựng tường chắn thay cho cấu trúc bê tông được xây dựng vội vã. Kế hoạch xây dựng tường chắn (SIP – Shelter Implementation Plan) có mục đích biến địa điểm này thành nơi có điều kiện sinh thái học an toàn thông nhờ một quan tài ổn định, sau đó là việc xây dựng thêm một lớp Vỏ bọc mới (NSC – New Safe Confinement). Ước tính ban đầu cho NSC là 768 triệu đôla Mỹ, theo ước tính năm 2006 là 1.2 tỉ đôla Mỹ. SIP hiện được một côngxoocxiom gồm Bechtel, BattelleElectricité de France điều hành, với thiết kế ý tưởng cho NSC theo kiểu một mái vòm di động được nặng 20.000 tấn, được xây dựng tách biệt bên ngoài để tránh lượng bức xạ cao, và có thể trượt trên vỏ cũ bằng cách sử dụng đường ray tàu hỏa. NSC được hi vọng là sẽ được hoàn thành vào năm 2015, và sẽ là kết cấu di động lớn nhất từng được xây dựng.
Kích thước

  • Rộng: 260 m
  • Cao: 105 m
  • Dài: 150 m
  • Nặng: 20.000 tấn

Chernobyl trong ý thức mọi người

Thảm hoạ Chernobyl đã lôi cuốn sự chú ý quốc tế. Trên khắp thế giới, mọi người theo dõi và xúc động mạnh trước sự kiện. Vì thế, “Chernobyl” đã đi vào tâm tưởng quần chúng theo nhiều cách khác nhau.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “Geographical location and extent of radioactive contamination”. Swiss Agency for Development and Cooperation. (quoting the “Committee on the Problems of the Consequences of the Catastrophe at the Chernobyl NPP: 15 Years after Chernobyl Disaster”, Minsk, 2001, p. 5/6 ff., and the “Chernobyl Interinform Agency, Kiev und”, and “Chernobyl Committee: MailTable of official data on the reactor accident”)
  2. ^ “TORCH report (The Other Report on Chernobyl)”. European Greens. Tháng 4 năm 2006. Truy cập tháng 4 năm 2006.
  3. ^ a ă “IAEA Report”. In Focus: Chernobyl. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2006.
  4. ^ “Greenpeace rejects Chernobyl toll”. BBC News. 18 tháng 4 năm 2006.
  5. ^ “Cơn ác mộng Chernobyl xảy ra như thế nào?”. 25 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2012.
  6. ^ (tiếng Nga) Глава 4. КАК ЭТО БЫЛО
  7. ^ Chernobyl source term, atmospheric dispersion, and dose estimation, EnergyCitationsDatabase, 1 tháng 11 năm 1989
  8. ^ OECD Papers Volume 3 Issue 1, OECD, 2003
  9. ^ The Chernobyl nightmare revisited, Stephen Mulvey, BBC News, 18/4/2006
  10. ^ “Chernobyl’s silent graveyards”. BBC News (BBC). 20 tháng 4 năm 2006.
  11. ^ a ă (tiếng Pháp) “Tchernobyl, 20 ans après”. RFI. 24 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2006.
  12. ^ a ă â “TORCH report executive summary”. European Greens and UK scientists Ian Fairlie PhD and David Sumner. Tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2006. (trang 3)
  13. ^ Chapter IV: Dose estimates, Nuclear Energy Agency, 2002
  14. ^ EMERGENCY: Evacuation
  15. ^ ICRIN > Home
  16. ^ “Post-Chernobyl Monitoring and Controls Survey Report”. UK Food Standards Agency. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2006.
  17. ^ “Chernobyl fallout: internal doses to the Norwegian population and the effect of dietary advice”, Strand P, Selnaes TD, Boe E, Harbitz O, Andersson-Sorlie A., National Institute of Radiation Hygiene, Osteras, Norway
  18. ^ For full coverage see the IAEA Focus Page (op.cit.) and joint IAEA/WHO/UNDP September 5, 2005 press release Chernobyl: The True Scale of the Accident
  19. ^ “Special Report: Counting the dead”. Nature. 19 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2006.
  20. ^ TORCH report executive summary, op.cit., p.4
  21. ^ WHO Chernobyl report 2006 pdf
  22. ^ “20 years after Chernobyl – The ongoing health effects”. IPPNW. Tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2006.
  23. ^ “20 years after Chernobyl – The ongoing health effects, PDF report”. IPPNW. Tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2006.
  24. ^ những vụ ung thư tại Thụy Điển do vụ Chernobyl, BBC News, 20 tháng 11 năm 2004
  25. ^ (tiếng Pháp) “Selon un rapport indépendant, les chiffres de l’ONU sur les victimes de Tchernobyl ont été sous-estimés (According to an independent report, UN numbers on Chernobyl’s victims has been underestimated)”. Le Monde. 7 tháng 4 năm 2006.
  26. ^ FAS.org PDF file
  27. ^ pg27
  28. ^ NRC.gov
  29. ^ “Tokaimura Criticality Accident”. World Nuclear Association. Tháng 6 năm 2000. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2006.

Liên kết ngoài

Thông tin chung

Phân tích sự kiện và kỹ thuật

Những lời kể của nhân chứng (trước và sau tai nạn)

Ảnh/Phim/Tin tức

Những tổ chức nhân đạo và tình nguyện quan tâm tới các hậu quả

group with education and volunteering projects

  • Aratta – Public organisation supporting children and families
  • SOS Belarus: The only big NGO still working in Belarus post Chernobyl
  • BELRAD Institute – Radiation safety and protection institute



Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới
Ngày 26 tháng 4
Liên quan đến Ngày của Nhà phát minh
Ngày Sách và Quyền tác giả thế giới

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới được cử hành vào ngày 26 tháng 4 hàng năm.[1] Ngày này do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) thiết lập năm 2000 để “nâng cao nhận thức về cách mà bằng sáng chế, quyền tác giả, thương hiệu và thiết kế tác động đến cuộc sống hàng ngày”“để biểu dương tính sáng tạo, sự đóng góp của những người sáng tạo và những người đổi mới vào việc phát triển các xã hội trên toàn cầu”.[1] Ngày 26 tháng 4 được chọn vì là ngày Công ước thiết lập Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới bắt đầu có hiệu lực trong năm 1970.

Lịch sử

Tiếp theo tuyên bố ở Cuộc họp các nước thành viên của “Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới” (WIPO) trong tháng 9 năm 1998, ngày 7.4.1999 Tổng Giám đốc Viện Sở hữu công nghiệp quốc gia Algérie (INAPI) đề xuất việc thể chế hóa một ngày quốc tế dành cho Sở hữu trí tuệ, với mục đích :
“[lập ra] một khuôn khổ để nhận thức và huy động rộng hơn, [mở ra] quyền đạt được phương diện quảng cáo sự đổi mới và [công nhận] những thành tựu của những người khởi xướng Sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới”.[2]
Ngày 9.8.1999, phái đoàn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong “Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới” đề nghị việc chấp thuận “Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới” :
“để thúc đẩy hơn nữa nhận thức về bảo hộ Sở hữu trí tuệ, mở rộng ảnh hưởng của việc bảo hộ Sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới, đôn đốc các quốc gia công bố và phổ biến các luật và các qui định về bảo vệ Sở hữu trí tuệ, nâng cao nhận thức pháp lý của công chúng về quyền Sở hữu trí tuệ, khuyến khích các hoạt động phát minh-đổi mới ở các nước khác nhau và tăng cường giao lưu quốc tế trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ”.[3]
Tháng 10 năm 1999, Đại hội của “Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới” đã chấp thuận việc tuyên bố lấy một ngày đặc biệt làm”Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới”.[4]

Các chủ đề

Mỗi năm, có một thông điệp hoặc một chủ đề liên quan tới ngày này :

  • 2001 – Tạo ra Tương lai từ hôm nay
  • 2002 – Khuyến khích tính Sáng tạo
  • 2003 – Hãy làm cho Sở hữu trí tuệ thành việc kinh doanh của bạn
  • 2004 – Khuyến khích tính Sáng tạo
  • 2005 – Suy nghĩ, Hình dung, Sáng tạo
  • 2006 – Bắt đầu bằng một Ý tưởng
  • 2007 – Khuyến khích tính Sáng tạo
  • 2008 – Biểu dương sự đổi mới và thúc đẩy sự tôn trọng Sở hữu trí tuệ[5]
  • 2009 – Sự đổi mới xanh[6]
  • 2010 – Sự đổi mới – Sự kết nối thế giới[7]
  • 2011 – Thiết kế Tương lai[8]
  • 2012 – Tôn vinh các nhà sáng tạo có tầm nhìn xa[9]
  • 2013 – Sáng tạo: thế hệ tiếp theo[10]
  • 2014 – Điện ảnh: Niềm đam mê toàn cầu[11]

Tham khảo

  1. ^ a ă WIPO web site, World Intellectual Property Day – April 26. Consulted on April 20, 2011.
  2. ^ Letter of April 7, 1999 from Amor Bouhnik, Director General of the National Algerian Institute for Industrial Property, to the Director General of WIPO (Ref: 027 DG/MS/99) in World Intellectual Property Organization web site, WIPO General Assembly, Twenty-Fourth (14th Ordinary) Session, Geneva, September 20 to 29, 1999, Institutionalization of an International Day for Intellectual Property. Proposal by the People’s Democratic Republic of Algeria, WO/GA/24/7, August 10, 1999.
  3. ^ Letter dated August 9, 1999 from Jiang Ying, Commissioner of the State Intellectual Property Office of the People’s Republic of China, to Dr. Kamil Idris, Director General of World Intellectual Property Organization, Geneva, Switzerland, in World Intellectual Property Organization web site, WIPO General Assembly, Twenty-Fourth (14th Ordinary) Session, Geneva, September 20 to 29, 1999, Institutionalization of a World Intellectual Property Day. Proposal by the People’s Republic of China, August 20, 1999.
  4. ^ World Intellectual Property Organization, WIPO General Assembly, Twenty-Sixth (12th Extraordinary) Session, Geneva, September 25 to October 3, 2000, Memorandum of the Director General, WO/GA/26/2, July 26, 2000.
  5. ^ UK Intellectual Property Office (UKIPO) web site, World Intellectual Property Day, 26 April 2008, Celebrating innovation and promoting respect for intellectual property, Events, World IP Day. Consulted on March 27, 2008.
  6. ^ World Intellectual Property Day 2009
  7. ^ World Intellectual Property Day 2010
  8. ^ World Intellectual Property Day 2011
  9. ^ Sở Khoa học & Công nghệ Đà Nẵng
  10. ^ Đảng Cộng sản
  11. ^ Cục Bản quyền tác giả

Liên kết ngoài

Chào ngày mới 25 tháng 4

Kenh dao
CNM365 Chào ngày mới 25 tháng 4  Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Thế giới phòng chống sốt rét, ngày ADNNăm 1644 – Quân Đại Thuận của Lý Tự Thành tiến vào Tử Cấm Thành, Sùng Trinh Đế tự vẫn, triều Minh diệt vong. Năm 1719 – Truyện phiêu lưu Robinson Crusoe của Daniel Defoe được xuất bản lần đầu tiên. Năm 1792Claude Joseph Rouget de Lisle sáng tác La Marseillaise sau khi hoàng đế Áo tuyên chiến với Pháp, sau được chọn làm quốc ca của Cộng hòa Pháp. Năm 1859 – Bắt đầu xây dựng kênh đào Suez (hình) nối Địa Trung Hảibiển Đỏ tại lãnh thổ nay là Ai Cập. Năm 1882 – Trong Chiến tranh Pháp-Đại Nam, quân Pháp chiếm được thành Hà Nội từ quân Nguyễn, Tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn.

Kênh đào Suez

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kênh đào Suez
SuezCanal-EO.JPG
Kênh Suez nhìn từ vệ tinh
Thông tin chung
Quốc gia Ai Cập
Xây dựng
Khởi công 4/1859
Hoàn thành 11/1869
Nhà thầu chính Suez Canal Company (Compagnie Universelle du Canal Maritime de Suez)

Tọa độ: 29°58′B, 32°33′Đ

Bản đồ kênh đào Suez

Kênh đào Suez (tiếng Việt: Xuy-ê) là kênh giao thông nhân tạo nằm trên lãnh thổ Ai Cập, chạy theo hướng Bắc-Nam đi ngang qua eo Suez tại phía Đông Bắc Ai Cập, nó nối Địa Trung Hải với Vịnh Suez, một nhánh của Biển Đỏ.
Kênh đào cung cấp một lối đi tắt cho những con tàu đi qua cảng Châu ÂuChâu Mỹ đến những cảng phía Nam Châu Á, cảng phía Đông Châu PhiChâu Đại Dương. Kênh được bắt đầu khởi công ngày 25 tháng 4 năm 1859 và hoàn thành vào ngày 17 tháng 11 năm 1869[1]. Khi hoàn thành, kênh đào Suez dài 195 km (121dặm), khúc hẹp nhất là 60 m, và độ sâu tại đó là 16 m đủ khả năng cho tàu lớn 150.000 tấn qua được.

Lịch sử

Có lẽ vào khoảng những năm 1878 tới 1839 trước Công Nguyên vào triều đại vua Senusret III đã có một kênh đào đông tây nối sông Nin với Biển Đỏ phục vụ giao thông bằng những con thuyền đáy bằng đẩy sào và cho phép việc giao thương giữa Biển Đỏ và Địa Trung Hải. Có nhiều dấu vết cho thấy con kênh này đã tồn tại vào thế kỷ 13 trước Công Nguyên vào thời kỳ vua Ramesses II.
Con kênh này đã không đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ai Cập lúc bấy giờ và nhanh chóng bị lãng quên. Theo sử sách Hy Lạp, vào khoảng những năm 600 trước Công Nguyên, vua Necho II đã nhận thấy tầm quan trọng của kênh này và cho tu sửa lại nó. Tuy nhiên con kênh chính thức được hoàn thành bởi vua Darius I của Ba Tư. Ông đã hoàn thành con kênh sau khi chiếm Ai Cập và đã mở rộng nó đủ để cho phép hai tàu chiến trieme tránh nhau trong kênh và hành trình trong kênh mất 4 ngày.
Vào cuối thế kỉ 18 Napoléon Bonaparte, trong khi ở Ai Cập, đã có ý định xây dựng một kênh đào nối giữa Biển Đỏ và Địa Trung Hải. Nhưng kế hoạch này của ông đã bị bỏ ngay sau những cuộc khảo sát đầu tiên bởi theo những tính toán sai lầm của các kỹ sư thời bấy giờ thì mực nước Biển Đỏ cao hơn Địa Trung Hải tới 10 m.
Vào khoảng năm 1854 và 1856 Ferdinand de Lesseps, phó vương Ai Cập đã mở một công ty kênh đào nhằm xây dựng kênh đào phục vụ cho đội thương thuyền dựa theo thiết kế của một kiến trúc sư người Úc Alois Negrelli. Sau đó với sự hậu thuẫn của người Pháp công ty này được phát triển trở thành công ty kênh đào Suez vào năm 1858.
Công việc sửa chữa và xây mới kênh được tiến hành trong gần 11 năm. Hầu hết công việc được tiến hành bởi những lao động khổ sai người Ai Cập. Người ta ước tính luôn có một lực lượng 30.000 người lao động trên công trường và cho đến khi hoàn thành, gần 120.000 người đã bỏ mạng tại đây.
Người Anh đã ngay lập tức nhận ra kênh đào này là một tuyến buôn bán quan trọng và việc người Pháp nắm quyền chi phối con kênh này sẽ là mối đe doạ cho những lợi ích kinh tế, chính trị của Anh trong khi đó lực lượng hải quân của Anh lúc bấy giờ là lực lượng mạnh nhất trên thế giới. Vì vậy chính phủ Anh đã chính thức chỉ trích việc sử dụng lao động khổ sai trên công trường và gửi một lực lượng người Ai Cập có vũ trang kích động nổi loạn trong công nhân khiến công việc bị đình trệ.
Tức giận trước thái độ tham lam của Anh, phó vương de Lesseps đã gửi một bức thư tới chính phủ Anh chỉ trích sự bất nhân của nước Anh khi một vài năm trước đó trong công trình xây dựng đường sắt xuyên Ai Cập đã làm tuyệt mạng 80.000 lao động khổ sai Ai Cập.
Lần đầu tiên dư luận thế giới lên tiếng hoài nghi về việc cổ phiếu của công ty kênh đào Suez đã không được bán công khai. Anh, Mỹ, Úc, Nga đều không có cổ phần trong công ty này. Tất cả đều được bán cho người Pháp.
Kênh đào cuối cùng cũng được hoàn thành vào ngày 17 tháng 11 năm 1869 mặc dù đã rất nhiều xung đột chính trị và sự cố kỹ thuật xung quanh công trình. Tổng chi phí đã đội hơn 2 lần so với dự tính ban đầu của các kỹ sư.
Kênh đào ngay lập tức làm ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến ngành vận tải thế giới. Kết hợp với đường sắt xuyên Mỹ hoàn thành 6 tháng trước đó, nó cho phép hàng hoá đi vòng quanh thế giới trong một thời gian kỷ lục. Nó cũng góp phần quan trọng trong việc mở rộng thuộc địa của Châu Âu tại Châu Phi. Những khoản nợ khổng lồ đã buộc người kế nhiệm Phó vương Ai Cập bán lại cổ phần trị giá 4 triệu bảng của mình cho người Anh. Tuy nhiên người Pháp vẫn nắm giữ phần lớn cổ phần chi phối.
Vào năm 1888 một hội nghị ở Constantinopolis đã tuyên bố kênh đào là một khu vực trung lập và yêu cầu quân đội Anh bảo vệ kênh đào trong suốt cuộc nội chiến ở Ai Cập. Sau đó căn cứ vào hiệp ước với Ai Cập năm 1936 Anh đã đòi quyền kiểm soát kênh đào. Cuối cùng vào năm 1954 Chính quyền Ai Cập đã phủ nhận hiệp ước 1936 và nước Anh buộc phải từ bỏ quyền kiểm soát kênh.
Năm 1956 tổng thống Ai Cập Nasser tuyên bố quốc hữu hoá kênh và ý định xây dựng một căn cứ quân sự ở dọc kênh. Hành động này của Ai Cập được hậu thuẫn bởi Liên Xô và đã gây lo ngại sâu sắc cho Mỹ, Anh, Pháp và Israel gây nên cuộc Khủng hoảng kênh đào Suez. Ngày 29 tháng 10 năm 1956, Israel tấn công bán đảo Sinai và dải Gaza để trả đũa. Năm 1957, Liên Hợp Quốc cử lực lượng gìn giữ hòa bình tới đây để bảo đảm tính trung lập của kênh.
Kênh bị đóng cửa một lần duy nhất từ 1967 tới 1975 trong cuộc Chiến tranh Ả Rập – Israel.
Cho tới năm 1967, năm xảy ra chiến tranh giữa Israel và Ai Cập, gần 15% các luồng hàng viễn dương và trên 20% các luồng hàng vận chuyển dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thế giới đã được vận chuyển qua kênh đào.

Xem thêm

Đọc thêm

  • Britannica (2007) “Suez Canal”, in: The new Encyclopædia Britannica, 15th ed., 28, Chicago, Ill.; London: Encyclopædia Britannica, ISBN 1-59339-292-3
  • Galil, B.S. and Zenetos, A. (2002). “A sea change: exotics in the eastern Mediterranean Sea”, in: Leppäkoski, E., Gollasch, S. and Olenin, S. (eds), Invasive aquatic species of Europe: distribution, impacts, and management, Dordrecht; Boston: Kluwer Academic, ISBN 1-4020-0837-6, p. 325–336
  • Garrison, Ervan G. (1999) A history of engineering and technology: artful methods, 2nd ed., Boca Raton, Fla.; London: CRC Press, ISBN 0-8493-9810-X
  • Karabell, Zachary (2003) Parting the Desert: The Creation of the Suez Canal, Knopf, ISBN 978-0-375-40883-0
  • Oster, Uwe (2006) Le fabuleux destin des inventions : le canal de Suez, TV documentary produced by ZDF and directed by Axel Engstfeld (Germany)
  • Sanford, Eva Matthews (1938) The Mediterranean world in ancient times, Ronald series in history, New York: The Ronald Press Company, 618 p.
  • Pudney, John. Suez; De Lesseps’ Canal. New York: Praeger, 1969. Print.
  • Thomas, Hugh. Suez. [1st U.S. ed.]. New York: Harper & Row, 1967. Print.

Chú thích

  1. ^ Theo thông tin trên Website Vietnamnet [1].

Liên kết ngoài

 

Chào ngày mới 24 tháng 4

 Tập tin:TuthmosisIII.JPG

CNM365 Chào ngày mới 24 tháng 4 Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Hòa hợp tại Niger, ngày Kí ức diệt chủng tại Armenia, ngày Cộng hòa tại Gambia.  Năm 1479 TCN – Pharaon Thutmosis III (hình) được cho là bắt đầu trị vì. Năm 1184 TCN – Theo truyền thống, Thành Troia thất thủ trước người Hy Lạp. Năm 1192 – Việc xây dựng cầu Lư Câu tại Trung Đô của Đại Kim được hoàn thành. Năm 1800 – Tổng thống Mỹ John Adams ký sắc lệnh Act of Congress, trong đó có kèm một điều khoản thành lập Thư viện Quốc hội Mỹ. Năm 1914James FranckGustav Ludwig Hertz trình bày bằng văn bản Thí nghiệm Franck – Hertz cho Hội Vật lý học Đức. Năm 1990Kính viễn vọng không gian Hubble của NASA được phóng lên không gian.

Thutmosis III

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thutmose III
Tuthmosis III, “Manahpi(r)ya” trong các thư Amarna
Pharaông của Ai Cập (chi tiết…)
TuthmosisIII.JPG
Tượng Thutmosis III tại Luxor
Trị vì 1479 TCN1425 TCN
Tiền nhiệm Hatshepsut
Kế nhiệm Amenhotep II
Thông tin chung
Vợ
Hậu duệ
Tên riêng
G39 N5
<
G26 ms nfr xpr
>

Thutmose Neferkheperu
Thoth is born, beautiful of forms

Tên ngai
M23 L2
<
ra mn xpr
>

Menkheperre
Lasting is the Manifestation of Re[3]

Tên Horus Kanakht Khaemwaset

E1
D40
N28 m S40 t
O49

Mighty Bull, Arising in Thebes

Tên Nebty hai quý bà Wahnesytmireempet

V29 sw t i i ra
Z1
mi m Q3 X1
N1

Enduring in kingship like Re in heaven

Horus Vàng Sekhempahtydsejerkhaw

sxm F9
F9
D45
N28
Z3

Powerful of strength, holy of diadems

Hoàng tộc Triều đại thứ 18
Thân phụ Thutmosis II
Thân mẫu Iset
Mất 1425 TCN
Ai Cập
An táng KV34, Thung lũng các vị vua

Thutmosis III (còn gọi là Thutmose hoặc Tuthmosis III, nghĩa là Con của Thoth) là vị pharaông thứ sáu của triều đại thứ 18. Trong 22 năm đầu cai trị của Thutmosis, ông đồng trị vì với mẹ kế là pharaông Hatshepsut[4]. Ông đã được Hatshepsut phong làm võ tướng.
Sau khi Hatshepsut qua đời và Thutmosis trở thành pharaông duy nhất của vương quốc, ông đã gầy dựng một đế quốc Ai Cập rộng lớn chưa từng thấy; hơn 17 cuộc chinh phạt lẫy lừng được khởi xướng, và ông xâm chiếm NiySyria tới ghềnh thứ tư của sông NilNubia. Ông thân chinh đi đánh đông dẹp bắc lâu dài hơn và đạt được nhiều thắng lợi hơn cả những danh tướng xuất sắc vào thời kỳ cổ đại như Alexandros Đại ĐếJulius Caesar[5]. Phần lớn tư liệu cho là Thutmosis III ở ngôi 54 năm, từ 24 tháng 4 năm 1479 tới 11 tháng 3 năm 1425 TCN, và đồng trị vì với Hatsheput trong 22 năm đầu. Trong hai năm cuối đời, ông đồng cai trị với vua con Amenhotep II. Khi qua đời, ông được chôn cất ở Thung lũng các vị vua.
Là một thiên tài chiến thuật và chiến lược, ông được xem là vị vua – chiến binh vĩ đại nhất, là thống soái kiệt xuất nhất trong lịch sử Ai Cập, là một trong những vị Đại Danh tướng (Great Captain) đầu tiên trong lịch sử thế giới. Ông là người có công gầy dựng nên lực lượng Hải quân chinh chiến đầu tiên trong thế giới cổ đại, và tiến hành cải cách lực lượng Quân đội Ai Cập cổ đại. Triều đại của ông được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quân sự và chủ nghĩa đế quốc của toàn bộ vùng Đông Địa Trung Hải.[5]

Gia đình

Thutmosis III là con trai của Pharaong Thutmosis IIIset (cũng được gọi là Isis). Bởi cậu bé là con trai duy nhất của Pharaong, nên cậu sẽ trở thành người kế vị trực tiếp sau khi vua cha; dù vậy, cậu không phải là con của chính cung hoàng hậu nên câu khó thể nối ngôi[6]. Tới giúp đỡ chức vụ của cậu, cậu phải cưới con gái của Thutmosis II[7]. Nó có tồn tại những giả thuyết là người mà Thutmosis cưới là Neferure hay Merytre-Hatshepsut II, nhưng trong bằng chứng xưa đó thì không chắc chắn bằng chứng họ cưới và trong bằng chứng của Merytre-Hatshepsut nó thì nghi ngờ cô ta không phải là con gái của Hatshepsut.
Bất chấp việc đó, vì Thutmosis III lên kế vị khi cậu còn quá nhỏ, nên Hatshepsut trở thành nhiếp chính, rồi lại đồng cai trị với cậu, và một thời gian ngắn sau đó, bà xưng danh hiệu vua pharaong. Vào khoảng 22 năm cai trị đầu, Thutmosis nắm quyền hành rất ít ở đế chế, Hatshepsut nắm vương quyền và lấy prenomen là Maatkare. Theo luật lệ Ai Cập cổ đại, chỉ duy nhất một vị pharaong có được các loại tên hiệu. Triều đại bà khá thành công và rõ rệt bởi sự tiến bộ. Khi cậu đến tuổi trưởng thành, cậu được bà trao chức vụ Tổng tư lệnh quân đội. Sau cái chết của Hatshepsut, Thutmosis III cai trị nước Ai Cập trong khoảng hơn 30 năm, đến hai năm trị vì cuối, ông đồng cai trị với con trai. Ông qua đời sau khi trị vì được 54 năm[8].
Thutmosis đã cưới Neferure và hai bà vợ khác. Sat-jah sinh hạ cho ông cậu con trai đầu, Amenemhet, nhưng cậu mất trước vua cha[9]. Người kế vị ông, Amenhotep II là con trai của Metryre-Hatshepsut II, người mà một số nhà sử học hiện đại không cho là con gái của Hatshepsut[9].

Liên tục mở rộng bờ cõi

Bản đồ Đế quốc Ai Cập vào thế kỉ XV TCN

Thutmosis III là một trong những vị Đại Danh tướng của thế giới cổ đại. Ông quả là một Alexandros Đại Đế của nền văn minh Ai Cập. Là một vị vua trí thức đồng thời là một danh tướng, ông là vị thống soái vĩ đại nhất trong suốt chiều dài lịch sử Ai Cập từ cổ chí kim.[10] Theo văn kiện cổ, ông đã xua quân đánh chiếm 350 thành phố trong triều đại ông và ông nhiều lần chinh phạt vùng Cận đông cổ đại từ Euphrates tới Nubia trong 17 chiến dịch được biết đến của ông. Ông là Pharaông đầu tiên sau Thutmosis I băng qua sông Euphrates, trong chiến dịch của ông tới Mitanni. Các chiến dịch của ông được tin là được ghi nhận trên bức tường tại đền AmunKarnak, và được ghi nhận trong bộ thư tịch Urkunden IV. Với những chiến tích hiển hách của ông, không có vị danh tướng nào ở thời cổ đại (kể cả Alexandros Đại Đế và Julius Caesar[5]) đánh nhiều trận hơn ông. Là một nhà chiến lược tài tình, sáng suốt, ông khát vọng được dân tộc Ai Cập trở thành bá chủ của thế giới. Có người nói vị vua – chiến binh thành Thebes này là “Napoléon của Ai Cập”, nhưng quan điểm này thực sự là không đúng và nói thẳng ra thì ông tài ba hơn Napoléon, với những chiến tích lẫy lừng của ông.[10] Và, nhờ có những chiến thắng vang dội của ông, gầy dựng nên một Đế quốc Ai Cập rộng lớn, kéo dài từ miền Nam Syria tới Nubia và Canaan. Pharaông Thutmosis III đã nhiều lần thu phục được kẻ thù.
Ngay từ khi mới lên đích thân chấp chính ở ngoài đôi mươi, ông đã là một vị thống soái giàu kinh nghiệm. Thật không lạ gì khi năm cái tên hiệu của người chiến binh xuất sắc này (trong truyền thống, mọi pharaon đều phải có năm cái tên hiệu này) đều thể hiện sức mạnh quân sự.[10] Người ta biết nhiêừ về tài điều binh khiển tướng của ông không chỉ vì những chiến công vang lừng của ông, nhưng cũng nhờ viên tướng lĩnh Quân đội Ai Cập khi đó là Thanuny – ông này đã ghi chép về triều đại của ông và những cuộc chinh phạt của ông. Lý do chính để pharaông Thutmosis III có thể chinh phạt vô số vùng đất như thế, là nhờ vào việc cải tiến và thay đổi lớn lao những loại vũ khí quân đội. Ông chỉ phải chạm trán với một vài sự chống đối không đáng kể ở các vương quốc láng giềng, do đó ông dễ dàng mở mang bờ cõi Vương quốc. Quân đội ông cũng có mang các tàu thuyền trên vùng đất khô.

Kiến trúc thời Thutmosis III

Kết thúc chiến tranh, Thutmosis III cho xây nhiều công trình kiến trúc. Tiêu biểu là ông đã cho xây dựng trên 50 ngôi đền Karnak, mặc dù vài ngôi đền trong số đó giờ đã mất và chỉ được biết thông qua ghi chép. Ông cũng cho xây dựng rất nhiều mộ quý tộc, và các ngôi mộ này được xây dựng khéo léo hơn trước. Triều đại Thutmosis tro thấy sự phát triển thịnh vương của nền điêu khắc, tranh vẽ, và hình khắc kết hợp xây dựng, nhiều trong số đó đã phát triển từ thời Hatshepsut.

Chú thích

  1. ^ Dodson, Aidan. Hilton, Dyan. The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames and Hudson. p132. 2004. ISBN 0-500-05128-3
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên RoyalFamilies_p132.
  3. ^ Clayton, Peter. Chronicle of the Pharaohs, Thames & Hudson Ltd., 1994. p.104
  4. ^ Partridge, R., 2002. Fighting Pharaohs: Weapons and warfare in ancient Egypt. Manchester: Peartree. Pages:202/203
  5. ^ a ă â Egypt’s most brilliant commander
  6. ^ Joyce Tyldesley, Hatschepsut: The Female Pharaoh,p. 75, Viking, 1996
  7. ^ Steindorff, George; and Seele, Keith. When Egypt Rulers The East. p.40. University of Chicago, 1942
  8. ^ Tyldesley, op. cit., p.95
  9. ^ a ă Lipińska, Jadwiga. “Thutmose III,” p.403. The Oxford Encyclopedia of Ancient Egypt. Ed. Donald Redford. Vol. 3, pp.401-403. Oxford University Press, 2001.
  10. ^ a ă â Richard A. Gabriel, Thutmose III: The Military Biography of Egypt’s Greatest Warrior King, các trang 3-4.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Chào ngày mới 23 tháng 4

 Tập tin:Naval Ensign of the People's Republic of China.svg

CNM365 Chào ngày mới 23 tháng 4  Wikipedia Ngày này năm xưa. Ngày Sách Thế giới, ngày Chủ quyền quốc gia và Trẻ em tại Thổ Nhĩ Kỳ và Bắc Síp, ngày Anh văn Liên Hiệp Quốc.  Năm 1920Hội nghị Đại quốc dân Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập tại Ankara, nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại bắt đầu. Năm 1949Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (hình) được thành lập tại Thái Châu, Giang Tô trong bối cảnh Quốc-Cộng nội chiến. Năm 1967 – Tàu vũ trụ Soyuz 1 của Liên Xô được phóng vào quỹ đạo, đem theo nhà du hành vũ trụ Vladimir Komarov. Năm 1993 – Người dân Eritrea bỏ phiếu ủng hộ độc lập từ Ethiopia với đa số áp đảo trong một cuộc trưng cầu dân ý do Liên Hiệp Quốc giám sát.

Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
中国人民解放军海军
Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Hiệu kỳ Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Hoạt động kể từ tháng chín 1950
Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Quy mô 250,000 người
14 Tàu khu trục
28 Tàu frigate
3 SSBN
5~7 SSN
56 SSK
58 tàu đổ bộ
~80 tàu chiến duyên hải (hỏa tiễn)
27 Tàu đổ bộ lớn
31 Tàu đổ bộ vừa
200+ fast attack craft
Tham chiến Nội chiến Trung Quốc
Hải chiến Hoàng Sa
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Chống lại hải tặc Somalia
Các tư lệnh
Chỉ huy
hiện thời
Đô đốc Ngô Thắng Lợi

Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc hay Hải quân Trung Quốc (giản thể: 中國人民解放軍海軍; phồn thể: Trung Quốc Nhân dân Giải phóng quân Hải quân) là lực lượng hải quân của Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Trước thập niên 1990, Hải quân Trung Quốc đóng vai trò thứ yếu so với Lục quân. Từ thập niên 1990 đến nay, lực lượng hải quân được Trung Quốc nhanh chóng hiện đại hóa; phát triển nhanh chóng, đến nay bao gồm thêm 35.000 Hải quân Biên phòng và 56.000 Thủy quân Lục chiến, cùng 56.000 quân thuộc Lực lượng Hải quân Không chiến với hàng trăm chiến đấu cơ trên bờ và các trực thăng trên các chiến hạm.

Lịch sử

Năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố “để chống bọn đế quốc xâm lược, ta cần có một hải quân hùng mạnh.”. Năm sau, vào tháng 3 năm 1950, trường Sĩ quan Hải quân được thành lập tại Đại Liên với đa số huấn luyện viên người Nga. Tháng 9 cùng năm, Hải quân Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc chính thức thành lập, quân số khởi đầu chọn từ các lực lượng hải quân địa phương trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu tại Khương Yển (nay đặt tại Thái Châu, thuộc tỉnh Giang Tô). Lực lượng này thoạt đầu chỉ là một nhóm chiến hạm ô hợp tịch thu của Trung Hoa Quốc Dân đảng, và hai năm sau tăng cường thêm lực lượng không chiến. Giống như tổ chức quân đội chung, các chính ủy đều được đưa vào mỗi chiến hạm để nắm chắc các hạm trưởng.
Đến năm 1954, số cố vấn hải quân Liên Xô tăng lên đến 2.500 người – tỉ lệ một cố vấn Liên Xô cho 30 quân nhân hải quân Trung Quốc – và Liên Xô bắt đầu viện trợ các loại chiến hạm tối tân hơn. Với viện trợ của Liên Xô, năm 1954-1955, Hải quân Trung Quốc tổ chức lại thành ba hạm đội. Các chức vụ và cấp bậc sĩ quan hải quân cũng được thành lập từ đội ngũ sĩ quan lục quân. Ban đầu, việc chế tạo các chiến hạm nhờ vào sự giúp đỡ của Liên Xô, nhưng về sau, Trung Quốc tiến dần từ việc bắt chước chế tạo theo mẫu thiết kế các chiến hạm Liên Xô, đến có thể tự thiết kế và chế tạo chiến hạm các loại. Từng có một thời, quan hệ hai bên mật thiết đến độ có cả bàn tính dự định tổ chức một hạm đội chung cho cả hai hải quân Xô-Trung.
Tuy cũng trải qua những biến động chính trị của thập niên 1950 và 1960, Hải quân Trung Quốc không bị ảnh hưởng nặng nề như Lục quân hoặc Không quân. Dưới thời lãnh đạo của Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu, Hải quân vẫn được đầu tư khá nhiều trong những năm nghèo đói sau Đại nhảy vọt. Trong Cách mạng Văn hóa, tuy một số chính ủy, tư lệnh đầu não bị truất quyền, và một số lực lượng hải quân được sử dụng để đàn áp cuộc bạo loạn tại Vũ Hán tháng 7 năm 1967, nhưng nói chung Hải quân Trung Quốc ít bị dính líu vào các biến động đang xảy ra trên toàn quốc vào thời điểm đó. Hải quân Trung Quốc vẫn tiếp tục công việc đóng thêm chiến hạm, huấn luyện thủy thủ và tu bổ các hạm đội.

Hải quân Trung Quốc tại Bộ Tư lệnh Hạm đội Bắc Hải, Thanh Đảo

Đến thập niên 1970, khi ngân sách quốc phòng dành cho hải quân lên đến 20% ngân sách quốc gia, thì Hải quân Trung Quốc phát triển vượt bực. Lực lượng tàu ngầm thông thường tăng vọt từ 35 đến 100 chiếc, các phóng pháo hạm có khả năng bắn tên lửa tăng từ 20 lên đến 200 chiếc, và các chiến hạm loại lớn và các chiến hạm yểm trợ loại tuần dương cũng được chế tạo thêm. Hải quân Trung Quốc cũng đóng thêm tàu ngầm loại xung kích và loại chiến lược phóng tên lửa với máy chính chạy bằng năng lượng hạt nhân. Các tàu ngầm loại này đều có tầm hoạt động rất xa.
Đến thập niên 1980, dưới thời Tư lệnh Lưu Hoa Thanh, Hải quân Trung Quốc trở thành một lực lượng hải quân đáng kể trong khu vực, có khả năng tuần tiễu khá xa lãnh hải. Tuy nhiên, mức độ phát triển có phần chậm hơn thập niên trước đó. Các nỗ lực hiện đại hóa chú trọng nhiều hơn vào trình độ kỹ thuật và học vấn của thủy thủ. Đồng thời, sách lược hành quân biên phòng và cơ cấu lực lượng được chỉnh đốn và đặt trọng tâm vào các hoạt động tuần dương (blue-water operations) hơn tuần duyên (coastal defense), ngoài ra Hải quân Trung Quốc còn đẩy mạnh các chương trình huấn luyện hành quân hỗn hợp giữa các lực lượng tàu ngầm, chiến hạm, hải quân không chiến, và các lực lượng duyên phòng. Bằng chứng cho khả năng hoạt động tầm xa của Hải quân Trung Quốc đã tăng trưởng: (a) cuộc trục vớt một tên lửa liên lục địa (ICBM) năm 1980 do một hạm đội gồm 20 chiến hạm hành quân đến Tây Thái Bình Dương, (b)một số hành quân hải hành dài ngày trên biển Đông (Nam Hải) năm 19841985, (c) hai chiến hạm Trung Quốc thăm giao hữu ba nước thuộc vùng Ấn Độ Dương năm 1985. Ngoài việc đẩy mạnh phát triển tầm hoạt động, Hải quân Trung Quốc cũng phát triển thêm về khả năng phóng tên lửa từ các chiến hạm và tàu ngầm. Năm 1982 Hải quân Trung Quốc bắn thử thành công một phi đạn bắn từ tàu ngầm. Hải quân Trung Quốc cũng chế tạo thành công một số tên lửa loại hạm-đối-hạm, hạm-đối-đất, đất-đối-hạm, và không-đối-hạm.

Tuần dương hạm Cáp Nhĩ Tân, Soái hạm, Hạm Đội Bắc Hải

Hiện tại

Kế hoạch và ưu tiên chiến lược

Trong vài năm gần đây, Hải quân Trung Quốc trở nên quan trọng vì có sự thay đổi trong tầm nhìn chiến lược của Trung Quốc. Các mối đe dọa chiến lược bao gồm giao tranh với Hoa Kỳ, hoặc tranh chấp với Nhật hay Đài Loan, hoặc giao tranh tại Trường Sa. Trong sách lược hiện đại hóa hải quân nói chung, một trong những ưu tiên dài hạn là cải tổ và phát huy Hải quân Trung Quốc thành một Hải quân Viễn dương (远洋海军, blue-water navy).
Cũng có nhiều nguồn tin cho rằng Hải quân Trung Quốc dự định chế tạo hoặc mua một hàng không mẫu hạm, nhưng ý tưởng này có vẻ không được ưu tiên so với những nhu cầu hiện đại hóa khác. Hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng nếu Trung Quốc không hiện đại hóa cả lực lượng hải quân, thì hàng không mẫu hạm không những có cũng vô dụng, mà còn tốn hao lây vào những chi phí khác của quân đội. Nhận đình này có vẻ được sự đồng tình ủng hộ của các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị. Trung Quốc hiện đã mua được hàng không mẫu hạm Varyag hạng Kuznetsov, hiện đang cập bến tại Đại Liên, và họ có thể tân trang và đưa vào hoạt động, hoặc dùng để huấn luyện phi công cất cánh và đáp trên biển.
Tháng 6 năm 2005, có nguồn tin trên mạng loan báo Hải quân Trung Quốc dự định sẽ chế tạo một hàng không mẫu hạm trị giá 30 tỉ nhân dân tệ (362 triệu US$), với trọng tải 78.000 tấn và do hãng đóng tàu Giang Nam đóng. Nguồn tin này bị Bộ Quốc phòng Trung Quốc phủ nhận.

Thay đổi lớn trong thế kỷ 21

Hải quân Trung Quốc đã bước vọt trong những năm gần đây khi họ quyết định mua loại khu trục hạm Sovremenny và mua tàu ngầm Kilo của Nga. Hai khu trục hạm Sovremenny đầu tiên được trang bị tên lửa chống chiến hạm loại SS-N-22, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc vượt âm 3M-80E. Theo các nhà nghiên cứu quốc phòng Tây phương, loại tên lửa này có khả năng tiêu diệt hàng không mẫu hạm. Hai khu-trục hạm kế tiếp sau đó được trang bị loại SS-N-26 Yakhont tối tân hơn, và nhiều chiến hạm trang bị loại tên lửa này đang được xây thêm.
Hạm đội tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc cũng có những bước tiến lớn. Các tàu ngầm hạng Kilo có khả năng hoạt động rất im lặng, và được trang bị hai loại vũ khí mới nhất: tên lửa chống chiến hạm loại Klub, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc dưới âm 3M-54E1, và tên lửa thủy lôi loại VA-111 Shkval có tốc độ trên 320 km/giờ và tầm hoạt động 7,5 km. Tất cả các tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc, kể cả loại Kilo, đều được trang bị loại máy hoạt động không cần không khí, có nằm chờ rất lâu dưới biển để đột kích kẻ thù.
Kỹ thuật đóng tàu của hải quân Trung Quốc nay cũng tiến rất xa qua sự giúp đỡ của Nga, và các khu trục hạm mới nhất của Trung Quốc sử dụng trang bị nội hóa có chất lượng không kém so với tiêu chuẩn phương Tây, với ra đa loại AEGIS và sườn tàu thiết kế kiểu chống ra đa.

Các hoạt động

Tháng 9 năm 2005, phát ngôn viên quân sự Bộ Quốc phòng Nhật thông báo một số chiến hạm Hải quân Trung Quốc gồm một tuần dương hạm trọng tải 23.000 tấn, một khu trục hạm hạng Sovremenny trọng tải 7.940 tấn, một hộ tống tên lửa trọng tải 6.000 tấn, hai hải phòng hạm hạng Giang Hồ I (江湖, Jianghu I-class) trọng tải 1.702 tấn đã có mặt tại khu dầu khí Chunxiao (người Nhật gọi Shirakaba). Đây là nơi từng xảy ra tranh chấp gay gắt giữa Trung Quốc và Nhật.[1]
Từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 11 năm 2007, Hải quân Trung Quốc tập trận tại khu vực Quần đảo Hoàng Sa. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức phản đối hoạt động này, do phía Trung Quốc đã không tôn trọng bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông, và khu vực này thuộc lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hoạt động trong biển Đông

Hải quân Trung Quốc với các trang thiết bị cực kỳ hiện đại, vũ lực hùng hậu[cần dẫn nguồn] như bắn vào ngư dân Việt Nam làm vỡ tàu, chết người hoặc bắn và bắt cóc các tàu cá của ngư dân gặp nạn hoặc tránh bão trên vùng biển mà ngư dân Việt Nam cho là còn thuộc chủ quyền Việt Nam làm chết người và bắt giam đòi tiền chuộc một cách có hệ thống[2], đồng thời cướp đoạt toàn bộ phương tiện đánh bắt cá và sản phẩm đánh bắt của ngư dân Việt Nam, rồi đưa ra tòa phạt vi cảnh,và gần đây nhất là hành động vi phạm lãnh hải thuộc chủ quyền của VN, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN.[3]. Đặc biệt, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc còn muốn biển Đông nằm trong quyền kiểm soát của mình. [4]

Các hạm đội

Lực lượng tác chiến của Hải quân Trung Quốc có ba hạm đội:

Hạm đội Bắc Hải
Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Thanh Đảo thuộc tỉnh Sơn Đông. Hạm đội này có khu vực trách nhiệm vùng vịnh Bột HảiHoàng Hải. Soái hạm của hạm đội nầy là khu trục hạm Cáp Nhĩ Tân, thuộc loại trang bị tên lửa có điều khiển (guided-missile destroyerDDG).
Hạm đội Đông Hải
Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Ninh Ba, thuộc tỉnh Chiết Giang. Hạm đội nầy có khu vực trách nhiệm vùng Đông Hải. Soái hạm là tuần dương hạm J302 Sùng Minh Đảo.
Hạm đội Nam Hải
Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Trạm Giang thuộc tỉnh Quảng Đông. Hạm đội nầy có trách nhiệm kiểm soát vùng Nam Hải. Soái hạm là tuần dương hạm AOR/AK 953 Nam Xương.

Hạm đội Nam Hải là lực lượng trực tiếp giao tranh với Hải quân Việt Nam trong những cuộc tranh chấp lãnh hải vào các thập niên 1970 và 1980.

Trang bị

Tàu sân bay

Khu trục hạm (Destroyer)

  • 4 Khu trục hạm 956/ 956EM Hạng Sovremenny  ; Trọng tải 7940 tấn
  • 1 Khu trục hạm 051B hạng Luhai (Lữ Hải)  ; Trọng tải 6100 tấn
  • 2 Khu trục hạm 051C hạng Luzhou (Lữ châu) :Trọng tải 7100 tấn
  • 2 Khu trục hạm 052b hạng Luyang (Lương) : Trọng tải 6500 tấn
  • 5 Khu trục hạm 052C hạng Luyang II (Lương) : Trọng tải 7000 tấn
  • Tổng cộng: 14 chiếc

Khinh hạm (Frigate)

  • 2 tàu Loại 052 hạng Luhu (Lữ Hộ)  ; Trọng tải: 4800 tấn
  • 11 tàu loại 051 Lớp Luda (Lữ Đại) Trọng tải: 3960 tấn
  • 13 tàu Loại 054A Lớp JiangkaiII (Giang Khải), Trọng tải: 4053 tấn
  • 2 tàu Loại 054 Lớp JiangkaiI (Giang Khải), Trọng tải: 4300 tấn
  • Tổng cộng: 28 chiếc hiện dịch

Tàu hộ vệ tên lửa (Corvette)

  • 10 tàu Loại 053H3 Lớp Jiangwei II (Giang Vỹ) Trọng tải: 2393 tấn
  • 4 tàu Loại 053H2G Lớp Jiangwei (Giang Vỹ) Trọng tải: 2393 tấn
  • 21 tàu Loại 053 Lớp Jianghu (Giang Hộ) trọng tải: 1,925
  • Tổng cộng: 35 chiếc

Tàu tên lửa (Guided Missile Boats) 65 tàu

  • 6 tàu Loại 037-II Lớp Houjian Trọng tải 520 tấn
  • 30 tàu Loại 343M Houxin (Hậu tần) trọng tải 478 tấn
  • 83 tàu Loại 021 Lớp Houbei (Hồ bắc) Trọng tải 220 tấn
  • tổng số: 119

Tàu ngầm

SSBN (Ballistic Missile Nuclear Submarine)

    • Loại 092 – Lớp Hạ Xia-class – 01 chiếc, trọng tải 7000 tấn
    • Loại 094 – Lớp Tấn Jin-class – 04 chiếc, trọng tải 9000 tấn

SSN (Nuclear Attack Submarine)

    • Loại 091 – Lớp Hán Han-class – 04 chiếc, trọng tải 5500 tấn
    • Loại 093 – Lớp Thượng Shang-class – 04 chiếc, trọng tải 7000 tấn

SSK (Diesel-Electric Attack Submarine)

    • Loại 039 – Lớp Tống Song-class – 14 chiếc, gồm: 01 tàu loại 039 số hiệu 320 (dừng hoạt động năm 1998); 03 tàu loại 039G (314, 321322); 10 tàu loại 039G1 (315, 316, 318, 323, 324, 325, 327,…).
    • Lớp Kilo Kilo-class – 12 chiếc, gồm: 02 tàu loại 877EKM (số hiệu: 364, 365); 02 tàu loại 636 (số hiệu: 366, 367) ; 08 tàu loại 636M – (số hiệu: 368, 369, 370, 371, 372, 373, 374, 375).
    • Loại 041 – Lớp Nguyên Yuan-class – 02 chiếc (số hiệu: 330,…).
  • Loại 031 -Lớp Golf -1 chiếc
    • Loại 033 – Lớp Romeo Romeo-class – 06 chiếc.
    • Loại 035G – Lớp Minh Ming-class – 17 chiếc.
  • SSG (Guided Missile Submarine) – phát triển từ loại 033 – 01 chiếc.
  • DSRV (Salvage Submarine) – 01 chiếc.

Trong nhiều tài liệu, tư liệu về Hải quân Trung Quốc trên phương tiện truyền thông, việc bố trí và số lượng các tàu ngầm của Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải hoàn toàn không thể hiện.

Tàu đổ bộ

  • LST
    • Loại 072 – Lớp Vũ Khang (Yukan) – 07 chiếc.
    • Loại 072-II – Lớp Vũ Đình (Yuting) – 11 chiếc.
    • Loại 072-III – Lớp Vũ Đình (Yuting) – 08 chiếc.
    • Lớp Sơn (Shan) LST-1 – 03 chiếc.
  • LSM
    • Loại 073-II – Lớp Vũ Đảo (Yudao) – 01 chiếc.
    • Loại 073-III – Lớp Vũ Đăng (Yudeng) – 01 chiếc.
  • APA (attack transport)
    • Lớp Hùng Sa (Qiongsha) – 04 chiếc.
    • Lớp Hùng Sa (Qiongsha AH) – 02 chiếc.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Chú thích

Soyuz 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Soyuz 1
Huy hiệu nhiệm vụ
Soyuz-1-patch.png
Thông tin nhiệm vụ
Tên nhiệm vụ Soyuz 1
Kiểu tàu vũ trụ Soyuz 7K-OK
Khối lượng tàu 6.450 kg (14.200 lb)
Số phi hành gia 1
Tín hiệu gọi Рубин (Rubin – “Hồng ngọc”)
Tên lửa phóng Soyuz
Bệ phóng Bệ phóng Gagarin, Sân bay vũ trụ Baikonur[1]
Ngày giờ phóng 23 tháng 4, 1967 00:35:00 UTC
Địa điểm hạ cánh 51,13°B 57,24°Đ
Hạ cánh 24 tháng 4, 1967 03:22:52 UTC
Thời gian bay 1ng/02:47:52
Số lượng quỹ đạo 18
Điểm viễn địa 223 km (139 mi)
Điểm cận địa 197 km (122 mi)
Độ cao quỹ đạo 88,7 phút
Độ nghiêng quỹ đạo 50,8°
Hình phi hành đoàn
Soviet Union-1964-stamp-Vladimir Mikhailovich Komarov.jpg
Vladimir Komarov
Các nhiệm vụ liên quan
Nhiệm vụ trước đó Nhiệm vụ tới
Voskhod-2 patch.svg Voskhod 2 Soyuz 2

Soyuz 1 (tiếng Nga Союз 1, tiếng Việt dịch là Liên Hợp 1) là tên của một con tàu vũ trụ có người lái của chương trình không gian của Liên bang Xô viết và được phóng vào quỹ đạo vào ngày 23 tháng 4 năm 1967, đem theo một nhà du hành vũ trụ Vladimir Mikhaylovich Komarov, người đã bị chết trong khi tàu vũ trụ đang bay trở về Trái Đất. Đây là thảm họa trong khi bay đầu tiên trong lịch sử của các chuyến bay không gian. Bắt đầu vào 03:35 theo giờ địa phương, đây cũng là cuộc phóng đầu tiên của một tàu vũ trụ có người lái được thực hiện vào ban đêm.[cần dẫn nguồn]

Phi hành đoàn

Phi hành đoàn dự phòng

Bối cảnh

Soyuz 1 là tàu vũ trụ có người lái đầu tiên trong thế hệ tàu không gian Soyuz 7K-OKtên lửa Soyuz, được thiết kế như là một phần của chương trình Mặt Trăng của liên bang Xô Viết. Đây cũng là chuyến bay vào không gian có người lái duy nhất trong vòng hai năm, và là chuyến bay có người lái đầu tiên sau sự ra đi của người thiết kế chính các chương trình không gain Sergey Korolyov. Komarov được phụ trách lái tàu Soyuz 1 bất chấp những thất bại trước đó của các thử nghiệm các con tàu không có người lái 7K-OK, Cosmos 133Cosmos 140. Nỗ lực lần thứ ba để kiểm tra chuyến bay cũng thất bại; chuyến bay đã loại bỏ một phần không hoạt động của hệ thống đào thoát khi phóng, khiến cho một tên lửa nổ tung trên đường bay. Hệ thống đào thoát đã thành công trong việc đưa phi hành đoàn ra khỏi nguy hiểm.[2]
Trước khi phóng, các kỹ sư của tàu Soyuz 1 được cho là đã báo cáo 200 lỗi thiết kế cho các lãnh đạo đảng cộng sản, nhưng những quan ngại của họ “đã bị các áp lực chính trị nhằm tổ chức một loạt các kỳ công nhằm kỷ niệm ngày sinh của Lenin phớt lờ.”[cần dẫn nguồn] Người ta vẫn không biết rõ mức độ của những tác động của nhu cầu phải tiếp tục phải tiếp tục qua mặt Hoa Kỳ trong Cuộc chạy đua Không gian và chuyến bay của Xô Viết lên Mặt Trăng, hay lợi dụng thời cơ Hoa Kỳ thất bại trong chương trình không gian với thảm họa Apollo 1, lên việc quyết định thực hiện chuyến bay.[cần dẫn nguồn]
Những người đặt ra kế hoạch ban đầu dự định phóng một tàu vũ trụ Soyuz thứ hai lên quỹ đạo vào ngày tiếp theo, đem theo ba nhà du hành vũ trụ – Valery Fyodorovich Bykovsky, Yevgeny Vassilyevich Khrunov, và Aleksei Stanislavovich Yeliseyev – hai trong số đó theo kế hoạch sẽ thực hiện các chuyến đi bộ không gian để chuyển sang tàu Soyuz 1.[cần dẫn nguồn]

Chi tiết chuyến bay

Tàu Soyuz 1 được phóng vào ngày 23 tháng 4, 1967 vào lúc 00:32 UTC từ Sân bay vũ trụ Baykonur, đánh dấu sự kiện phi hành gia Komarov trở thành người đầu tiên của Liên Xô bay hai lần vào không gian.
Các trục trặc bắt đầu nhanh chóng sau khi phóng khi một tấm pin mặt trời của Soyuz 1 không thể mở ra, dẫn tới sự thiếu hụt năng lượng cho các hệ thống của con tàu vũ trụ. Các vấn đề sau đó với máy xác định sự định hướng khiến việc điều khiển con tàu trở nên phức tạp. Ở quỹ đạo thứ 13, hệ thống tự động ổn định hóa đã hoàn toàn ngưng hoạt động, còn hệ thống điều khiển bằng tay lại không thật sự hiệu quả.
Vào thời điểm này, nhóm phi hành gia của tàu Soyuz thứ hai đã thay đổi nhiệm vụ chính của họ, tự chuẩn bị cho chuyến khởi hành tiếp theo sẽ bao gồm thêm công việc sửa tấm pin năng lượng mặt trời của Soyuz 1. Tuy nhiên mưa nặng hạt ở Baikonur đã khiến cho sự khởi hành không thể diễn ra. Người ta tin rằng, trong thực tế, tàu Soyuz 2 chưa bao giờ được phóng lên bởi các trục trặc phức tạp mà Soyuz 1 gặp phải trong quỹ đạo.[cần dẫn nguồn]
Sau báo cáo của Komarov tại quỹ đạo thứ 13, trưởng nhóm điều khiển chuyến bay quyết định ngừng nhiệm vụ và yêu cầu phi hành đoàn cố gắng quay trở lại bầu khí quyển. Sau khi bay được 18 quỹ đạo quanh Trái Đất, Soyuz 1 bắn tên lửa đẩy để hạ quỹ đạo và quay trở về bầu khí quyển khi bay qua phía trên lãnh thổ Liên Xô một lần nữa, mặc dù phi công có rất ít quyền điều khiển. Bất chấp tất cả các khó khăn kỹ thuật tới lúc đó, Komarov vẫn có thể đã tiếp đất an toàn. Tuy nhiên, cây dù chính đã không bung ra do một cảm biến áp suất bị lỗi mà không được phát hiện trong quá trình sản xuất. Komarov thử tự tay kích hoạt máng trượt dự trữ, nhưng nó trở nên rối rắm vì vướng dù, đã có nhưng không sử dụng được. Kết quả là, nó rớt xuống Trái Đất (tại Orenburg Oblast của Nga) gần như không được thắng, với tốc độ khoảng 40 mét / giây (145 km/giờ). Các tên lửa đẩy lùi lẽ ra đã có thể bắn để làm chậm lại sự hạ cánh. Thay vào đó, khi xảy ra va chạm, đã có một vụ nổ và lửa cháy lớn đã bao quanh khoang tàu. Nhân dân địa phương đổ xô vào để cố gắng kéo nó ra. Dù vậy, Komarov đã chết trong vụ va chạm.
Theo một số bản báo cáo (rất suy đoán), Komarov đã mắng các kỹ sư và thành viên trong đoàn bay.[3] Một cuộc kiểm tra được tiến hành với tàu vũ trụ Soyuz thứ hai, Soyuz 2, cho thấy lỗi tương tự với hệ thống dù, có thể làm banh xác cả bốn nhà du hành nếu chuyến bay được tiến hành. Nhiệm vụ chính của Soyuz 1 và 2 được cáng đáng sau này bởi Soyuz 4Soyuz 5.[cần dẫn nguồn]
Komarov được an táng theo nghi lễ nhà nước, và tro sau khi hỏa táng được chôn tại nghĩa địa bức tương Kremlinquảng trường Đỏ, Moskva. Một số nguồn tin cho rằng các nhân viên điều khiển chuyến bay đã cho Komarov biết trước khi trở về bầu khí quyển rằng ông sẽ nhận được nghi thức này.[cần dẫn nguồn]

Gia tài các khó khăn kỹ thuật

Không như những tàu vũ trụ chở người khác vào thời gian đó, tàu Soyuz chưa bao giờ thành công trong các chuyến bay thử nghiệm không có người – tất cả các chuyến bay trước đó đều gặp lỗi kỹ thuật. Yuri Gagarin là phi công dự phòng của Soyuz 1, đã biết về các lỗi này cũng như áp lực từ Bộ chính trị để tiến hành chuyến bay. Ông cố gắng “bật” Komarov ra khỏi nhiệm vụ, biết rằng các lãnh đạo Xô viết không muốn liều lĩnh một anh hùng dân tộc trên chuyến bay.[cần dẫn nguồn]
Trước khi bay, các kỹ sư của Soyuz 1 được cho là đã báo cáo 200 lỗi thiết kế lên các nhà cầm quyền, nhưng những lo lắng của họ “bị lấn át bởi áp lực chính trị về một loạt các kỳ tích không gian nhân kỷ niệm sinh nhật Lênin.”[4] Không rõ rằng bao nhiêu phần của áp lực này đến từ sự cần thiết phải đánh bại Mỹ trong cuộc đua vũ trụ và Xô viết sẽ có người lên Mặt Trăng đầu tiên, hay để tận dụng sự lùi lại của chương trình không gian của Mỹ do thảm họa tàu Apollo 1. Thảm họa Soyuz 1 làm lùi lại việc phóng Soyuz 2Soyuz 3 tới ngày 25 tháng 10, 1968. Lỗ hổng 18 tháng này, cùng với vụ nổ tên lửa N-1 không chở người vào 3 tháng 7, 1969 làm hỏng kế hoạch của Liên Xô trong việc đưa người lên Mặt Trăng.[cần dẫn nguồn]
Một chương trình Soyuz cải tiến hơn nhiều đã được nảy sinh từ sự trì hoãn dài mười tám tháng này, tương tự, về nhiều mặt, như sự cải tiến của dự án Apollo từ sau thảm họa Apollo 1. Mặc dù nó đã không thể tới Mặt Trăng, Soyuz đã được chuyển mục đích từ trung tâm của chương trình Mặt Trăng thành trung tâm của chương trình trạm không gian.[cần dẫn nguồn]

Dẫn chứng

Liên kết ngoài

Tọa độ: 45°55′B, 63°20′Đ

Chào ngày mới 22 tháng 4

 Tập tin:Banteay Srei Kala.jpg

CNM365 Chào ngày mới 22 tháng 4 Wikipedia Ngày này năm xưa.  Ngày Trái Đất, ngày Khám phá tại Brasil.  Năm 967 – Đền Banteay Srei  (hình) được thánh hóa, đây là đền thờ thần Shiva tại khu vực Angkor thuộc Campuchia ngày nay. Năm 1370 – Thị trưởng Paris Hugues Aubriot đặt viên đá đầu tiên để bắt đầu xây dựng pháo đài Bastille tại Paris, Pháp. Năm 1500 – Nhà hàng hải người Bồ Đào Nha Pedro Álvares Cabral trở thành người châu Âu đầu tiên đặt chân lên Brasil. Năm 1915Chiến tranh thế giới thứ nhất: Bắt đầu Trận Ypres lần thứ hai tại Bỉ, là chiến dịch tấn công đầu tiên và duy nhất của quân đội Đế quốc Đức trên Mặt trận phía Tây trong năm. Năm 2001Nông Đức Mạnh (hình) được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngày Trái Đất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Ron Cobb‘s 1969 Ecology Symbol

Ngày Trái Đất là ngày để nâng cao nhận thức và giá trị của môi trường tự nhiên của Trái Đất. Ngày Trái Đất được tài trợ bỏi thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Gaylord Nelson như một cuộc hội thảo về môi trường được tổ chức lần đầu tiên vào 22 tháng 4 năm 1970. Trong khi Ngày Trái Đất đầu tiên tập trung vào nước Mỹ, một tổ chức đã được thành lập bởi Denis Hayes, nguyên là điều phối viên toàn quốc năm 1970, đưa nó lên tầm quốc tế vào năm 1990 và tổ chức các sự kiện ở 141 quốc gia.[1][2] Ngày Trái Đất giờ đây được điều phối toàn cầu bởi Mạng Ngày Trái Đất[3] và được tổ chức hàng năm tại hơn 175 nước.[4] Nhiều cộng đồng còn tổ chức Tuần Trái Đất, một tuần của các hoạt động xoay quanh các vấn đề môi trường. Năm 2009, Liên hợp quốc chọn ngày 22 tháng 4 là ngày Quốc tế Mẹ Trái Đất.[5]

Ngày Trái Đất đầu tiên

Để đối phó với tình trạng môi trường xuống cấp trên diện rộng [cần dẫn nguồn], Gaylord Nelson, một thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đến từ Wisconsin đã kêu gọi tổ chức một cuộc hội thảo về môi trường, hay Ngày Trái Đất vào ngày 22 tháng 4 năm 1970. Trên 20 triệu người đã tham gia năm đó và Ngày Trái Đất hiện nay được thấy vào ngày 22 tháng 4 hàng năm với trên 500 triệu người và một số chính phủ ở 175 quốc gia.[cần dẫn nguồn]
Thượng nghị sĩ Nelson, một nhà hoạt động môi trường, giữ vai trò lãnh đạo việc tổ chức sự kiện, muốn thể hiện sự hỗ trợ chính trị cho một chương trình nghị sự về môi trường. Ông đã lấy những buổi hội thảo rất hiệu quả về Chiến tranh Việt Nam thời đó làm mẫu.[6] Ngày Trái Đất được đề xuất đầu tiên trong một báo cáo gửi JFK bởi Fred Dutton.[7] Tuy nghiên, Nelson quyết định đi ngược lại các tiếp cận trên-xuống của Dutton, ủng hộ một nỗ lực phi tập trung, quần chúng trong đó mỗi cộng đồng hình thành hành động của họ quang những vấn đề địa phương.
Nelson đã truyền bá ý tưởng về Ngày Trái Đất trong chuyến đi của ông đến Santa Barbara ngay sau sự cố tràn dầu khủng khiếp ngoài khơi năm 1969.[cần dẫn nguồn] Tức giận trước sự tàn phá và sự chậm chạp của chính quyền Washington, Nelson đề xuất một buổi hội thảo quốc gia về môi trường được quan sát bởi mọi trường đại học trên toàn nước Mỹ.[8]

“I am convinced that all we need to do to bring an overwhelming insistence of the new generation that we stem the tide of environmental disaster is to present the facts clearly and dramatically. To marshal such an effort, I am proposing a national teach-in on the crisis of the environment to be held next spring on every university campus across the Nation. The crisis is so imminent, in my opinion, that every university should set aside 1 day in the school year-the same day across the Nation-for the teach-in”.[8]

Có nghĩa là: “Tôi tin rằng tất cả chúng ta cần phải hành động ngay để mang lại một sự sức mạnh thay đổi của thế hệ mới mà chúng tôi ngăn chặn xu hướng của thảm họa môi trường để trình bày sự thật rõ ràng và đáng kể. Để sắp xếp một nỗ lực như vậy, tôi đề xuất một quốc gia giảng dạy về cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về môi trường được tổ chức vào mùa xuân tới trên tất cả các khuôn viên trường đại học trên khắp các quốc gia. Cuộc khủng hoảng sắp xảy ra như vậy, theo ý kiến ​​của tôi, rằng tất cả các trường đại học nên dành 1 ngày trong các trường năm trong cùng một ngày trên toàn quốc để giảng dạy về điều này.”

Một trong những người tổ chức còn nói:

“We’re going to be focusing an enormous amount of public interest on a whole, wide range of environmental events, hopefully in such a manner that it’s going to be drawing the interrelationships between them and, getting people to look at the whole thing as one consistent kind of picture, a picture of a society that’s rapidly going in the wrong direction that has to be stopped and turned around.”

Có nghĩa là: “Chúng ta sẽ tập trung một số lượng lớn của lợi ích công cộng trên một phạm vi rộng, các sự kiện môi trường, hy vọng trong một rằng cách thức nó sẽ được liệt kê và vẽ các mối tương quan giữa họ để mọi người nhìn nhận được vào toàn bộ điều trên bằng những hình ảnh phù hợp, một hình ảnh của một xã hội đang nhanh chóng đi theo hướng sai lầm và cần phải được dừng lại và quay lại ngay.”

“It’s going to be an enormous affair, I think. We have groups operating now in about 12,000 high schools, 2,000 colleges and universities and a couple of thousand other community groups. It’s safe to say I think that the number of people who will be participating in one way or another is going to be ranging in the millions.”[9]

Có nghĩa là: “Tôi nghĩ nó sẽ là một chuyện rất lớn. Chúng tôi có các nhóm hoạt động tại trong khoảng 12.000 trường trung học, 2.000 trường cao đẳng và các trường đại học và một vài nghìn các nhóm cộng đồng khác. Đó là điều để nói rằng số lượng những người sẽ được tham gia một cách này hay cách khác sẽ khác nhau, trong hàng triệu người rồi dần tăng lên.”

Ngày 29 tháng 9 năm 1969, trong một bài viết dài ở trang đầu báo New York Times, Gladwin Hill viết:

“Mối lo ngại ngày càng tăng về “khủng hoảng môi trường” tràn qua các trường đại học trong cả nước với sức mạnh có thể làm lu mờ sự bất mãn của sinh viên với Chiến tranh Việt Nam… ngày vì các vấn đề môi trường, tương tự như những cuộc biểu tình rộng lớn về vấn đề Việt Nam đang được lên kế hoạch vào mùa xuân năm sau, khi một buổi hội thảo môi trường toàn quốc… điều phối từ văn phòng của thương nghị sĩ Gaylord Nelson đang được chuẩn bị…”[10]

Denis Hayes, một cựu sinh viên Havard, sau khi đọc bài báo của New York Times đã đến Washington để tham gia.[11] An trở thành chủ tịch của khối sinh viên và nhà hoạt động ở Đại học Standford thuộc quận McCloskey’s nơi Paul Ehrlich, thành viên ban điều hành hội thảo, là giảng viên. Nelson mời Hayes rời Havard, thiết lập một tổ chức và hướng đến toàn nước Mỹ.[12][13] Hayes sau đó trở thành một nhà hoạt động môi trường được nhiều người biết đến.[14]
Hayes tuyển một số cử nhân trẻ để đến Washington, D.C. và bắt đầu chuẩn bị cho Ngày Trái Đất đầu tiên.
Đề nghị của Nelson khó thực hiện, vì cuộc vật động Ngày Trái Đất tỏ ra tự phát mà không có trung tâm điều hành.[15] Thượng nghị sĩ chứng thực, cuộc vận động đơn giản tự nó phát triển:

Ngày Trái Đất thành công nhờ phản ứng tự nguyện của tầng lớp thường dân. Chúng tôi không có thời gian hay nguồn lực để tổ chức 20 triệu người biểu tình và hàng nghìn trường học và các cộng đồng địa phương tham gia. Đó là điều đáng chú ý về Ngày Trái Đất. Nó tự tổ chức.[15]

Official Earth Week logo that was used as the backdrop for the prime time CBS News Special Report with Walter Cronkite about Earth Day 1970.[16]

Ngày 22 tháng 4 năm 1970, Ngày Trái Đất đánh dấu sự khởi đầu của cuộc vận động vì môi trường hiện đại. Xấp xỉ 20 triệu người Mỹ tham gia. Hàng ngàn trường đại học và cao đẳng tổ chức biểu tình chống lại sự xuống cấp của môi trường. Các nhóm người chống tràn dầu, các công xưởng và nhà máy điện ô nhiễm, nước thải không qua xử lý, chất độc hoá học, thuốc trừ sâu, sự suy giảm vùng hoang dã và ô nhiễm không khí bỗng chốc nhận ra họ có chung mục đích.
Ngày Trái Đất xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng qua bài báo cáo đặc biệt dài một tiếng vào giờ vàng của CBS mang tên “Ngày Trái Đất: Vấn đề của sự tồn tại” với các bài trả lời của nhiều thành phố lớn dọc đất nước và bài tường thuật của Walter Cronkite (trên nền logo của Uỷ ban Tuần Trái Đất Philadelphia).[16]
Pete Seeger là người dẫn chương trình và diễn thuyết chính trong sự kiện tổ chức ở Washington DC. Paul NewmanAli McGraw đã tham dự sự kiện tổ chức ở New York City.[17]

Kết quả của Ngày Trái Đất 1970

Ngày Trái Đất đã chứng tỏ sự rộng rãi ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới. Ngày Trái Đất đầu tiên có sự tham dự và ủng hộ của hai nghìn trường đại học và cao đăng, gần 10 nghìn trường tiểu học và cấp hai và hàng trăm cộng động dọc nước Mỹ. Quan trọng hơn, nó “đưa 20 nghìn người Mỹ ra khỏi nhà trong ánh nắng của mùa xuân cho một cuộc tuần hành hoà bình ủng hộ môi trường.” [18]
Thượng nghị sĩ Nelson tuyên bố rằng Ngày Trái Đất thành công nhờ phản ứng của tầng lớp bình dân.[19] Ông gắn Ngày Trái Đất với việc thuyết phục các chính trị gia Hoa Kỳ rằng luật môi trường nhận được sử ủng hộ quan trọng và lâu dài của cử tri.

Tên gọi Ngày Trái Đất

Theo thượng nghị sĩ Nelson, tên gọi “Ngày Trái Đất” là “một tên gọi hiển nhiên và hợp lý” được đề xuất bới “một số người” vào mùa thu 1969, bao gồm, ông viết, cả “một người bạn của tôi làm việc trong lĩnh vực quan hệ công chúng” và “một advertising executive ở New York”, Julian Koenig.[20] Koenig, một thành viên trong uỷ ban tổ chức của Nelson năm 1969, nói rằng ý tưởng này đến với ông do ngày sinh nhật ông trùng với ngày được chọn, 22 tháng 4; “Earth Day” vần với “birthday” (ngày sinh), một mối liên hệ tự nhiên.[21][22] Một số tên gọi khác được sử dụng trong quá trình chuẩn bị – chính Nelson vẫn tiếp tục gọi nó là Hội thảo Quốc gia về Môi trường tuy nhiên báo chí đã thống nhất cách gọi “Ngày Trái Đất”.[20]

Các chỉ trích

Nhà văn Alex Steffen, người đề xuất bright green environmentalism, buộc tội Ngày Trái Đất biểu tượng hoá sự cách ly của việc bảo vệ môi trường, và bản thân nó đã vượt quá ích lợi nó tạo ra.[23]
Một bài xã luộn trên The Washington Times ngày 5 tháng 5 năm 2009 so sánh Ngày Cây xanh với Ngày Trái Đất, tuyên bố rằng Ngày Cây xanh là một lễ kỷ niệm vui vẻ, phi chính trị của cây xanh trong khi Ngày Trái Đất bi quan, nặng về chính trị và mô tả con người một cách tiêu cực.[24]
Bản chất đáng ngờ của các công ty và sản phẩm tham gia vào các buổi biểu tình liên quan đến Ngày Trái Đất dẫn đến sự buộc tội greenwashing.[25]

Ngày Trái Đất 2010

Ngày Trái Đất 2010 diễn ra đồng thời với Hội nghị Nhân dân Thế giới về Biến đổi Khí hậu, tổ chức ở Cochabamba, Bolivia, và Năm Đa dạng Sinh học.

Tham khảo

  1. ^ Staff — The Bullitt Foundation
  2. ^ The Rumpus Interview With Earth Day Organizer Denis Hayes – The Rumpus.net
  3. ^ Earth Day 2012 | Earth Day Network
  4. ^ Earth Day International
  5. ^ GENERAL ASSEMBLY PROCLAIMS 22 APRIL ‘INTERNATIONAL MOTHER EARTH DAY’ ADOPTING BY CONSENSUS BOLIVIA-LED RESOLUTION
  6. ^ Brown, Tim (April 11, 2005). “What is Earth Day?”. United States Department of State. Retrieved April 25, 2006.
  7. ^ “Fred Dutton 1923-2005”.
  8. ^ a ă Congressional Record, Vol 115, No 164, October 8, 1969. [1]
  9. ^ “Ecology: 1970 Year in Review”. Upi.com. 25 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  10. ^ ‘Environmental Crisis’ May Eclipse Vietnam as College Issue, New York Times, 11/30/1969
  11. ^ “U.S. Mayor Article | Earth Day 1970 –Defining Moments (April 27, 2009)”. Usmayors.org. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  12. ^ “Denis Hayes, Earth Day Network”. Grist. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  13. ^ “Portraits of the green generation’”. Dailyme.com. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010. [liên kết hỏng]
  14. ^ Denis Hayes
  15. ^ a ă How the First Earth Day Came About by Senator Gaylord Nelson
  16. ^ a ă 1970 CBS News Special Report with Walter Cronkite: Earth Day – A Question of Survival
  17. ^ “Environment”. United States Embassy, Wellington, New Zealand. Retrieved April 25, 2006.
  18. ^ Lewis, Jack (November 1985). “The Birth of EPA”. United States Environmental Protection Agency.’.’ Retrieved 25 April 2006.
  19. ^ Nelson, Gaylord. “How the First Earth Day Came About”. Envirolink.org. Retrieved April 22, 2007.
  20. ^ a ă Gaylord Nelson Papers, State Historical Society of Wisconsin, Box 231, Folder 43.
  21. ^ Origin Story“. This American Life. 19 June 2009. Tập 383. Truy xuất vào 26 July 2010.
  22. ^ Statement by Paul Leventhal on the 25th Anniversary of the Nuclear Control Institute, 6/21/2006
  23. ^ “Tools, Models and Ideas for Building a Bright Green Future: Make This Earth Day Your Last!”. WorldChanging. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2010.
  24. ^ Arbor vs. Earth Day, The Washington Times, May 5, 2009
  25. ^ Has Earth Day Become Corporate Greenwash Day?, Huffington Post, April 22, 2010

Liên kết ngoài

Ngày Trái Đất

Equinoctial Earth Day

Ngày Trái Đất 2010

Ngày Trái Đất 2011

Banteay Srei

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Banteay Srei
Banteay Srei full2.jpg
Tên gọi: Banteay Srei
Ngày xây: 967
Vị thần ban đầu: Siva
Kiến trúc: Kiến trúc Khmer
Vị trí: Angkor, Campuchia

Banteay Srei (hay Banteay Srey) là một ngôi đền Campuchia được xây để thờ thần HinduShiva. Ngôi đền “Banteay Srei” (đền của phụ nữ) vào thế kỷ thứ 10 hay còn gọi là “Tribhuvanamahesvara” này tọa lạc tại khu vực Angkor ở Campuchia, tại tọa độ 13,59 độ vĩ bắc, 103,96667 độ kinh đông, ngôi đền này nằm gần đồi Phnom Dei, cách 25 km (15 dặm) về phía đông bắc của nhóm các đền đã từng thuộc về các kinh đô cổ đại của YasodharapuraAngkor Thom[1]. Banteay Srei được xây chủ yếu bằng đá sa thạch đỏ, một chất pha màu được thêm vào những bức điêu khắc trang trí tỉ mỉ trên tường mà ngày nay vẫn còn được nhìn thấy. Những công trình này là một vật thu nhỏ khi lấy các công trình Angkor làm tiêu chuẩn. Những yếu tố này giúp cho ngôi đền nổi tiếng với du khách và được nhắc đến với các tên “viên ngọc quý”, hoặc “trang sức của nghệ thuật Khmer”[2].

Mô tả đền

Tổng quan

Banteay Srei - Cambodia.jpg

Nghệ thuật điêu khắc trên đá sa thạch đỏ trên khắp các bức tường của Banteay Srei

Banteay Srei biết đến là một trong những ngôi đền có nghệ thuật điêu khắc tinh vi

Trang trí thần Shiva trên các bức tường Banteay Srei

Ngôi đền là là bức tranh tuyệt tác về nghệ thuật điêu khắc trên đá ongsa thạch đỏ. Bản thân ngôi đền được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuật trên đá với những bức phù điêu hoa văn một cách tinh tế và khéo léo từng chi tiết nhỏ. Ngôi đền ban đầu thờ thần Shiva, trong khi đó ngôi đền phía Bắc lại thờ thần Vishnu.
Đầu tiên ngôi đền này có tên là Tribhuvanamahesvara – nơi đây được xem là trung tâm hình ảnh của tôn giáo. Bao bọc xung quanh ngôi đền có rất nhiều tháp mà người ta gọi là Isvarapura.
Về sau, tên gọi của ngôi đền mới được sửa lại là Banteay Srei. Tuy nhiên, so với việc xây dựng từ ban đầu, nó được chính thức xây dựng và mở rộng lại vào thế kỷ thứ 8, mãi đến những năm sau đó, các họa tiết trong đền mới được điêu khắc vào thế kỷ thứ 12 và ngôi đền chính thức hoàn thành trọn vẹn vào thế kỷ 14.

Chi tiết

Đường đi đến Banteay Srei rất tốt, được cải tiến rất nhiều so với mấy năm trước đây. Hai bên đường là các hàng cây được trồng và tân trang lại.Những ngôi nhà dân sinh sống trong khu vực ngôi đền trước đây được chính quyền Siêmriep mua lại và mở rộng khu di tích.
Đền Banteay Srei là tuyệt tác của nghệ thuật tôn giáo Balamon Ấn Độ. Đền gồm ba lớp, qua cầu đá đi vào cổng đền là vòng ngoài, đến cầu đá thứ hai qua hào nước (nay không còn) là cổng vào vòng giữa và cuối cùng là vòng trong gồm các đền thờ và hai toà kiến trúc gọi là “thư viện”. Trước ảnh (mandapa) nối với trung tâm đền là các tượng người bảo vệ đền. Các tượng này thật ra chỉ là tượng sao bản, tượng cổ nguyên thủy hiện nay được giữ bảo quản ở Viện bảo tàng Quốc gia Phnom Penh. Trên mi cửa (lintel) ở cửa hành lang điện sảnh là những điêu khắc tỉ mỉ. Có nhiều hoa văn trên đá như hoa lá, các con Phật sư hay những con sư tử và các vị thần linh được điêu khắc một cách tinh xảo đến từng chi tiết nhỏ nhất. Trên sân nhỏ giữa đền ở vòng trong có ba đền thờ: kiến trúc đền thờ phía Bắc thờ thần Vishnu, đền trung tâm và đền phía Nam thờ thần Shiva.

Tình trạng

Ngôi đền chính thức bị quên lãng sau nhiều thập kỷ liên tiếp cùng chung số phận với hơn 45 cụm di tích khác trong quần thể Angkor. Sau đó ngôi đền chính thức được phát hiện vào năm 1914 bởi các nhà khảo cổ người Pháp.
Năm 1923, một nhà văn Pháp trẻ 22 tuổi André Malraux cùng vợ và một người bạn đã đục lấy đi các tượng tổng cộng hơn 600 ký, chở đi trên ba xe bò, và sau đó dùng tàu thủy đến Phnom Penh để bán cho người mà họ đã thương lượng trước đó. Nhưng may thay, tại đấy, cả ba bị bắt và bị kết án ba năm tù. Bản án tuy vậy không được thực thi nhưng vụ án này đã được phổ biến rộng rãi trên báo chí và từ đó thúc dục nhà cầm quyền thực thi vai trò quan trọng của sự bảo tồn và bảo vệ những kiến trúc quí giá ở Angkor. Phương pháp phục hồi (analystolosis) bắt đầu được dùng đầu tiên bởi nhà khảo cổ Marchal ở đền Banteay Srei để phục hồi những chỗ bị hư hại. Nhà văn Vương Hồng Sển khi viếng Banteay Srei vào năm 1940, thấy đền hầu như nguyên vẹn sau khi được phục hồi, lúc đó còn ở giữa rừng hoang.

Tham khảo

  • Phan Minh Châu, Cùng bạn khám phá thế giới – Sapaco Tourist
  • Freeman, Michael và Claude Jacques (1999). Ancient Angkor. River Books. ISBN 0-8348-0426-3
  • Glaize, Maurice (2003 edition of an English translation of the 1993 French fourth edition). The Monuments of the Angkor Group. Truy cập 14 tháng 7 2005
  • Higham, Charles (2001). The Civilization of Angkor. Phoenix. ISBN 1-84212-584-2
  • Jessup, Helen Ibbetson (2004). Art & Architecture of Cambodia. Thames & Hudson. pp. 99–104
  • Rovedo, Vittorio (1997). Khmer Mythology: Secrets of Angkor. New York: Weatherhill. (This work should be used with caution. While it is thorough in its treatment of Angkorian representational art, and contains many useful photographs, it is sometimes inaccurate in its characterization of the underlying Indian myths, and does not reflect a thorough investigation of sources for those myths.)
  • Banteay Srei

Thư viện ảnh

Chú thích

  1. ^ Higham, The Civilization of Angkor, p.79.
  2. ^ Glaize, The Monuments of the Angkor Group p. 183.

Liên kết ngoài

  • Angkor.com: Banteay Srei Hình ảnh về những phần của đền thờ mà du khách không còn được vào thăm
  • Bộ ảnh Banteay Srei
  • Ảnh Banteay Srei cùng giải thích về 3 trong số các câu chuyện được tạc trên tường: chuyện về các hoàng tử khỉ Bali và Sugreeva, về người-sư-tử Narasimha, và về vụ giết người trong rừng Khandava